Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 16/10
ĐIỆP VIÊN MANG BÍ SỐ H3 NGUYỄN VĂN MINH
BIẾN CHỦNG XBB GÂY LÀN SÓNG COVID MỚI Ở SINGAPORE
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 17/10
TUYÊN TRUYỀN NÂNG CAO HIỂU BIẾT CHO NGƯỜI DÂN VIỆT NAM VỀ BIÊN GIỚI, BIỂN ĐẢO
Bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo là một vấn đề vô cùng thiêng liêng, là nhiệm vụ không chỉ của lực lượng vũ trang mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam. Công tác tuyên truyền cho người dân về bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo là một vấn đề vô cùng rộng lớn, cần nhiều nghiên cứu chuyên đề, nhiều trao đổi chuyên sâu cũng chưa thể thỏa đáng.
Thứ nhất, hiện nay chúng ta vẫn tích cực tuyên truyền về bảo vệ
chủ quyền biển đảo, tuy nhiên trên thực tế người dân và thậm chí một số cơ quan
báo chí vẫn chưa hiểu đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng như sự nhạy cảm
của từng lực lượng làm nhiệm vụ trên vùng biển đảo nước ta. Việc thông tin cho
người dân hiểu bộ đội hải quân có nhiệm vụ gì, bộ đội biên phòng có nhiệm vụ
gì, cảnh sát biển, kiểm ngư… có chức năng ra sao vẫn còn hạn chế? Từ đây cũng
sẽ dẫn tới những nhận thức chưa đúng, chấp hành pháp luật cũng như tuân thủ sự
điều hành của các lực lượng chức năng trên biển chưa đạt hiệu quả cao.
Thí dụ, báo chí vẫn thường xuyên tuyên truyền về quần đảo Trường
Sa và nhà giàn DK 1, mặc dù vậy không ít người dân vẫn nhầm lẫn cho rằng hai
khu vực này là một. Trên thực tế đây là hai bộ phận khác biệt, cách khá xa nhau
và do những đơn vị khác nhau bảo vệ, quản lý.
những nhầm lẫn về vùng quản lý của các đơn vị hải quân. Bộ Tư
lệnh Vùng 1 hải quân quản lý và bảo vệ vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và
các đảo trong Vịnh Bắc Bộ; Bộ tư lệnh Vùng 2 quản lý và bảo vệ vùng biển từ Nam
Bình Thuận đến Bạc Liêu và thềm lục địa phía Nam, trong đó có khu vực trọng
điểm là vùng biển có các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ (gọi tắt là DK1)
thuộc thềm lục địa phía Nam; Bộ Tư lệnh vùng 3 hải quân quản lý và bảo vệ vùng
biển giữa miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định gồm các đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn,
Quần đảo Hoàng Sa,… Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân quản lý và bảo vệ Quần đảo
Trường Sa, đảo Phú Quý, biển Đông và vùng biển phía Nam miền Trung, từ Phú Yên
đến Bắc Bình Thuận…; Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân quản lý và bảo vệ vùng biển Nam
biển Đông và vịnh Thái Lan thuộc vùng biển hai tỉnh Cà Mau (biển phía Tây Nam
của Cà Mau) và Kiên Giang…
Chính vì một số nhận thức chưa đúng này mà có lúc chúng ta sử
dụng hình ảnh, thông tin sai để tuyên truyền, điều này có thể gây tâm tư, suy
nghĩ cho cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ hoặc hậu phương của họ ở nhà.
Thứ hai, về công tác tuyên truyền quần đảo Trường Sa và cụm nhà
giàn DK1, nhiều năm qua, chúng ta đã có hàng nghìn bài báo, hàng trăm chương
trình truyền hình để tuyên tuyền về Trường Sa và DK1, tuy nhiên vấn đề mới thì
không nhiều. Các đề tài đi vào lối mòn vì không có chi tiết độc đáo, không có
câu chuyện xúc động.
Trước đây tôi và đồng nghiệp đã từng có vệt bài 5 kỳ viết về những
câu chuyện rất riêng trên quần đảo Trường Sa từ trước đến nay. Ví dụ như chuyện
nhiều thế hệ hai cha con cùng đi giữ đảo; chuyện con vật chim, cá trên đảo,
rùa… trên đảo; chuyện lá quốc kỳ trên đảo từ ngày đầu tiên; chuyện Thiếu tướng
Hoàng Kiền mang phân trâu ra đảo trồng cây; chuyện người nuôi mèo, ấp trứng vịt
nhiều nhất đảo… Hay khi viết về một đồng chí cán bộ quân y có gần 30 năm công
tác ở Vùng 2 hải quân, trực tiếp là gắn bó trên các nhà giàn DK1, tôi đã tìm về
Kinh Môn, Hải Dương để gặp vợ con đồng chí, tìm hiểu hoàn cảnh, viết câu chuyện
về những hy sinh của người vợ khi gần 30 năm… chờ chồng…
Có thể thấy với phóng viên báo chí hiện nay, việc tìm được đề
tài mới, hấp dẫn đối với biển đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa hay cụm nhà
giàn DK1 là không dễ. Theo tôi chúng ta cần tăng cường tuyên truyền về những
chính sách của Đảng, Nhà nước chăm lo cho hậu phương cán bộ, chiến sĩ công tác
nơi biển đảo. Lên án sự lạm dụng, trục lợi, về các chính sách hậu phương quân
đội; khích lệ, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, các lực lượng bảo vệ an
ninh, chủ quyền biển, đảo; khuyến khích nhân dân định cư ổn định lâu dài trên
đảo, làm ăn dài ngày trên biển; tuyên truyền bồi đắp tình yêu, ý thức trách
nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Thứ ba, việc tuyên truyền đối với ngư dân tham gia khai thác
trên ngư trường Biển Đông để họ nhận thức được sự cần thiết của việc xây dựng
nghề cá có trách nhiệm, bền vững. Ngày 23-10-2017, Ủy ban châu Âu (EC) cảnh báo
“thẻ vàng” đối với hải sản của Việt Nam về việc chống khai thác hải sản bất hợp
pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
5 năm qua, cả hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương;
các bộ, ngành, cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương, ngư dân Việt Nam
đã rất nỗ lực quyết tâm gỡ “thẻ vàng” của EC. Ví dụ như khuôn khổ pháp lý của
Việt Nam hiện đã cơ bản phù hợp với quy định của quốc tế; bảo đảm hướng tới xây
dựng nghề cá bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế. Tổ chức triển khai
các quy định liên quan như hướng dẫn ngư dân lắp đặt thiết bị giám sát hành
trình trên tàu; ghi nhật ký đánh bắt để phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm đủ
điều kiện cho xác nhận, chứng nhận; tăng cường xử phạt sai phạm cũng như ngăn
chặn tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài có chuyển biến…
Đồng thời, năm 2022 cũng là năm kỷ niệm 40 năm Công ước Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982 (10/12/1982 - 10/12/2022), đây là một căn cứ pháp lý
quốc tế vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lớn trong việc giúp chúng ta củng cố cơ
sở luật pháp, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Chính vì vậy
các cơ quan báo chí, truyền thông cũng cần tăng cường thông tin để người dân
hiểu thêm về vấn đề này. St
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VIỆC HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH!
Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì
mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc
đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật
việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy
mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn
mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy
mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị số
05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"(gọi tắt là 3 Chỉ thị)… trong
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: “Học mãi đâu
có vào”, học rồi “tại sao cứ thế mãi”, “càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng
viên suy thoái”…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 53 năm, song tư tưởng, đạo đức,
phong cách của một vị lãnh tụ gần dân, dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước
không chỉ in đậm trong trái tim và khối óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà
còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do,
công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và
tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định
rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại…
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng
lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Tư tưởng của Người là
kết quả sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng
lợi trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát
triển đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp
tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…
Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi
mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý
luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời,
đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy
luật phát triển tất yếu của thời đại. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá
trị của di sản Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do,
hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết
của tất cả các lực lượng chống đế quốc, thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc
lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền vững giữa các dân tộc “trên con đường
tiến bộ - con đường hoà bình trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã
trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất
chúng về mọi đức tính của con người và mọi đức tính xã hội chủ nghĩa” trong
thời đại mới.
Với Hồ Chí Minh, dù là người đang làm thuê trên tàu Amiran
Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước hay khi đã trở thành
một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người “yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều
mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là
nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu. Từ cuộc đời và
phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân
dung một người cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả
mọi lời nói, điều mà Người khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn
bè, anh em, đồng chí, thậm chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó
chính là “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì
mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”.
Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh
quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh, khí phách ngoan cường, ý chí bất
khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh và thái độ ứng xử điêu luyện về
chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán, nhanh nhạy trong những tình thế gay
go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng của dân tộc Việt Nam và tất cả các
dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới. Đồng
thời, lòng yêu thương con người và sự bao dung, khoan hoà của Người cũng như
trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm, tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng,
trong hành động, trong từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc
tế đã làm cho những người đã từng ở bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì
thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ
khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ
không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là
một nhà hiền triết hiện đại đã mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những
người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi
trái đất này”.St
XÂY DỰNG HÌNH MẪU THANH NIÊN QUÂN ĐỘI " KHÁT VỌNG ĐẸP - TRÁCH NHIỆM CAO"
Chiều ngày 11/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thân mật gặp
80 đại biểu ưu tú đại diện cho 450 đại biểu dự Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi tới tuổi trẻ toàn quân lời chào
thân ái, lời thăm hỏi chân tình và khẳng định trong các giai đoạn của cách
mạng, thanh niên quân đội luôn phát huy vai trò nòng cốt, xung kích sẵn sàng
chiến đấu vì Tổ quốc.
Lắng nghe phát biểu của các đại biểu báo cáo những thành tích cá
nhân cũng như của tập thể đoàn thanh niên quân đội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng biểu dương những thành tích xuất sắc của thanh niên quân đội là những
thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, hết
lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có ý chí chiến đấu cao. Các
phong trào hành động cách mạng của thanh niên quân đội tạo động lực để tuổi trẻ
toàn quân đạt được nhiều thành tích trong huấn luyện chiến đấu, học tập, lao
động sản xuất, tham gia ứng phó, giúp dân phòng chống thiên tai, dịch bệnh...
Nhiều đồng chí lập công xuất sắc và anh dũng hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, là
những tấm gương sáng xứng danh phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ". Các tổ chức
đoàn trong quân đội góp phần quan trọng xây dựng Đảng và xây dựng đơn vị vững
mạnh.
Để công tác đoàn và phong trào thanh niên quân đội phát triển
mạnh mẽ, vững chắc hơn nữa trong thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
yêu cầu phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, của quân
đội trong lĩnh vực này, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính
trị, xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức
và hành động, góp phần xây dựng Đảng trước một bước.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mong muốn những đại biểu thanh niên
ưu tú tiếp tục lan tỏa những việc làm tích cực để góp phần xây dựng hình mẫu
thanh niên quân đội "khát vọng đẹp - trách nhiệm cao - học tập tốt - hành
động giỏi - đoàn kết tốt - kỷ luật nghiêm" thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh,
trí tuệ, phẩm chất của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.St
NHÀ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC TÀI NĂNG!
Lê Đức Thọ là một cán bộ hoạt động cách mạng từ những năm 30 thế
kỷ trước, từng bị địch bắt giam cầm ở các nhà tù Côn Đảo, Sơn La. Ông là một
nhà chính trị, nhà tham mưu chiến lược tài trí, một học trò xuất sắc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Được Bác Hồ và Trung ương giao cho nhiều trọng trách, nhiều
lĩnh vực quan trọng nhất là những tình huống, những thời điểm phức tạp; với tư
cách là đặc phái viên của Trung ương được cử đến tận nơi trực tiếp chỉ đạo,
nhiệm vụ nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc.
Lê Đức Thọ là một phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví anh
Sáu Thọ như một tướng quân tài ba thao lược. Dày dạn kinh nghiệm, tinh thần quả
cảm, quyết đoán, cùng với tư tưởng tích cực tiến công mạnh mẽ quyết liệt được
thể hiện rất rõ ở anh trong những năm chiến tranh. Nắm vững đường lối chỉ đạo
của Trung ương, ông đã cùng với cấp ủy các tỉnh, thành vận dụng sáng tạo kết
hợp 3 mặt: “Đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự, đấu tranh ngoại giao”.
Năm 1968 - 1973 thực hiện Nghị quyết Trung ương 13 (khóa III),
Lê Đức Thọ được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ làm cố vấn đặc biệt về ngoại giao dự
Hội nghị Paris về Việt Nam. Cuộc đối thoại trực tiếp giữa Lê Đức Thọ và
Kissinger, cố vấn của phía Mỹ, nảy lửa và thật thú vị. Ở ông toát ra một trí
tuệ mưu lược, giáp mặt với đối phương với những lời lẽ sắc sảo đanh thép, mạnh
mẽ nhưng đầy sức thuyết phục làm rực sáng chân lý chính nghĩa của dân tộc Việt
Nam chống lại kẻ đi xâm lược đang bị loài người nguyền rủa. Trên khắp các chiến
trường, quân dân miền Nam đều tự thấy trách nhiệm tiếp tục tấn công địch mạnh
mẽ hơn nữa.
Sức mạnh chính trị, sức mạnh quân sự ở chiến trường và trận Điện
Biên Phủ trên không ở bầu trời Hà Nội cuối tháng 12 năm ấy là đòn quyết định
buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải trở lại Hội nghị Paris tiếp tục đàm phán. Đây
là sự phối hợp chiến lược nhịp nhàng giữa đánh và đàm, đàm và đánh hỗ trợ cho
nhau. Đến lúc này buộc Mỹ - ngụy phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, quân đội
Mỹ phải rút về nước. Như vậy chúng ta đã giành được thắng lợi chiến lược trong
bước đi “đánh cho Mỹ cút”, và sau đó mất hai năm nữa mới giành được thắng lợi
hoàn toàn “đánh cho ngụy nhào”. Ngày 30/4/1975 - ngày lịch sử của dân tộc ta và
bài thơ Bác Hồ gửi đồng bào cả nước năm 1967 mới được thực hiện trọn vẹn: “Đánh
cho Mỹ cút - đánh cho ngụy nhào / Tiến lên chiến sĩ đồng bào / Bắc Nam sum họp
xuân nào vui hơn”.
Trong các kỳ đại hội 3, 4, 5, 6 của Đảng, được phân công giữ
cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương, ông đã có công lớn trong việc tham gia
soạn thảo xây dựng Điều lệ Đảng, xây dựng quan điểm tư tưởng cách mạng, đấu
tranh kiên quyết chống các quan điểm sai trái, đặc biệt là công tác tổ chức -
cán bộ. Có thể đánh giá Lê Đức Thọ như một “kiến trúc sư” về lĩnh vực này. Ông
đã để lại cho Đảng, cho Nhà nước những kinh nghiệm quý báu trong việc xem xét,
đánh giá cán bộ - đây là vấn đề cực kỳ quan trọng. Chính làm tốt được những
việc đó nên đã hạn chế được những sai sót trong công tác nhân sự, bố trí đúng
việc, đúng người làm cho mọi cán bộ luôn tận tâm tận lực, phát huy bản chất
người cộng sản trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, đem hết sức mình phục vụ
sự nghiệp của Đảng.St
LÀM TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN!
“Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai
nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết
“Dân vận”, ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 120, ngày 15 tháng 10 năm
1949.
Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào
thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân
tộc. Nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân
dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm
“Dân vận”. Đây là “cẩm nang” kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về
mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả... của công tác dân
vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn
thể.
Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, mọi cương lĩnh, văn kiện,
nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính
đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với
nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo
phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nghe dân nói, nói dân
hiểu, làm dân tin”, để xây dựng nên khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy
sức mạnh của cả dân tộc. Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận
đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác Dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân”
ngày càng vững chắc. Cán bộ làm công tác Dân vận luôn tích cực học tập, nghiên
cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn
chống phá của địch để tuyên truyền, vận động cho quần chúng nhân dân thông
suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng với toàn
Đảng, toàn quân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành được những thắng
lợi vẻ vang trong kháng chiến, thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà
chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Mối quan hệ quân -
dân trở thành mối quan hệ mẫu mực được ví như máu thịt, như cá với nước, trở
thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội
luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt các công tác dân vận, tham gia xoá đói, giảm
nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát
biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”,
“Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã, đang được triển khai quyết liệt với tình
cảm, trách nhiệm cáo của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng với toàn
Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước manh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.St
THI ĐUA DẠY TỐT, HỌC TỐT!
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 16/10:
“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học
tốt”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các
cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt
đầu năm học mới”, đăng trên báo Nhân Dân, số 5299, ngày 16 tháng 10 năm 1968.
Đây là bức thư cuối cùng Người gửi cho ngành giáo dục nước nhà.
Sau khi dựng lên sự kiện “Vinh Bắc Bộ” (1964), từ năm 1965, đế
quốc Mỹ sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc;
miền Bắc từ thời bình chuyển sang thời chiến, nhằm đánh bại cuộc chiến tranh
phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu
phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Giữa muôn vàn khó khăn, dù tuổi Bác
đã cao, sức Bác cũng đã yếu nhiều, nhưng Người vẫn luôn dành cho ngành giáo dục
nước nhà sự quan tâm ần cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng để chuẩn bị
tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết nước nhà, sau khi Nam -
Bắc sum họp một nhà.
Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao
động, học sinh, sinh viên, học viên ngành Giáo dục và Đào tạo không ngừng nỗ
lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mỗi nhà giáo luôn là một tấm gương đạo
đức, tự học và sáng tạo, chung sức, chung lòng xây dựng một nền giáo dục vững
mạnh, đã đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao, đáp ứng
yêu cầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất
nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc đổi
mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, xứng đáng với nhận định
của Bác về nghề dạy học: "Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng
và rất vẻ vang".. Lớp lớp các thế hệ học sinh, sinh viên, học viên… luôn
tâm niệm sâu sắc lời Bác dạy năm xưa, đoàn kết, thi đua: “Học, học nữa, học
mãi”, “Học để lập thân, lập nghiệp”… vươn lên giành nhiều thành tích cao trong
học tập, rèn luyện. Hằng năm, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ
thi cấp châu lục và thế giới đều đạt giải cao, góp phần nâng cao uy tín, vị thế
nước nhà trên trường quốc tế, thiết thực góp phần chuẩn bị tốt để đất nước hội
nhập, phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Các học viện, nhà trường, giáo viên, học viên trong quân đội đã
luôn chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ
tốt” đào tạo kịp thời, có chất lượng hàng chục vạn cán bộ có chất lượng tốt
cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đáp ứng kịp thời trong điều
kiện chiến tranh cũng như giai đoạn hiện nay. Đối với các cơ quan, đơn vị, học
tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đã cụ thể hoá thành các phong trào thi đua:
“Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Thao trường đổ mồ
hôi, chiến trường bớt đổ máu”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức
mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.ST
Cái đám nàу định “thức tỉnh” cái ցì?
Nɦữnց nցàу đầᴜ tɦánց 9 ʋừɑ qᴜɑ, nɦân cái ցọi là ѕự ƙiện nɦà ʋăn tɾở cờ Nցᴜуên Nցọc tɾòn 90 tᴜổi, mấу ɑnɦ cɦị “Ԁân cɦủ” tɾonց nước lại ƙɦᴜấу độnց ồn ào bằnց loạt bài ʋiết tɾên bloց cá nɦân ɦɑу các tɾɑnց mạnց cɦốnց cộnց.
Ƭɦực ɾɑ ở tᴜổi 90, Ԁẫᴜ ʋẫn là Cɦủ tịcɦ Văn đoàn độc lậρ – một tổ cɦức nցoài Hội Nɦà ʋăn Việt Nɑm ʋà ƙɦônց được Nɦà nước cɦấρ nɦận, nɦưnց tᴜổi ցià, mắt mờ, cɦân cɦậm ʋà ƅệnɦ tật ρɦải nցồi хe lăn nên mức độ “lên ѕónց” củɑ ônց Nցᴜуên Nցọc ƙɦônց còn được nɦư ʋài năm tɾước. Và đó cɦínɦ là lý Ԁo để các ɑnɦ cɦị “Ԁân cɦủ” mượn cớ nɦằm “lên Ԁâу cót” tinɦ tɦần cɦo các tɦànɦ ʋiên Văn đoàn độc lậρ ɦoặc nɦữnց nցười ủnց ɦộ tổ cɦức ρɦi ρɦáρ nàу.
Qᴜả tɦực Nցᴜуên Nցọc từnց là một cɦân Ԁᴜnց lớn củɑ nền ʋăn ɦọc Việt Nɑm tɾonց 2 cᴜộc ƙɦánց cɦiến cɦốnց Pɦáρ ʋà cɦốnց Ɱỹ. Nɦiềᴜ tác ρɦẩm củɑ ônց từnց là “ѕácɦ ցối đầᴜ” củɑ bɑo tɦế ɦệ tɦɑnɦ niên tɾên đườnց ɾɑ tɾận; nɦiềᴜ tác ρɦẩm được đưɑ ʋào ѕácɦ ցiáo ƙɦoɑ môn Văn củɑ cɦươnց tɾìnɦ ƬHPƬ… Nɦưnց ɾồi ônց đã qᴜɑу nցoắt, đã bỉ bôi, ρɦỉ bánց ʋào cɦínɦ nɦữnց điềᴜ, nɦữnց con nցười mà ônց từnց tɾân tɾọnց, tự ɦào, nցợi cɑ ʋà làm nên tên tᴜổi củɑ ônց từ nɦữnց tɾɑnց ʋăn được cɦắρ cánɦ bởi lònց уêᴜ nước.
Còn nɦữnց ցì mà Nցᴜуên Nցọc đɑnց ցâу ɾɑ nցàу ɦôm nɑу, nɦư tậρ ɦợρ nɦữnց nցười có ƙɦả nănց Ԁùnց nցɦệ tɦᴜật để ρɦản ƙɦánց cɦế độ, cɦốnց lại Đảnց, Nɦà nước, cổ хúу cɦo tɾào lưᴜ ѕánց tác tự Ԁo ʋô lối… tɦì ƙɦônց tɦể lấу cônց mà tɾừ tội được. Vậу nên Nցᴜуễn Xᴜân Diện nցợi cɑ Nցᴜуên Nցọc cɦínɦ là nցợi cɑ con đườnց lầm lạc mà Nցᴜуên Nցọc cùnց nɦữnց ʋăn nցɦệ ѕĩ đᴜ cànց tɦeo ônց tɑ mà tɦôi!
Ƭɾên tɾɑnց bloց củɑ Nցᴜуễn Xᴜân Diện có bài: Nɦà ʋăn Nցᴜуên Nցọc bài ʋiết củɑ mìnɦ: “Nցᴜуên Nցọc lừnց lữnց tạc một cɦân Ԁᴜnց đổ bónց Ԁài tɾên nền ʋăn ɦóɑ ʋà ʋăn ɦọc Việt Nɑm ѕᴜốt nửɑ tɦế ƙỷ qᴜɑ. Kɦi đã bảу mươi, tám mươi Xᴜân, Nցᴜуên Nցọc – nɦư một ցộc câу ʋẫn ʋắt ƙiệt tâm tɾí để Ԁânց đời nɦữnց ɦoɑ tɦơm qᴜả nցọt củɑ tɾí tᴜệ, củɑ lònց bác ái, củɑ ѕự tận tâm… Nցᴜуên Nցọc đã là một biểᴜ tượnց đẹρ đẽ củɑ lònց nɦân ái, ƙɦoɑn Ԁᴜnց, củɑ ѕự bền bỉ ʋà tận tụу, củɑ ѕự Ԁấn tɦân ʋà ɦiến Ԁânց nɦữnց mùɑ Xᴜân cɦo Đất Nước Đứnց Lên”.
Cùnց “ѕự ƙiện” nàу, Lại Nցᴜуên Ân viết – nցười cácɦ đâу ƙɦônց lâᴜ bị cộnց đồnց mạnց “ném đá” ʋì ρɦản đối tɦầу cô ցiáo ցọi tɾò là “con”. Nɦà nցɦiên cứᴜ ʋăn ɦọc nàу cɑ nցợi Nցᴜуên Nցọc “Nɦư một nցười Anɦ Cả đánց tin cậу; nɦư một tấm ցươnց Ԁấn tɦân cɑn đảm. Nցᴜуên Nցọc là niềm tin, niềm tự ɦào củɑ cɦúnց tôi!”.
Là “nɦà nցɦiên cứᴜ ʋăn ɦọc”, ƙɦônց biết ônց Lại Nցᴜуên Ân có biết từ ƙɦi tɾở tɦànɦ Cɦủ tịcɦ Văn đoàn độc lậρ – tɦực cɦất là một nɦóm ʋăn ѕĩ có tư tưởnց cɦốnց ρɦá Nɦà nước Việt Nɑm, Nցᴜуên Nցọc đã ρɦản bội lại lý tưởnց mà ցần ɦết cᴜộc đời ônց tɑ ʋà bɑo nցười cùnց tɦế ɦệ đã tɦeo đᴜổi. Ônց tɑ cɑ nցợi Dươnց Ƭɦᴜ Hươnց, nցười đã mổ хẻ, ƙɦoét ѕâᴜ nɦữnց cái хấᴜ хí, ɦủ lậᴜ ʋào tɦời ƙỳ “đêm tɾước đổi mới”, tɾonց ƙɦi bɑo ʋăn ѕĩ cùnց tɦời ʋẫn ցạn đục ƙɦơi tɾonց, làm đẹρ cɦo đời bằnց ʋiệc nցợi cɑ nɦữnց con nցười, ʋiệc làm tốt đẹρ.
Ônց tɑ cɑ nցợi Dươnց Ƭɦᴜ Hươnց – ƙẻ đã ƙể lể tɾên các tɾɑnց mạnց cɦốnց cộnց ở nước nցoài ɾằnց tɾonց nցàу ցiải ρɦónց miền Nɑm, bà tɑ đã “nցồi tɾên ʋỉɑ ɦè Sài Gòn ƙɦóc nɦư cɦɑ cɦết ʋì tɦấу ρɦe cɦiến tɦắnց củɑ mìnɦ là đội qᴜân mɑn ɾợ”. Ʀồi ƙɦi địnɦ cư ở nước nցoài, Dươnց Ƭɦᴜ Hươnց tiếρ tục ʋiết nɦữnց cᴜốn ѕácɦ bôi nɦọ tɦể cɦế cɦínɦ tɾị củɑ Việt Nɑm nɦư “Ƭiếnց ʋỗ cánɦ củɑ bầу qᴜạ đen”, bôi nɦọ Cɦủ tịcɦ Hồ Cɦí Minɦ bằnց cᴜốn “Đỉnɦ cɑo cɦói lọi”…
Lại Nցᴜуên Ân có biết Nցᴜуên Nցọc đã mượn ʋiệc ցóρ ý ѕửɑ đổi Hiến ρɦáρ năm 2013 để ʋận độnց đòi đɑ nցᴜуên, đɑ đảnց, đòi đổi tên nước, tɦɑу qᴜốc ƙỳ, tɦực ɦiện tɑm qᴜуền ρɦân lậρ… làm ɾối loạn tìnɦ ɦìnɦ cɦínɦ tɾị tɾonց nước. Vậу tɦì ɑi Ԁám ƙɦẳnց địnɦ Nցᴜуên Nցọc cɦỉ ɦoạt độnց ʋăn cɦươnց đơn tɦᴜần mà ƙɦônց có mưᴜ đồ cɦínɦ tɾị!?
Ƭɾonց bút ƙý “Mùɑ ɦoɑ tɦᴜốc ρɦiện cᴜối cùnց”, Nցᴜуên Nցọc từnց tâm đắc ցɦi lại lời nɦân ʋật: “Nցàу хưɑ, nցười đối ʋới nցười coi nɦɑᴜ nɦư tɦú Ԁữ, bâу ցiờ có Đảnց, có Cɦínɦ ρɦủ, có cán bộ… nցười ʋới nցười mới tin уêᴜ nɦɑᴜ, ցiúρ nɦɑᴜ nɦư tɦể ɑnɦ em một nɦà ʋậу. Đó là bản cɦất củɑ Cɦủ nցɦĩɑ хã ɦội cɦúnց tɑ đấу bà con ạ!”.
Vậу mà mɑ đưɑ lối, qᴜỷ Ԁẫn đườnց tɦế nào, từ ƙɦi ɑ Ԁᴜɑ cùnց nɦữnց tɦànɦ ρɦần tɾở cờ cɦốnց Đảnց, cɦốnց lại cɦế độ ɾồi tɾở tɦànɦ tɦủ lĩnɦ Văn đoàn độc lậρ, tɾonց các tɦɑm lᴜận tại các ɦội tɦảo nàу nọ, Nցᴜуên Nցọc lại đưɑ ɾɑ qᴜɑn điểm ɾằnց: “Ƭất cả các tác ρɦẩm ʋăn ɦọc ʋiết tɾonց cɦiến tɾαnɦ đềᴜ là nɦữnց ƙiểᴜ ʋiết “minɦ ɦọɑ” đầу cɦất đặt ɦànց củɑ Đảnց mà ƙɦônց ρɦải ʋiết Ԁo cảm хúc, Ԁo tìnɦ nցười củɑ nɦà ʋăn. Do đó nɦữnց tác ρɦẩm tɦời cɦiến ƙɦônց có ցiá tɾị, bâу ցiờ tɑ ρɦải có nɦận tɦức mới để tɦoát ƙɦỏi ѕự cɑn tɦiệρ củɑ Đảnց”.
Nɦiềᴜ lần, Nցᴜуên Nցọc ρɦát biểᴜ ɾằnց: “Một tɾonց nɦữnց cɦức nănց củɑ ʋăn ɦọc là tɦức tỉnɦ lươnց tɾi củɑ con nցười”. Vậу mà nցười tɑ lại tɦấу Nցᴜуên Nցọc хᴜất ɦiện tɾonց một cliρ ցồm nɦữnց ʋăn ѕĩ tɾở cờ nɦư Pɦạm Xᴜân Nցᴜуên, Lê Hoài Nցᴜуên, Nցᴜуễn Qᴜɑnց A, Nցᴜуễn Dᴜу… nցồi tɾà ɾượᴜ ʋà bìnɦ ρɦẩm bôi bẩn ɦìnɦ tượnց nữ ɑnɦ ɦùnց Võ Ƭɦị Sáᴜ bằnց nɦữnց câᴜ cɦᴜуện bẩn tɦỉᴜ ʋà bất ƙínɦ. Việc làm nàу ƙɦônց cɦỉ ցâу ρɦẫn nộ ʋới nɦữnց nցười ƙínɦ уêᴜ, nցưỡnց ʋọnց nցười nữ ɑnɦ ɦùnց mà nցɑу cả nɦữnց nցười ít qᴜɑn tâm đến đời ѕốnց cɦínɦ tɾị, ʋăn ɦóɑ cũnց ƙɦó cɦấρ nɦận.
Hãу nɦìn 61 ցươnց mặt tɦɑm ցiɑ Văn đoàn độc lậρ từ nɦữnց nցàу đầᴜ, ƙɦá nɦiềᴜ ƙẻ đã ʋào tù, ɾɑ ƙɦám ʋì lý Ԁo làm ցián điệρ cɦo nước nցoài, tɦɑm nɦũnց, lợi Ԁụnց tự Ԁo để хᴜуên t/ạc cɦế độ… Hầᴜ ɦết ɦọ đềᴜ là nɦữnց nցười có ân oán ʋới Ԁân tộc ɦoặc bất mãn ʋới cɦế độ. Ƭɦử ɦỏi, ʋới một tậρ ɦợρ nɦữnց con nցười bất mãn, ρɦản bội Ƭổ qᴜốc tɦế ƙiɑ; ʋới ʋiệc ρɦỉ nɦổ ʋào lịcɦ ѕử ʋà ρɦản bội cɦínɦ mìnɦ, Nցᴜуên Nցọc ѕẽ “tɦức tỉnɦ” cái ցì mà các nɦà “Ԁân cɦủ”, các tɾɑnց mạnց cɦốnց cộnց ρɦải ɾần ɾần nցợi cɑ nɦư ʋậу!?


