Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là:
"Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo
vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm
này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn,
là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích,
chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để
hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư
trong mỗi cơ quan, đơn vị.
Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là
ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn
người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại,
còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”..
Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn
“Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”.
Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi
riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay,
"bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi quý".
Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý
tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là
quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to,
mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa
ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến
phức tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu
chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi,
chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người
khác, nhất là mất lòng cấp trên. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê
bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến
những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn
vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên. St
Trong
bài viết mở đầu rất quan trọng của cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng
chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự
khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu:
Một
là, những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn
động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn
của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho
thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người
đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.
Hai
là, những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin
vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết
phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của loài người. Xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống
Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái
trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Thực
tiễn cho thấy, những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các
hình thức khác nhau nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó, một
số phần tử cơ hội chính trị đã lên tiếng cho rằng Việt Nam đi lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội là “trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”; hay đó chính là “một
khúc cong của lịch sử”, là “đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”.
Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường
đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Chính
những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của
những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit
hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh mẽ
tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội
bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế
trên phạm vi toàn thế giới.
Ở
Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong
đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi
xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ
cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục
phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch
sử”, không tuân theo xu thế chung của nhiều nước trên thế giới.
Qua
việc chỉ ra những xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cuốn sách của Tổng Bí thư đã tiếp tục gióng
lên hồi cảnh tỉnh về tinh thần cảnh giác trước những luận điệu của các thế lực
thù địch. Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam vẫn luôn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch, có thay
đổi hình thức cũng chỉ là chiêu trò “rượu cũ bình mới”. Do đó, mỗi cán bộ, đang
viên và nhân dân, trong đó có thanh niên phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết
đấu tranh để tiếp tục vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.St
Văn kiện Đại
hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân
tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an
ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát
triển đất nước”. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực
thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá
Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư
tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên
không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm
vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, tiếp
tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là
các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của
các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.
Hai là, làm
tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an
ninh quốc gia trên không gian mạng.
Ba là, phòng
ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.
Bốn là, tăng
cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.
Năm là, xây
dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng
thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và
dịch vụ mạng.
Việt Nam có
đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc
trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng
lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là,
số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu,
đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có
chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về
chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp
tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến
tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị
và ứng dụng dịch vụ mạng. St.
“Đường Cách mệnh” là tác phẩm tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, Trung Quốc (từ năm 1925 đến năm 1927). Trong “Đường Cách mệnh” có những nội dung quan trọng về đoàn kết quốc tế mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các hoạt động, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam trở nên sôi sục và rộng khắp. Mặc dù hoạt động với tinh thần yêu nước bất khuất, các phong trào đó lần lượt lâm vào bế tắc và cuối cùng đều thất bại. Đó là sự thất bại của ý thức hệ phong kiến, là sự thất bại của hệ tư tưởng tư sản, bởi đương thời, các hệ tư tưởng này được dựa trên một nền kinh tế Việt Nam nhỏ bé, không đại diện cho dân tộc và không phù hợp với xu thế thời đại mới. Mặc dù sự thất bại của các phong trào này còn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, song một trong những nguyên nhân cơ bản, sâu xa chính là bởi các nhà lãnh đạo các phong trào yêu nước khi đó có nhận thức về thế giới bên ngoài còn hạn hẹp, hạn chế, vì thế đã đưa ra những con đường không phù hợp với xu thế thời đại nói chung và không phù hợp với tình hình đất nước nói riêng, nên không thể tập hợp được lực lượng cách mạng và đoàn kết dân tộc. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú và sự vận dụng sáng tạo học thuyết khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, “Đường Cách mệnh” đã góp phần quyết định trong việc khắc phục sự khủng hoảng về đường lối, mở ra con đường cứu nước của dân tộc ta; khẳng định rõ định hướng lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, vừa đáp ứng được các nhu cầu khách quan của đất nước, vừa phù hợp với xu thế thời đại mới. Chính vì thế, “Đường Cách mệnh” đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam ngay từ thời kỳ đầu cách mạng, là tài liệu mẫu mực trong việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong những giai đoạn lịch sử mang ý nghĩa thay đổi có tính bước ngoặt của cách mạng nước ta. Những vấn đề liên quan đến con đường, mục tiêu cách mạng, cách thức xây dựng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng Đảng, giữ gìn chuẩn mực đạo đức của người cộng sản... đều vẫn giữ nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, trong đó có cả vấn đề đoàn kết quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở Việt Nam (năm 1967)
Quan điểm về đoàn kết quốc tế trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhìn từ thực tiễn lịch sử cho thấy, các phong trào yêu nước ở Việt Nam đều nhận thức được rằng “có đoàn kết quốc tế mới mau thắng lợi”. Ngay nhà yêu nước Phan Bội Châu, mặc dù thất bại nhưng ông cũng rút ra được kinh nghiệm là “phải liên kết với những người đồng bệnh”, tức là những dân tộc cùng bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột như mình. Nhưng liên kết như thế nào, dựa vào ai, liên minh với ai? Ai là bạn gần, ai là bạn xa? Đây đều là những câu hỏi mà các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước thời bấy giờ còn rất mơ hồ. Người thì muốn dựa vào thực dân Pháp để chống phong kiến; người thì muốn dựa vào đế quốc này để chống đế quốc kia. Thậm chí, đến khi nhận thức được sự cần thiết phải “liên kết với những người đồng bệnh” thì Phan Bội Châu lại chủ trương dựa vào giai cấp tư sản dân tộc vô cùng yếu ớt của Trung Quốc để chống thực dân Pháp. Còn với người dân lao động Việt Nam thời đó cũng không thể phân biệt được người dân Pháp chân chính với thực dân Pháp tàn độc, coi tất cả những ai “da trắng” đều là kẻ thù của cách mạng Việt Nam. Sự mơ hồ, nhầm lẫn đó cần phải được nhìn nhận rõ, cần phải chỉ ra rằng đâu là chỗ dựa quốc tế, ai là đồng minh của cách mạng Việt Nam trên thế giới và chúng ta cần hướng tới một liên minh, đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng chống lại kẻ thù chung.
Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau”(1). Người xác định rõ chỗ dựa quốc tế của cách mạng Việt Nam phải là cách mạng vô sản thế giới, là cách mạng Nga và Đệ tam quốc tế (tức Quốc tế 3). Để trả lời câu hỏi về sự tương quan giữa cách mệnh Nga đối với cách mệnh An Nam là thế nào, Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(2).
Về vấn đề tập hợp lực lượng đồng minh trên thế giới của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)”(3). Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam. Với Đệ tam quốc tế (tức Quốc tế cộng sản), Người chỉ rõ: Cách tổ chức của Đệ tam quốc tế “có đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á - Đông(4); khẩu hiệu “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”; quy tắc nói rằng “Các đảng cộng sản, nhất là Đảng Cộng sản Pháp... phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mệnh”; “kế hoạch về thuộc địa là tự tay ông Lênin làm ra”. Từ đây, Người khẳng định “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”(5). Với nhân dân lao động Pháp, cách mạng Pháp và mối quan hệ giữa cách mạng Pháp và cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đó là đồng minh của cách mạng Việt Nam, cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mạng Pháp, có thể thành công trước cách mạng Pháp và mang lại tác động tích cực đối với cách mạng Pháp. Người phân tích: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do. Vậy nên cách mệnh An Nam với cách mệnh Pháp phải liên lạc với nhau”(6).
Như vậy, về đoàn kết quốc tế và tập hợp lực lượng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ba vấn đề lớn:
Một là, cách mạng Việt Nam phải đứng về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới mới có thể “đạp đổ” tất cả chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, trong đó “Công nhân là nền cách mệnh”(7).
Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc của cách mạng Việt Nam khi liên minh với phong trào cách mạng thế giới; giữa quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam; sự thống nhất biện chứng của các mối quan hệ đó.
Ba là, xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là mối quan hệ có tác động qua lại, trong đó, cách mạng thuộc địa sẽ không “thụ động ngồi chờ” cách mạng chính quốc.
Với những luận điểm trên, tác phẩm “Đường Cách mệnh” đã đặt nền tảng đúng đắn cho con đường cách mạng của Đảng ta, đây chính là cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong giai đoạn thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quan điểm và sự vận dụng của Đảng ta về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới
Có thể thấy, đoàn kết quốc tế là một trong những nội dung cơ bản mà “Đường Cách mệnh” chỉ ra; là nền tảng và cơ sở khoa học cho đường lối quốc tế của Đảng ta, góp phần quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cho đến giai đoạn cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta tiếp tục vận dụng, sáng tạo quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh để phù hợp với bối cảnh quốc tế mới và tình hình của đất nước hiện nay.
Trong tiến trình đổi mới đất nước, nhờ vận dụng phù hợp, sáng tạo quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam từng bước hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đồng thời đóng góp tích cực cho nền hòa bình và tiến bộ của nhân loại.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ở thời kỳ đổi mới, bằng việc xác định đúng các dòng chảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên nguyên tắc bao trùm và cũng là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Chính từ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, nước ta từng bước ra khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận và thiết lập quan hệ chính thức với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có cả các cường quốc; tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc (UN)..., phát huy vai trò tích cực, chủ động trong mọi hoạt động tại các thể chế song phương và đa phương.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với bà Phó tổng Thư ký Liên hợp quốc Amina Mohammed tại trụ sở Liên hợp quốc ở thành phố New York (Mỹ)
Thời gian đã trôi qua, nhưng lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế để tận dụng sức mạnh của thời đại. Đây là những quan điểm đi trước thời đại và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam hiện nay, thể hiện qua những hoạt động mà nước ta đã và đang triển khai trong quá trình hội nhập vào một thế giới toàn cầu hóa, như mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, khoa học quản lý hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,... Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua hơn 35 năm đổi mới, từng bước mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn về đoàn kết quốc tế, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa,đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc. Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ đổi mới, vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”(8). Hoạt động đối ngoại Việt Nam đã khơi dậy và phát huy cao độ yếu tố quốc tế, yếu tố thời đại thành sức mạnh hiện thực. Với xu thế hòa bình, hợp tác đang diễn ra mạnh mẽ, hoạt động đối ngoại của nước ta được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế.Công tác đối ngoại đã tạo điều kiện phá vỡ mọi rào cản và đưa Việt Nam ngày càng đến gần hơn với thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành “mắt xích” quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng, như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)..., tạo ra động lực mới cho sự phát triển chung của đất nước. Qua đó, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tăng cường xuất, nhập khẩu; thế và lực của đất nước đã vững mạnh hơn nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, tạo tiền đề quan trọng để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.Quy mô, trình độ của nền kinh tế nước ta đã phát triển vượt bậc. Nếu như năm 1989, quy mô nền kinh tế Việt Nam là 6,3 tỷ USD thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người năm 1985 đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 2.750 USD/năm. Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nếu có nhận thức đúng đắn và nắm bắt được xu thế phát triển chung của các dòng chảy cách mạng trên thế giới; gắn mục tiêu đấu tranh của dân tộc ta với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, mới có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới; nếu đi ngược với xu thế trên, cách mạng sẽ khó thành công.
Vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế trong điều kiện mới, từ đánh giá đúng cục diện và xu thế phát triển chung của thế giới, Đảng ta đã đưa ra đối sách đúng đắn, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là chính sách đối ngoại của Việt Nam phải tiếp tục kiên định, nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ sự ủng hộ của các nước bạn bè, anh em và cộng đồng quốc tế, với chính sách chuyển từ đối đầu sang vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng tồn tại trong hòa bình, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển;chuyển hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, mở rộng quan hệ kinh tế góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với đối sách đúng đắn trên, Đảng ta đã chuyển từ cách tiếp cận các vấn đề quốc tế và đường lối đối ngoại chủ yếu dựa trên ý thức hệ sang cách tiếp cận sát với thực tế và toàn diện hơn, trên cơ sở nhận thức rõ về lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay khi nhân tố lợi ích quốc gia - dân tộc ngày càng nổi lên. Tuy nhiên, cần phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc trong mối quan hệ và sự kết hợp hài hòa giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế, với mục tiêu cao nhất là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây cũng làcơ sở cho sự hình thành, phát triển và triển khai toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại mà Đảng ta đã và đang thực hiện.
Với chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng việc phát triển quan hệ với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Với chủ trương rộng mở quan hệ đối ngoại tại Đại hội VI của Đảng, những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới đã củng cố một bước tiến vững chắc của Việt Nam trên con đường đưa phương châm đối ngoại của Việt Nam “muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới”(9) của Đại hội VII (năm 1991), “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”(10) của Đại hội IX (năm 2001), “là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(11) của Đại hội XI (năm 2011) và điều này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh trong các Văn kiện Đại hội XII và XIII của Đảng. Qua đó có thể thấy được, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được phát triển theo cả bề rộng lẫn chiều sâu, đem lại nhiều kết quả tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác, phát triển trên toàn thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên trì phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, hai mặt hợp tác và đấu tranh luôn gắn bó và có tác động qua lại với nhau, một mặt, thúc đẩy hợp tác; mặt khác, vẫn phải đấu tranh dưới mọi hình thức, mức độ thích hợp đối với từng đối tượng, trên từng vấn đề, để vừa có thể ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa thiết lập quan hệ với các nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. Chính sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa vừa hợp tác, vừa đấu tranh đã tạo điều kiện để Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ ngày càng nhiều của các lực lượng tiến bộ trên thế giới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh mới, nhận thức rõ sự chuyển dịch không ngừng trong quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa các nước lớn, Đảng ta đã luôn xử lý linh hoạt các vấn đề tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế có liên quan trực tiếp đến nước ta. Đó là trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Đảng tiếp tục vận dụng và phát triển đường lối đoàn kết quốc tế, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ cơ sở lịch sử, cơ sở pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam để cộng đồng quốc tế hiểu rõ quan điểm nhất quán của nước ta về các giải pháp đối thoại hòa bình, dựa trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, đặc biệt làCông ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; đồng thời, qua đó tăng cường tình đoàn kết, đồng thuận với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đối ngoại theo hướng trên là phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, thấm đượm quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng là cơ sở để xác lập đường lối đối ngoại của Đảng ta từ “rộng mở” đến “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, “là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(12). Thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước ta với những xu thế phát triển của thời đại. Điều này lại càng có ý nghĩa trong thời đại hiện nay khi đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đã trở thành nhu cầu khách quan của đời sống quốc tế và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ dâng hương và phát động thi đua của Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
Thực tế ngày nay cho thấy, quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng linh hoạt và phù hợp với cục diện thế giới cùng xu thế quốc tế hiện nay. Những quan điểm đó đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong đường lối và thực tiễn quan hệ đối ngoại, hướng tới mục tiêu tiếp tục tạo lập môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, vì mục tiêu cao nhất là lợi ích quốc gia - dân tộc. Chính từ đây đã mở ra một trang mới trong lịch sử đối ngoại của nước ta. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc. Quán triệt quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế đa tầng, đan chéo, biến động phức tạp khó lường hiện nay và đang hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn với thế giới, qua đó góp phần xây dựng lòng tin chiến lược trong hợp tác, thúc đẩy phát triển với các quốc gia, góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế.
Có thể khẳng định, quan điểm đoàn kết quốc tế trong “Đường cách mệnh” đã mang lại hiệu quả to lớn, tận dụng được sức mạnh thời đại trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Ngày nay, mặc dù tình hình quốc tế, khu vực và Việt Nam đã có nhiều thay đổi căn bản, nhưng những quan điểm cơ bản về đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa chiến lược và tiếp tục được quán triệt, thấm sâu vào mọi chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, tạo nền tảng vững chắc cho Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả./.
-----------------------
(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 329, 304, 305, 311 (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 312, 287, 317 (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 66 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 147 (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 119 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 138 - 139 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 162
Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, không gian chiến lược của Việt Nam không ngừng được mở rộng, mang lại nhiều kết quả quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, hiện nay, không gian chiến lược của Việt Nam được cho là đang đứng trước những thách thức lớn bởi xu hướng tập hợp lực lượng theo phe, trục trên thế giới, cũng như sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa.
Cách tiếp cận về không gian chiến lược
Không gian và chiến lược là những phạm trù cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có địa lý và chính trị. Không gian (space) là nhu cầu vật chất cho mọi thực thể sống và tồn tại, được hiểu là môi trường mà trong đó các hoạt động sống diễn ra và được thể hiện ở quy mô, phạm vi của các hoạt động đó(1). Quan niệm truyền thống về không gian bao gồm đất, biển, trời và vũ trụ (thường gọi là không gian địa - vật lý hay không gian tự nhiên). Đây là một hằng số trong mọi tính toán chiến lược của quốc giabởi nó là nơi chứa đựng cơ sở vật chất, nền tảng ban đầu cấu thành chính sách và quyền lực của nhà nước(2). Ngày nay, phạm trù không gian được mở rộng và nhấn mạnh nhiều đến không gian mạng (cyberspace). Thông qua internet, không gian mạng đã trở thành một công cụ hữu hiệu trong tạo dựng và kiểm soát thông tin.
Trước thế kỷ XVIII, chiến lược (strategy) thường được hiểu là phương cách hay mưu lược để giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh, sau đó dần được mở rộng sang hầu hết các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội(3). Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này(4), nhưng tựu trung, hầu hết đều cho rằng, chiến lược là chương trình, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó(5). Trong lĩnh vực quân sự, chiến lược được hiểu là mưu lược phòng thủ hay tấn công(6). Còn trong chính trị quốc tế, chiến lược thường được ví như một “kế hoạch trò chơi” hay “một kế hoạch đầy đủ”(7), trong đó chỉ rõ lựa chọn “người chơi” và quyết định quyết sách đối với từng trường hợp cụ thể(8). Trong kinh tế đối ngoại, chiến lược là kế hoạch, cách thức sử dụng các công cụ kinh tế để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của quốc gia, trong đó có mục tiêu địa - chính trị(9). Hơn nữa, chiến lược về không gian còn được thể hiện ở những lĩnh vực cụ thể, như chiến lược trên đất liền, chiến lược biển, chiến lược không trung, chiến lược không gian mạng... Phạm trù của các khái niệm này được đề cập gần như trong tất cả các học thuyết về địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế, điển hình là thuyết “vành đai đất vùng ven” của học giả Ni-cô-la Gi. Xpai-cơ-men (Nicholas J. Spykman), “quyền lực biển” của An-phơ-rét Thai-ơ Ma-han (Alfred Thayer Mahan), “sức mạnh trên không” của Alếch-xan-đơ P. đơ Xi-vơ-xki (Alexander P. de Seversky), “bàn cờ lớn” và “trò chơi quyền lực” của Gi. Brê-din-xki (Zbigniew Brzezinski), “địa - quân sự” của Mi-ly-iu-tin (Milyutin), “địa - kinh tế” của trường phái E. Lút-oac (Edward N. Luttwak)...(10).
Có thể thấy,không gian chiến lược (strategic space) là phạm trù bao trùm của địa - chiến lược(11), là môi trường mà trong đó con người, xã hội được cung cấp hay được bảo đảm an ninh; có cơ hội để phát triển và ngày càng làm chủ vận mệnh của mình; có vị thế lớn hơn trong cộng đồng quốc tế thông qua các chiến lược, sách lược của mình (thường là của quốc gia) về phát triển không gian đối nội và đối ngoại. Không gian chiến lược vừa có tính khách quan, được cấu thành bởi yếu tố tự nhiên (đất, biển, trời, vũ trụ), khá ổn định, vừa mang tính chủ quan, luôn biến động do tác động của con người và sự biến đổi của thời gian, bối cảnh lịch sử. Chính vì vậy, sức mạnh, tầm ảnh hưởng, sự nông, sâu của không gian chiến lược của một quốc gia trong quan hệ quốc tế không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh tiềm năng của địa lý, mà quan trọng hơn là tác động từ tư duy chiến lược, chính sách phát triển quốc gia và sự tương tác với thế giới bên ngoài.
Ngày nay, không gian chiến lược còn được mở rộng cả trong không gian mạng. Mặc dù không thuộc tính địa - vật lý, nhưng không gian mạng có mối quan hệ chặt chẽ với không gian thực, như đất đai, biển, trời và vũ trụ. Các hệ thống thông tin trên mạng được phổ biến đến con người trên những khu vực không gian, vị trí lãnh thổ nhất định bằng công nghệ thông tin. Vị trí địa lý, quy mô lãnh thổ, địa hình và mật độ dân số trên lãnh thổ là những yếu tố quan trọng cấu thành không gian mạng, là những cơ sở cho xây dựng và kiểm soát các cơ sở dữ liệu lớn (big database) hoặc các ngân hàng dữ liệu (banks database). Chính vì vậy, việc duy trì, mở rộng không gian chiến lược nói chung, bảo đảm chủ quyền thông tin, không gian mạng nói riêng trong bối cảnh cạnh tranh và bùng nổ công nghệ thông tin, xung đột địa - chính trị đang trở thành vấn đề cấp bách đối với mọi quốc gia - dân tộc, trong đó có Việt Nam.
Thời cơ và thách thức phía trước
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, sự đổi mới về nhận thức, hành động địa - chiến lược của Việt Nam trong hợp tác, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, phát huy sức mạnh tiềm năng của địa lý,... đã và đang làm gia tăng nhanh sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo ra một môi trường chiến lược khá thuận lợi đối với an ninh và phát triển của Việt Nam.
Một là, tầm ảnh hưởng và uy tín đối ngoại của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được mở rộng. Tính đến đầu năm 2021, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 186/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, hợp tác kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực, thiếp lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 30 quốc gia, trong đó có 17 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với các nước trên thế giới(12). Đáng chú ý, ngoài việc là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các thể chế hợp tác khu vực và tiểu khu vực, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng sông Mê Công, Việt Nam đã chủ động tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP, năm 2018), FTA Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA, năm 2020) và FTA với quy mô lớn nhất thế giới - Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP, năm 2020). Việt Nam cũng đã và đang tích cực tham gia các cơ chế hợp tác đa phương về quốc phòng - an ninh, như lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về quốc phòng - an ninh trên biển(13). Đặc biệt, Việt Nam đạt nhiều bước tiến quan trọng trong quan hệ với Mỹ trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, giáo dục - đào tạo đến quốc phòng - an ninh. Hơn nữa, việc Việt Nam đăng cai tổ chức thành công cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần thứ hai vào tháng 2-2019, đảm nhiệm và hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2020 - 2021, đã chứng tỏ bản lĩnh Việt Nam trước sự biến động phức tạp, khó lường của môi trường địa - chính trị, địa - kinh tế thế giới. Theo Viện Nghiên cứu Lowy (Ô-xtrây-li-a), năm 2020, sức mạnh và tầm ảnh hưởng của ngoại giao Việt Nam xếp thứ 9 tại khu vực châu Á, tăng 3 bậc so với năm 2019 và đứng thứ hai trong số các nước Đông Nam Á(14).
Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc trình Thư ủy nhiệm của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres
Bên cạnh đó, trong bối cảnh các nước lớn ngày càng tăng cường hợp tác, can dự và cạnh tranh ở khu vực Đông Nam Á, việc Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhất là trong ASEAN, cũng góp phần tạo ra các nguồn lực mới cho sự mở rộng không gian chiến lược đối ngoại của Việt Nam. Hơn nữa, cuộc cách mạng số và đại dịch COVID-19 cũng thúc đẩy Việt Nam tích cực hơn trong đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng hàm lượng chất xám trong các sản phẩm làm ra(15).
Hai là, sức mạnh kinh tế, quân sự của Việt Nam không ngừng được cải thiện.Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Lowy, sức mạnh tổng hợp quốc gia của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây. Tính đến năm 2020, Việt Nam xếp thứ 12 ở khu vực châu Á về sức mạnh tổng hợp quốc gia và là nền kinh tế lớn thứ 13 ở châu Á và lớn thứ 4 trong ASEAN với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở mức 340 tỷ USD(16). Theo đánh giá của Hãng định giá thương hiệu Brand Finance (Anh), năm 2020, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam xếp vị trí thứ 35 trong tốp 100 thương hiệu quốc gia có giá trị nhất thế giới(17). Theo dự báo, đến năm 2030, Việt Nam có thể đứng vào danh sách 29 nền kinh tế lớn nhất thế giới(18). Về quân sự, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Lowy năm 2020, Việt Nam xếp thứ 11 trong danh sách các nước có sức mạnh, khả năng quân sự ở châu Á(19). Còn theo đánh giá của trang Global Firepower, năm 2021, Việt Nam xếp vị trí thứ 24/140 quốc gia được coi là có sức mạnh quân sự, trong đó, xếp thứ 9 về quân số, xếp thứ 35 về sức mạnh hải quân, xếp thứ 41 về sức mạnh không quân, xếp thứ 14 về sức mạnh lục quân(20). Đáng chú ý, sức mạnh quân sự của Việt Nam không chỉ biểu hiện ở các con số thiết bị, khí tài hay mức độ tinh vi, hiện đại, mà quan trọng là lực lượng quân đội có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Ba là, “sức mạnh tiềm năng” về địa lý đang tăng lên khá nhanh.Trước hết là sức mạnh của không gian biển. Với quyết tâm “phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển”(21), Việt Nam đang nỗ lực để gia tăng sức mạnh biển. “Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Chính phủ ban hành vào ngày 22-9-2021, đang tạo ra “cú hích” mới cho phát triển kết cấu hạ tầng biển. Cùng với đó, hệ thống đường cao tốc ven biển và các khu kinh tế ven biển đang đi vào hoạt động(22). Sự phát triển của ngành dầu khí cũng đang đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần duy trì, củng cố an ninh, chủ quyền trên biển của Việt Nam. Ngành kinh tế du lịch biển, đảo của Việt Nam cũng đang có nhiều khởi sắc. Những danh lam thắng cảnh tự nhiên tại các địa phương trên cả nước đang góp phần giúp Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn hàng đầu của khu vực Đông Nam Á. Những nỗ lực của Việt Nam đang làm tăng lợi thế của một quốc gia có bờ biển dài, không gian biển rộng lớn, giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên, nằm ở vị trí chiến lược hàng hải và quân sự ở khu vực Tây Thái Bình Dương(23).
Về sức mạnh của không gian đất liền, Việt Nam tuy có diện tích đất liền khá khiêm tốn, khoảng 332.000km2, cùng địa hình khá mỏng, nhất là ở khu vực Bắc miền Trung, nhưng lại có lợi thế nằm ở vùng rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, trải dài từ Bắc tới Nam, nơi “cửa ngõ” giao lưu quốc tế của khu vực. Những dự án lớn về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông, đang thúc đẩy nhanh kết nối kinh tế của Việt Nam với các quốc gia láng giềng. Các tuyến đường cao tốc Lào Cai - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Móng Cái - thành phố Hạ Long,... đã và đang được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Mới đây nhất, ngày 1-9-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1454/QĐ-TTg, phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 sẽ hoàn thành khoảng 5.000km đường cao tốc và 172 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài gần 29.000km(24). Tính đến năm 2021, cả nước có 1.163km đường bộ cao tốc, dự kiến đến năm 2023 sẽ hoàn thành khoảng 916km đang đầu tư, nâng tổng số đường bộ cao tốc trong cả nước lên 2.079km(25). Tiếp đó, ngày 19-10-2021, Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050”, trong đó nhấn mạnh việc phát triển hệ thống đường sắt cao tốc Bắc - Nam bổ sung cho hệ thống đường sắt hiện có.
Về cơ sở pháp lý và củng cố chủ quyền lãnh thổ, Việt Nam đã ký kết các văn bản pháp lý liên quan đến biên giới và hoàn thành cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc(26), Lào(27), cũng như tích cực triển khai cắm mốc và giải quyết các vấn đề biên giới với Cam-pu-chia(28). Điều này không chỉ góp phần củng cố chủ quyền, an ninh biên giới, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới, mở rộng không gian chiến lược trong quan hệ đối ngoại, trước hết là với các quốc gia láng giềng.
Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, môi trường không gian địa - chiến lược của Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong bối cảnh mới.
Thứ nhất,đó là sự gia tăng xu hướng phân mảng thế giới theo phe, trục; sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa. Cùng với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, xung đột giữa Nga và U-crai-na, đã và đang tác động sâu sắc, toàn diện đến môi trường an ninh, phát triển và hợp tác toàn cầu, cũng như các mối quan hệ quốc tế song phương và đa phương. Về chính trị, cuộc xung đột Nga - U-crai-na làm biến đổi nhanh hơn môi trường địa - chính trị và trật tự thế giới theo hướng phân mảng thành phe, trục, nhóm nước khác nhau. Mỹ và phương Tây đang ráo riết tập hợp lực lượng chống Nga, Trung Quốc. Điều này được cho là có khả năng khiến Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn và thế giới có thể bước vào cuộc “Chiến tranh lạnh 2.0”. Về kinh tế, quá trình trên đang làm xói mòn hay làm thụt lùi xu thế toàn cầu hóa cũng như chủ nghĩa đa phương, bởi sự gia tăng các lệnh cấm vận, trừng phạt kinh tế, công nghệ từ Mỹ và các nước phương Tây đối với Nga. Điều này làm cho chủ nghĩa dân túy, bảo hộ mậu dịch và chủ nghĩa dân tộc cực đoan ngày càng có chiều hướng gia tăng. Về an ninh, xu hướng các nước lớn gia tăng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn trên cả phương diện quân sự, cũng như sử dụng công cụ kinh tế, công nghệ nhằm trừng phạt các đối thủ, dẫn tới làn sóng chạy đua vũ trang mới, kể cả phát triển vũ khí hạt nhân, có dấu hiệu tăng lên. Cùng với đó, hệ thống quản trị toàn cầu tiếp tục đứng trước nguy cơ suy giảm vai trò trong duy trì an ninh và thúc đẩy hợp tác hòa bình giữa các quốc gia - dân tộc. Hơn nữa, sức ép về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, trong đó có an ninh sức khỏe, an ninh mạng, an ninh môi trường,... đối với các nước đang phát triển đang tăng lên.
Việt Nam nằm ở vị trí tương đối quan trọng trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, có mối quan hệ truyền thống với Nga, U-crai-na và các quốc gia Đông Âu khác. Cuộc khủng hoảng Nga - U-crai-na đang đặt Việt Nam vào tình thế “nhạy cảm” trong quan hệ quốc tế. Không chỉ vậy, Việt Nam và các nước ASEAN cũng gặp không ít khó khăn trong việc củng cố sự đoàn kết nội khối bởi sự khác nhau trong cách tiếp cận, phản ứng của các nước thành viên đối với vấn đề xung đột Nga - U-crai-na. Đồng thời, việc duy trì và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác khu vực cũng đối mặt với trở ngại. Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác, như Hội nghị cấp cao ASEAN+3, Hội nghị cấp cao Đông Á, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ADMM+,... đều có sự tham gia của các nước lớn, các nước đối tác chiến lược của ASEAN, trong đó có Nga. Việc mời Nga tham dự các hội nghị trên và cách thức để các nước lớn cùng bàn thảo các vấn đề an ninh và hợp tác trong khu vực, cũng được xem là một trong những thách thức đang đặt ra đối với ASEAN...
Thứ hai, thách thức từ tình hình trong nước của Việt Nam. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong củng cố vị thế và sức mạnh tổng hợp quốc gia nhưng không gian chiến lược của Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, nhất là trong việc tạo dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ, để phát huy lợi thế và giảm thiểu bất lợi của biển và đất liền. Việt Nam vẫn chưa khai thác một cách hiệu quả “đại lộ giao thông biển”. Cùng với đó, hệ thống giao thông trên bộ, bao gồm cả đường bộ và đường sắt kết nối các cảng biển với các trung tâm kinh tế, cửa khẩu biên giới trên bộ, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, kết nối internet cũng tạo ra những thách thức mới về an ninh mạng. Hơn nữa, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về không gian an ninh và phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới còn nhiều bất cập. Điều này đòi hỏi cần có sự đổi mới cả nhận thức và hành động về không gian chiến lược nói riêng, địa - chiến lược của Việt Nam nói chung.
Việt Nam cần phát huy sức mạnh tiềm năng của biển và biên giới đất liền thông qua tăng cường xây dựng và kết nối kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, hiện đại hóa hệ thống logistics
Câu hỏi được đặt ra hiện nay là làm thế nào để củng cố và mở rộng không gian chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh mới, nhất là để vượt qua những thách thức từ sự biến động phức tạp, khó lường của môi trường - địa chính trị, kinh tế thế giới.
Trước hết, đó là việc giữ được thế “cân bằng”, tự chủ chiến lược trong đối ngoại, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đứng vững trước sự lôi kéo, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương. Đơn cử như, cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, đối đầu Nga - Mỹ và cuộc xung đột Nga - U-crai-na đang diễn ra có khả năng đặt Việt Nam vào tình thế “nhạy cảm” trong ứng xử với các bên liên quan. Chính vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chú trọng củng cố quan hệ với các nước lớn, các nước tầm trung, bạn bè truyền thống cũng như các thể chế hợp tác đa phương khác nhau, trong đó có ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam cần kiên định chính sách quốc phòng - an ninh “bốn không”(29); kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược trong ứng xử với các đối tác, đối tượng; chủ động thích ứng với mọi biến động mới, trong đó có phương án dự phòng, phương án tác chiến khác nhau để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia phòng khi chiến tranh nổ ra.
Tiếp đến, Việt Nam cần phát huy hơn nữa sức mạnh tiềm năng của biển và biên giới đất liền thông qua tăng cường xây dựng và kết nối kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, hiện đại hóa hệ thống logistics. Điều này sẽ góp phần làm tăng vị thế của một quốc gia nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương, có bờ biển dài hướng ra Biển Đông và có “cửa ngõ” thông thương với nhiều quốc gia, như Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia...
Đồng thời, Việt Nam cần có những nỗ lực mới trong việc xác lập, bảo vệ và mở rộng chủ quyền không gian mạng, trong đó không chỉ hoàn thiện cơ sở pháp lý, chiến lược về vấn đề này, mà quan trọng hơn là đẩy mạnh xây dựng cơ sở và kết nối dữ liệu số; tăng cường công tác an ninh, bảo mật; ưu tiên nguồn lực cho phát triển công nghệ thông tin, chuyển đổi số quốc gia, cũng như chú trọng hơn về hợp tác quốc tế, trong đó có thông tin đối ngoại. Việc kết hợp phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm quốc phòng - an ninh, cải thiện an sinh xã hội, nhất là ở các khu vực biên giới, biển, đảo cũng cần được thúc đẩy. Hơn nữa, cần phát huy và kết hợp các công cụ khác nhau, trong đó dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Cùng với đó, Việt Nam cần củng cố, khơi dậy hơn nữa ý chí, lòng tự hào, khát vọng phát triển của dân tộc, trong đó có cả việc kết nối, cố kết dân tộc của gần 100 triệu người dân Việt Nam trong nước với hơn 5 triệu đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài cùng chung tay đưa Việt Nam nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia tầm trung, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Có thể nói, sự đổi mới về nhận thức hành động địa - chiến lược của Việt Nam trong hợp tác, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, phát huy sức mạnh tiềm năng của địa lý,... kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay đã và đang góp phần làm gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo ra một môi trường chiến lược khá thuận lợi đối với an ninh và phát triển của nước ta. Tuy nhiên, không gian chiến lược đối với an ninh và phát triển của Việt Nam cũng đang đứng trước không ít thách thức bởi sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, cuộc khủng hoảng Nga - U-crai-na và đối đầu Nga - Mỹ cùng phương Tây. Kết quả của quá trình trên đang khiến thế giới có xu hướng phân mảng, kéo theo sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa. Việt Nam đang hội nhập khá sâu rộng vào hệ thống toàn cầu, nhất là về kinh tế; đồng thời, là nước nằm ở vị trí chiến lược khá “nhạy cảm” trong cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và cũng là nơi còn chứa đựng bên trong cả những vấn đề chính trị - tư tưởng của thời đại, nên sự tác động của quá trình trên được đánh giá là tương đối mạnh mẽ. Để vượt qua những thách thức trên, Việt Nam cần tiếp tục đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược trong ứng xử với các đối tác, đối tượng; đồng thời, phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó có sức mạnh của tiềm năng địa lý và khối đoàn kết dân tộc, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho không gian địa lý và không gian mạng, cũng như có các phương án khác nhau để thích ứng với sự biến đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới./.
----------------
(1) Xem: E. Mazur and J. Urbanek: “Space in geography” (Tạm dịch: “Không gian trong địa lý”), GeoJournal, 1983, Vol. 7, No. 2, tr. 139 - 143 (2) Xem: Trần Khánh: “Bàn về các luận thuyết liên quan đến địa chiến lược”, Tạp chíKhoa học xã hội Việt Nam, số 7, 2019, tr. 4 - 8; Robert D. Kaplan: Sự minh định của địa lý, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2017, tr. 112. (3) Francis A. Galgano: “Militrary Geography” (Tạm dịch : “Địa lý quân sự”), Oxford Bibliographies, ngày 12-7-2017, https://www.oxfordbibliographies.com/view/document/obo-9780199874002/obo-9780199874002-0029.xml (4) Theo định nghĩa của Na-pô-nê-ông Bô-na-pác (Napoleon Bonaparte), chiến lược là nghệ thuật sử dụng thời gian và không gian theo cách thức ngoại giao và quân sự. Xem: Robert D. Kaplan: Sự minh định của địa lý, Sđd, tr. 112 (5) Xem: Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa quân sự: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, 2004, tr. 221; Lê Đình Tĩnh: “Bàn về tư duy chiến lược: Lý thuyết, thực tiễn và trường hợp Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4 (111), tháng 12-2017, tr. 8 (6) Xem: Trần Khánh: “Bàn về phạm trù và định nghĩa về địa chiến lược”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4, tháng 12-2019, tr. 203; M.V. Rjeltov: Địa chính trị: Lịch sử và Lý thuyết (tiếng Nga), Mát-xcơ-va, 2009, tr. 314 (7), (8) John von Neumann and Oskar Morgenstern: Theory of Games and Economic Behavior (Tạm dịch: Lý thuyết về trò chơi và hành vi kinh tế), Princeton, NJ.: Princeton University Press, 1944, tr. 79 (9) Xem: Ettward N. Luttwak: From Geopolitics to Geo-economics: Logic of Conflict, Grammar of Commerce (Tạm dịch: Từ địa - chính trị đến địa - kinh tế: Logic của xung đột, ngữ pháp thương mại), Center for the National Interest, No. 20, 1990, tr. 17 - 23; Sanjaya Baru: “Geo-economics and Strategy” (Tạm dịch: Địa - kinh tế và chiến lược), Survival, Vol. 54, No. 3, 2012, tr. 47 - 58 (10) Xem: Trần Khánh: “Bàn về các luận thuyết liên quan đến địa chiến lược”, Tạp chíKhoa học xã hội Việt Nam, số 7, 2019, tr. 8 - 11 (10) Địa - chiến lược là một cách tiếp cận đặc thù của khoa học chính trị. Về mặt lý thuyết, địa - chiến lược nghiên cứu vai trò, giá trị và tác động của địa điểm, không gian địa lý, bối cảnh, thời cơ quốc tế và mục tiêu quốc gia đối với việc tạo dựng và phát triển không gian chiến lược (thường là của quốc gia) trong quan hệ quốc tế. Về mặt thực hành, địa - chiến lược là sự cân nhắc chiến lược, là mưu lược, kế sách hành động, nghệ thuật kiểm soát và khai thác không gian nhằm tạo ra một không gian chiến lược cho an ninh, hội nhập và phát triển của một quốc gia. (11) Xem: Trần Khánh: “Bàn về phạm trù và định nghĩa về địa chiến lược”, Tlđd, tr. 199 - 219. (12) Tính đến năm 2021, Việt Nam có ba đối tác chiến lược toàn diện, bao gồm: Nga (năm 2001), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008); 14 đối tác chiến lược, bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha (năm 2009), Anh (năm 2010), Đức (năm 2011), I-ta-li-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po và Pháp (năm 2013), Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin (năm 2015), Ô-xtrây-li-a (năm 2018), Niu Di-lân (năm 2020). (13) Từ năm 2014, Việt Nam chính thức tham gia lực lượng “mũ nồi xanh”, bảo vệ hòa bình của Liên hợp quốc. Từ năm 2018, quân số tham gia của Việt Nam đã tăng lên quy mô từng đại đội. Từ năm 2019, Việt Nam chính thức tham gia tập trận chung trên biển giữa Mỹ và các nước ASEAN. (14) Lowy Institute: “Asia Power Index, Key Findings 2020” (Tạm dịch : “Chỉ số quyền lực châu Á, Những phát hiện chính năm 2020”), https://power.lowyinstitute.org/downloads/lowy-institute-2020-asia-power-index-key-findings-report.pdf (15) Theo dự báo, đến năm 2030, việc thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 28,5 tỷ USD - 62,1 tỷ USD, tương đương 7% - 16% GDP của Việt Nam. Xem: Thông tấn xã Việt Nam: “Đo lường tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến kinh tế Việt Nam”, Trang thông tin điện tử Bộ Xây dựng, ngày 13-1-2020, https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1288/56851/dopluong-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-4-0-den-kinh-te-viet-nam.aspx (16) Lowy Institute: “Asia Power Index, Key Findings 2020” (Tạm dịch: “Chỉ số quyền lực châu Á, Những phát hiện chính năm 2020”), Tlđd (17) Xem: Phương Vũ - Thanh Tâm: “Đối ngoại Việt Nam được đánh giá “thăng hoa” 5 năm qua”, ngày 7-4-2021, https://vnexpress.net/doi-ngoai-viet-nam-thang-hoa-5-nam-qua-4257993.html (18) Lê Đình Tĩnh: “Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh ngoại giao Việt Nam sau năm 2030”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2 (113), 2018, tr. 39 (19) Lowy Institute: “Asia Power Index, Key Findings 2020” (Tạm dịch: “Chỉ số quyền lực châu Á, Những phát hiện chính năm 2020”), Tlđd (20) Xem: N. Tuấn Sơn: “Xếp hạng sức mạnh quân sự 2021: Vị trí mới nhất của quân đội Việt Nam”, ngày 8-11-2021, https://soha.vn/xep-hang-suc-manh-quan-su-2021-vi-tri-moi-nhat-cua-quan-doi-viet-nam-20211106094343723.htm (21) Xem: Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-36-nqtw-ngay-22102018-hoi-nghi-lan-thu-tam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-chien-luoc-phat-trien-ben-3453 (22) Ngày 24-9-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1453/QĐ-TTg, “Về việc điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020”, trong đó bổ sung bốn khu kinh tế ven biển vào hệ thống 15 khu kinh tế ven biển đã được thành lập trước đây, nâng tổng số khu kinh tế ven biển của cả nước lên 19 khu. (23) Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, đứng thứ 27/157 quốc gia ven biển, các quốc đảo trên thế giới, chiếm tỷ lệ khoảng 100km2 đất liền/km bờ biển (mức trung bình trên thế giới là 600km2 đất liền/km bờ biển). Diện tích biển của Việt Nam là khoảng 1.000.000km2, chiếm hơn 28% diện tích Biển Đông và lớn gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền của cả nước. Đặc biệt, có hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa, nằm trên những trục chính, điểm nút của hàng hải quốc tế,nơi giàu có về tài nguyên thiên nhiên. (24) Xem: Quyết định số 1454/QĐ-TTg, ngày 1-9-2021, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. (25) Xem: Vũ Lê:“Những biến số tác động giá bất động sản năm 2022”, ngày 11-2-2022,https://vnexpress.net/nhung-bien-so-tac-dong-gia-bat-dong-san-nam-2022-4425089.html (26) Năm 1999, Việt Nam và Trung Quốc ký kết Hiệp định biên giới đất liền. Đến năm 2009, hai nước ký kết đồng thời ba văn kiện pháp lý liên quan đến biên giới, trong đó có Nghị định thư về phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu. (27) Việt Nam và Lào đã hoàn thành cắm cột mốc trên toàn tuyến biên giới từ năm 2014. (28) Tháng 10-2005, Việt Nam cùng Cam-pu-chia ký kết bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985. Tháng 10-2019, hai bên tiếp tục ký kết Hiệp định bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền. Tính đến năm 2021, đã có tới 84% đường biên giới trên bộ đã được phân giới cắm mốc. (29) Năm 2009, Việt Nam chính thức đưa ra chính sách “ba không”, bao gồm : 1- Không liên minh quân sự với nước ngoài; 2- Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại nước mình ; 3- Không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 bổ sung chính sách, đó là “không sử dụng vũ lực hay đe dọa vũ lực trong quan hệ quốc tế”.