Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới

 Phản biện xã hội là một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản, quan trọng hàng đầu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; qua đó, tổ chức mặt trận tích cực tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh; góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thời gian tới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả phản biện xã hội, để thực hiện tốt các mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Những quy định của Đảng và Nhà nước - Cơ sở chính trị, pháp lý cho hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Để khắc phục tình trạng “Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế đầy đủ thành pháp luật; hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; giữa chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt”(1), Đại hội XI của Đảng đã đề ra quan điểm chỉ đạo: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội”(2). Tiếp đó, Bộ Chính trị khóa XI đã có Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, “Về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Đây là những quan điểm chỉ đạo rất quan trọng của Đảng ta, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng để xác lập cơ sở chính trị về tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 đã chính thức ghi nhận, khẳng định hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội”. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã cụ thể hóa quyền hiến định nói trên của Hiến pháp năm 2013 thành một chương riêng (Chương VI - Hoạt động phản biện xã hội) với 5 điều để quy định về hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và đến ngày 15-6-2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN, quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, ghi nhận tầm quan trọng của hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lần đầu tiên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định về hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; theo đó, đối với các dự thảo văn bản mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội thì trong hồ sơ trình thẩm định bắt buộc phải có văn bản phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đó là những văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước, không chỉ tạo lập cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện công tác phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mà còn khẳng định phản biện xã hội là hoạt động cơ bản, quan trọng hàng đầu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần vào thành công chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Những kết quả có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua

Hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, công tác phản biện xã hội trong nhiều năm qua đã trở thành hoạt động thường xuyên, trọng tâm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hoạt động phản biện xã hội đã tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa phương.

Thứ nhất, nhiều dự án luật quan trọng, liên quan đến “quốc kế dân sinh” đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức phản biện xã hội hoặc tham gia phản biện có hiệu quả(3). Chỉ tính riêng nhiệm kỳ 2014##- 2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tổ chức 86.872 cuộc phản biện xã hội, hầu hết trong số đó là phản biện các dự thảo chủ trương, chính sách, chương trình, đề án quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Năm 2020 và năm 2021, do ảnh hưởng hết sức nặng nề của dịch bệnh COVID-19, đồng thời Quốc hội, Chính phủ khóa XII và hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2025 cũng mới đi vào hoạt động năm đầu tiên, nên hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có phần bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, hoạt động của lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong các ban chỉ đạo phòng, chống COVID-19 cũng cho thấy rõ vai trò quan trọng của tổ chức mặt trận trong tình huống đặc biệt này.

Thứ hai, các dự thảo văn bản do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, tiến hành phản biện rất đa dạng và phong phú về lĩnh vực; nội dung phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cơ bản có chất lượng tốt, được dư luận đánh giá cao, nhiều nội dung phản biện đã được cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu(4) và có ý kiến phản hồi tích cực. Qua đó, hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trở thành một trong những kênh quan trọng, giúp Đảng, Nhà nước có thêm thông tin trước khi xem xét, quyết định các vấn đề trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đều là sản phẩm kết tinh của “ý Đảng” và “lòng Dân”; mối quan hệ tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” được phát huy cao độ, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Với nỗ lực cao, hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đi vào nền nếp, nhiều nơi tổ chức phản biện các dự thảo chương trình, dự án có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân tại địa phương, điển hình như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố: thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tỉnh Quảng Ninh; tỉnh Nghệ An... Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các địa phương đã tạo điều kiện để nhân dân chủ động, tích cực tham gia vào quá trình xây dựng các chính sách, quy định và các đề án, dự án, chương trình của địa phương có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân; qua đó, góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dự thảo chính sách, đề án, dự án, chương trình trước khi ban hành, tạo sự đồng thuận xã hội về nhận thức và thống nhất về hành động của các tầng lớp nhân dân.

Thứ ba, chất lượng, hiệu quả công tác phản biện xã hội đã khẳng định và ngày càng nâng cao vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã thực hiện tốt vai trò chủ trì xây dựng kế hoạch phản biện xã hội, phát huy vai trò của các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, tổ tư vấn, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực để thực hiện phản biện xã hội. Kết quả hoạt động phản biện xã hội được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp thu, hoàn thiện dự thảo chính sách, pháp luật trước khi ban hành; đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, tổ chức, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, hạn chế việc vi phạm pháp luật. Các hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giúp cơ quan có thẩm quyền hoạch định, thực thi có hiệu quả hơn các chính sách, pháp luật, góp phần quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định tình hình nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển của cả nước và các địa phương. Ngay cả khi hoạt động phản biện xã hội bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thì chính từ hoạt động trong các ban chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 mà lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã có điều kiện trực tiếp tham gia ý kiến để Đảng và Nhà nước kịp thời ban hành và điều chỉnh chính sách phòng, chống dịch COVID-19 theo hướng bảo đảm “mục tiêu kép”, thích ứng linh hoạt với bối cảnh, tình hình mới.

Định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian tới

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, thời gian tới cần phải “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”(5). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ, để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước, cần tập trung thực hiện quyết liệt 3 đột phá chiến lược là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Do đó, hoạt động phản biện xã hội của toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian tới cũng cần hướng vào song hành cùng các cơ quan có thẩm quyền tổ chức phản biện các dự thảo chính sách, pháp luật về tạo lập thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần gắn phản biện xã hội với hoạt động giám sát việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các dự án công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; hạ tầng thông tin, viễn thông, chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số. Nói cách khác, chương trình, kế hoạch phản biện xã hội hằng năm và cả nhiệm kỳ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải gắn với chương trình xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật của Quốc hội và Chính phủ.

Bên cạnh những trọng tâm lớn đó, cần tập trung thực hiện một số định hướng, giải pháp sau để tiếp tục nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

Một là, tăng cường phản biện xã hội theo chuyên đề để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Theo đó, hằng năm Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ xác định các chuyên đề, lĩnh vực cụ thể và tổ chức hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đồng loạt triển khai kế hoạch giám sát, phản biện xã hội hằng năm.

Hai là, chủ động tạo sự gắn kết giữa công tác nắm tình hình nhân dân, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri với việc triển khai công tác giám sát và phản biện xã hội. Trên cơ sở kết quả nắm tình hình nhân dân, ý kiến, kiến nghị của cử tri để xác định, lựa chọn những vấn đề cần phải làm rõ, từ đó xây dựng kế hoạch giám sát, phản biện xã hội để bảo đảm nội dung và kết quả phản biện xã hội thực sự sát với những vấn đề mà Đảng và Nhà nước mong muốn, nhân dân quan tâm.

Ba là, trên cơ sở quy định của pháp luật và kế hoạch phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các địa phương chủ động tham mưu đề xuất với cấp ủy, phối hợp với chính quyền địa phương tham gia từ sớm, từ xa vào quá trình xây dựng, ban hành các dự thảo chính sách, pháp luật của địa phương, nhất là các dự án phát triển kinh tế - xã hội, các dự án thu hồi đất phải đánh giá tác động môi trường; các quy hoạch phát triển địa phương giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050...

Bốn là, phát huy vai trò của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn tham gia vào công tác phản biện xã hội; quy tụ nhiều thành phần tham gia phản biện xã hội để bảo đảm tính đa dạng, tính đại diện, tính chuyên sâu mang hàm lượng khoa học cao, sát thực tiễn hơn, đúng với quan điểm và tinh thần chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Năm là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiên trì, bền bỉ trong việc theo dõi kết quả các cơ quan, cấp có thẩm quyền giải trình việc tiếp thu, không tiếp thu nội dung phản biện xã hội của tổ chức mặt trận. Tổ chức mặt trận phải theo đuổi vấn đề đến cùng, bảo vệ quan điểm của mình một cách công tâm, khách quan; chủ động, kịp thời phát hiện những bất cập, vướng mắc về thể chế và nảy sinh trong quá trình thực thi để chủ động đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để xử lý. Cần tổ chức khảo sát, lấy ý kiến của người dân đối với những vấn đề nổi cộm, bức xúc, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào ngày 16-8-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần làm tốt hơn nữa vai trò giám sát và phản biện xã hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các quy định của Đảng, Nhà nước. Tăng cường giám sát để tạo sự đồng thuận, nhất trí cao, ổn định xã hội, phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Mặt trận Tổ quốc phải tiếp tục làm tốt vai trò chủ trì hiệp thương, phối hợp giữa các tổ chức thành viên trong việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội; phát huy tối đa trí tuệ của các nhà khoa học, những chuyên gia giàu kinh nghiệm tham gia xây dựng pháp luật, phản biện, đóng góp ý kiến hoàn thiện khâu đột phá về thể chế phát triển đất nước, thể chế phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là những vấn đề quốc kế dân sinh, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của quần chúng nhân dân”(6). Ở đây, cần quán triệt và thực hiện hiệu quả Kết luận số 19-KL/TW, ngày 14-10-2021, của Bộ Chính trị, “Về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV”, trong đó có yêu cầu phải: “Phát huy vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc nâng cao chất lượng công tác phản biện xã hội đối với quy trình lập pháp và giám sát việc thực hiện pháp luật; chú trọng bản lĩnh, ý thức chính trị, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào trong quá trình giám sát, phản biện xã hội”.

Một số đề xuất để nâng cao chất lượng, hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thực hiện quan điểm chỉ đạo nói trên của Bộ Chính trị và để bảo đảm chất lượng, hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần quan tâm ban hành các quy định mới có liên quan đến quyền, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển ở trong nước và trên thế giới; cụ thể như sau:

Thứ nhất, sớm ban hành Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam(7) trên cơ sở tổng kết, đánh giá 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Những nội dung cơ bản cần thể hiện trong chiến lược này nhằm thống nhất nhận thức của toàn hệ thống chính trị và xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc; xác định rõ mục tiêu của đại đoàn kết toàn dân tộc; chủ thể và đối tượng tác động của đại đoàn kết toàn dân tộc; phương pháp và phương châm thực hiện chiến lược; tiêu chí đo lường mức độ, chất lượng và môi trường bảo đảm cho việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; chủ trương, giải pháp và các điều kiện bảo đảm thực hiện chiến lược một cách hiệu quả; trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch và ban hành lộ trình phù hợp với các văn bản của Đảng và Nhà nước để triển khai thực hiện từng nội dung cụ thể của chiến lược.

Thứ hai, năm 2022 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đạt được hiệu quả thiết thực, bảo đảm dân chủ, công bằng, đồng thuận trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ ba, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và đến năm 2030, chú trọng xây dựng thể chế bảo đảm phát huy tốt nhất hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; theo đó, cần ưu tiên tập trung sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ban hành Luật Hoạt động giám sát của nhân dân, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật về cơ chế bảo vệ Hiến pháp, Luật Tự quản của cộng đồng dân cư, Luật về hội... phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013.

Thứ tư, Đảng và Nhà nước chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, trình Quốc hội khóa XVII sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở Hiến pháp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, ban hành các luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để quy định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bên trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật - khâu đột phá đầu tiên trong phát triển đất nước; trong công tác tổ chức cán bộ để xây dựng, phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực của hệ thống chính trị nói riêng - khâu đột phá thứ hai trong phát triển đất nước; trong công tác xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị - khâu quyết định thành công cho sự vận hành nhịp nhàng, hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Thứ năm, để thúc đẩy triển khai thực hiện mô hình tổng thể hệ thống chính trị ở Việt Nam(8), Trung ương cần sớm chỉ đạo nghiên cứu một cách bài bản, chuyên sâu, đề xuất mô hình tổ chức hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cấp cơ sở; chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới(9). Trước mắt, chỉ đạo tổng kết, đánh giá thực hiện thí điểm mô hình trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp tỉnh, cấp huyện; sơ kết 3 năm thực hiện Quy định số 212-QĐ/TW, ngày 30-12-2019, của Ban Bí thư, “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan chuyên trách của ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện”./.

---------------------

(1), (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 171, 246
(3) Như: Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; dự án Luật về hội; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi); các dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc; dự án Luật Giáo dục (sửa đổi); Đề án Đào tạo sau đại học và bồi dưỡng nhân tài; dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo; dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi); dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; dự thảo Đề án Bộ tiêu chí đô thị văn minh; dự thảo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi); dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...
(4) Quốc hội khóa XIV đã chính thức bổ sung hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào Điều 6, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 190
(6) Nguyễn Phú Trọng: “Phát huy truyền thống đại đoàn kết, huy động sức mạnh của toàn dân tộc, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, ngày 16-8-2021, http://mattran.org.vn/tin-tuc/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-phat-huy-truyen-thong-dai-doan-ket-huy-dong-suc-manh-cua-toan-dan-toc-no-luc-phan-dau-thuc-hien-thang-loi-toan-dien-nghi-quyet-dai-hoi-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-39318.html
(7) Đảng đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII xem xét, bổ sung việc ban hành Nghị quyết chuyên đề về Chiến lược đại đoàn kết dân tộc vào Chương trình làm việc toàn khóa, hoặc thời điểm phù hợp.
(8) Hội đồng Lý luận Trung ương đang triển khai nghiên cứu về “Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể trong giai đoạn mới”.
(9) Ban Tổ chức Trung ương đang chủ trì xây dựng Đề án khung danh mục vị trí việc làm trong hệ thống chính trị.

TẠO ĐIỀU KIỆN CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯƠN LÊN THOÁT NGHÈO, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG

 

Để miền núi tiến kịp miền xuôi, các đại biểu tiêu biểu đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng phát huy truyền thống quê hương cách mạng, là những tấm gương sáng, bền bỉ lan tỏa tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm trong cuộc sống, đóng góp xây dựng quê hương đất nước.
Mong muốn trên được Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ tại buổi gặp mặt 45 đại biểu tiêu biểu đại diện cho đồng bào của hơn 20 dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng chiều 21/9, tại Phủ Chủ tịch.
Vui mừng gặp các đại biểu tiêu biểu đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Cao Bằng là vùng đất căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước, vinh dự là nơi mà năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt chân đầu tiên khi trở về nước sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.
Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng phát huy truyền thống yêu nước, nêu cao tinh thần cách mạng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ để kháng chiến thành công, giữ gìn biên cương Tổ quốc, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chia sẻ.
Qua nghe báo cáo của Đoàn đại biểu dân tộc thiểu số tiêu biểu của tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch nước vui mừng nhận thấy kinh tế-xã hội của tỉnh có nhiều tiến bộ, dù có 95% người dân tộc thiểu số.
"Bà con luôn đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nỗ lực vươn lên trong cuộc sống cũng như giữ gìn an ninh trật tự vùng biên cương Tổ quốc. Hạ tầng điện, đường giao thông đến trung tâm xã đã đạt tỷ lệ cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm" - Chủ tịch nước đánh giá.
Đáng chú ý, Chủ tịch nước bày tỏ ấn tượng tại Cao Bằng ngày càng xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, chương trình giảm nghèo bền vững.
Trong số 45 đại biểu có 41 đại biểu là đảng viên, trong đó có nhiều bí thư chi bộ tiêu biểu từ các dân tộc Tày, Mông… đã phát huy vai trò nêu gương của người đảng viên, người có uy tín, tích cực lan tỏa phong trào xóa đói giảm nghèo, giúp nhau cùng vươn lên trong cuộc sống. Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây cũng là những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, giữ gìn an ninh trật tự, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, là cầu nối giữa chính quyền và nhân dân.
Thời gian tới, Chủ tịch nước đề nghị tỉnh Cao Bằng chú trọng xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, Đảng bộ và chính quyền gần dân, sâu sát dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Cho rằng tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Cao Bằng còn cao so với mức bình quân chung của cả nước, Chủ tịch nước mong muốn Đảng bộ, chính quyền và các đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số tiêu biểu tỉnh Cao Bằng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo.
"Cần thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030…" - Chủ tịch nước đề nghị.
Theo Chủ tịch nước, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, các bí thư, trưởng thôn, người có uy tín cần phát động phong trào tự lực, tự cường, vươn lên mạnh mẽ tại địa phương, khích lệ, tạo điều kiện để bà con tích cực lao động, sản xuất để thoát nghèo; giữ gìn truyền thống văn hóa, phát huy những thuần phong mỹ tục tốt đẹp, xóa bỏ các tập tục lạc hậu.
"Nhất là cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tất cả con em đều được đến trường, được học tập tử tế, bởi đây là tiền đề quan trọng để giảm nghèo bền vững và vươn lên làm giàu, có cuộc sống tốt đẹp hơn" - Chủ tịch nước nêu rõ.
Tại buổi gặp mặt, lãnh đạo tỉnh Cao Bằng và các đại biểu đề nghị Đảng, Nhà nước quan tâm hơn nữa đến đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có chính sách đặc thù về tuyển dụng công chức, viên chức, nhất là giáo viên mầm non; xã hội hóa nguồn lực để xây dựng các vùng định canh, định cư tập trung; thực hiện tốt các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về các kiến nghị này, Chủ tịch nước cho biết sẽ giao các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết.
Báo Nhân dân

Tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững

 

Ngày 24-9, tại trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở New York, Hoa Kỳ, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã có bài phát biểu quan trọng tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ LHQ) Khóa 77.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhận định thế giới đang ở thời khắc “bước ngoặt của lịch sử” khi tình trạng đối đầu, xung đột và các hành động vi phạm luật pháp quốc tế tiếp tục gia tăng, phản ánh cạnh tranh giữa các nước lớn và chủ nghĩa đơn phương. Tác động của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu cùng nhiều thách thức an ninh phi truyền thống khác đang đe dọa sự tồn vong của nhân loại, đẩy lùi nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG).

Trong bối cảnh đó, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh cộng đồng quốc tế cần có những thay đổi căn bản về tư duy, định hình lại cách tiếp cận đối với các vấn đề toàn cầu, trong đó cần đặt con người vào trung tâm của mọi nỗ lực phát triển. Những trải nghiệm của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua cho thấy đoàn kết và hợp tác quốc tế chính là “chìa khóa” quan trọng cho quá trình này.

Tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Khóa họp 72 Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đề xuất cần loại bỏ xu hướng đối đầu, tư duy “được-mất”, và thay vào đó cần thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế một cách cởi mở, bao trùm, công bằng và cùng có lợi. Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh cần thượng tôn luật pháp quốc tế và tôn trọng Hiến chương LHQ, đặc biệt là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; đồng thời, cần xây dựng các thể chế đa phương vững mạnh và hiệu quả, với vai trò trung tâm của LHQ, thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu để ứng phó với các thách thức chung.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh Việt Nam luôn thúc đẩy hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và đối thoại tại Hội đồng Nhân quyền LHQ và mong muốn nhận được sự ủng hộ của các nước đối với ứng cử của Việt Nam vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.

* Ngày 23-9, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã gặp Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lào Saleumxay Kommasith.

Tại cuộc gặp, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã chúc mừng đồng chí Saleumxay Kommasith đã được Quốc hội khóa IX phê chuẩn giữ chức Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tại kỳ họp thứ 3 (tháng 6-2022) và mong muốn đồng chí Saleumxay Kommasith, trên cương vị mới, sẽ tiếp tục quan tâm chỉ đạo triển khai tốt các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao và các cơ chế hợp tác song phương quan trọng; tiếp tục hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương hai nước tích cực triển khai các thỏa thuận cấp cao hai nước.

Hai bên bày tỏ vui mừng và đánh giá cao sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt cũng như kết quả hợp tác giữa hai nước thời gian qua; khẳng định luôn coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ Việt Nam-Lào. Hai bên nhất trí quyết tâm triển khai hiệu quả các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước và kết quả Kỳ họp lần thứ 44 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào; tiếp tục phối hợp chặt chẽ tổ chức triển khai tốt công tác trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp; triển khai các hoạt động còn lại trong năm đoàn kết hữu nghị; thúc đẩy triển khai các dự án hợp tác trọng điểm, nhất trí tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và tiểu vùng.


CÔNG CUỘC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU CẦN CÓ CÁCH TIẾP CẬN TOÀN CẦU

 CÔNG CUỘC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU CẦN CÓ CÁCH TIẾP CẬN TOÀN CẦU

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu cần có cách tiếp cận toàn cầu, tăng cường đoàn kết quốc tế và chủ nghĩa đa phương, đồng thời cũng cần có cách tiếp cận toàn dân, vì người dân, và nhất là cần đảm bảo công bằng, công lý trong tổng thể chung và đối với từng quốc gia.
Nhận lời mời của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres (An-tô-ni-ô Gu-tê-rét), ngày 22/09/2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã gửi Thông điệp quan trọng tới Phiên họp hẹp cấp cao về biến đổi khí hậu được tổ chức tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York do Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Tổng thống Ai Cập đồng chủ trì.
Phiên họp là sáng kiến của Tổng Thư ký Liên hợp quốc để thống nhất nhận thức và thúc đẩy cam kết chính trị mạnh mẽ về tài chính khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi năng lượng, hướng tới Hội nghị lần thứ 27 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP27) sẽ diễn ra tại Sharm el-Sheikh, Ai Cập vào tháng 11 tới. Với ý nghĩa quan trọng này, các nguyên thủ, người đứng đầu Chính phủ các nước được mời cùng Lãnh đạo các tổ chức quốc tế lớn đã tham gia Phiên họp.
Trong Thông điệp gửi tới Phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu cần có cách tiếp cận toàn cầu, tăng cường đoàn kết quốc tế và chủ nghĩa đa phương, với Liên hợp quốc đóng vai trò trung tâm, đồng thời cũng cần có cách tiếp cận toàn dân, vì người dân luôn là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực, động lực và là mục tiêu của sự phát triển và nhất là cần đảm bảo công bằng, công lý trong tổng thể chung và đối với từng quốc gia. Thủ tướng Chính phủ khẳng định mặc dù là một nước đang phát triển trong quá trình chuyển đổi, đi lên từ chiến tranh nên đi sau nhiều quốc gia, nhưng Việt Nam luôn là một thành viên có trách nhiệm trong ngôi nhà chung của Liên hợp quốc và luôn quyết tâm, chủ động thực hiện các cam kết quốc tế của mình với trách nhiệm cao nhất.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đối tác phát triển hỗ trợ mạnh mẽ Việt Nam về chuyển giao công nghệ, ưu đãi tài chính, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm để hoàn thiện thể chế, công tác quản trị. Điều này sẽ giúp Việt Nam vừa đạt được mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, vừa bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giải quyết được các vấn đề an sinh xã hội liên quan và nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính bày tỏ cảm ơn đến bạn bè và đối tác quốc tế, các cơ quan Liên hợp quốc và cá nhân Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã hợp tác và hỗ trợ Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó có việc thúc đẩy tiến trình đàm phán thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Phát biểu tại Phiên họp, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển giao công nghệ, huy động tài chính, tăng cường năng lực để hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện các cam kết quốc tế về khí hậu, đặc biệt là các nghĩa vụ theo quy định của Công ước khung và Thỏa thuận Paris về Biến đổi khí hậu. Tổng thư ký Liên hợp quốc cho rằng cần tăng cường hợp tác giữa các nước phát triển và đang phát triển, tăng cường đoàn kết quốc tế để nhanh chóng tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng khí hậu hiện nay.
Báo Đảng cộng sản Việt Nam

Nhân rộng chi đoàn không khói thuốc

 

Sau giờ luyện tập vất vả, Trung úy Phạm Văn Đạt, Mũi trưởng Mũi 1, Đội 4, Liên đội 8 (Lữ đoàn Đặc công 429, Binh chủng Đặc công) lại cùng các chiến sĩ sôi nổi vui văn nghệ, đọc sách, báo, tham gia trò chơi dân gian, thể thao trên bãi tập.

Anh Đạt nêu bí quyết: “Các hoạt động này không chỉ thư giãn giải trí mà còn là một trong những biện pháp hiệu quả giúp tôi bỏ thói quen hút thuốc lá sau những giờ học tập, công tác”. Chứng kiến tấm gương của Trung úy Phạm Văn Đạt, Phó bí thư Chi đoàn 4, các chiến sĩ Nguyễn Minh Khang, Huỳnh Tấn Đạt... cũng tự giác bỏ thói quen hút thuốc lá.

Nhân rộng chi đoàn không khói thuốc
Cán bộ, chiến sĩ Đội 4, Liên đội 8 (Lữ đoàn Đặc công 429, Binh chủng Đặc công) giải trí trên bãi tập. 

Chi đoàn 4 trở thành một trong những chi đoàn tiêu biểu của Đoàn cơ sở Lữ đoàn Đặc công 429 về thực hiện Phong trào “Chi đoàn không có cán bộ, đoàn viên, thanh niên hút thuốc lá” và được tuyên truyền nhân rộng trong đơn vị.

Lữ đoàn Đặc công 429 là đơn vị có yêu cầu cao về huấn luyện, rèn luyện, nhất là về thể lực. Nhận rõ tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người, Đoàn cơ sở lữ đoàn đã phát động Phong trào “Chi đoàn không có cán bộ, đoàn viên, thanh niên hút thuốc lá”. Để phong trào thực sự trở thành hành động tự giác của mọi người, các chi đoàn xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu, lộ trình thực hiện cụ thể, gắn với thực hiện Phong trào Thi đua Quyết thắng; từng cán bộ, đoàn viên, thanh niên có bản đăng ký quyết tâm. Các chi đoàn tích cực trồng cây xanh, xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp, tạo môi trường học tập, công tác lành mạnh không khói thuốc lá.

Các đơn vị cũng phân công cụ thể cán bộ phụ trách công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá đối với đơn vị mình. Đoàn cơ sở cũng tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền, cập nhật, phổ biến trực quan, sinh động về tác hại của thuốc lá; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên. Các chi đoàn làm tốt công tác phân loại và có nhiều hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động sát thực.

Với những đồng chí hút thuốc lá nhiều năm, đơn vị gặp gỡ, trao đổi riêng; đồng thời xây dựng từng tổ, nhóm không hút thuốc lá. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá còn được nhiều chi đoàn sáng tạo đưa vào các buổi diễn đàn, tọa đàm, hái hoa dân chủ, vẽ tranh, làm báo tường; ngoài ra còn được lồng ghép với các hoạt động khác của đơn vị. Định kỳ, các tổ chức đoàn tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương nhân rộng điển hình, đồng thời đề ra nhiều biện pháp khắc phục hạn chế.


Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ
Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960. 

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!

(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2002, tập 9, tr.283; tập 5, tr.208-209; tập 4, tr.358; tập 5, tr.548; tập 11, tr.186; tập 11, tr.374

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - điều vô lý, không thể chấp nhận

 

Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - điều vô lý, không thể chấp nhận

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ 5 từ ngày 4 đến ngày 10-5-2022. 

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân.

XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong.

3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”. 

Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

----------------

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, NXB CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.672

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, NXB CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.22

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, NXB CTQGST, Hà Nội, 2021, tr.88.

Đừng để tâm hồn treo ngược cành cây...

 

Trong bài thơ “Là thi sĩ”, tặng các nhà thơ Việt Nam, ra đời năm 1942, nhà thơ Sóng Hồng (bút danh của đồng chí Trường Chinh) đã truyền thông điệp rằng: Nếu thi sĩ “Để tâm hồn treo ngược ở cành cây... Chìm đắm ở thương hoa và tiếc ngọc...” thì đó là tai ương, chướng họa của nhân quần.

Tám thập kỷ trôi qua, soi rọi vào hiện thực cuộc sống và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, tư tưởng và thông điệp ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự...

Tư duy “nổi loạn” và những hệ lụy

Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn văn học, nhất là tài khoản cá nhân của nhiều nhà văn trên mạng xã hội, đã chia sẻ thông tin, bình luận về những cuốn sách mới xuất bản của một số tác giả. Phần lớn những cuốn sách này không có gì nổi trội, nhiều tác giả còn rất xa lạ với bạn đọc. Điều gây chú ý đối với dư luận là những lời tán dương về sự “nổi loạn” của tác giả, tác phẩm.

Thực ra, “nổi loạn” không phải là thuật ngữ xa lạ, mới mẻ. Nó xuất hiện trong đời sống văn học-nghệ thuật lâu nay như một kiểu hội chứng dị biệt và được không ít người cổ xúy, tung hô như là một sự đột phá, sáng tạo, phá cách. Nói về sự “nổi loạn” trong tác phẩm văn học-nghệ thuật, đó có thể là một kiểu nhân vật có tính cách “nổi loạn”, các kiểu lập ngôn “nổi loạn”, hay một khuynh hướng sáng tác “nổi loạn”... Và tất cả đều bắt nguồn từ tư duy “nổi loạn” của người sáng tạo. Khách quan mà nói, không phải tất cả phong cách “nổi loạn” đều mang hàm ý xấu, tiêu cực. Có những sự “nổi loạn” về nghệ thuật tu từ, về xây dựng tính cách nhân vật được tác giả sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật để tạo sự khác biệt, điển hình, làm nổi bật tư tưởng, nội dung tác phẩm, được giới chuyên môn và công chúng đánh giá cao. Tuy nhiên, không ít người lại cố tình “nổi loạn” hoặc lấy cớ “nổi loạn” để cho ra đời những sản phẩm gây hại. Người thì muốn “nổi loạn” để tạo sự khác biệt, gây chú ý. Người lại thích “nổi loạn” như một kiểu bắt chước, học đòi. Và cái sự “nổi loạn” được nhắc đến nhiều trong thời gian qua chính là dục tính trong tác phẩm. Người ta gọi đó là “dâm thư” (sách khiêu dâm). Ở đây, chúng tôi không bàn sâu về học thuật, bởi đó là phần việc của các nhà phê bình. Xét trên phương diện “nghệ thuật vị nhân sinh”, soi rọi vào hiện thực đời sống xã hội thì thấy rõ, sự “nổi loạn”, lệch chuẩn, loạn chuẩn trong sáng tác văn học-nghệ thuật hiện nay chính là biểu hiện tiêu cực, một dạng của suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong một bộ phận văn nghệ sĩ.

Đừng để tâm hồn treo ngược cành cây...
Ảnh minh họa 

Những tác phẩm có tính chất “nổi loạn” kiểu này hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc bồi đắp đời sống văn hóa tinh thần cho công chúng ngoài việc gây tò mò, kích thích lối sống trụy lạc, ru ngủ thanh niên... Từ sự “nổi loạn” trong tác phẩm văn học-nghệ thuật đến hành vi nổi loạn của con người trong đời sống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bởi văn học-nghệ thuật có chức năng giáo dục thẩm mỹ, định hướng lối sống cho công chúng. Những cuốn “dâm thư” và những sản phẩm nghệ thuật lấy việc mô tả trần trụi cảnh sinh hoạt tình dục của con người trong các mối quan hệ ma mị, ma quái, kinh dị... có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần của công chúng. Nó làm cho lớp trẻ bị ru ngủ, say sưa trong ý tưởng hoan lạc, phó thác cuộc đời cho số mệnh, thủ tiêu ý chí phấn đấu, thui chột động lực phát triển, bàng quan với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh... Đó chính là những biểu hiện của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống trong văn học-nghệ thuật. Thực trạng này đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đó là: “Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc...”. Mặc dù đã được nhắc đến nhiều, nhưng những biểu hiện lệch lạc ấy vẫn chưa được khắc phục. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Những yếu kém, bất cập nêu trên chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi, nhắc lại trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự yếu kém, khuyết điểm này đã gây hệ luỵ, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, đến xây dựng con người và môi trường văn hóa của chúng ta”...

Coi trọng đào tạo, giáo dục lý luận chính trị cho văn nghệ sĩ

Trong lần trao đổi với một nhà văn đàn anh nổi tiếng ở TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được anh thẳng thắn chia sẻ rằng, cái mà một số người cho là “nổi loạn” ấy, thực ra là một sự bất lực về tài năng và mù mờ về ý tưởng sáng tạo. Do nghèo nàn ý tưởng sáng tạo và dao động về tư tưởng nên nhà văn khó tìm lối đi riêng, đành “để tâm hồn treo ngược ở cành cây”, thoát ly hiện thực, tưởng tượng ra những hình thức dục tính lập dị, ma quái để giật gân, câu khách. Thông điệp cảnh tỉnh của nhà thơ Sóng Hồng từ 8 thập kỷ trước vẫn vẹn nguyên giá trị trong đời sống văn hóa, văn học-nghệ thuật hôm nay: “...Thì bạn hỡi một nhà thơ như rứa/ Là tai ương, chướng họa của nhân quần/ Nhọc tơ lòng mà phí cả ngày xuân/ Để ca ngợi bất công và tàn ngược...”. Trong xu thế hội nhập, hơn lúc nào hết, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, xã hội phồn vinh đang được Đảng, Nhà nước ta đề cao, trở thành xu thế tất yếu của hành trình phát triển. Trong bối cảnh đó, nếu một bộ phận không nhỏ văn nghệ sĩ “Để tâm hồn treo ngược ở cành cây...”, ngụp lặn trong ngôn ngữ dung tục và tư duy “nổi loạn”, kích thích lối sống ẩn mình, ích kỷ, thực dụng, trao gửi số phận cuộc đời cho “mộng ái cao siêu”, đi ngược lại xu thế thời đại... thì đó là hành vi trái đường lối, quan điểm của Đảng. Sự lệch chuẩn ấy lại được cổ xúy, tung hô bằng kiểu lập ngôn “nổi loạn” của không ít người viết phê bình, thì sự nguy hại đối với đời sống văn hóa tinh thần của xã hội càng lớn.

Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam...”.

Như vậy, những biểu hiện, khuynh hướng hay trào lưu sáng tác tác phẩm văn học-nghệ thuật với lối tư duy “nổi loạn”, lệch chuẩn, cần phải kịp thời có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục. Đặt trong mối quan hệ với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái... thì chúng ta cần nhất quán quan điểm lấy xây để chống. Đầu tiên và trên hết là phải khơi thông tư tưởng, xóa bỏ định kiến ngay trong tư duy sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Cần thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, yếu kém trong công tác đào tạo, giáo dục lý luận chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức...”. Rõ ràng, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong môi trường văn học-nghệ thuật, bên cạnh yếu tố chủ quan do bản lĩnh, lập trường, tư duy cá nhân của một bộ phận tác giả, còn có nguyên nhân hết sức quan trọng là công tác giáo dục lý luận chính trị chưa được coi trọng đúng mức. Khiếm khuyết này dẫn đến một bộ phận văn nghệ sĩ hạn chế về tư duy lý luận, tư tưởng dao động, ngả nghiêng, bắt chước phong cách nước ngoài một cách tự nhiên chủ nghĩa. Để khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, giáo dục lý luận chính trị trong đội ngũ văn nghệ sĩ, trách nhiệm trước hết thuộc về tổ chức đảng trong các cơ quan chủ quản, các tổ chức hội, đoàn, cơ quan tuyên giáo các cấp...

Sinh thời, Bác Hồ đã dạy: “Để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thực sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp...”(1).

Thấm nhuần lời dạy của Bác, Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 tiếp tục nhấn mạnh việc “Đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa, văn học-nghệ thuật. Đội ngũ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp văn hóa nói riêng và trong sự nghiệp cách mạng nói chung...”.

Gắn chặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, trọng tâm là phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào môi trường văn học-nghệ thuật, chúng ta cần nhất quán quan điểm: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa là mục tiêu, động lực, vừa là đề tài sáng tạo của văn nghệ sĩ. Đó cũng chính là cách để mỗi văn nghệ sĩ không để tâm hồn “treo ngược cành cây”, đặt mình đúng vị trí trong xu thế thời đại với cảm hứng chủ đạo là khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, tr.647.