Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng cầm quyền
1. Vấn đề Đảng cầm quyền ở Việt Nam
Trong đời sống chính trị thế giới hiện đại, chế độ chính trị ở đa số các nước liên quan đến hoạt động của các đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền. Khái niệm “đảng cầm quyền” ở trên thế giới dùng để chỉ đảng nào giành được đa số ghế trong nghị viện. Một số nước còn quy định nếu đảng nào chiếm được 2/3 số ghế trong Nghị viện, thì đảng đó có quyền sửa đối hiến pháp. Đảng cầm quyền có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống quyền lực của nhà nước. Sau khi đã chiếm được đa số ghế trong nghị viện, đảng cầm quyền có quyền đứng ra lập chính phủ và mọi hoạt động của chính phủ đều phải tuân thủ ý chí và nguyện vọng của đảng cầm quyền. Trong trường hợp không có một đảng nào chiếm được đa số ghế trong nghị viện thì sẽ lập nên chính phủ liên minh nhiều đảng. Những đảng không cầm quyền trở thành đảng đối lập trong nghị viện.
Như vậy, khái niệm "đảng cầm quyền” ở trên thế giới gắn với thể chế hoạt động của các đảng nghị viện, liên quan trực tiếp đến việc nắm cơ quan hành pháp.
Ở nước ta, vấn đề đảng cầm quyền không như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là đảng nghị viện. Nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc, Người khẳng định một lần nữa: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (1) .
"Đảng cầm quyền” ở nước ta không những chỉ là đảng lãnh đạo chính quyền mà còn là đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội. Điều này, đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Điều đó còn được thể chế hoá và được thể hiện bằng các văn bản khác của Nhà nước ta, đặc biệt là đã được thể hiện trong thực tế. Nhân dân ta, trên thực tế, đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng việc xác định đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng việc tổ chức, triển khai thực hiện đường lối, chủ trương đưa đất nước phát triển kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đảng lãnh đạo toàn xã hội bằng hệ thống tổ chức của mình trong hệ thống chính trị và bằng hành động thực tế tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương đó.
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đầu năm 1930, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) do thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ đó cho đến nay, có lúc xã hội Việt Nam tồn tại nhiều đảng nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn luôn là đảng có vai trò lãnh đạo xã hội. Từ năm 1988 trở đi, khi hai đảng: Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ đã tự giải thể thì xã hội Việt Nam chỉ còn một đảng duy nhất và tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là sự tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một Đảng Cộng sản cầm quyền.
2. Đảng lãnh đạo chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội
Trong vai trò của đảng cầm quyền, vấn đề Đảng lãnh đạo chính quyền được Hồ Chí Minh coi là một nguyên tắc để bảo đảm nhà nước là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Những quan điểm chủ yếu sau đây của Hồ Chí Minh thể hiện nguyên tắc đó:
Một là, bảo đảm cho nhà nước giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân.
Trong xây dựng nhà nước, Hồ Chí Minh coi tính chất giai cấp của nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: “Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” (2) . Quan điểm của Hồ Chí Minh là nhân dân lao động làm chủ nhà nước do giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Hai là, Đảng lãnh đạo chính quyền cần phải chú ý bảo đảm cho bộ máy chính quyền cũng như cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.
Hồ Chí Minh chú trọng việc Đảng cầm quyền phải xây dựng chính quyền thật sự trong sạch vững mạnh. Người nhấn mạnh những yêu cầu về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong bức thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, tháng 10-1945, Người viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” (3) .
Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở các cấp chính quyền khắc phục những căn bệnh, nhất là quan liêu, lãng phí, tham ô và những tiêu cực khác mà Người gọi đó là “giặc nội xâm”.
Trong giai đoạn Đảng cầm quyền, Đảng đã cử nhiều đảng viên sang hoạt động trong các cơ quan nhà nước, trong đó nhiều người giữ những trọng trách. Hồ Chí Minh phê bình một số cán bộ, đảng viên cậy thế mình là người của tổ chức đảng để phớt lờ cả kỷ luật trong các cơ quan nhà nước. Người cho rằng, đảng viên không những phải chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng mà còn thải phục tùng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.
Ba là, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp.
Đòi hỏi đầu tiên đối với Đảng cầm quyền là phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn. Đường lối đó phải được thể chế hoá bằng Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Khi đề cập vấn đề nhà nước thì điều quan trọng là quyền lực thuộc về ai. Nhà nước kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là bộ máy thể hiện quyền lực của nhân dân lao động. Nhà nước phát huy dân chủ để động viên tất cả lực lượng của nhân dân vào tham gia sự nghiệp cách mạng. Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức Đảng trong bộ máy Nhà nước bằng đội ngũ đảng viên ở các tổ chức đó. Về mặt chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước có khác nhau. Do đó, cần phải phân biệt vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Nhưng một đặc điểm của nước ta từ năm 1945 cho đến năm 1975 là hệ thống chính trị chủ yếu dồn sức cho kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong điều kiện ấy, vai trò quản lý toàn diện của Nhà nước chưa được thể hiện rõ nét. Vì vậy, có thể nói trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có một phương thức bất biến về sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền. Trong điều kiện hiện nay chúng ta cần vận dụng sáng tạo quan điểm Hồ Chí Minh tìm ra phương thức lãnh đạo thích hợp với từng thời kỳ. Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội là một nội dung trọng yếu nhằm qua cách mạng nước ta phát triển, trong đó: nhấn mạnh lãnh đạo thông qua việc "đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước” (4) . “Kiện toàn hệ thống tổ chức đảng gắn với cải cách đổi mới tổ chức, bộ máy của các cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội" (5) .
Một chức năng rất quan trọng của Đảng cầm quyền là lãnh đạo mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự nghiệp cách mạng không phải là sự nghiệp của vài người, của vài cá nhân anh hùng nào mà là sự nghiệp của toàn dân, có tổ chức được tập hợp trong mặt trận. Tổ chức mặt trận là tổ chức liên minh chính trị, là tổ chức tự nguyện của các đoàn thể, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo. Năm 1939, Hồ Chí Minh cho rằng, “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo" (6) .
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì với tư cách là tổ chức chính trị cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra đường lối, chủ trương và vận dụng thuyết phục các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tham gia các phong trào cách mạng biến chủ trương, đường lối thành hiện thực.
3. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân trong điều kiện Đảng cầm quyền
Quyền lực của Đảng không tự nhiên mà có. Quyền lực ấy là của nhân dân; nhân dân ủy thác cho Đảng đứng ra lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân mà còn là toàn thể nhân dân lao động. Trong giai đoạn cầm quyền, các tổ chức đảng đóng vai trò lãnh đạo một cách toàn diện; cán bộ, đảng viên thường giữ chức vụ trong Đảng hoặc trong các tổ chức khác của hệ thống chính trị. Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên chớ xa dân, chớ “vác mặt quan cách mạng” để làm hại dân.
Trong quan hệ với dân ở giai đoạn cầm quyền, theo Hồ Chí Minh, Đảng ta phải chú ý những vấn đề sau đây:
- Phải luôn luôn lắng nghe ý kiến nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để xây dựng chế độ mới. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của nhân dân nói chung và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng. Đảng cầm quyền phải thường xuyên lấy nguồn gốc sức mạnh từ nhân dân.
- Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Đây là đòi hỏi sống còn của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh lưu ý việc vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng bằng nhiều hình thức: đóng góp ý kiến cho Đảng, nhất là trong việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng; tích cực thực hiện đường lối chủ trương đó trong cuộc sống; kiểm tra cán bộ đảng viên; giới thiệu những người ưu tú để Đảng kết nạp vào hàng ngũ của mình,...
- Nâng cao dân trí. Trong giai đoạn Đảng cầm quyền, Đảng không thể gọi là Đảng của trí tuệ khi nền dân trí thấp. Theo Hồ Chí Minh, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, dốt là một thứ giặc nguy hiểm cần phải chống. Vì vậy, việc nâng cao dân trí là trách nhiệm của Đảng.
- Đảng không được theo đuôi quần chúng. Đảng phải thường xuyên tuyên truyền giác ngộ quần chúng, làm cho dân dân giác ngộ cách mạng sẵn sàng đem sức mình thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.
- Đảng phải xác định rõ trách nhiệm của mình: vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét