Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Đa dạng hóa các hình thức giáo dục trong công tác tôn giáo

 


Phải đa dạng hóa các hình thức vận động để phù hơp với từng đối tượng; trước hết thực hiện tốt việc vận động các chức sắc, chức việc, các tín đồ có uy tín; sau đó là việc vận động các tín đồ tôn giáo yêu nước; đồng thời giáo dục, động viên những tín đồ lẫm lỡ quay về với cách mạng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt công tác giáo dục, khéo léo, đa dạng hóa các hình thức vận động



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

Yếu tố di cư ảnh hưởng trực tiếp đến người già ở Việt Nam

 


Quy mô số người di cư lao động tới các đô thị ngày càng tăng lên tới các. Qua kết quả điều tra, phần lớn di cư là nhóm tuổi trẻ. Ở độ tuổi càng trẻ người di cư càng có xu hướng đi xa để thay đổi môi trường sống cũng như tìm kiếm cơ hội học tập và làm việc ( năm2019, trong số 88,4 triệu dân từ 5 tuổi trở lên, số người di cư trong 5 năm trở lại đây là 6,4 triệu người, chiếm 7,3%. Trong số này ước tính số người di cư tới các đô thị là hơn 4 triệu người) (Trong giai đoạn 1989-2019, tỷ trọng dân số đô thị ở nước ta đã tăng từ 20,1 lên 34,4%. Mức tăng 14,3% này tương đương với con số khoảng 13 triệu người dân đô thị và họ chủ yếu là những người di cư trẻ tuổi tới đô thị lập nghiệp)

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU BẢO ĐẢM CHO THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

 


 Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò của Đảng, cách mạng Việt Nam chỉ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mới giành được thắng lợi. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng hơn 35 năm qua đã khẳng định đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Hiện nay, không thể có lực lượng chính trị nào đủ sức gánh vác sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đổi mới ở nước ta. Đảng là nhân tố chủ quan năng động, sáng tạo ở tầm chiến lược có thể biến khả năng khách quan thành hiện thực. Thông qua sự lãnh đạo của Đảng mà khơi dậy, quy tụ và nhân lên sức mạnh nội lực của đất nước, tranh thủ được sức mạnh ngoại lực, liên kết và giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là công cụ chính trị mạnh mẽ nhất của nhân dân ta đang chứng minh trên thực tế hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế xã hội. Vấn đề là phải khắc phục những yếu kém của bộ máy nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, đồng thời phải tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia và xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tổ chức quản lý, phát huy tiềm năng to lớn về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên, quy mô dân số, nguồn nhân lực, phẩm chất con người và sự ổn định chính trị xã hội, để, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển.

 

NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC, DÂN CHỦ, NHÂN VĂN

 


Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa mang tính dân tộc, dân chủ và nhân văn

Dân tộc là nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện truyền thống văn hiến, được nuôi dưỡng từ mạch nguồn dân tộc; thể hiện bản sắc, cốt cách của văn hóa Việt Nam. Đó cũng là nền văn hóa độc lập, tự chủ, có nội lực, không bị lấn át trước văn hóa ngoại lai; có khả năng tiếp thu, "dân tộc hóa", "Việt hóa" những điều tốt đẹp của thế giới, làm giàu và nâng tầm văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, dân tộc không có nghĩa là khép kín, co cụm hẹp hòi.

Dân chủ là một nền văn hóa của dân, do dân và vì dân. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, là người sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Hiện nay, dân chủ là một giá trị tiến bộ của thời đại, được các nước tiên tiến đề cao, nhưng cũng là giá trị mà chúng ta còn đang yếu, cần tập trung xây dựng.

Nhân văn là hướng đến nền văn hóa yêu thương con người, nhân ái, bao dung, đề cao con người. Nhân văn còn có nội hàm rộng hơn khái niệm bác ái của phương Tây ở chỗ còn có hàm ý bảo vệ con người, đề cao nhân quyền, tôn trọng quyền con người. Văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay thường trọng tình nghĩa, yêu thương con người, đồng loại. Hiện nay rất cần củng cố, vun đắp giá trị này trước lối sống vị kỷ, vô cảm trong cơ chế kinh tế thị trường, nhằm khôi phục lòng nhân ái, nghĩa tình vốn có trong văn hóa Việt Nam.

 

Làm thế nào để thực hiện chăm sóc sức khỏe và bảo đảm sinh kế cho 15-20 triệu người già sau năm 2040?

 


Tỷ trọng người già đang trong xu hướng tăng nhanh trong khi tỷ trọng số người ở độ tuổi lao động giảm dần, đã làm cho tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm xuống tương đối nhanh trong giai đoạn từ nay đến năm 2050. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam sẽ giảm từ 8,8 năm 2019 xuống còn khoảng 3,8 vào năm 2049 và ước tính mức giảm gần 60%. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm do các yếu tố. Xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân. Kết quả điều tra năm 2019, số người bình quân một hộ có xu hướng giảm từ mức 4,6 người/hộ năm 1999 xuống còn 3,6 người/hộ năm 2019. Trung bình 10 hộ dân thì có một hộ độc thân. Những số liệu này phản ánh xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Từ góc độ cấu trúc hộ gia đình, có thể thấy rõ một bức tranh xã hội là ngày càng có nhiều hộ gia đình chỉ có ông bà già sống chung với nhau hay ông bà già sống một mình. Trong số 10% số hộ gia đình sống độc thân không khó suy đoán rằng phần lớn các hộ gia đình này là người già, đặc biệt là phụ nữ. Từ bức tranh xã hội về quy mô và cơ cấu hộ gia đình như vậy, có thể thấy số người tiềm năng cxó thể trực tiếp chăm sóc người già sẽ thấp hơn nhiều so với người hỗ trợ tiềm năng như nêu trên.

Nhận thức về nhân quyền thời kỳ trước đổi mới ở Việt Nam

 


Cương lĩnh chính trị năm 1930, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt nam là “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo đó nhiệm vụ của Đảng là tập hợp lực lượng toàn dân, tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vấn đề quyền con người được thể hiện ở việc tố cáo tội ác vi phạm của chủ nghĩa Thực dân Pháp đối Việt Nam và nhân dân Việt Nam và đề ra các khẩu hiệu đấu tranh cụ thể như “Việt Nam tự do”, đấu tranh và xây dựng một xã hội tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, phổ cập giáo dục…Đây là mục tiêu, nhiệm vụ xuyên suốt, là ngọn cờ tập hợp lực lượng và đó cũng chính là cơ sở làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám. Ngay sau khi giành chính quyền, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm sâu sắc vấn đề quyền con người và mục tiêu hướng tới là bảo vệ quyền con người, quyền làm người; trân trọng những giá trị quý báu mà nhân loại đã đạt được trên lĩnh vực quyền và tự do, dân chủ của con người (hiến pháp năm 1946), đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại bằng chính sự nghiệp cách mạng của mình.

Quá trình già hóa và suy giảm nguồn cung lao động ở Việt Nam

 


Tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh tế phụ thuộc vào mức tăng năng xuất lao động và tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây có thể hiểu là quy mô nhóm dân số trong độ tuổi lao động. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, số người bước vào độ tuổi lao động thường lớn hớn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Mức chênh lệch giữa 2 nhóm này sẽ giảm dần khi các quốc gia bước vào thời kỳ già hóa dân số. Tỷ lệ giữa số lao động tăng thêm hàng năm so với quy mô dân số trong độ tuổi lao động là tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Ở các quốc gia đang có cấu trúc dân số già hoặc đang trong quá trình già hóa dân số, tỷ lệ tăng trưởng này có xu hướng giảm dần. Khi tỷ lệ này xuống quá thấp hay giao động ở mức trên dưới 0,5% thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Sau khi phân tích có hệ thống các số liệu thống kê về tương quan giữa tăng trưởng nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế phát triển, các nhà nghiên cứu đều thấy một trong những điều kiện tốt nhất cho tăng trưởng của một nền kinh tế là khi tăng trưởng nguồn nhân lực hằng năm ở mức 2%. Con số này cũng có ý nghĩa là những quốc gia đang ở thời kỳ có tỷ lệ này ở mức 2% là các quốc gia ở thời điểm tốt nhất của thời kỳ có cơ cấu dân số “vàng”. Tại thời điểm này, tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-64) đạt tới 67-70%, và tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc chỉ khoảng 30-33%. Kết quả phân tích các số liệu thống kê về biến đổi cấu trúc tuổi của dan số Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009- 2039 cho thấy, với phương án tuổi lao động từ 15-64, tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực ở nước ta có xu hướng giảm nhanh. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống ở mức khoảng 0,5% trong giai đoạn 2034-2039. Nếu như lấy mốc tuổi nghỉ hưu là 60 thì ngay từ năm 2029, tỷ lệ này có thể bắt đầu xuống dưới mức 0,5%. Từ năm 2040, khi nước ta sẽ có cấu trúc dân số già, yếu tố tăng trưởng nguồn nhân lực sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ từ sau năm 2040 cũng là thời kỳ mag Việt Nam không còn cơ hội dân số “vàng”

Già hóa dân số ở Việt Nam- Thực tế đáng báo động

 


Già hóa dân số là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn so với tỷ trọng người già. Trong cơ cấu dân số trẻ: tỷ trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%. Trong cơ cấu dân số già: Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên. Quá trình già hóa dân số: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+ chạm ngưỡng 7%. Thời kỳ dân số già:  bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20% trở lên đến dưới 30%  (65+ đạt ngưỡng 14% trở lên đến dưới 21%). Thời kỳ dân số rất già: bắt đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên). Dân số Việt nam đang tăng chậm, nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85 năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25 người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng. Tỷ trọng người già 65+  là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già, đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)

Trách nhiệm của các tổ chức chính trị xã hội trong thực hiện công tác tôn giáo

 


 Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng Liên đoàn lao động, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.  Về trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân: Lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

 

Hồ Chí Minh là một nhân cách cao đẹp, bởi Người có đức trong, trí sáng, cống hiến trọn đời cho dân tộc và nhân loại tiến bộ, luôn hiện hữu với người Việt Nam yêu nước. Dù ai đó cố tình đặt điều nói xấu, xuyên tạc và tung tin ngụy tạo về Người, thì cũng chỉ là một hành động “bàn tay không che nổi mặt trời”

Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, con người hằng ngày, hằng giờ bị tống nhập biết bao tin tức, tin đúng nhiều và tin xuyên tạc sự thật cũng không ít. Len lỏi vào các kênh thông tin ấy, lợi dụng diễn đàn mở cũng như sự lan truyền rộng, nhanh của mạng in-tơ-nét, các thế lực thù địch đã trổ hết các “ngón nghề” thâm độc nhằm bôi xấu nhân cách Hồ Chí Minh. Nhưng, bôi làm sao được, khi cả cuộc đời của Người vô cùng trong sáng và đẹp đẽ; là tấm gương sáng không một chút bụi mờ, đã trở thành giá trị văn hóa thẩm thấu một cách tự nhiên vào đời sống của người Việt Nam yêu nước, như lớp lớp phù sa bồi đắp cho “cánh đồng” văn hóa của dân tộc càng thêm phì nhiêu.

Đạo đức trong sáng

Nói đến đạo đức Hồ Chí Minh thì không chỉ người Việt Nam chân chính, mà rất nhiều người trên thế giới, thậm chí cả những người không cùng chiến tuyến với Người đều phải nể trọng. Bởi lẽ, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái cao cả, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Người luôn tìm cách giác ngộ cho mọi người về quyền con người, tố cáo mạnh mẽ tội ác, áp bức, bất công của thực dân, đế quốc xâm lược và nô dịch những dân tộc nhược tiểu với bằng chứng thuyết phục nhất. Vì lẽ đó, Người là một chiến sĩ tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh chống xâm lược, giải trừ chủ nghĩa thực dân, chống mọi áp bức đối với con người; đồng thời, luôn có khát vọng xây dựng một xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm nồng hậu và sự chăm lo mọi bề đối với người lao động, đặc biệt là những người bị yếu thế trong cuộc sống. Người luôn gần dân, hiểu dân, vì dân, phấn đấu cho sự cường thịnh của dân tộc, trung thành với lý tưởng của Đảng: đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa cộng sản. Người hiến cả đời cho dân tộc và “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người luôn lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ. Hồ Chí Minh đưa ra và tích cực thực hành quan điểm: Đảng phải “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”; người cách mạng phải là người phục vụ nhân dân, “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”. Người nói: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đầy tớ cho quần chúng và phải làm cho ra trò, nếu không quần chúng sẽ đá đít”. Ngay cả chức Chủ tịch nước của mình, Người cũng nói là “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”5. Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất trên thế giới có cuộc sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - những đặc tính cao đẹp của con người chân chính như một lẽ tự nhiên: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/ Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/ Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/ Thiếu một mùa, thì không thành trời/ Thiếu một phương, thì không thành đất/ Thiếu một đức, thì không thành người”.

Trí tuệ sáng trong

Nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh còn được tăng thêm, tôn đẹp lên bởi trí tuệ của Người. Trí tuệ ấy là kết tinh của tri thức nhân loại, là kết quả của quá trình kế thừa giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để không ngừng phát triển, sáng tạo trong thời đại mới. Trong nhân cách của Người, ta thấy sự sâu sắc của một nhà hiền triết phương Đông, sự uyên bác như một nhà thông thái phương Tây và sự nhạy bén của một nhà cách mạng lỗi lạc. Người để lại cho đời sau di sản tư tưởng, lý luận đồ sộ, hàm chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc trong cuộc sống và là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Người là nhà lãnh đạo cách mạng, nhà ngoại giao, nhà báo, nhà thơ,… Ở vai trò nào, Người cũng cho ta những chỉ dẫn sáng suốt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Điều đó chỉ có được ở một nhân cách vĩ đại, lấy việc học tập suốt đời để nâng cao nhận thức, coi việc rèn luyện trong thực tiễn để hoàn thiện bản thân. Người học trong đường đời, học mọi lúc, mọi nơi; học ở nhân dân, ở nhân loại cần lao. Động lực và mục đích của việc học tập, tu dưỡng của Người là vì dân, vì nước, vì tiến bộ của nhân loại mà không hề mưu lợi cho bản thân; học để làm việc, làm người, làm cán bộ; để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại; luôn đem trí tuệ của mình phục vụ cách mạng. Điều đó làm cho trí tuệ của Hồ Chí Minh sáng trong muôn đời, tô đậm thêm nhân cách cao đẹp của Người. Nhân cách ấy chỉ có ở người có chí lớn, luôn hướng thiện và sẵn lòng phục vụ cho sự tiến bộ - nhân cách của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, điều kiện sống của con người có sự phát triển lớn, nhưng vẫn còn đó những điều đáng lo ngại cho sự xuống cấp về đạo đức, nhân cách con người. Đâu đó trên thế giới, máu vẫn đổ trong những cuộc tranh chấp, chiến tranh, khủng bố; vũ khí hạt nhân, máy bay, xe tăng, tên lửa,… vẫn còn là những phương tiện để con người ứng xử với nhau. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu, sự phát triển của tri thức khoa học phải phục vụ cho tiến bộ nhân loại; trí và đức phải là hai nhân tố quyện chặt với nhau thành một thể thống nhất cho quá trình hình thành, phát triển nhân cách và là sự vận hành của thế giới đương đại. Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, không ai có thể phủ nhận tư tưởng và nhân cách của Người đã trở thành những giá trị tiến bộ của thế giới; không những là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam mà còn là giá trị chung cho sự phát triển của nhân loại. Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc và là một nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam; biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người đã đóng góp về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một cuốn truyện chân thực của một biểu tượng về chân - thiện - mỹ, mà bất cứ người chân chính nào cũng thấy xúc động và mong muốn hoàn thiện mình như thế

Hồ Chí Minh là người mẫu mực về việc nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói; ở chỗ tự giác dấn thân vào sự nghiệp cách mạng, suốt đời tự rèn luyện mình theo những tiêu chí đạo đức cách mạng trong mọi hoàn cảnh, trọn đời vì nước, vì dân, có nhân cách cao cả và trong sáng. Điều này là không thể phủ nhận! Thế nhưng, vẫn có những kẻ nhẫn tâm xuyên tạc phẩm chất, nhân cách cao đẹp của Người. Nói xấu Hồ Chí Minh là điều trái với sự thật, bởi cuộc đời Người như một chân lý của cái đẹp, cái tốt. Bởi vậy, ai đó có tâm xấu muốn đặt điều vu khống, nói xấu, “bôi đen” về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh trên các phương tiện truyền thông, thậm chí viết cả sách, dựng cả phim cho việc này, đều gặp phải cái cảnh “ngược sáng” khi quy chiếu vào cuộc đời, phẩm chất đạo đức của Người và chẳng khác nào như những con bọ húc đầu vào núi. Với cái tâm đen tối của mình, những kẻ đó tìm mọi mưu ma chước quỷ để dựng chuyện bôi xấu, xuyên tạc theo nhiều cách rất tinh vi, thâm độc. Họ cắt ghép tài liệu, hình ảnh, dựng nên những nhân chứng giả để chứng minh cho điều họ viết, họ nói, tạo nên sự nhiễu loạn thông tin, khiến người nghe hoang mang, nghi ngờ, v.v. Ví như câu chuyện có người cho rằng, không có chuyện UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh. Nhưng sự thật, Nghị quyết vẫn được lưu trữ trong kho của UNESCO và được đại diện UNESCO tại Việt Nam nhắc lại trong dịp Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Người. Một sự thật hiển nhiên vậy mà họ còn rắp tâm cố tình xuyên tạc, huống hồ ở đây là vấn đề nhân cách của Người. Họ lừa được ai? Họ chỉ lừa được những người cùng cảnh với họ và những người còn hạn chế về nhận thức.

Sự thật tự đã nói lên tất cả, bản chất vấn đề luôn là cái bất biến - nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh luôn trường tồn. Dù có bị xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa thì nhân cách cao cả và sáng ngời của Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện hữu với mọi người. Sự xuyên tạc, nếu có thu được, theo một số người tự cho là “thành công”, thì cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Những kẻ cố tình xuyên tạc, đi ngược lại với sự thật thì cũng chẳng khác nào dùng bàn tay mà che mặt trời vậy!

 

Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (14/01/1993) về dân số

 


 Với trọng tâm là thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển vêg mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cư stiếp tục diễn ra tghì trong tương lai không xxa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuỷen biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”. Nước ta đã đạt mức sinh thay thế khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Tuy nhiên mức sinh của ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo. Chẳng hạn: Quá trình này khó đảo ngượcdưới tác động của các yếu tố phát triển trong quá trình CNH-HĐH. Hiện nay 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần thiết (các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện)

Thực hiện tốt mối quan hệ giữa dân số và phát triển

 


Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình  giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng. Trên thực tế, dân số ổn định thì phát triển kinh tế xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng. Dân số và phát triển có tác động qua lại chặt chẽ, biện chứng với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia và ngược lại. Dân số có tác động qua lại đến kinh tế, giáo dục, xã hội, môi trường, y tế và ngược lại sự phát triển bền vững của các yếu tố đố sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng dân số. Dân số và phát triển có liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bvố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số- kinh tế, dân số - xã hội và dân số - môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững.

 

 ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Các thế lực thù địch lâu nay vẫn thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ trương đúng đắn này của Đảng hòng mưu toan chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng đã bộc lộ mưu đồ đen tối là xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin đến một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong xã hội.

Vì vậy, xin được trao đổi để làm rõ về vấn đề này:

 Thứ nhất, về sai lầm của những luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, qua đó theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa, chịu sự tác động các quy luật (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..) của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Do đó, kinh tế thị trường có thể tồn tại và thích ứng với nhiều hình thái xã hội khác nhau, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường được xác định là sản phẩm chung của văn minh nhân loại.

Như vậy, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển. Đối với Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhất định phải phát triển kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là xã hội tương lai, một xã hội bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Mặt khác, không có nền kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia,  không phải là một cơ chế hoàn hảo. Do đó, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một tất yếu, khách quan. Và vì vậy, kinh tế thị trường không nhất thiết phải phát triển theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Thứ hai, rất sai lầm khi cho rằng kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều.

Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao đổi, tiêu dùng...chịu sự tác động các quy luật kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..). Qua đó, buộc các  chủ thể kinh tế trong sản xuất phải năng động, sáng tạo, hợp lý hóa tổ chức sản xuất; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tăng năng suất lao động...thực chất để giảm chi phí, tăng chất lượng, mẫu mã hình thức, tăng sức cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kinh tế thị trường do chạy theo lợi nhuận có những mặt tiêu cực như: Cạnh tranh không lành mạnh, cắt xén tiền công người lao động, vi phạm sở hữu trí tuệ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường... Trong nền kinh tế thị trường, những người sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ nên dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của cơ chế tự điều tiết của thị trường trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại phải có quản lý của nhà nước, nhằm phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường mang lại và hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực. Cụ thể, nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triển như kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường phối hợp ở Nhật Bản, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc... dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội, như phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội...
    Ở Việt Nam, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tuân theo các quy luật thị trường, Nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, thúc đẩy, tôn trọng cạnh tranh lành mạnh; ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh; điều tiết và giải quyết các thất bại của thị trường; khắc phục những mất cân đối lớn, khủng hoảng chu kỳ do tự điều tiết của cơ chế thị trường gây ra. Đó chính là định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây phải được hiểu là nhằm phát huy tốt nhất những mặt tích cực của kinh tế thị trường, hạn chế tối đa mặt tiêu cực để phát triển kinh tế - xã hội phục vụ nhân dân. Đồng thời, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Công sản Việt Nam lãnh đạo, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước, nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là mục đích cao nhất của nhân dân và toàn thể dân tộc. Do đó, kinh tế thị trường mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng, phù hợp với các quy luật phát triển, là xu hướng tiến bộ, văn minh của xã hội loài người.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những nội hàm cơ bản về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như sau: “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã - hội”.

Vì vậy, những luận điểm sai trái về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là những quan điểm chủ quan, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, trong tình hình mới...nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

NẮM VỮNG NGUYÊN TẮC ĐỔI MỚI

 


Một là, Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị

          - Xây dựng và hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đi đôi với hoàn thiện dân chủ XHCN.

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN đi đối với việc từng bước hoàn thiện NNPQXHCN của dân, do dân, vì dân.

          - Xây dựng hoàn thiện nền KTTTXHCN đi đôi với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta, bảo đam đường lối, đúng đắn, sáng tạo, chăm lo xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Hai là, Đổi mới KT là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới CT trong phát triển đất nước, đổi mới CT theo yêu cầu của phát triển KT.

          - Đổi mới mô hình phát triển KT sang nền KTTT định hướng XHCN.

         - Đổi mới phương thức hoạt động KT và các QHKT

          - Hình thành, phát triển hệ thống các thị trường tạo nên toàn diện trong đổi mới KT.

          - Bên cạnh trọng tâm đổi mới KT đồng thời với đổi mới CT Đảng ta chủ trương từng bước đổi mới CT làm cho các chủ trương, đường lối, chính sách PL và các QHCT diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ với đổi mới KT.

          - Phải xem xét những chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách, tổ chức, bộ máy để bổ sung điều chỉnh cho phù hợp.         

 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Trong thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội sử dụng đó là triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền, nói xấu chế độ, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; kích động, lôi kéo các phần tử chống phá cách mạng; bôi nhọ nhân sự cấp cao và chia rẽ đoàn kết nội bộ nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy không ít những thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là giới trẻ, đối tượng thường xuyên tiếp cận với mạng xã hội.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau sau:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân nhận thức rõ “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Trong tuyên truyền, giáo dục cần tập trung vạch trần, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, những vấn đề, sự kiện mới, nóng, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin sai trái đó đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Hoạt động này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý, điều hành của chính trị viên và người chỉ huy các cấp. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Chủ động, kịp thời xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, thành lập lực lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong đơn vị.

 Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhiều khi không lộ diện rõ. Đặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi quân nhân trong đơn vị được tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Bloger, Line... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Chủ động nắm chắc ý đồ, âm mưu, thủ đoạn của các phần tử cơ hội, bất mãn... tạo sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong cuộc đấu tranh “không tiếng súng” này.

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động và những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; đồng thời tuyên truyền quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Tổ chức comment (bình luận), chia sẻ các tin, bài viết tích cực; tạo mối liên kết chặt chẽ với lực lượng tham gia đấu tranh trên mạng xã hội của cơ quan, đơn vị mình. Thực hiện nghiêm chế độ sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và báo cáo về kết quả đấu tranh và đề ra các biện phát đấu tranh trong thời gian tiếp theo có hiệu quả.

Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị, trong đó lực lượng chuyên trách làm nòng cốt, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


 

 

VĂN HÓA XẤU ĐỘC PHƯƠNG TÂY ĐANG NGẤM NGẦM

 XÂM LƯỢC DÂN TỘC TA

"Muốn xóa sổ vĩnh viễn một quốc gia, dân tộc thì hãy đồng hóa nền văn hóa của quốc gia, dân tộc đó".

Lợi dụng vào tâm lý hiếu kỳ, sính ngoại; tâm lý tuổi mới lớn, thích khẳng định mình, thích các hoạt động sôi nổi... các thế lực xấu đã thông qua truyền thông bẩn, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho việc du nhập các lễ hội, luồng văn hóa ngoại lai từ phương Tây vào nước ta, nhưng chủ yếu là du nhập những mặt trái, biến tướng độc hại, dị hợm. Đồng thời chúng ra sức kêu gọi, vận động xóa bỏ những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc nhằm thực hiện âm mưu thâm độc, tấn công vào nền văn hóa, thực hiện diễn biến hòa bình, làm suy yếu, rối loạn đất nước ta.

Hệ quả là gì? Các ông bố, bà mẹ, các bậc phụ huynh hãy dành vài phút để nghĩ lại xem, con cháu của chúng ta đang ra sao? Chúng háo hức tô ma, vẽ quỷ, máu mê bê bết, kinh dị diễu hành khắp phố, trêu đùa, dọa nạt mọi người để chào đón Halloween; mới tý tuổi đầu mà đã Valentine rồi dằn vặt đau khổ vì học cấp 2 rồi mà chưa có người yêu; chúng háo hức, mong ngóng ông già Noel của Lễ Giáng sinh... là những lễ hội truyền thống của Phương Tây.

Trong khi đó: Chúng đang tỏ ra chán ghét Tết cổ truyền, không thích các hoạt động sum họp gia đình đông người, suốt ngày chỉ chăm chăm cắm mặt vào cái điện thoại, máy tính. Từ đó các giá trị gia đình, gốc rễ của xã hội bị đảo lộn, ông bà bố mẹ con cái luôn có khoảng cách, thiếu sự gắn kết, thậm chí làm sâu sắc hơn sự xung đột giữa các thế hệ, phá vỡ các gia đình...

Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần nâng cao trách nhiệm của mình hơn nữa, kiên quyết thực hiện 6 dám: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu khó khăn; nghiên cứu tham mưu các chủ trương, chính sách thích hợp nhằm làm tốt hơn nữa việc "bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc". Đồng thời tăng cường quản lý lĩnh vực văn hóa; có biện pháp thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực của các luồng văn hóa ngoại lai độc hại; mạnh tay xử lý các trường hợp vi phạm.

Các gia đình - tế bào của xã hội, từng ông bố, bà mẹ hãy nâng cao ý trách nhiệm, dành thời gian quan tâm giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống gia phong, nền nếp cho con cái. Có thái độ kiên quyết, nghiêm khắc trước những biểu hiện lệch lạc, lai căng thái quá của con trẻ.

Có như vậy thì gia đình mới yên ấm, xã hội mới ổn định và dân tộc Việt mới trường tồn! 

 

LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ CỦA MÁC GIÁ TRỊ VĨNH VIỄN

 


Một số ngừơi chống phá, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận lý luận hình thái kinh tế xã hội của C. Mác, cố tình không hiểu rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ không phải vì tư tưởng khoa học của học thuyết Mác - Lênin không còn tính thời đại, mà là sự phá sản của một đường lối sai lầm, chẳng những sa vào quan liêu hóa, giáo điều, chủ quan, duy ý chí bắt đầu từ sai lầm trong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở đó, do đi chệch khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin chân chính, mà còn là sự xét lại và phản bội chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời không thể không kể đến những âm mưu thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chính chủ nghĩa đế quốc quốc tế sử dụng.

 Kẻ thù của các đảng cộng sản đã lợi dụng triệt để những sai lầm trong đường lối, những khiếm khuyết không được khắc phục kịp thời trong lãnh đạo và điều hành đất nước của các đảng ở các nước đó… để mua chuộc, kích động và cổ vũ những phần tử cơ hội bên trong, khuyến khích những hành động phản cách mạng bên ngoài, nhằm mưu đồ đen tối hướng tới phá hoại sự nghiệp xây dựng xã hội mới, giải phóng nhân dân lao động cần lao.

 

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

 Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng chính trị khác. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Tuy nhiên, lợi dụng những hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị,... tìm cách đả phá, kêu gọi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này, cổ súy tư tưởng đa nguyên, đa đảng. Vì vậy, nhận diện quan điểm sai trái đó để bảo vệ nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng vừa là yêu cầu khách quan, vừa là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên; trong đó, tập trung vào các nhóm vấn đề sau: 

Thứ nhất, nhóm quan điểm sai trái về bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ.

Họ cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập, giống như lửa với nước, là hai khái niệm “không thể dung hòa”, không thể kết hợp, do đó không thể có nguyên tắc tập trung dân chủ. Cũng theo họ, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị mất quyền lãnh đạo xã hội là do thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ quá lâu và họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này “càng sớm, càng tốt”; đồng thời, họ kêu gọi bỏ “chế độ thiểu số phục tùng đa số” thì mới thực sự có “dân chủ”, “sáng tạo”, v.v.

Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu nhằm tầm thường hóa nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng với mưu đồ phá hoại hòng làm cho Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc chia cắt nguyên tắc vốn thống nhất, hoặc đem dân chủ đối lập với tập trung là không hiểu đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Với cách lập luận sai trái này, họ đã không hiểu bản chất, hoặc cố tình lừa dối người khác để hạ bệ nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ có sự lãnh đạo được sự bảo đảm của tập trung. Có giữ vững tập trung mới có thể phát huy, mở rộng được dân chủ và bảo đảm dân chủ thực chất. Phát triển dân chủ luôn gắn liền với giữ vững và tăng cường tập trung, trên cơ sở đó, dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc. Dân chủ chỉ đối lập với tình trạng độc đoán, chuyên quyền chứ không đối lập với tập trung; tập trung chỉ đối lập với tình trạng tản mạn, tự do, tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật chứ không đối lập với dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ hoàn toàn khác với tập trung quan liêu. Dân chủ có sự bảo đảm của tập trung cũng hoàn toàn khác về bản chất với dân chủ hình thức, dân chủ vô chính phủ.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng để xây dựng Đảng thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức. Đây là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; quy định cơ cấu, hình thức tổ chức, phương thức, chế độ thiết lập các cơ quan lãnh đạo của Đảng; xác lập các quy tắc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng và cũng là nguyên tắc giữ vai trò chi phối các nguyên tắc khác của Đảng. Nó làm cho Đảng được xây dựng thành một đội ngũ có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao, phát huy được tính chủ động, năng động và sáng tạo của cán bộ, đảng viên; bảo đảm cho Đảng luôn là một tổ chức lãnh đạo, một tổ chức chiến đấu mà không phải là một câu lạc bộ.

Sức mạnh của Đảng là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; sự thống nhất đó chỉ có thể giữ vững và biến thành sức mạnh vật chất khi được bảo đảm bằng sự thống nhất về mặt tổ chức thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập trung dân chủ là cơ sở bảo đảm cho Đảng thực sự là một tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, vừa tập trung được trí tuệ và sức mạnh vật chất của toàn Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người.

Thứ hainhóm quy kết tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là “lỗi từ gốc” do độc đảng; Việt Nam muốn dân chủ, tiến bộ thì “phải chấm dứt sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản”, từ đó cổ súy tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Đây là âm mưu hết sức thâm độc nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa; kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thực tiễn cho thấy: dân chủ ở một quốc gia không phụ thuộc vào việc ở đó có một hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào bản chất chính của đảng cầm quyền và mức độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng các đảng chính trị. Chẳng hạn, Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng,... nhưng không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 quốc gia theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Ảrập Xêút, Baren, Bênanh, Bôxnia, Cuba, Cômô, Gana, Bờ Biển Ngà, Lào, Libi,... và Việt Nam. Hơn nữa, ngay trong chủ nghĩa tư bản, có thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Ví dụ: cho đến cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan,... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, nhưng vẫn vươn lên phát triển mạnh mẽ. Điều này cho thấy hai vấn đề: (1). Chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (2). Không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.

Trong điều kiện ở Việt Nam, một đảng lãnh đạo, đó là đảng của giai cấp công nhân, lấy lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc làm mục tiêu xuyên suốt và luôn xây dựng, chỉnh đốn để đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì tính chất dân chủ, tiến bộ phụ thuộc vào bản chất, mục đích phục vụ chứ không phụ thuộc số lượng bao nhiêu đảng.

Từ những luận giải trên, có thể khẳng định: nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, không “lỗi thời”, các đảng cộng sản và mỗi đảng viên cộng sản không được phép xa rời, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là vấn đề sống còn của Đảng. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa thực hiện nghiêm nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cơ sở để đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

 

Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

 


Vấn đề nhân quyền là những khó khăn, phức tạp tồn tại trong nhận thức và trong giải quyết chính sách về nhân quyền. Những khó khăn trong nhận thức về nhân quyền: Đó là những khó khăn, phức tạp trong nhận thức về quyền con người, được biểu hiện trong quan điểm, đường lối, chính sách (được thể hiện trong pháp luật) của mỗi quốc gia. Những khó khăn, phức tạp trong thực hiện chính sách về nhân quyền: Những khó khăn trong tổ chức thực hiện nhân quyền, để lại nhiều tồn tại, hạn chế trong thực hiện nhân quyền.

Trong mọi thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn trú trọng, thường xuyên quan tâm thực hiện tốt quyền con người, coi con người là trung tâm của mọi sự phát triển, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên thời gian qua, vấn đề quyền con người vẫn còn có những biểu hiện như sau: Quyền làm chủ của nhân dân và quyền con người của mỗi cá nhân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, dẫn đến tình trạng khiếu kiện khá phổ biến, nhất là khiếu kiện vượt cấp; Quy chế dân chủ cơ sở “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra còn hạn chế ở nhiều nơi, nhất là các đối tượng: dân tộc thiểu số; Trong đời sống xã hội vừa có tình trạng buông lỏng kỷ cương, dân chủ cực đoan, coi thường pháp luật vừa có tình trạng một số cơ quan nhà nước và những người thi hành công vụ làm trái pháp luật, có những trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền công dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân viên trong bộ máy của Đảng và Nhà nước thoái hóa, biến chất dẫn đến quan liêu, cửa quyền, tham nhũng trong hệ thống chính trị, nhất là trong cơ quan quyền lực Nhà nước các cấp chưa bị loại trừ, đã gây nhiều bức xúc trong nhân dânChủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng nhân quyền để chống phá: Coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng của phương Tây; Thông qua mạng xã hội và hoạt động thực địa, các quan điểm “quyền con người phổ quát” “quyền con người cao hơn chủ quyền”…được giáo diết truyền bá; Các lực lượng thù địch trong và ngoài nước luôn phối hợp đẩy mạnh việc khuyến khích các đòi hỏi cực đoan và hành vi vi phạm pháp luạt, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể” “đấu tranh bất bạo động’…nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của đất nước ta.

Nhân quyền mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp

 

 


 Tính nhân loại của quyền con người: nghĩa là quyền con người mang tính phổ biến, thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, khu vực địa lý v.v… “trên thực tế tính phổ biến là bản chất của quyền con người”. Tính lịch sử: Ở mỗi giai đoạn lịch sử, tính phổ biến phụ thuộc vào trình độ văn minh của từng giai đoạn. Tính giai cấp: Quyền con người luôn phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị. Tuy nhiên với sự phản kháng của giai cấp bị trị thì quyền con người cũng luôn được giai cấp thống trị điều chỉnh để phù hơp với sự phản kháng ấy. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, một số quốc gia XHCN đã thể hiện sự ưu tiên đối với nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa hơn nhóm quyền dân sự, chính trị. Trong khi Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên đối với quyền dân sự, chính trị. Mâu thuẫn này đã được giải quyết bằng việc công nhận các quyền con người là quan trọng như nhau tại Hội nghị quốc tế về quyền con người tại Viên Áo (1993). Hội nghị thế giới về các quyền con người tại Viên (Áo,1993) đã nhấn mạnh, hệ thống pháp quyền bao gồm các cơ quan thi hành pháp luật, các cơ quan công tố, đặc biệt là ngành tư pháp theo đúng các chuẩn mực thông thường trong các văn kiện quốc tế về quyền con người là điều kiện thiết yếu để thực hiện một cách đầy đủ các quyền con người và là điều không thể thiếu đối với quá trình dân chủ và phát triển bền vững.

BÁC HỒ LÀ THẾ ĐẤY!

Thời chống Mỹ, một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá nặng.
- Thưa Bác, cháu xin thay mặt bà con ở địa phương lên thăm sức khỏe Bác và có ít cá mới đánh đem lên biếu Bác. Cá loại này là cá tiến nổi tiếng ở đầm Dạ Trạch đấy ạ!
- Thưa cụ, cụ ngang tuổi tôi, xin cụ đồng xưng hô như thế!
- Vâng, nếu cụ cho phép….
- Ao nhà ta có rộng không mà cụ thả được nhiều cá vậy?
- Dạ, thưa cụ, đây là cá của hợp tác xã.
- Cá của hợp tác xã là tài sản chung, của bà con, phải để bà con dùng chứ!
- Thưa cụ, nhờ có ông lãnh đạo tỉnh giao cho nên lần đầu tiên tôi mới được gặp Cụ Chủ tịch nước, thật may mắn cho tôi quá. Còn cá, đã trót mang lên đây rồi, xin Cụ vui lòng nhận cho, chúng tôi khỏi phải đem về.
Hồ Chủ tịch cho mời ông cán bộ phụ trách nhà bếp lên gặp Người.
- Loại cá này ở chợ Bắc Qua bán bao nhiêu một cân?
- Thưa Bác, một cân giá..
- Vậy chú cân lên xem tất cả là bao nhiêu cân, coi như nhập vào nhà bếp của cơ quan. Và chú tính xem bao nhiêu tiền để gửi cụ cầm về.
Quay sang vị khách quý Hưng Yên, Hồ Chủ tịch ân cần nói:

- Tôi xin đa tạ tấm lòng của cụ và bà con xã nhà đối với tôi. Quà cụ và bà con cho, tôi nhận rồi, còn đây là số tiền tôi gửi cụ đem về nộp vào quỹ hợp tác xã. 

VẪN LÀ CÂU CHUYỆN "GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN LÊ ĐÌNH LƯỢNG 2022"

 Thời gian gần đây, các tổ chức phản động lưu vong thường xuyên công khai đăng tải thông tin về việc xét chọn giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng. Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng được Việt Tân khởi xướng vào năm 2018, nhằm “biểu dương tinh thần đấu tranh cho dân sinh dân quyền của nhà hoạt động dân chủ đã có nhiều nỗ lực tranh đấu bảo vệ quyền lợi của đồng bào và chủ quyền của đất nước” thực chất là một chiêu trò nhằm đánh bóng tên tuổi cho Việt Tân, kích động sự chống phá của các đối tượng “dân chủ”, đánh lạc hướng dư luận và tạo cớ công kích chính quyền.

Lê Đình Lượng (sinh ngày 10-12-1965, thường trú xã Hợp Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) là thành viên hoạt động đắc lực của tổ chức Việt Tân tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Lê Đình Lượng đã lôi kéo những người là công dân Việt Nam vào tổ chức Việt Tân, phát triển tổ chức Việt Tân trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 24-7-2017, Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Nghệ An đã ra lệnh bắt khẩn cấp với đối tượng này để điều tra về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Kết quả điều tra xác định thông qua mạng xã hội, Lượng đã tích cực theo dõi, đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết tuyên truyền cổ xúy, ca ngợi cho Việt Tân. Đồng thời, đối tượng này cũng liên tục tiến hành các hoạt động xuyên tạc về tình hình đất nước, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, lợi dụng sự kiện chính trị, xã hội, phát triển kinh tế, môi trường để tuyên truyền những luận điệu sai lệch, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong nhân dân. Những hành động của Lượng là đặc biệt nguy hiểm, diễn ra trong thời gian dài, đã xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với những vi phạm nêu trên, Lượng đã bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tuyên phạt 20 năm tù. Sau đó, Tòa án nhân dân cấp cao tiến hành xét xử phúc thẩm và tuyên y án 20 năm tù. Nói thẳng, Lê Đình Lượng là một kẻ “phản nước, hại dân”.
Nguyễn Năng Tĩnh sinh năm 1976, tại xóm 1, xã Quỳnh Hưng (huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Là con cả trong gia đình có tới 7 anh em. Sau khi học xong trung học phổ thông, Nguyễn Năng Tĩnh vào Đắk Lắk lao động tự do. Từ năm 1998-2013, Tĩnh theo học tại Trường Đại học Huế - chuyên ngành sáng tác âm nhạc. Với chút năng khiếu nghệ thuật, Tĩnh thường có mặt tại các cuộc tụ tập của các phản động, cực đoan, các phần tử tù tha về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hát những nhạc phẩm có nội dung phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước với mục đích khuếch trương thanh thế cho Việt Tân. Nguyễn Năng Tĩnh còn lợi dụng danh nghĩa giáo viên dạy thanh nhạc để nhồi nhét tư tưởng lệch lạc cho thế hệ trẻ bằng cách dạy các cháu hát những bài hát có nội dung kích động chống chính quyền.
Theo cơ quan điều tra Công An tỉnh Nghệ An Nguyễn Năng Tĩnh phạm tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Khoản 1, Điều 117, Bộ luật Hình sự. Nguyễn Năng Tĩnh thông qua trang Facebook cá nhân đã viết nhiều bài có nội dung xuyên tạc bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc; phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc lịch sử, xâm phạm chính quyền nhân dân và chế độ chủ nghĩa xã hội, nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với những tội danh trên Nguyễn Năng Tĩnh bị tuyên án 11 năm tù giam và 5 năm quản chế.
Tù nhân Nguyễn Năng Tĩnh tham gia nhiều tổ chức có hoạt động chống phá Việt Nam như“Bảo vệ sự sống”, “NoU FC Vinh”, “Quỹ phát triển con người”, “Truyền thông công giáo”… Qua mạng xã hội, Tĩnh có mối quan hệ với nhiều phần tử xấu trong và ngoài nước. Sau khi Lê Đình Lượng (Yên Thành, Nghệ An) bị bắt, có nhiều dấu hiệu cho thấy Tĩnh đã nhận những chỉ đạo từ bên ngoài và tiến hành các hoạt động theo âm mưu, ý đồ của tổ chức này, thậm chí Tĩnh được giao nhiệm vụ “mắt xích” quan trọng tại địa phương, kèm các lợi ích cá nhân.
Với sự trượt ngã, dấn sâu vào các hoạt động chống đối như vậy, Tĩnh đã bỏ ngoài tai các nội dung giáo dục, thuyết phục của cơ quan chức năng địa phương. Trên Facebook cá nhân, Tĩnh tự giới thiệu là “làm việc chính trị và dân oan”, đăng nhiều bài viết cổ súy, ủng hộ “tù nhân lương tâm” như Nguyễn Văn Hóa, Lê Đình Lượng, Nguyễn Văn Đài…
Với những tội danh không thể trối cãi trên thì Nguyễn Năng Tính xứng đáng với bản án 11 năm tù giam và 5 tháng quản chế tại địa phương, còn cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” thực chất là một âm mưu thâm độc của Việt Tân và các thế lực phản động. Bằng giải thưởng này, Việt Tân và các thế lực thù địch đã tạo thanh thế, danh tiếng cũng như hỗ trợ về vật chất cho các “nhà dân chủ”, qua đó cổ xúy hoạt động vi phạm pháp luật, kích động các đối tượng hám danh khác gia tăng hoạt động chống phá chính quyền. Thứ hai, thông qua việc trao thưởng, Việt Tân đang tự đánh bóng tên tuổi của bản thân, thu hút sự chú ý của những người nhẹ dạ cả tin, tạo kẽ hở trong nhận thức của cộng đồng để tìm cách thẩm thấu những quan điểm lệch lạc. Thứ ba, với việc trao giải thưởng, Việt Tân đã “tẩy trắng” cho những kẻ vi phạm pháp luật, “đổi trắng thay đen”, biến những kẻ chống đối thành “nạn nhân” của chế độ. Từ đây, Việt Tân cùng các cá nhân, tổ chức chống phá khác sẽ tiếp tục tạo cớ để chống phá Đảng, Nhà nước, tìm cách thò tay can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trò hề “giải thưởng nhân quyền” chính là sự xúc phạm nghiêm trọng đến giá trị nhân quyền.
Qua đây, chúng ta một lần nữa biết được bản chất về cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”. Đây thực chất là một giải thưởng hữu danh vô thực, là một giải thưởng nhằm mục đích vinh danh các các đối tượng chống đối, qua đó, cổ súy hoạt động của các đối tượng, cũng như là nguồn kích động đến các đối tượng hám danh lợi để lôi kéo tham gia vào các hoạt động chống đối của chúng. Và từ thực trạng của cái gọi là “giải thưởng nhân quyền”, có thể thấy bản chất các giải thưởng như này chỉ là thủ đoạn giúp các tổ chức chống cộng quốc tế hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ o bế, tiếp tay hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Là người dân Việt Nam yêu nước chúng ta cần hết sức tỉnh táo trước những âm mưu thâm độc này.