Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

 

Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh góp phần tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến cộng đồng quốc tế

(LLCT) - Để thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ra quốc tế, trong thời gian qua, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã góp phần vào thành công chung của công tác tuyên truyền lý luận của Đảng đến cộng đồng quốc tế. Bài viết khái quát một số kết quả trong công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh.

Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh góp phần tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến cộng đồng quốc tế

Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh - Ảnh minh họa: LLCT

1. Tạp chí Lý luận chính trị là cơ quan nghiên cứu và ngôn luận khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận của hệ thống chính trị, trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chính trị, tuyên truyền tư tưởng, lý luận của Đảng và Nhà nước.

Để phục vụ cho việc truyền bá rộng rãi quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và các công trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của các nhà khoa học Việt Nam trên phạm vi quốc tế, từ năm 2014, Tạp chí đã xuất bản thêm hai ấn phẩm, bao gồm ấn phẩm tiếng Anh với đối tượng chính là các cơ quan đại diện, các Đại sứ quán, tổ chức nước ngoài ở Việt Nam và các đối tác nước ngoài của Học viện; ấn phẩm điện tử hướng tới đông đảo đối tượng bạn đọc ở cả trong và ngoài nước, nhằm đa dạng hóa kênh thông tin, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận Tạp chí.

Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh có đối tượng độc giả là người nước ngoài, nên thông tin càng cần phải chính xác, chọn lọc để các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài ở cả trong và ngoài nước có thể tiếp cận và tìm hiểu các thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, cũng như thông tin về hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của Việt Nam nói chung và của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng.

Từ năm 2014 đến nay, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đã đạt được một số thành tựu nhất định, đã xuất bản đều đặn một số mỗi quý, Tạp chí được in màu, trình bày sinh động, đến nay đã xuất bản tổng số 34 số. Các bài viết bám sát tôn chỉ, mục đích, nội dung đa dạng, cập nhật những thông tin về tình hình chính trị - xã hội của đất nước, các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, hợp tác quốc tế của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, góp phần làm tốt công tác truyền thông đối ngoại của Học viện đến các đối tác quốc tế.

Năm 2020, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đã đạt giải Khuyến khích - Giải thưởng Thông tin đối ngoại toàn quốc. Giải thưởng là sự khích lệ, ghi nhận đối với những đóng góp của Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh trong công tác thông tin đối ngoại của đất nước.

2. Đại hội XIII của Đảng đã đánh dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta. Đại hội đã đưa ra những quyết định có tính chất quan trọng, then chốt, đưa đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI.

Những nhận thức mới được nêu ra tại Đại hội XIII của Đảng là những vấn đề lý luận cần được làm sáng tỏ, cần được luận giải đầy đủ để khẳng định sức ảnh hưởng, tầm vóc, ý nghĩa của Đại hội XIII trong bối cảnh mới; chứa đựng cả tầm vóc tư tưởng - lý luận, năng lực định hướng chính sách và chỉ đạo thực tiễn; xác định rõ tầm nhìn, mục tiêu, hệ quan điểm, các mối quan hệ lớn có tính quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH, khái quát sâu sắc hệ thống các bài học, những đánh giá tổng kết về lý luận và thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới.

Với lượng thông tin lý luận và thực tiễn đồ sộ, sinh động, có tính chất hệ trọng, then chốt đối với sự phát triển bền vững đất nước, đòi hỏi toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là các cơ quan báo chí, truyền thông vào cuộc. Các cơ quan báo chí phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, cập nhật thông tin, tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, không chỉ trong thời gian diễn ra Đại hội, mà quan trọng là duy trì, phát huy tinh thần Nghị quyết Đại hội, tạo sức ảnh hưởng, lan tỏa, để Nghị quyết được quán triệt sâu rộng, thực sự trở thành kim chỉ nam cho các cấp, lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII là cơ sở quan trọng để thống nhất về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng và xã hội để triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội; góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Thông qua tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cơ quan báo chí sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để kịp thời thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 9-3-2021 của Bộ Chính trị về “Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”,góp phần sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống;tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng, chính trị, hành động trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả. Nổi bật là những kết quả sau:

Một là, việc tổ chức tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ra quốc tế được thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học.

Cấp uỷ, Ban lãnh đạo Tạp chí đã trực tiếp lãnh đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng nội dung, hình thức tuyên truyền, quán triệt sâu sắc đến từng cán bộ, biên tập viên Tạp chí tiếng Anh về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Tạp chí Lý luận chính trị đã sớm có kế hoạch triển khai chuyên mục Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống trên tất cả các ấn phẩm tạp chí tiếng Việt, tiếng Anh và điện tử, tạo sự đồng bộ, thống nhất và đa dạng trong phương thức tuyên truyền.

Để phục vụ tốt hơn công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến với đối tượng độc giả quốc tế, từ số 28, tháng 6-2021, Tạp chí đã mở Chuyên mục Bringing The Resolution of The 13th National Party Congress into Reality trên ấn phẩm tiếng Anh Political Theory và duy trì chuyên mục đều đặn. Tính đến tháng 10-2022, Tạp chí tiếng Anh đã duy trì chuyên mục trên 6 số tạp chí với 25 bài viết.

Hai là, các bài viết bám sát định hướng tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích của Tạp chí.

Các bài viết tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh được tuyển chọn từ những bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Việt. Vì vậy, các bài viết đều bảo đảm không sai sót về nội dung tư tưởng, là những nghiên cứu công phu, không chỉ mang giá trị tuyên truyền mà còn có giá trị tham khảo đối với các nhà khoa học, nhà nghiên cứu.

Tạp chí đã đăng tải bài viết của GS, TS Trần Văn Phòng đăng trong số 29 (tháng 6-2021): Những đột phá chiến lược trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Strategic breakthroughs in the Draft Documents submitted to the 13th National Party Congress). Trong đó phân tích, làm rõ các đột phá chiến lược, bao gồm đột phá về thể chế, đột phá về nguồn nhân lực, đột phá về hạ tầng, được nêu trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Nhiều bài viết phản ánh tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội; đặc biệt, có những bài viết tập trung phân tích những điểm mới, đột phá của Đại hội XIII của Đảng. Có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh trong số 29 (tháng 6-2021): Hoàn thiện các đột phá chiến lược để phát triển nhanh và bền vững (Accomplish the strategic breakthroughs for the rapid and sustainable development of Vietnam); bài viết của TS Lê Thị Thu Mai trong số 31 (tháng 12-2021): Quốc hội khóa 15 với trọng trách xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển đất nước (15thNational Assembly with the responsibility of building and perfecting the national development institution) cụ thể hóa nội dung về đổi mới, xây dựng và hoàn thiện thể chế - một trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng ta đã xác định tại Đại hội XIII.

Các nội dung, tuyến bài được lựa chọn đa dạng, phù hợp với đối tượng độc giả làm việc tại các cơ quan, tổ chức học thuật, nghiên cứu quốc tế, các cơ quan đối ngoại, các tổ chức nước ngoài. Trong đó, các chủ đề về đổi mới hệ thống chính trị, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, tầm nhìn, tư duy mới của Đảng về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, chủ trương của Đảng về phát triển đổi mới sáng tạo, quan điểm của Đảng về công tác đối ngoại... là những nội dung quan trọng mà Tạp chí tiếng Anh tập trung đăng tải.

Một số bài tiêu biểu như bài viết của PGS, TS Dương Trung Ý trong số 32 (tháng 3-2022) với nội dung đổi mới mô hình lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng (Grasping thoroughly and implementing effectively viewpoints of The 13th Party Congress on innovation of leadership mode, improving leadership and ruling capacity of the Party). Số 33 (tháng 6-2022), PGS, TS Nguyễn Văn Giang có bài viết bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng (Renewing the Party’s leadership and ruling modes - An awareness development in the 13th National Party Congress). Hay số 29 (tháng 6-2021), PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn có bài nghiên cứu, phân tích về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được trình bày trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng(Development mechanism, trust, aspiration and innovation for prosperity, happiness in the Draft Documents submitted to the 13th National Party Congress).

Về chủ trương đối ngoại của Đảng, bài viết Tăng cường hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để hoàn thành khát vọng phát triển đất nước (Promoting comprehensive international integration to fulfill the country’s development aspirations) đăng trên số 33 (tháng 6-2022) của PGS, TS Hoàng Phúc Lâm đã đưa ra các giải pháp để tăng cường hội nhập về chính trị, hội nhập về kinh tế, hội nhập về quốc phòng - an ninh, hội nhập về văn hóa, hội nhập về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Để tuyên truyền chủ trương của Đảng về phát triển, đổi mới sáng tạo, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đăng tải một số bài viết, như nghiên cứu của PGS, TS Phạm Minh Sơn - PGS, TS Phan Thị Thanh Hải với chủ đề phát huy tinh thần sáng tạo trong đội ngũ trí thức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII (Promoting innovation among Vietnamese intellectuals in the spirit of the 13th Party Congress Resolution); PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu với bài viết: Để văn hóa trở thành động lực của phát triển kinh tế ở Việt Nam (For culture to be the driving force of economic development in Vietnam) cùng đăng trên số 33 (tháng 6-2022).

Hay như số 30 (tháng 9-2021) tập trung vào nội dung lý luận về đổi mới hệ thống chính trị, thể hiện qua các bài viết của các tác giả: PGS, TS Lê Văn Lợi: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới (The Communist Party of Vietnam leads the implementation of social progress and justice in the renovation period); PGS, TS Đặng Quang Định với bài viết Những vấn đề lý luận cốt lõi về con đường đổi mới tại Đại hội XIII của Đảng (Core theoretical issues for the path of renewal in the 13thNational Party Congress); PGS, TS Phạm Tất Thắng có bài viết Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng (Renovate and restructure the political system apparatus under the spirit of the 13thNational Party Congress).

Các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đã góp phần khẳng định nhận định của Đảng ta tại Đại hội XIII: “Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1).

Ba là, Tạp chí đã bám sát và phản ánh đầy đủ những sự kiện tiêu biểu của đất nước và của Học viện.

Trong quá trình tuyên truyền, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh đã thể hiện sự nhạy bén, kịp thời đăng tải những bài viết gắn với những sự kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước và của Học viện.

Có thể kể đến bài viết của GS, TS Nguyễn Xuân Thắng trong số 32 (tháng 3-2022): Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới (Theoretical thinking in the national development vision and orientation in the new period). Đây là bài tham luận quan trọng trong khuôn khổHội thảo Lý luận lần thứ VIII giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với chủ đề “Những vấn đề lý luận - thực tiễn mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Văn kiện Đại hội XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” ngày 16-12-2021 nhằm triển khai chương trình hợp tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Cũng trong số này, Tạp chí tiếng Anh đã đăng tải bài viết của GS, TS Tạ Ngọc Tấn: Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nền tảng cho nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn (The book “Some theoretical and practical issues on socialism and the path towards socialism in Vietnam” by General Secretary Nguyen Phu Trong is the basis for theoretical research and practical reviews). Đây là bài Giới thiệu tại buổi Lễ ra mắt cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bài viết đã khái quát những nội dung căn bản nhất và nêu bật ý nghĩa, giá trị về mặt lý luận và thực tiễn của cuốn sách của Tổng Bí thư đối với việc khẳng định con đường đi lên CNXH mà Việt Nam đang kiên định thực hiện.

Bốn là, hình thức tuyên truyền sinh động, làm tăng hiệu quả tuyên truyền.

Tạp chí LLCT tiếng Anh được trình bày đẹp, sinh động, được Học viện sử dụng làm quà tặng đối với các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại Học viện, cũng như các đối tác của Học viện ở nước ngoài, các Đại sứ quán nước ngoài ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, chuyên mục Bringing the Resolution of the 13th National Party Congress into Reality được trình bày trang trọng ngay tại vị trí chuyên mục đầu tiên trong mỗi số tạp chí tiếng Anh, thể hiện rõ tầm quan trọng của nội dung Đưa nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống. Điều này thể hiện rõ nhận thức của Ban Biên tập Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh về nhiệm vụ tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội Đảng XIII trên Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh vẫn còn một số điểm cần khắc phục, cải tiến. Hình thức diễn đạt còn chưa có nhiều đổi mới, một số nội dung còn khó tiếp cận với người đọc do hạn chế về công tác dịch thuật, chuyển ngữ. Công tác biên dịch cần được trau chuốt hơn để nội dung tuyên truyền thực sự dễ hiểu, dễ tiếp cận với người đọc, giúp độc giả và bạn bè quốc tế hiểu chính xác về những thành tựu phát triển đất nước của Việt Nam.

Bên cạnh đó, do đối tượng độc giả của Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh chủ yếu là người nước ngoài, vì vậy có những đặc thù nhất định về thị hiếu, tư duy, đòi hỏi Ban biên tập phải tìm tòi những cách thức diễn đạt, trình bày ấn phẩm sáng tạo, sinh động hơn.

Để thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong thời gian tới, Tạp chí Lý luận chính trị tiếng Anh cần tiếp tục phát huy vai trò, thực hiện tuyên truyền bảo đảm đúng định hướng chính trị, tư tưởng. Tiếp tục duy trì chuyên mục Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đổi mới, sáng tạo hơn trong việc thể hiện các nội dung tuyên truyền; nhạy bén, kịp thời hơn trong lựa chọn các vấn đề, chủ đề tuyên truyền. Cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tạp chí phải làm tốt vai trò là diễn đàn đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

_________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.103-104.

 

Nguồn: ThS LÊ MINH NGỌC

Tạp chí Lý luận chính trị 

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

AI MỚI LÀ KẺ KHỦNG BỐ?


Ai cũng có thể bị ghép cho một tội danh – kẻ khủng bố, nhà nước tài trợ khủng bố.
Cách nay 21 năm, tức là vào ngày 11/9/2001 nước Mỹ bị một cái họa lớn, ba máy bay cố tình đâm vào tòa nhà thương mại thế giới và Ngũ giác đài (nói theo mấy anh ngụy ngày xưa) làm cho ba ngàn người dân Mỹ bị tử vong. Mẹ cha bọn khủng bố! Người ta hỏi, rồi người ta truy lùng, rồi người ta kết luận, tội phạm chính là tổ chức Taliban. Thế là chính quyền Mỹ tổ chức truy sát. Sau hai mươi năm bị Mỹ truy sát, bọn khủng bố Taliban phát triển thành một lực lượng hùng mạnh trên thế giới, chúng mang một cái tên mới – ISIS. ISIS, thôi từ đây trở đi ta gọi là IS cho gọn. IS phát triển và hoạt động từ Trung đông, đến tây Á rồi đông Á (Philippines, nam Thailand và Indonesia). Riêng Afghanistan, sau hai mươi năm vật lộn ở đó, đến tháng Tám 2021, Mỹ phải nhường sân cho Taliban mà chúng hắn chẳng tốn một viên đạn nào.
Chung quanh chuyện khủng bố ngày 11/9/2001 còn nhiều nghi vấn lắm. Ai cũng biết những nhà lãnh đạo Mỹ là trùm về lươn lẹo và thực dụng, nên chẳng có việc gì mà không thể xảy ra.
Chả thế mà, cùng một sự kiện như nhau, chỉ khác nơi chúng diễn ra thì lại được Mỹ và các nước “dân chủ” áp cho cái danh là “khủng bố” hay đó là “cuộc xuống đường đòi dân chủ, nhân quyền”.
Xin dẫn chứng ngay đây. Một cô gái Iran bị chết tại đồn cảnh sát. Biểu tình đòi nhân quyền. Mỹ và phương tây ủng hộ và ca ngợi. Năm 2021, cảnh Mỹ xiết cổ anh thanh niên da đen đến tắt thở. Dân da đen biểu tình với khẩu hiệu “Black Lives Matter” thì chính phủ Mỹ đàn áp. Lợi dụng vụ này do phe Cộng hòa gây ra, thế là phe Dân chủ kiếm bội phiếu từ cộng đồng da màu. Để trả ơn người da màu đã “hy sinh” cho đảng Dân chủ, thế là khi cầm được cái quyền rồi, người đứng đầu dảng Dân chủ trả ơn bằng lôi một bà da màu vào làm phó cho mình, lôi mấy người da màu nữa về bộ Ngoại giao, bộ Quốc phòng…
Một vụ khác do Mỹ tổ chức, chỉ đạo, giật dây, cung cấp tiền bạc để hình thành nên phong trào Maidan, lật đổ chính quyền hợp pháp của Ukraine nhưng không hợp lòng Mỹ, Mỹ gọi đó là cuộc đấu tranh “vì dân chủ và nhân quyền”.
Chuyện thời sự nhất trong vài tháng vừa qua, là Mỹ hò hét đến khản cả giọng để phản đối ông Tập Cận Bình và chính phủ Trung quốc thực hiện chính sách “Zero Covid” để “dẫn đến việc cháy nhà, người chết ở Urumqi” (Mỹ và các nước ‘dân chủ’ nói thế). Có người còn đòi ông Tập phải từ chức và giải tán đảng Cộng sản. Chuyện Zero Covid ở Trung quốc qua rồi, Mỹ chẳng làm nên trò trống gì, thế là im. Dưới con mặt của Mỹ và phương tây, đó lại là cuộc đấu tranh “vì dân chủ và nhân quyền”.
Chuyện đang nóng hôi hổi, là chuyện ở các nước trong khối Liên Âu. Đang yên đang lành, người dân Âu châu đang tự hào là “vườn địa đàng trên thiên đường” còn các nước khác chỉ là rừng rú. Thế là chính quyền ở các nước đó tuyên bố từ nay nghỉ chơi với Nga, quyết không mua gì từ Nga, rồi khuyên dân nước họ phải biết chịu đựng như chấp nhận ở bẩn một chút, chấp nhận ăn ít và ăn không ngon một chút, chấp nhận chịu rét một chút, chấp nhận di chuyển ít đi một chút (vì giá nhiên liệu đắt quá)… Mỗi thứ một chút, dân châu Âu xài sang quen rồi, nay phải thắt lưng buộc bụng, ngửa tay nhận trợ cấp từ chính phủ. Thế là xuống đường!
Cũng là xuống đường, cũng là đòi những người đứng đầu các chính phủ này phải từ chức. Và nếu xét đúng bản chất thì đây là cuộc đấu tranh “vì nhân sinh, dân chủ và nhân quyền”. Nhưng không, Mỹ vá các chính quyền phương tây bảo đó là “khủng bố”. Đã là khủng bố thì phải có một số người bị bắt bỏ tù. Riêng ở Đức cũng đã có trên một trăm người biểu tình bị bắt rồi đó.
Mới hay rằng, khủng bố hay không phải khủng bố đều được xem xét theo tiêu chuẩn của Mỹ. Nếu cuộc xuống đường đó hợp ý Mỹ, hợp lòng chính quyền Mỹ thì đó là vì “dân chủ và nhân quyền”; còn nếu những cuộc xuống đường đó chỉ có hợp lòng dân, kể cả dân Mỹ và dân xứ Âu châu, thì Mỹ bảo đó là “khủng bố”.
Vì vậy, bà con ạ, mỗi khi nghe Mỹ nói thì chúng ta phải coi cho kỹ, Những ai nhẹ dạ cả tin dễ bị Mỹ lừa lắm./.
Hình trong bài: Biểu tình vì khủng hoảng năng lượng ở Pháp.
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và ngoài trời

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 05/01


“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa: “Gửi anh chị em họa sĩ, biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo. Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5 tháng 1 năm 1952; trong bối cảnh toàn thể dân Việt Nam đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong thư năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, một trong những lực lượng tiên tiến trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.
Lời của Người trong thư năm ấy đã nhanh chóng được anh chị em họa sĩ nói chung, họa sĩ trong quân đội nói riêng vui mừng đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy " Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ - người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực sự là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH VỮNG MẠNH

1. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Mục tiêu của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân ta phấn đấu để đạt tới là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trên con đường để đạt mục tiêu đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiệm vụ chủ yếu của Đảng Cộng sản cầm quyền là lãnh tạo toàn thể nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội khoa học chính là sự định hướng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh việc Đảng Cộng sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Ở Hồ Chí Minh, việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng, rất sáng tạo. Đó cũng là điều mà Hồ Chí Minh thường xuyên đòi hỏi Đảng ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh tuân thủ sự chỉ dẫn của các vị sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, rằng học thuyết của các ông không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Lênin khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng, những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga" (7) . Hồ Chí Minh lưu ý công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin phải phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh, vận dụng tránh giáo điều đồng thời tránh việc tuyệt đối hoá đặc điểm của từng dân tộc để xa rời các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành viên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho nên việc cần thiết là học tập những kinh nghiệm tốt, những bài học hay, của các đảng cộng sản anh em, tránh những sai lầm, khuyết điểm mà các đảng đã mắc phải. Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng việc Đảng ta phải thường xuyên tổng kết kinh nghiệm hoạt động của mình để bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin, đấu tranh dưới nhiều hình thức để bảo vệ, làm trong sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, chống giáo điều, cơ hội, xét lại và mọi biểu hiện xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tế trong thời gian qua đã chứng minh rằng, cả hai loại sai lầm: giáo điều và xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin đều dẫn tới sự tan rã của nhiều đảng cầm quyền, ngay cả đối với Đảng Cộng sản Liên Xô - một đảng do Lênin sáng lập, có nhiều kinh nghiệm trong hơn 70 năm cầm quyền. Không phải cứ nói nhiều, học thuộc, coi lý luận Mác - Lênin như là những công thức, như những “kinh thánh” thì mới là trung thành với học thuyết của các ông. Không phải cứ nói khác C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin là sáng tạo. Cũng không thể cứ "lắp ghép" nguyên lý của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học với cái mới hiện nay là có ngay sự kế thừa sáng tạo và nâng lý luận của các ông lên một tầm cao mới. Sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi đảng ta phải kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa ấy vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mọi biểu hiện từ bỏ học thuyết cách mạng và khoa học này đều chỉ dẫn đến sự thất bại đối với sự nghiệp cách mạng nước ta và làm cho Đảng biến chất, không còn là Đảng Cộng sản nữa. 2. Thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ cao nhất của giai cấp công nhân. Vì vậy, Đảng phải tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt nhất định mà nếu vi phạm thì Đảng sẽ bị suy yếu và tan rã. Trong công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền nói riêng, Hồ Chí Minh đề cập nhiều nguyên tắc. Những nguyên tắc đó đều xuất phát từ học thuyết Mác - Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Trong phạm vi của chương trình lý luận cao cấp, xin đề cập ba nguyên tắc. Một là, tập trung dân chủ. Trong học thuyết của Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản. Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc này và chỉ rõ tập trung và dân chủ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ đó được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng các vế sau đây: - “Tập trung trên nền tảng dân chủ” (8) . - “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung” (9) . Như vậy, chúng ta không được tách rời và càng không được đối lập hai vế của một nguyên tắc, không thể coi “tập trung” và “dân chủ” như lửa với nước như một số phần tử chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta rêu rao. Hồ Chí Minh xác định dân chủ là tạo mọi điều kiện cho tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến để đóng góp cho Đảng. Người nhấn mạnh: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả nhân viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt” (10) . Tập trung trong Đảng phải trên cơ sở của bảo đảm dân chủ, nghĩa là dân chủ càng tốt thì tập trung sẽ đúng hơn. Hồ Chí Minh quan niệm tập trung trong tổ chức và sinh hoạt Đảng theo đúng nguyên lý xây dựng Đảng của Lênin: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương,... Người nhấn mạnh: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” (11) . Tập trung trong Đảng cũng có nghĩa là tất cả mọi Đảng viên phải tuyệt đối phục tùng nghị quyết của Đảng. Hai là, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Có lúc nguyên tắc này được Hồ Chí Minh gọi là “chế độ”. Theo Hồ Chí Minh “tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ cách tức là dân chủ tập trung” (12) . Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách phủ gắn chặt với nhau. Nguyên tắc này vừa chống lại bệnh độc đoán chuyên quyền, vừa chống lại sự dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm. Độc đoán chuyên quyền là vi phạm dân chủ trong Đảng, dẫn đến những hậu quả khôn lường, phá hoại Đảng, đồng thời không dám chịu trách nhiệm sẽ làm tổ chức Đảng bị tê liệt, không còn sức chiến đấu, làm cho đường lối, chủ trương, nghị quyết của tổ chức Đảng chỉ nằm trên giấy, không biến thành hiện thực trong cuộc sống. Hồ Chí Minh giải thích tập thể lãnh đạo như sau: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc" là nghĩa đó (13) . Hồ Chí Minh giải thích về cá nhân phụ trách như sau: "Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong. Tục ngữ có câu: “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa" là như thế (14) . Theo Hồ Chí Minh, trong công tác xây dựng Đảng, không được phép vin vào “cá nhân phụ trách” để lấn át tập thể hoặc không phải việc gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người một lần có thể giải quyết được cũng đưa ra bàn. Nguyên tắc này, càng có ý nghĩa trong thời kỳ hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hình thành cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi công tác xây dựng Đảng được coi là then chốt, xây dựng kinh tế là trung tâm, khi trách nhiệm của cá nhân và của tập thể tổ chức Đảng được phát huy tác dụng rõ rệt hơn bao giờ hết. Ba là, nguyên tắc tự phê bình và phê bình Hồ Chí Minh có nhiều cách gọi về tự phê bình và phê bình. Có lúc Người đặt phê bình lên trước tự phê bình, nhưng nhiều hơn cả là tự phê bình đặt trước phê bình. Có lúc Người gọi tự phê bình và phê bình là “luật” hoặc “quy luật phát triển” của Đảng, là “vũ khí sắc bén” trong công tác xây dựng Đảng. Xét về nội dung, chúng ta có thể coi vấn đề này có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong giai đoạn Đảng cầm quyền nói riêng. Tại sao trong Đảng lại phải thường xuyên tự phê bình và phê bình? Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng ta bao gồm đủ các tầng lớp xã hội, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại, song trong Đảng ta cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài lây ngấm vào Đảng. Đảng ta gồm những người có đức, có tài. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta. Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay. Hồ Chí Minh còn cho rằng, người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm; mỗi con người đều có cái thiện với cái ác ở trong lòng. Do vậy, mục đích tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, phần xấu bị mất dần đi, thang thuốc hay nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình. Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình như người ta rửa mặt hàng ngày. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến thái độ tự phê bình và phê bình. Người đòi hỏi, tự phê bình và phê bình phải thẳng thắn, chân thành, nghĩa là không nể nang, không thêm bớt, “không giấu bệnh sợ thuốc". Đồng thời, phải “có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Tự phê bình và phê bình trên tình đồng chí, cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm chứ không phải để xoi mói, nói xấu nhau, “không phải đập cho tơi bời". Với thái độ tự phê bình và phê bình như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng mới luôn luôn trong sạch vững mạnh hơn. 3. Xây dựng và rèn luyện đội ngũ đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền Đội ngũ đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền có mặt ở tất cả các tổ chức của hệ thống chính trị và thường là có chức, có quyền. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng và rèn luyện đội ngũ đảng viên trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới trên những vấn đề cơ bản sau đây: Một là, thường xuyên lựa chọn người ưu tú để kết nạp vào đội ngũ của Đảng. bảo đảm đội ngũ đảng viên trong sạch, vững mạnh. Trong việc kết nạp đảng viên, coi trọng chất lượng hơn số lượng, khắc phục tình trạng chủ nghĩa thành phần. Hai là, đội ngũ đảng viên phải luôn luôn giác ngộ cách mạng, tiền phong, gương mẫu, đi đầu trong mọi công tác. Hồ Chí Minh nhiều lần cho rằng: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạ”. Phải luôn luôn có “đảng tính”, tức là đảng viên hoạt động trong các tổ chức của chính quyền Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội phải thật sự gương mẫu để thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ba là, đội ngũ đảng viên là những người suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp của Đảng và Tổ quốc, đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới: xã hội xã hội chủ nghĩa, vấn đề hy sinh tính mạng không đặt ra thường xuyên nhưng lợi ích kinh tế đặt ra không kém phần gay gắt, vẫn đòi hỏi đảng viên phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích của Đảng. Bốn là, đảng viên phải có đời tư trong sáng, tức là đề cập đến đạo đức, lối sống, điều mà Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở. 4. Xây dựng đội ngũ cán bộ “Cán bộ” ở đây được quan niệm là cán bộ cách mạng trong điều kiện Đảng cầm quyền, mà thường số đông cán bộ là đảng viên. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, cho rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Những yêu cầu đối với cán bộ cách mạng được Hồ Chi Minh chỉ ra một cách cụ thể, tập trung trên những vấn đề chính sau đây: - Cán bộ phải là người tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, không phải làm cán bộ để “thăng quan phát tài”, để làm “quan cách mạng”, mà để là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. - Người cán bộ trước hết phải có "đức". Phải vừa có đức vừa có tài nhưng đức là gốc. “Đức” ở đây là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố, nhưng Hồ Chí Minh nhấn mạnh người cán bộ phải là người không vi phạm khuyết điểm tham ô, lãng phí, quan liêu mà Người gọi những khuyết điểm đó là “giặc nội xâm”, loại giặc này còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người cán bộ, theo Hồ Chí Minh, phải là những người “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” . - Cán bộ là người có năng lực tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh coi người cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Đường lối, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của các đoàn thể chính trị - xã hội sẽ không biến thành hiện thực, sẽ chỉ nằm trên giấy khi không có những cán bộ có năng lực tổ chức triển khai thực hiên nó. - Cán bộ trong giai đoạn Đảng cầm quyền càng phải liên hệ mật thiết với nhân dân. Hồ Chí Minh phê phán nhiều cán bộ “vác mặt quan cách mệnh" để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”, “dán trên trán hai chữ cộng sản" để loè dân. - Cán bộ phải là người luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt: về lý luận Mác - Lênin, về nhận thức đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ. Việc học tập được Hồ Chí Minh nhấn mạnh là công việc thường xuyên, học mọi lúc mọi nơi, cả trên ghế nhà trường, tự học, học trong thực tế. - Cán bộ phải có phong cách công tác tốt, chống bệnh liêu, đại khái, phô trương hình thức cho oai, kiểu cách làm việc bàn giấy, “chỉ tay năm ngón”. Người cán bộ, theo Hồ Chí Minh, phải là người mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, sâu sát, tỷ mỷ, kế hoạch thiết thực, kế hoạch chớ để cho oai, kế hoạch 10 phần biện pháp phải 20 phần, quyết tâm phải 30 phần. Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải năng động, sáng tạo chớ “đập đi, họ đứng", đừng để "đầy túi quần thông báo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc không tiến triển được. Để có được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của một Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc tới công tác cán bộ. Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ được thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau đây: Một là, phải "hiểu và đánh giá đúng cán bộ". Đây là yêu cầu đầu tiên cần phải có đế tiến hành các công tác khác. Làm tốt yêu cầu này đòi hỏi phải công tâm, khách quan, có tiêu chí đánh giá phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng thời kỳ, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Hai là, phải "khéo dùng cán bộ", tức là bố trí cán bộ cho phù hợp để người cán bộ phát huy hết khả năng của mình. Hồ Chí Minh cho rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay và giúp họ sửa chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được. Hồ Chí Minh phê bình: “Thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người thì hai người đều thành công” (15) . Khéo dùng cán bộ còn phải biết kết hợp cán bộ già, cán bộ trẻ, cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều về. Hồ Chí Minh đã phân tích rất rõ ưu điểm và nhược điểm của các loại cán bộ đó để sử dụng tốt. Khéo dùng cán bộ, theo Hồ Chí Minh, còn phải chú ý đề bạt, sử dụng người tốt, chớ dùng người hay nịnh hót mình mà bỏ những người chính trực. Ba là, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chống chủ nghĩa địa phương cục bộ trong công tác cán bộ, tránh đầu óc bè phái, cánh hẩu, họ hàng. Vấn đề này càng cần phải chú ý trong điều kiện Đảng cầm quyền. Bốn là, phải chú ý phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện và đề bạt cán bộ. Các công việc này là những khâu liên hoàn nhưng khi đã đề bạt rồi thì phải kiểm tra, giám sát để giúp cán bộ phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm chứ không khoán trắng công việc cho họ. 5. Tăng cường công tác kiểm tra trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh coi trọng công tác kiểm tra trong xây dựng Đảng. Người cho rằng: khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra, nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích. Có tăng cường kiểm tra thì mới giữ nghiêm kỷ luật Đảng, mới bảo đảm cho đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng được thực hiện một cách đầy đủ và đúng đắn, mới bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to lớn của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ họ kịp thời. Hồ Chí Minh phê bình nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị nhưng họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không bởi vì họ quên mất kiểm tra. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: nếu tổ chức việc kiểm tra chu đáo thì cũng như chúng ta đã có ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ; có thể nói rằng chín phần mười khuyết điểm trong công việc chúng ta là thiếu sự kiểm tra. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tổ chức kiểm tra được tiến hành chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm. Trong công tác kiểm tra, Hồ Chí Minh lưu ý những vấn đề sau đây: - Công tác kiểm tra phải toàn diện: kiểm tra việc và kiểm tra người trong việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. - Kiểm tra phải kịp thời, khi đã có nghị quyết, thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ khuyết điểm và những khó khăn để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách vượt qua mọi khó khăn. - Kiểm tra phải chính xác, công minh, khách quan. Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra không nên chỉ bằng việc căn cứ vào các tờ báo cáo mà phải đi đến tận nơi. Ở đây, cần phải nêu cao trách nhiệm của cán bộ làm công tác kiểm tra. Cán bộ kiểm tra phải là những người hiểu rõ đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng; có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có đạo đức cách mạng; có ý thức tổ chức và kỷ luật; thật thà tự phê bình và phê bình, gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phải chí công vô tư, không thành kiến, thiên vị. - Công tác kiểm tra đi liền với kỷ luật Đảng. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác, kỷ luật sắt, rất nghiêm, tất cả mọi đảng viên đều phải tuân theo. Tính chất kỷ luật bắt nguồn từ tính chất của Đảng, bởi vì Đảng ta bao gồm những người hăng hái, trung thành, ưu tú trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động tự nguyện tự giác đứng vào hàng ngũ của Đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh khuyên mọi người, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng, sợ kỷ luật sắt của Đảng thì đừng vào Đảng hoặc khoan hãy vào Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng cầm quyền

1. Vấn đề Đảng cầm quyền ở Việt Nam Trong đời sống chính trị thế giới hiện đại, chế độ chính trị ở đa số các nước liên quan đến hoạt động của các đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền. Khái niệm “đảng cầm quyền” ở trên thế giới dùng để chỉ đảng nào giành được đa số ghế trong nghị viện. Một số nước còn quy định nếu đảng nào chiếm được 2/3 số ghế trong Nghị viện, thì đảng đó có quyền sửa đối hiến pháp. Đảng cầm quyền có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống quyền lực của nhà nước. Sau khi đã chiếm được đa số ghế trong nghị viện, đảng cầm quyền có quyền đứng ra lập chính phủ và mọi hoạt động của chính phủ đều phải tuân thủ ý chí và nguyện vọng của đảng cầm quyền. Trong trường hợp không có một đảng nào chiếm được đa số ghế trong nghị viện thì sẽ lập nên chính phủ liên minh nhiều đảng. Những đảng không cầm quyền trở thành đảng đối lập trong nghị viện. Như vậy, khái niệm "đảng cầm quyền” ở trên thế giới gắn với thể chế hoạt động của các đảng nghị viện, liên quan trực tiếp đến việc nắm cơ quan hành pháp. Ở nước ta, vấn đề đảng cầm quyền không như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là đảng nghị viện. Nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc, Người khẳng định một lần nữa: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (1) . "Đảng cầm quyền” ở nước ta không những chỉ là đảng lãnh đạo chính quyền mà còn là đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội. Điều này, đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Điều đó còn được thể chế hoá và được thể hiện bằng các văn bản khác của Nhà nước ta, đặc biệt là đã được thể hiện trong thực tế. Nhân dân ta, trên thực tế, đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng việc xác định đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng việc tổ chức, triển khai thực hiện đường lối, chủ trương đưa đất nước phát triển kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng hệ thống tổ chức của mình trong hệ thống chính trị và bằng hành động thực tế tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương đó. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đầu năm 1930, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) do thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ đó cho đến nay, có lúc xã hội Việt Nam tồn tại nhiều đảng nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn luôn là đảng có vai trò lãnh đạo xã hội. Từ năm 1988 trở đi, khi hai đảng: Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ đã tự giải thể thì xã hội Việt Nam chỉ còn một đảng duy nhất và tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là sự tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một Đảng Cộng sản cầm quyền. 2. Đảng lãnh đạo chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội Trong vai trò của đảng cầm quyền, vấn đề Đảng lãnh đạo chính quyền được Hồ Chí Minh coi là một nguyên tắc để bảo đảm nhà nước là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Những quan điểm chủ yếu sau đây của Hồ Chí Minh thể hiện nguyên tắc đó: Một là, bảo đảm cho nhà nước giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân. Trong xây dựng nhà nước, Hồ Chí Minh coi tính chất giai cấp của nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: “Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” (2) . Quan điểm của Hồ Chí Minh là nhân dân lao động làm chủ nhà nước do giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hai là, Đảng lãnh đạo chính quyền cần phải chú ý bảo đảm cho bộ máy chính quyền cũng như cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh. Hồ Chí Minh chú trọng việc Đảng cầm quyền phải xây dựng chính quyền thật sự trong sạch vững mạnh. Người nhấn mạnh những yêu cầu về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong bức thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, tháng 10-1945, Người viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” (3) . Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở các cấp chính quyền khắc phục những căn bệnh, nhất là quan liêu, lãng phí, tham ô và những tiêu cực khác mà Người gọi đó là “giặc nội xâm”. Trong giai đoạn Đảng cầm quyền, Đảng đã cử nhiều đảng viên sang hoạt động trong các cơ quan nhà nước, trong đó nhiều người giữ những trọng trách. Hồ Chí Minh phê bình một số cán bộ, đảng viên cậy thế mình là người của tổ chức đảng để phớt lờ cả kỷ luật trong các cơ quan nhà nước. Người cho rằng, đảng viên không những phải chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng mà còn thải phục tùng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Ba là, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp. Đòi hỏi đầu tiên đối với Đảng cầm quyền là phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn. Đường lối đó phải được thể chế hoá bằng Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước. Khi đề cập vấn đề nhà nước thì điều quan trọng là quyền lực thuộc về ai. Nhà nước kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là bộ máy thể hiện quyền lực của nhân dân lao động. Nhà nước phát huy dân chủ để động viên tất cả lực lượng của nhân dân vào tham gia sự nghiệp cách mạng. Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức Đảng trong bộ máy Nhà nước bằng đội ngũ đảng viên ở các tổ chức đó. Về mặt chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước có khác nhau. Do đó, cần phải phân biệt vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Nhưng một đặc điểm của nước ta từ năm 1945 cho đến năm 1975 là hệ thống chính trị chủ yếu dồn sức cho kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong điều kiện ấy, vai trò quản lý toàn diện của Nhà nước chưa được thể hiện rõ nét. Vì vậy, có thể nói trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có một phương thức bất biến về sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền. Trong điều kiện hiện nay chúng ta cần vận dụng sáng tạo quan điểm Hồ Chí Minh tìm ra phương thức lãnh đạo thích hợp với từng thời kỳ. Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội là một nội dung trọng yếu nhằm qua cách mạng nước ta phát triển, trong đó: nhấn mạnh lãnh đạo thông qua việc "đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước” (4) . “Kiện toàn hệ thống tổ chức đảng gắn với cải cách đổi mới tổ chức, bộ máy của các cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội" (5) . Một chức năng rất quan trọng của Đảng cầm quyền là lãnh đạo mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự nghiệp cách mạng không phải là sự nghiệp của vài người, của vài cá nhân anh hùng nào mà là sự nghiệp của toàn dân, có tổ chức được tập hợp trong mặt trận. Tổ chức mặt trận là tổ chức liên minh chính trị, là tổ chức tự nguyện của các đoàn thể, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo. Năm 1939, Hồ Chí Minh cho rằng, “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo" (6) . Trong điều kiện Đảng cầm quyền, theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì với tư cách là tổ chức chính trị cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra đường lối, chủ trương và vận dụng thuyết phục các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tham gia các phong trào cách mạng biến chủ trương, đường lối thành hiện thực. 3. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân trong điều kiện Đảng cầm quyền Quyền lực của Đảng không tự nhiên mà có. Quyền lực ấy là của nhân dân; nhân dân ủy thác cho Đảng đứng ra lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân mà còn là toàn thể nhân dân lao động. Trong giai đoạn cầm quyền, các tổ chức đảng đóng vai trò lãnh đạo một cách toàn diện; cán bộ, đảng viên thường giữ chức vụ trong Đảng hoặc trong các tổ chức khác của hệ thống chính trị. Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên chớ xa dân, chớ “vác mặt quan cách mạng” để làm hại dân. Trong quan hệ với dân ở giai đoạn cầm quyền, theo Hồ Chí Minh, Đảng ta phải chú ý những vấn đề sau đây: - Phải luôn luôn lắng nghe ý kiến nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để xây dựng chế độ mới. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của nhân dân nói chung và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng. Đảng cầm quyền phải thường xuyên lấy nguồn gốc sức mạnh từ nhân dân. - Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Đây là đòi hỏi sống còn của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh lưu ý việc vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng bằng nhiều hình thức: đóng góp ý kiến cho Đảng, nhất là trong việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng; tích cực thực hiện đường lối chủ trương đó trong cuộc sống; kiểm tra cán bộ đảng viên; giới thiệu những người ưu tú để Đảng kết nạp vào hàng ngũ của mình,... - Nâng cao dân trí. Trong giai đoạn Đảng cầm quyền, Đảng không thể gọi là Đảng của trí tuệ khi nền dân trí thấp. Theo Hồ Chí Minh, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, dốt là một thứ giặc nguy hiểm cần phải chống. Vì vậy, việc nâng cao dân trí là trách nhiệm của Đảng. - Đảng không được theo đuôi quần chúng. Đảng phải thường xuyên tuyên truyền giác ngộ quần chúng, làm cho dân dân giác ngộ cách mạng sẵn sàng đem sức mình thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. - Đảng phải xác định rõ trách nhiệm của mình: vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Tư duy chiến dịch của đại tướng Lê Trọng Tấn

Đại tướng Lê Trọng Tấn là một vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam, một cán bộ cao cấp có nhiều phẩm chất tốt đẹp, một người chỉ huy dày dạn trận mạc và có nhiều kinh nghiệm về chỉ huy chiến dịch. Ở Đại tướng Lê Trọng Tấn có nhiều điều để nói, nhưng ở đây tôi chỉ đề cập tới một vấn đề mà nó đã để lại dấu ấn sâu sắc. Đó là trí tuệ, phẩm chất tư duy về chiến dịch. Cũng chỉ là đôi điều nhớ lại nên không tránh khỏi bỏ sót, hơn thế, có nhiều điều ở Đại tướng Lê Trọng Tấn mà tôi chưa nhận biết được. Đối với bất cứ người chỉ huy chiến dịch nào trong thời gian chuẩn bị cũng như trong quá trình chiến dịch đều phải đánh giá đúng tình hình địch, địa hình, thời tiết, thời gian làm cơ sở cho việc xác định quyết tâm chiến dịch và xử trí các tình huống chiến dịch một cách chính xác. Đồng chí Lê Trọng Tấn (ngoài cùng bên phải) tại Sở chỉ huy mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu. Việc tìm hiểu địch của Đại tướng Lê Trọng Tấn cũng có những nét nổi bật riêng. Đại tướng coi việc tìm hiểu địch là yếu tố quan trọng hàng đầu và là nhiệm vụ trước tiên của người chỉ huy chiến dịch. Theo Đại tướng, có hiểu địch mới đánh được địch, mới có cơ sở để hạ quyết tâm, lựa chọn cách đánh. Cách đánh của ta bao giờ cũng liên quan đến cách bố trí phòng phủ và cách đối phó trong quá trình chiến dịch của địch. Vì vậy, trong thời gian chuẩn bị chiến dịch, Đại tướng Lê Trọng Tấn đòi hỏi cao ở cán bộ chuẩn bị chiến trường, cơ quan tham mưu chiến lược, chiến dịch cung cấp đầy đủ thông tin về số lượng, chất lượng, tình trạng tinh thần, trang bị cung cấp, về bố trí phòng thủ của địch trên địa bàn chiến dịch, các lực lượng có liên quan, nhất là lực lượng dự bị chiến lược của địch có thể ứng cứu, đối phó với chiến dịch của ta. Trên cơ sở những thông tin đó, tập trung nghiên cứu, đánh giá khả năng của địch, dự đoán thủ đoạn đối phó của chúng và cách thức thực hiện sự đối phó trong tổ chức phòng thủ và phản công lúc ta bị tấn công. Việc nắm địch trong thời gian chuẩn bị chiến dịch là cơ sở cho việc hạ quyết tâm cơ bản lúc đầu và còn là cơ sở dự kiến xu thế phát triển của tình hình, đặt ra giả thiết giải quyết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình triển khai chiến đấu. Trong quá trình chiến dịch, thông qua những thông tin về địch, Đại tướng Lê Trọng Tấn hướng tư duy của mình phân tích ý định, thủ đoạn của địch, xác định chúng sẽ làm những gì tiếp theo. Trong việc nghiên cứu này, Đại tướng Lê Trọng Tấn thể hiện một năng lực trí tuệ, một phẩm chất tư duy nhạy bén. Trước không ít thông tin, bao gồm nhiều khía cạnh và những mặt khác nhau của tình huống đang diễn ra, có lúc có cả hành động nghi binh, lừa địch, Đại tướng đã tìm cách phân tích, tổng hợp, tách những sự kiện ra riêng lẻ; liên kết những sự kiện giống nhau; khái quát trừu tượng hóa để khám phá vấn đề bản chất của tình hình làm cơ sở cho việc xử trí tình huống phát triển có lợi cho ta. Trong việc tìm hiểu địch thì luôn tìm tòi, phát hiện mặt mạnh, lợi dụng khoét sâu mặt yếu của địch, tạo điều kiện có lợi cho ta. Bên cạnh nghiên cứu nắm địch, Đại tướng Lê Trọng Tấn còn quan tâm tìm hiểu ta một cách sâu sắc cả về quân số, trang bị, tinh thần chiến đấu, sức khỏe, khả năng, sở trường của cán bộ ta, trong đó đặc biệt chú ý đến phẩm chất chính trị, tinh thần và năng lực của chỉ huy, đội ngũ cán bộ cấp dưới để bồi dưỡng, động viên và sử dụng cho thích hợp. Không chỉ nắm chắc chủ lực mà Đại tướng Lê Trọng Tấn quan tâm nắm lực lượng chính trị, quân sự địa phương để chỉ đạo, phối hợp thực hiện kết hợp tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công; đánh địch bằng ba mũi: Quân sự, chính trị, binh vận; đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; đánh tập trung, đánh độc lập; đánh địch trên bộ, trên không, trên mặt nước; đánh địch trước mắt, sau lưng, hai bên sườn... nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và thực hiện nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân. Đại tướng rất quan tâm nghiên cứu và phân tích địa hình vì nó liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng lực lượng của ta và của địch, nhất là nắm số lượng và chất lượng đường sá. Điều quan tâm của Đại tướng là phát hiện trở ngại của địa hình đối với ta để tìm cách khắc phục tạo thuận lợi cho ta và quyết định những biện pháp gây trở ngại cho địch. Thắng lợi của chiến dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết là hai yếu tố: Chính trị, tinh thần và cách đánh. Hai yếu tố đó luôn luôn đi đôi với nhau, vì muốn có thắng lợi thì phải dám đánh và quyết đánh, đồng thời lại phải biết đánh và biết thắng. Muốn có cách đánh hay trước hết phải biết đánh giá đúng tình hình cả địch, ta và địa hình. Nhưng đó cũng chỉ mới một mặt. Muốn có cách đánh hay còn phải có một trình độ kiến thức và kinh nghiệm. Cách đánh hay còn đòi hỏi ở người chỉ huy chiến dịch một năng lực trí tuệ có cả chiều rộng và chiều sâu, có tính linh hoạt và mềm dẻo để vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng quân sự, những nguyên tắc của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam vào chỉ huy chiến dịch. Cách đánh hay luôn luôn là cách đánh biết phát huy chỗ mạnh, khắc phục chỗ yếu của ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch. Ở Đại tướng Lê Trọng Tấn, cả năng lực trí tuệ, phẩm chất tư duy đều mạnh. Là một cán bộ trưởng thành trong chiến tranh cách mạng, kiến thức được bồi dưỡng, kinh nghiệm được tích lũy, tư duy được rèn luyện và đạt tới độ chín. Tư duy của Đại tướng Lê Trọng Tấn rất biện chứng. Trong hạ quyết tâm, xử trí tình huống luôn luôn lấy thực tiễn tình hình về địch, về ta, về địa hình, tư tưởng quân sự của Đảng ta để giải quyết cách đánh chiến dịch, chiến thuật. Tư duy chiến dịch, chiến thuật của Đại tướng Lê Trọng Tấn đã tích hợp cả tư duy trực quan-hành động, tư duy hình tượng và tư duy trừu tượng - lô-gích. Nhờ vậy, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã có nhiều thành công trong chỉ huy các chiến dịch. Nói vậy không phải trong hoàn cảnh nào, trường hợp nào, mọi việc cũng thuận lợi với đồng chí. Lúc tới công tác ở Học viện Quân sự cấp cao, trong một lần tâm sự, Đại tướng Lê Trọng Tấn nói với tôi: Trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, sở dĩ không giữ được hoàn toàn thành quả đợt 1, vì lúc đó tư duy về chiến dịch phòng ngự chưa được khẳng định nên xử trí lúng túng. Cũng cần nói thêm rằng, quá trình tư duy của người chỉ huy chiến dịch luôn luôn chịu sự tác động rất mạnh của ý chí, của cảm xúc. Ý chí luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tích cực hóa tư duy. Không có ý chí mạnh, quyết tâm cao, nghị lực bền vững thì tư duy dễ trở nên hỗn loạn, kém hiệu quả. Ở Đại tướng Lê Trọng Tấn thì ý chí chiến đấu rất kiên cường, nhiệt tình cách mạng cháy bỏng, nghị lực bền vững, nên tư duy luôn luôn ở trạng thái tích cực, sáng suốt, có sức sáng tạo và hiệu quả cao.

Cán bộ nghiêm khắc với chính mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác. Với quan niệm, "Cán bộ là tướng của đoàn thể", "là gốc của mọi công việc"; "là nhịp cầu nối liền giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân", "là sợi dây chuyền của bộ máy", "là tiền vốn của đoàn thể", Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác. Chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên về ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện bản thân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người phải thực hiện nghiêm khắc với chính mình. Thực hiện nghiêm khắc với chính mình đòi hỏi người cán bộ, đảng viên "luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình"(1). Đó là quá trình tự quan sát, theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiểm điểm về lời nói và hoạt động của người đảng viên trong mối quan hệ với công việc, với người khác và với chính mình. Đó cũng chính là năng lực tự kiểm tra, giám sát trong thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị và trong việc thực hiện "bổn phận" của người đảng viên. Nghiêm khắc với chính mình thể hiện ý thức giác ngộ cao của người cán bộ, đảng viên khi đứng trong hàng ngũ của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng, bản thân người đảng viên khi vào Đảng là đã tự nguyện chấp nhận hy sinh lợi ích, thậm chí hy sinh cả tính mạng vì lợi ích của Đảng, của dân tộc và của nhân dân. "Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư"(2). Nghiêm khắc với chính mình là tiền đề cho những nỗ lực của cá nhân nhằm xây dựng một tổ chức đảng chân chính, giống như xây dựng nền gốc vững bền cho ngôi nhà của mỗi người. Nghiêm khắc với chính mình là yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên bởi "mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng", nghiêm khắc với chính mình sẽ góp phần giúp cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi. Đặc biệt, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đảng viên thường nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng hơn nữa bởi đứng trước những khó khăn, thử thách cũng như những cám dỗ về tiền tài, danh lợi, cán bộ, đảng viên dễ bị suy thoái, biến chất, có thể nhanh chóng rơi vào chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù nguy hiểm của mỗi cá nhân và tổ chức đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư""(3). Đối với Đảng, sự tự giám sát của cán bộ, đảng viên là gốc rễ giám sát của Đảng "vì những người trong sạch thì không việc gì phải sợ sự kiểm soát của ai cả, ngay cả sự kiểm soát của nghị viện"(4). Người dẫn lại câu nói của Khổng Tử: "Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý(5). Trong khi với chính mình phải thực hiện nghiêm khắc thì trong quan hệ với người khác, Hồ Chí Minh yêu cầu phải luôn khoan dung, độ lượng và tôn trọng mọi người. Quan điểm này thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm khắc với chính mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm để phát triển điều tốt, khắc phục điều dở của bản thân; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc "dĩ công vi thượng", đặt việc công lên trên, lên trước việc tư… Đây là yêu cầu thường xuyên, liên tục để mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng hoàn thiện mình hơn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của mỗi thời kỳ. Nghiêm khắc để kiểm soát chính mình không phải là điều dễ dàng, một phần do thói quen tùy tiện, do áp lực cuộc sống, do tác động từ môi trường và quan trong hơn nữa, điều khiến người ta khó kiểm soát được bản thân đó là những khó khăn, gian khổ trên con đường làm cách mạng, là sức hấp dẫn của địa vị, tiền tài, danh vọng. Do đó, nghiêm khắc với chính mình đòi hỏi sự tự giác cao, bản lĩnh vững vàng, sự tự chủ của bản thân trước mọi cám dỗ, biết tiết chế nhu cầu, lợi ích bằng cách đặt nhu cầu, lợi ích của mình trong sự phù hợp với nhu cầu, lợi ích của người khác và của tập thể. Thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh, trong những năm vừa qua, Đảng ta đã luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng lần đầu tiên khẳng định "xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ" với tư cách là một trong năm nội dung của công tác xây dựng Đảng, bên cạnh các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những chuyển biến tích cực. Nếu khẳng định "cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng" thì những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về kinh tế - xã hội sau hơn 30 năm đổi mới trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức thì không thể phủ nhận được "sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên"(6). Nhìn trên phạm vi toàn cục, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những khó khăn, tiêu cực trong nước, đại bộ phận cán bộ, đảng viên thể hiện quan điểm vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nghiêm túc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ và nghị quyết của Đảng; nêu cao vai trò lãnh đạo quần chúng; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, thống nhất trên nguyên tắc chung, quan hệ mật thiết, gắn bó với quần chúng nhân dân. Sự nhất trí về chính trị, đồng thuận trong xã hội vẫn là cơ bản. Đó là kết quả của nhiều yếu tố trong đó có việc thực hiện nghiêm khắc với chính mình, nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cá nhân. Tuy nhiên, trong một số cơ quan, đơn vị, vẫn còn trình trạng cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thủ đoạn, bè cánh, thiếu liêm, chính, chí công, vô tư, lợi dụng vị trí, chức vụ để tham ô, đục khoét, tham nhũng, ăn cắp của công; hạch sách, nhũng nhiễu cấp dưới và nhân dân, gây mất đoàn kết nội bộ; hoặc một số thì đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải "trả ơn" (đòi quyền lợi, chế độ, chính sách…). Những vụ án lớn vừa qua cho thấy, những cán bộ, đảng viên sai phạm phần lớn đều được đào tạo cơ bản, có hiểu biết pháp luật, đều nhận thức đầy đủ về quy định của Đảng, Nhà nước, về yêu cầu đối với người đảng viên nhưng bản thân họ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, đặc biệt là thiếu bản lĩnh chính trị (tức là chưa thực hiện yêu cầu nghiêm khắc với chính mình) do đó họ không vượt qua được những cám dỗ của lợi ích vật chất và danh vọng. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng, một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu ý thức thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, sự giác ngộ về lợi ích; lập trường giai cấp công nhân ngày càng phai nhạt, bị tư tưởng tiểu tư sản, bệnh gia trưởng, hẹp hòi ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân chi phối. Khi gặp những biến đổi của môi trường chính trị, xã hội và những tác động tiêu cực, những người này dễ thay đổi bản chất chính trị, ngả nghiêng, dao động, mất niềm tin, mất phương hướng chính trị, tha hóa về đạo đức, lối sống. Một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ngày càng có xu hướng xa rời quần chúng; ít gắn bó với nhân dân; khoảng cách giữa họ với nhân dân có những biểu hiện gia tăng. Lối sống cá nhân hưởng thụ của một số cá nhân và gia đình cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, có tiền đang trở nên xa lạ với đa số nhân dân, khó có thể hòa đồng với nhân dân. Sự xa cách về mức sống, lối sống làm cho cán bộ, đảng viên không hiểu quần chúng, không được sự ủng hộ của quần chúng. Xa rời quần chúng, nằm ngoài sự giám sát của quần chúng là môi trường thuận lợi để chủ nghĩa cá nhân phát triển… Thực hiện nghiêm khắc với chính mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cần tiếp tục thực hiện một số nội dung sau: Nâng cao ý thức nghiên cứu và học tập nâng cao trình độ, nhất là trình độ lý luận chính trị. Khi nhấn mạnh vai trò của lý luận, Hồ Chí Minh nhắc nhở mỗi đảng viên và cán bộ phải ra sức phấn đấu, không ngừng học tập để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị của mình. Người cho rằng, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin có ý nghĩa quyết định tới việc hình thành tư cách người cách mạng: "Phong trào cách mạng lôi cuốn hàng triệu người. Công việc cách mạng là nghìn điều muôn loại phức tạp, khó khăn. Để cân nhắc mọi hoàn cảnh phức tạp, nhìn rõ các mâu thuẫn, để giải quyết đúng các vấn đề, thì chúng ta phải cố gắng học tập lý luận Mác - Lênin"(7). Lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho chúng ta tri thức khoa học về xã hội, tự nhiên và con người mà còn giúp chúng ta nhận thức đúng đắn thế giới quan, phương pháp luận khoa học về mọi mặt đời sống, về con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân đang phấn đấu thực hiện. Tin và đi theo Chủ nghĩa Mác là tin vào học thuyết được xây dựng dựa trên nhận thức khoa học và cách mạng. Niềm tin đó sẽ góp phần rèn luyện bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên. Khi có bản lĩnh chính trị vững vàng, trong mọi tình huống khó khăn, phức tạp, trước những bước ngoặt của cách mạng, người cán bộ, đảng viên của Đảng luôn giữ được bản lĩnh của người cộng sản, không vì những cám dỗ đời thường mà vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước. Thường xuyên, tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức: Đạo đức làm cho tư tưởng của người cách mạng trong sáng, khách quan, nhất quán, không có sự mờ ám, khuất tất. Đạo đức là thước đo bảo đảm cho tính đúng đắn, hữu ích, hữu dụng của chân lý, hướng vào mục đích vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đạo đức của Đảng nói chung và đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng không tự nhiên có được. "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống". Do đó, việc giáo dục, xây dựng và rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên cần phải tuân theo nguyên tắc "tu dưỡng đạo đức suốt đời". Thường xuyên, tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức có vai trò quan trọng, chi phối đến hành vi của mỗi người. Đó là cơ sở để hoàn thiện nhân cách làm người, vươn tới các giá trị phổ biến: chân, thiện, mỹ, đạt đến các chuẩn mực và giá trị văn hóa. Tích cực học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Trong thời gian qua, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có giá trị và sức lan tỏa to lớn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện mọi mặt của cán bộ, đảng viên; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội. Đặc biệt, hiệu ứng mang lại từ Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đươc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã và đang triển khai, trở thành sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và trong hệ thống chính trị, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong Đảng, trong xã hội. Do đó, cá nhân cán bộ, đảng viên cần có ý thức tự giác thường xuyên tham gia các buổi học tập, quán triệt việc thực hiện Cuộc vận động và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thấm nhuần để từ đó thực hiện một cách thiết thực, hiệu quả sự tự tu dưỡng của bản thân theo tấm gương hy sinh vĩ đại của Người vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nguy cơ và những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là khi những biểu hiện suy thoái ngày càng tinh vi, được che đậy, tô vẽ dưới nhiều hình thức khác nhau như hiện nay. Bởi nếu không thực sự tỉnh táo, sáng suốt, hoặc nhận thức mơ hồ rất có thể sẽ bị rơi vào bẫy tự suy thoái bất cứ lúc nào. Đồng thời, cán bộ đảng viên còn cần nhận thức rõ ràng về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch khi chúng đang đẩy mạnh tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong chiến lược "diễn biến hòa bình", các thế lực thù địch luôn lợi dụng những khó khăn, thiếu sót trong quá trình phát triển kinh tế, xây dựng xã hội mới của chúng ta để thực hiện các hoạt động chống phá. Mục tiêu đầu tiên của chúng là làm suy yếu Đảng, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng không ngừng tìm cách mua chuộc, lôi kéo cán bộ, đảng viên, gây chia rẽ nội bộ tổ chức đảng, làm cho một bộ phận đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về đạo đức và lối sống. Một bộ phận cán bộ, đảng viên có đời sống khá, thậm chí giàu có tôn sùng chủ nghĩa vật chất, đồng tiền, coi thường đạo lý, kỷ cương, bị cuốn theo lối sống xa hoa, hưởng thụ... không còn giữ được tư cách đạo đức của người cán bộ cách mạng. Một bộ phận có đời sống khó khăn, thấp kém, dễ bi quan, dao động, dễ bị lôi kéo, mua chuộc, kích động, lợi dụng… từ đó sinh ra tiêu cực, suy thoái. Có thể nói, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghiêm khắc với chính mình thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng giai đoạn hiện nay./. nguồn: QĐND
Nét nổi bật về nghệ thuật quân sự trong trận Ấp Bắc năm 1963

Cách đây 60 năm, với quyết tâm “trụ bám”, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, gom dân, lập ấp bằng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ - ngụy, lực lượng vũ trang Quân khu 8 đã giáng cho địch một đòn đích đáng, làm nên chiến thắng Ấp Bắc. Đây là thắng lợi có ý nghĩa to lớn, báo hiệu sự thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; đồng thời, khắc họa nhiều nét nghệ thuật quân sự đặc sắc.

Trước thắng lợi to lớn của phong trào Đồng khởi, đế quốc Mỹ buộc phải tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm nhanh chóng dập tắt phong trào cách mạng miền Nam. Thực hiện mưu đồ đó, chúng tăng cường lực lượng ngụy quân, tăng viện trợ và đưa phương tiện chiến tranh hiện đại để mở các cuộc hành quân bằng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” do cố vấn Mỹ chỉ huy; gom dân, lập ấp chiến lược, quyết tâm “bình định” miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng. Đầu năm 1963, khi phát hiện lực lượng ta đang đứng chân ở Ấp Bắc, địch bất ngờ tổ chức cuộc hành quân càn quét,1 hòng nhanh chóng “tiêu diệt và bắt gọn Việt cộng”, dập tắt phong trào cách mạng trên địa bàn.

Về phía ta, cuối năm 1962, Bộ Chính trị ra nghị quyết về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, trong đó xác định: “hết sức mở rộng lực lượng quân sự và chính trị, phát động du kích chiến tranh rộng khắp tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bại kế hoạch lập ấp chiến lược của địch, trước mắt làm thất bại kế hoạch tấn công của địch trong năm 1963, giữ vững và phát triển lực lượng của ta, mở rộng vùng căn cứ và vùng giải phóng”2. Thực hiện chủ trương trên, Trung ương cục miền Nam chỉ đạo các địa phương tích cực xây dựng xã, ấp chiến đấu, chuẩn bị trận địa công sự vững chắc, kiên quyết trụ bám, đẩy mạnh ba mũi giáp công, đánh bại âm mưu của địch.

Khẩu đội súng máy 12,7mm trong trận Ấp Bắc. Ảnh: Tư liệu

Tại Ấp Bắc, mặc dù với lực lượng ít hơn địch nhiều lần3, nhưng với tinh thần chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo và nghệ thuật quân sự độc đáo, ta đã giáng cho địch một đòn chí mạng4, giành thắng lợi vang dội. Chiến thắng Ấp Bắc trở thành dấu mốc quan trọng trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với nhiều nét nổi bật về nghệ thuật quân sự.

Một là, nắm chắc địch, làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu. Nắm chắc địch là yếu tố quan trọng hàng đầu, làm cơ sở để xác định chính xác quyết tâm chiến đấu, từ đó tích cực, chủ động làm tốt công tác chuẩn bị, thực hành chỉ huy chiến đấu giành thắng lợi. Để nắm chắc địch tiến công vào Ấp Bắc, chỉ huy các cấp đã phát huy vai trò của các thành phần, lực lượng, tích cực nắm địch từ xa đến gần, cả trước, trong và sau trận đánh. Nhờ nắm chắc thành phần, lực lượng, âm mưu, thủ đoạn, thấy rõ điểm mạnh và những hạn chế cốt tử của máy bay trực thăng và xe thiết giáp; dự kiến được chính xác các hướng, mũi tiến công, khu vực đổ quân của địch, ta đã xây dựng phương án chiến đấu phù hợp, dự kiến tình huống sát thực tế, kiên quyết bẻ gãy các đợt tiến công của chúng. Theo đó, ta đã lựa chọn thế đất cao liên hoàn từ Ấp Bắc đến ấp Tân Thới, bố trí Đại đội 1 (Tiểu đoàn 261) và Trung đội địa phương huyện Châu Thành đảm nhiệm phòng ngự trên hướng chủ yếu (hướng Tây và Nam), kiên quyết giữ vững khu vực Ấp Bắc, khi có điều kiện xuất kích, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Trên hướng thứ yếu (hướng Bắc và Tây Bắc) do Đại đội 1 (Tiểu đoàn 514) đảm nhiệm, có nhiệm vụ giữ vững khu vực ấp Tân Thới. Việc bố trí lực lượng như trên đã tạo thành thế trận hình vòng cung, bao vây toàn bộ cánh đồng rộng phía trước, nơi ta dự kiến máy bay trực thăng địch sẽ đổ quân và sử dụng xe thiết giáp cơ động tiến công vào Ấp Bắc. Vì thế, mặc dù địch huy động một lực lượng lớn gấp nhiều lần so với ta, với phương tiện chiến tranh hiện đại, được hỏa lực của không quân, pháo binh chi viện, liên tục tiến công, nhưng phải hứng chịu thất bại nặng nề.

Cùng với bố trí lực lượng một cách khoa học, ta chủ động làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu. Bộ Tư lệnh Quân khu 8 chỉ đạo các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cử những cán bộ dày dạn kinh nghiệm xuống cơ sở, trực tiếp huấn luyện chiến thuật chống càn, cách xây dựng công sự trận địa, kỹ thuật bắn máy bay trực thăng, xe thiết giáp; tổ chức học tập chính trị, xây dựng quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng đánh bại mọi đợt tiến công của địch. Để hạn chế điểm mạnh, khoét sâu điểm yếu của địch; phát huy tốt hỏa lực, khả năng, sở trường và cách đánh của ta, các đơn vị đã dựa vào thế có lợi của địa hình, địa vật trong khu vực, nhất là tận dụng những gò đất cao, vườn cây và hệ thống bờ kênh, rạch để cải tạo và xây dựng hệ thống hầm, hào, công sự chiến đấu vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, có chiều sâu, ngụy trang kín đáo, tạo thế trụ lại chống càn hiệu quả. Với tinh thần “kiên quyết bám trụ, bám trụ đến cùng”, nhờ có hệ thống công sự trận địa được chuẩn bị tốt, bí mật, trên hướng phòng ngự miếu Thầy Lơ, bộ đội và du kích chờ cho địch vào thật gần, cách tiền duyên khoảng 40 m, trong tầm bắn hiệu quả của các loại hỏa lực mới bất ngờ, đồng loạt nổ súng, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Sau ba lần tiến công không thành, địch sử dụng bom napan, bắn rốc két, đạn cháy,... hòng thiêu rụi các mục tiêu trong Ấp Bắc. Hệ thống công sự vững chắc đã chở che cho bộ đội, du kích kiên quyết bám trụ trận địa, hạn chế thương vong, giữ vững lực lượng, đội hình, tiếp tục chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Hai là, phát triển cách đánh hiệu quả trước chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch. Thực hiên chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, địch triệt để tận dụng lợi thế về vũ khí, trang bị hiện đại, sử dụng chiến thuật “thiết xa vận”, “trực thăng vận”, mở nhiều cuộc hành quân với các thủ đoạn tác chiến “Bủa lưới, phóng lao”, “Phượng hoàng vồ mồi”,... gây nhiều tổn thất cho cách mạng miền Nam. Sau những mất mát ban đầu, quân và dân miền Nam đã phát huy ý chí kiên cường, chiến đấu anh dũng, lập nên những chiến công, bắn rơi trực thăng địch ở Nà Miêu (Trà Bồng, Quảng Ngãi), Tân Hưng Tây (Cái Nước, Cà Mau), Hưng Thạnh (Châu Thành), v.v. Tuy nhiên, vẫn chưa có những chiến thắng tạo nên chuyển biến cục diện chiến trường.

Từ những thắng lợi có tính chất “bộ phận”, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đã tổ chức nhiều hội nghị nhằm phát huy trí tuệ tập thể, kịp thời rút kinh nghiệm thực tiễn chống càn trước đó, tìm cách đánh bại các biện pháp chiến thuật và tiêu diệt các phương tiện chiến đấu hiện đại của địch. Đồng thời, các cấp tăng cường giáo dục, xây dựng niềm tin vào vũ khí, trang bị của ta và cách đánh máy bay trực thăng, xe thiết giáp cho bộ đội, chống tư tưởng “ngán trực thăng”, “sợ thiết giáp”, không dám trụ lại đánh các cuộc hành quân càn quét của địch. Để tiêu diệt máy bay trực thăng của địch, bộ đội và du kích được huấn luyện về phương pháp, thời cơ bắn, thành lập các “tổ săn trực thăng”, tổ chức luyện tập, rèn luyện kỹ năng thực hành bắn. Trong từng đợt chiến đấu, các đơn vị bí mật, kiên trì chờ cho những chiếc trực thăng chở quân giảm tốc độ, hạ độ cao, từ từ hạ xuống cánh đồng phía trước trận địa mới bất ngờ, đồng loạt tập trung hoả lực tiêu diệt. Kết quả ta đã bắn hạ 05 máy bay trực thăng, bắn hỏng nhiều chiếc khác. Với xe thiết giáp M.113, ta đã nghiên cứu, tìm ra điểm yếu của địch là khi thực hành chiến đấu, lái xe phải đóng nắp trước, quan sát qua kính tiềm vọng, nên tầm nhìn bị hạn chế, khó phát huy hỏa lực, hiệp đồng giữa các xe khó khăn, tốc độ chậm. Mặt khác, do khối lượng nặng, tiết diện xích nhỏ, hành trình vòng xích ngắn nên xe rất khó bám vào bờ kênh trơn trượt để lên bờ, dễ bị sa lầy khi phải di chuyển trên địa hình bùn nhão. Do vậy, ta tổ chức bố trí trận địa phục kích bí mật, phát huy lối đánh gần, dựa vào hệ thống công sự trận địa liên hoàn, vững chắc, thực hiện tốt nguyên tắc “hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung”, diệt 03 xe, bắn hỏng nhiều chiếc khác, bẻ gãy các đợt tiến công của địch. Đây chính là những yếu tố cơ bản giúp ta đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” trong trận Ấp Bắc.

Ba là, phối hợp các lực lượng, phát huy sức mạnh ba mũi giáp công. Dựa vào ấp, xã chiến đấu, lực lượng vũ trang bám trụ làm nòng cốt chống địch càn quét; phát động nhân dân đấu tranh chính trị, binh vận, phát huy thắng lợi của đấu tranh quân sự là bước phát triển quan trọng của nghệ thuật kết hợp “hai chân (chính trị, quân sự), ba mũi (chính trị, vũ trang, binh vận)” trong trận Ấp Bắc. Tỉnh ủy Mỹ Tho phát động phong trào đấu tranh chính trị và binh vận rộng khắp ở các địa phương với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân. Trận đánh không chỉ diễn ra ở riêng 2 ấp của xã Tân Phú, mà mở rộng ra toàn Tỉnh, với nhiều hình thức, như: đánh đồn, bốt, đánh giao thông, bắn máy bay, kiềm chế và uy hiếp địch, phá ấp chiến lược. Trung đội trinh sát của Tỉnh đã bí mật tập kích, khống chế sân bay Thân Cửu Nghĩa. Hơn 700 quần chúng thuộc các xã Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung và Mỹ Phước Tây bao vây cụm pháo binh địch ở khu trù mật Mỹ Phước Tây, không cho chúng bắn vào xóm làng, làm gián đoạn việc chi viện bằng pháo binh của địch. Cùng thời gian đó, hơn 200 gia đình có binh sĩ tham gia cuộc hành quân càn quét vào Ấp Bắc, được cơ sở mật của ta làm binh vận, kéo lên bệnh viện thị xã đòi thăm người bị thương, biểu tình chống bắt lính, đòi chấm dứt cuộc hành quân. Hoạt động đấu tranh rộng khắp, liên tục của quần chúng đã buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho chủ lực của ta ở Ấp Bắc tập trung đánh bại các đợt tiến công của địch. Sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, không những đánh bại cuộc hành quân của địch, mà còn bức hàng, bức rút được 45 đồn bốt, phá tan 69 ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 55 xóm ấp, trở thành điển hình của chiến tranh nhân dân, xây dựng làng, xã chiến đấu, đánh thắng kế hoạch bình định, dồn dân, “lập ấp chiến lược” của Mỹ - ngụy.

Chiến thắng Ấp Bắc đã mở đầu cho việc đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” được coi là “tân kỳ và hữu hiệu”, báo hiệu sự phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy, cổ vũ mạnh mẽ quân và dân miền Nam đẩy mạnh phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”. Những nét nổi bật về nghệ thuật quân sự và kinh nghiệm rút ra từ thắng lợi của trận Ấp Bắc vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

                                        Nguồn: Đại tá, TS. LÊ THANH BÀI, Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng