Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2023

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

 50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Một bài viết đăng trên BBC News Tiếng Việt cho rằng, trong cuộc chiến tranh 12 ngày đêm ấy, các phi công Mỹ bị bắt, cầm tù, tra tấn và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình, tạo sức ép cho chính quyền Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán Paris mới được đưa tù binh Mỹ về nước. Họ biến mọi con số thống kê thành ảo khi nghi ngờ rằng, Việt Nam cố tình thống kê quá mức con số bắn hạ máy bay B52 để khuếch trương thanh thế!

Mới đây, trên Quora, thiếu tá Keith Parker từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM[1]2 lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…/.

Ăn Tết văn minh.

 Mỗi dịp Tết đến, chủ đề gây tranh luận trong những năm gần đây lại được khơi lại: Có nên bỏ Tết Nguyên đán hay không? Hai luồng ý kiến vẫn tranh luận với nhau về việc liệu có nên gộp chung Tết Nguyên đán (Tết ta) vào Tết Dương lịch làm một. Một bên thì cho rằng, nên bỏ Tết ta và chỉ ăn Tết Dương lịch để “hội nhập”, đảm bảo được sự phát triển kinh tế và tránh trì trệ công việc. Phần nhiều thì lại cho rằng, phải giữ Tết ta để duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

Có thể khẳng định, Tết Nguyên đán là nét văn hóa truyền thống đã ăn sâu vào tâm trí người Việt từ người già cho đến trẻ nhỏ. Bởi Tết là dịp để cả nhà sum họp, đoàn tụ đầy đủ sau một năm làm việc vất vả. Tết là dịp đoàn viên của những người con xa quê, của những gia đình xa cách cả năm mới gặp. Tết cũng là dịp kính lễ, bày tỏ sự biết ơn đối với ông bà, tổ tiên. Tết là dịp mỗi người cảm thấy bồi hồi, hạnh phúc khi ngồi quây quần bên gia đình trong cái tiết trời lành lạnh nhưng đong đầy sự ấm cúng. Tết là sự gắn kết giữa những người trong cộng đồng với nhau, gắn kết tình đoàn kết, “chia sẻ ngọt bùi” của truyền thống dân tộc…

Đó cũng là thời khắc hàng triệu con tim chung một nhịp, cùng dành cho nhau những lời tốt đẹp nhất, cầu cho nhau một năm sức khỏe, may mắn. Đó là thời khắc lòng người lắng đọng, trời đất giao hòa trong một niềm hy vọng chung. Ở khía cạnh tinh thần, sự đồng nhất ý nguyện của cả dân tộc vào một thời khắc là sức mạnh tổng hợp vô biên cho sự mong cầu quốc thái dân an. Như vậy, Tết cổ truyền vẫn có nhiều ý nghĩa quan trọng trong văn hóa người Việt, đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, để có một cái Tết văn minh, thích ứng với thời đại mới nhưng vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống vốn có của cái Tết Việt, cần loại bỏ những biến tướng của nó. Theo đó, để cái Tết mang nhiều ý nghĩa, giữ gìn truyền thống dân tộc, cần loại bỏ những tư tưởng lợi dụng dịp này để vụ lợi, biếu xén, “chạy chọt” nhằm thăng quan tiến chức; hạn chế những lễ hội rình rang, xa hoa, lãng phí và nhất là phải loại bỏ tình trạng “tháng Giêng là tháng ăn chơi”.

Đặc biệt, cần loại bỏ hoặc thay thế những tập tục không còn phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển; phê phán, đấu tranh loại bỏ những hủ tục lạc hậu trong dịp Tết Nguyên đán như: hoạt động mê tín dị đoan, nạn cờ bạc, rượu chè, các lễ hội phản cảm, các hiện tượng gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội; đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo của nhân dân trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống; tuyên truyền về giá trị, ý nghĩa giáo dục của lễ hội, di tích; vận động, thuyết phục người dân, du khách thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia lễ hội…

Bởi thế, không phải tự nhiên mà trước thềm năm mới 2023, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ban hành công văn về việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch mừng Xuân Quý Mão 2023, trong đó có đề nghị: Không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức; không tham gia các hoạt động mê tín dị đoan; không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định...

Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng phải thật sự nêu gương trong việc thực hiện vui Xuân, đón Tết lành mạnh, an toàn, tiết kiệm…; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, lễ hội trước, trong và sau Tết Nguyên đán bảo đảm vui tươi, lành mạnh, phù hợp với thuần phong, mỹ tục; ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực, lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín dị đoan, thu lợi bất chính…

Trong xu thế hiện đại, hội nhập về văn hóa là điều không tránh khỏi và góp phần làm đa dạng nền văn hóa của đất nước. Nhưng “hòa nhập mà không hòa tan” là điều chúng ta cần hướng đến./.

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động

 Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

- Luôn quan tâm, quyết liệt đề nghị tăng lương cho người lao động.

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành nhanh chóng, kịp thời, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân, người lao động và người sử dụng lao động trước tác động của đại dịch, được người dân, doanh nghiệp, người lao động tích cực ủng hộ thực hiện, qua đó ngày càng tạo được niềm tin của công nhân, người lao động cũng như toàn thể nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Như thế có thể thấy, ý kiến cho rằng người lao động bị Công đoàn Việt Nam bỏ mặc, Công đoàn Việt Nam không quan tâm đến đấu tranh đòi tăng lương, không quan tâm đấu tranh cho đời sống người lao động là ý kiến hoàn toàn sai trái. Nguy hại hơn nữa là mưu đồ kích động người lao động đình công tự phát, biểu tình để đòi tăng lương. Cần nhận thức rằng doanh nghiệp chính là môi trường làm việc, là nơi trả lương và bảo đảm đời sống cho người lao động.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó./.

Chân dung các nhân vật trở cờ: đàm đạo với các bác nông dân về câu chuyện tri thức trở cờ chống Đảng

 Nhân có dịp về quê ăn cỗ, có mấy bác nông dân hỏi tôi, tại sao bây giờ Đảng ta lại có một bộ phận tri thức trở cờ ra mặt như thế? Tôi cũng phải khảng khái mà trả lời rằng, xã hội nào, đất nước nào chả có kẻ phản nghịch vậy các bác.

Ngay cả một cơ quan tình báo đồ sộ của Cục tình báo quốc gia Mỹ - nơi mà những nhân viên làm việc theo mật mã, khẩu lệnh, nơi mà sự im lặng và lòng tin được đặt lên tuyệt đối; một khi bí mật, dù chỉ một chút "rò rỉ" thì cái giá phải trả cực kỳ đắt, nhưng ở đó còn có kẻ bất trung, bất tín thì ở Việt Nam làm sao tuyệt đối không được bác.

Nhưng ở Việt Nam thì những kẻ như thế người ta gọi là "ăn no húng tụng" rồi sinh ra "ăn cháo đá bát". Chính họ đã được Đảng, Nhà nước trọng dụng nhưng khi không đủ điều kiện để sắp xếp các vị trí cao hơn theo tham vọng cá nhân của họ thì bệnh công thần, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, bất mãn của họ bắt đầu nảy sinh, người thì bỉ bôi chế độ, kẻ thì xúc phạm tiền nhân. Lương bổng, hưu trí họ vẫn nhận theo luật định, họ không tự trọng để từ bỏ những thứ đó mà còn nhận đều đều để sống rồi suốt ngày oằn mình nói sảng, ăn cơm Cộng sản nhưng lại chửi Cộng sản đủ thứ thế đó!

Tôi lấy ví dụ cho các bác thế này, ông Chu Hảo, sinh năm 1940, ông này bị kỷ luật, khai trừ đảng: Vô Trách nhiệm trong quản lý dẫn đến hỏa hoạn thiêu trụi toàn bộ máy móc sản xuất, tài liệu công trình nghiên cứu sản xuất máy tính nội địa đầu tiên ở Việt Nam, trị giá hàng triệu USD (năm 1988), biến khu công nghệ cao Hòa Lạc thành khu đất nuôi bò trong thời gian làm Thứ trưởng; khi làm Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, sản xuất những ấn phẩm có nội dung đi ngược lại đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Cấu kết với đám “dân chủ” thường xuyên có những hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước.

Rồi ông Nguyễn Đình Cống. sinh năm 1937, nguyên là Phó Giáo sư-tiến sỹ giảng dạy tại trường đại học Xây dựng , “thông báo từ bỏ đảng “ ngày 3/2/2016, từng được Đảng, Nhà nước ưu ái cử đi đào tạo, học tập, nghiên cứu tại Liên Xô. Về nước, trở thành người thành đạt, khi về hưu, công danh sự nghiệp khó ai sánh bằng. Nhưng chính lúc này, ông ta “trở cờ” ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản động, chống đối đảng, chống đối chế độ. Đó là một tội lỗi còn trên cả sự tha hóa, suy thoái cá nhân. Thái độ vong ơn bội nghĩa của ông Cống hoàn toàn trái với đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Tiếp nữa là ông Mạc Văn Trang, sinh năm 1938, Nguyên PGS-tiến sỹ , con của Mạc Văn Tư- một thành phần chống đối phong trào hợp tác hóa đã được nhà văn Đào Vũ hóa thân thành nhân vật Lão Am trong tác phẩm “Cái sân gạch” và “Vụ lúa chiêm”. Tuy nhiên với sự khoan hồng bao dung, Đảng và Nhà vẫn cho ông Trang ăn học tử tế, bố trí công việc phù hợp với khả năng của mình để tiến thân, nhiều năm là cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

Thế nhưng từ năm 2000, Mạc Văn Trang tham gia viết bài cho những trang mạng chống phá nhà nước. Sau khi trở thành chồng thứ tư của diễn viên Kim Chi, cặp đôi “Ngưu tầm Ngưu” gần đất xa trời này liên tục viết bài vu khống, xuyên tạc nói xấu chế độ suốt ngày này qua ngày khác, lương nhận hàng tháng đến mười mấy triệu rồi bên kia bọn phản động cũng gửi cho một ít nữa thì với một người tâm không trong trí không sáng, lập trường không kiên định như ông ta thì trở cờ là cũng không có gì là lạ.

Hay như ông Nguyên Ngọc, tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932- là nhà văn, tên tuổi của Nguyên Ngọc đã gắn liền với miền đất Tây Nguyên huyền thoại. Người ta vẫn mãi ngợi ca những áng văn bất hủ của Nguyên Ngọc trong quá khứ với các tác phẩm như: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu… Thế rồi, tự cho mình “ta là một, là riêng, là thứ nhất”. Sau khi buộc phải từ chức Tổng biên tập báo Văn Nghệ và bị cách chức Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam do vi phạm pháp luật, Nguyên Ngọc bắt đầu “trở cờ”: Vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập”, tuyên bố ra khỏi Đảng để phản đối chuyện Chu Hảo bị kỷ luật, viết nhiều bài xuyên tạc, phản đối, chống phá lại đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước.

Qua chân dung của một số nhân vật “trở cờ” và “thành tích” tóm tắt của họ ở trên chắc bác cũng có thể nhìn thấy bản chất của một đám phản động, bất mãn, hoang tưởng, sau khi được hưởng mọi chế độ ưu ái của Nhà nước, của nhân dân, khi về già không lo tích đức, giáo dục con cháu lại quay ra phản bội lại chính cuộc đời mình, phản bội lại nhân dân và đất nước là như thế.

Và thưa bác, nhiều thì cũng một nhóm người bất mãn ấy, quay đi quẩn lại là do tư tưởng cá nhân vị kỷ sinh ra cả. Còn 1 số người như Nguyễn Quang A, Nguyễn Như Phong, hay giữ cái chức to như ông Nguyễn Đình Bin cũng vậy, họ đều là những người đang được hưởng chế độ của Đảng và Nhà nước trả cho nhưng họ vẫn chống lại Đảng, Nhà nước không hề tự ái từ bỏ những đồng lương Đảng trả cho mình.

Tổ Quốc Việt Nam vẫn ngày càng giàu mạnh và phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn trường tồn nhưng lớp như các vị trên thì bác cứ tin tôi, họ không hơn và cũng không "thơm xa" hơn Bùi Tín đâu!..

Nói một hơi dài mà các cụ ngơ ngác ngồi nghe. Ở quê, họ chưa biết nhiều chuyện trở cờ của trí thức về hưu. Không biết nơi mấy vị trở cờ sống, dân họ nghĩ các vị thế nào. Chính quyền nơi đó có im lặng chuyện này không???./.

Viết cho một thế hệ sợ mất nước hơn là sợ mất đi thời sinh viên tuổi trẻ!

 Trên blog cá nhân, cựu binh Francis Bailly từng tham chiến ở Việt Nam có chia sẻ hai tấm ảnh mà anh này tìm thấy từ thi thể của một người lính Giải phóng vào năm 1970. Một tấm là chân dung của người lính giải phóng đã hy sinh, một tấm còn lại là người vợ hoặc là người yêu của người lính này… Cựu binh này cho biết theo giấy tờ mang theo bên người thì người lính Giải phóng này nằm lại khi chưa được 20 tuổi, trước khi chết, người lính này cố lấy những tấm ảnh này ra để nhìn lần cuối. Làm mình nhớ đến đoạn văn: “Một thời khói lửa, một thời của những những chàng trai 18 - 20 cũng đã bắt đầu biết đến chữ "yêu", nhưng họ đã giấu kín chữ "yêu" đó dưới đáy balo của mình. Vì những tuổi 20 đó đã hóa thân thành dáng hình đất nước…”

Dạo trước, mình đọc được một bài chia sẻ trong Cháo Hành Miễn Phí, về một bạn sinh viên Bách Khoa vô tình đi chung với một bác vốn là cựu sinh viên Bách Khoa. Bác tham chiến ở Thành cổ Quảng Trị, sau đó là Quảng Nam… Chuyến đi vài cây số giữa hai người xuất phát từ chung một mái trường, nhưng cách nhau nhiều thế hệ, hai con người, hai góc nhìn về lịch sử, một người chiến đấu để lấy lại hòa bình, một người đã được thừa hưởng sự hòa bình… Hai con người đều có một thời tuổi tuổi trẻ, nhưng ngã rẽ của họ khác nhau… Nhưng dù ngã rẽ nào, đều cũng sẽ cống hiến hết mình cho đất nước.

Thành cổ Quảng Trị và mùa hè năm 1972 đã lấy đi của chúng ta một lớp người trẻ, tài năng và đầy hoài bão… Hơn 10 ngàn sinh viên đã tuyên thệ lên đường chiến đấu và đa phần những con người ấy đã không hẹn ngày trở về, họ hy sinh tại mặt trận miền Trung, phía Nam, Lào… Đặc biệt là 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày nay, vào được các trường đại học có thể không cần quá giỏi, nhưng vào mấy chục năm trước, hầu như đều phải thực sự tài năng, mới có thể vào được những ngôi trường thời ấy.

Có lớp học hơn 70 người chỉ có 5 người trở về và cả 5 người này đều không lành lặn… Có nhóm bạn thân học cùng hứa sẽ trở về Hà Nội, đặt mục tiêu trở thành những nghiên cứu sinh đi học tập Liên Xô nhưng không một ai trở về. Có 10 sinh viên trong một căn phòng ký túc xá cùng nhau ra đi nhưng ngày về lại là 9 cái giấy báo tử, 1 người may mắn còn sống thì mất đi cánh tay phải khiến ước mơ “vẽ kỹ thuật” không thể thực hiện được nữa.

Đúng như tiêu đề cuốn sách “Mãi Mãi Tuổi 20” của Nguyễn Văn Thạc, phần nhiều trong số những người chiến đấu vì Tổ Quốc đều dừng lại ở một độ tuổi rất trẻ, họ thậm chí chưa bao giờ có nhiều thời gian sống cho chính họ vì họ chỉ luôn nghĩ đến chuyện sống vì Tổ Quốc…

Có một lời nhắc với thế hệ chúng ta, rằng mỗi người trong chúng ta hiện nay đều có cơ hội để được sống trọn vẹn tuổi trẻ. Được yêu, được sống, được là chính mình… Rất nhiều trong số họ, tuổi trẻ của họ là những dang dở, trầm mặc và anh hùng. Họ đối diện với bom đạn, với B-52… Vậy với chúng ta, làm thế nào sự hy sinh của họ không uổng phí?

Đời người có bao nhiêu? Thanh xuân là gì? Tuổi trẻ chẳng bao giờ hữu hạn. Nhưng, ở bất cứ lứa tuổi nào, ở bất cứ thế hệ nào, hãy sống sao cho thật sự đáng giá. Giá như có một điều ước, thực lòng mong họ có hai lần tuổi trẻ, một lần tuổi trẻ đã vì đất nước, một lần nữa để họ có thể sống cho riêng mình./.

Vũ thư hiên và cái gọi là “đêm giữa ban ngày”

 Việc Vũ Thư Hiên sau 30 năm sống lưu vong ở trời Tây và được trở về Việt Nam đang được dư luận chia sẻ những ngày qua và điều này không chỉ cho thấy bản chất nhân văn, tốt đẹp trong chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam mà nó còn cho thấy rằng suy cho cùng cuối đời được trở về với quê hương, về với đất mẹ nơi mình sinh ra, lớn lên là thiêng liêng, hạnh phúc nhất. Một người sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng và từng được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện cho đi học tập nhưng Vũ Thư Hiên lại trở cờ và quay lưng với Tổ quốc, dân tộc.

Vũ Thư Hiên từng bị xử lý, ngồi tù liên quan đến vụ án “Xét lại chống Đảng” khi có nhiều tác phẩm, bài viết, phát ngôn xuyên tạc lịch sử dân tộc, chống lại chế độ, bôi lem các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong đó có tác phẩm “Đêm giữa ban ngày” là ví dụ điển hình. Và con đường xuyên tạc chố.ng ph.á của Vũ Thư Hiên càng rõ hơn khi sống lưu vong ở xứ người và có những bài viết, trả lời phỏng vấn trên các báo, đài thiếu thiện chí với Việt Nam.

Giờ đây được Đảng, Nhà nước cho trở về với quê hương, với Tổ quốc, Vũ Thư Hiên nên hiểu được sự nhân văn, khoan hồng và ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Đảng, Nhà nước Việt Nam và nhận ra sự lầm đường, lạc lối, trở cờ của mình trước khi quá muộn./.

Hai bức hình hai sự đối lập!

 Một bên thì toàn nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trong nước, chưa bao giờ nhận mình vươn tầm khu vực chứ chưa nói tới tầm quốc tế nhưng khiến cả bao thế hệ học trò thán phục về tài năng. Một bên là “nhà thơ thế giới” để khi xuất hiện lên mạng, cư dân mạng mới lần đầu nghe tên tác giả, chưa thèm nghe tên tác phẩm.

Một bên quy tụ những anh hào trong làng văn Việt, giản dị, đoàn kết, chất phác, gần gũi. Một bên là 2 con người mang tầm “thế giới” với sự hào nhoáng, mũm mĩm đến tràn cả khung hình. Một con người là “nhà thơ thế giới”, một con người là nhà “tổ chức thế giới” khi mời được “nhà thơ thế giới”.

Một bên được người đời kính nể, âm thầm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn học nước nhà. Một bên lên hình thì cả nước Việt Nam cười chê, cơ quan vào cuộc, còn văn chương thì tự mình bỏ tiền in ấn rồi ký tặng vì bán không ai mua.

Một bên là các bậc tiền bối khiêm nhường, một bên là hậu bối háo danh, sĩ diện dởm với đời./.

“thực bất tri kỳ vị”

 Dân ta có một câu chuyện vui:

Gia đình nọ có hai vợ chồng. Người vợ luôn tìm cách cải thiện món ăn để chồng được vui. Ngày này qua tháng nọ, người chồng chỉ cắm cúi ăn mà không có một lời khen. Người vợ thấy thế, một bữa nọ làm món “cỏ luộc” cho chồng, ngay lúc đó người chồng nổi sung, chê trách vợ.

Chỉ chờ có thế, người vợ mới mở lời, rằng có làm món ngon cho anh ăn thì cũng chẳng được một lời khen. Phải chăng, đó cũng là một thái độ “thực bất tri kỳ vị”, tức là cho ăn ngon mà cũng không nhận ra (bất tri) vị ngon (kỳ vị).

 

Trong nhiều gia đình của nước ta – giàu có, nghèo có. Những đứa trẻ con nhà giàu thì chuyện chúng được đưa đón đến trường bằng xe hơi là chuyện đương nhiên; chuyện hàng tuần chúng được cha mẹ đưa đi nhà hàng sang trọng cũng là lẽ đương nhiên.

Ngược lại, những đứa trẻ con nhà nghèo mà được cha mẹ mua cho một chiếc xe đạp để đạp đến trường thì đó là một sự hãnh diện to lớn; được ăn thoải mái thịt cá trong ba ngày tết cũng đã là một niềm vui khôn tả.

Vâng, vui hay buồn, sướng hay khổ cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh và cách nhìn của mỗi người. Người dân sống ở một quốc gia đang phát triển, khi nhìn vào Việt Nam, người ta có những điều ước giản dị – một đất nước bình yên, một nền chính trị ổn định, những món ăn vừa ngon vừa rẻ. Còn người sống ở những quốc gia phát triển khi nhìn về Việt Nam, người ta cười khẩy một cái, buông một câu, rằng trên đường phố chỉ thấy toàn xe gắn máy, chả bì với chúng tôi…; thậm chí có người còn chê ỏng chê eo, rằng một đất nước chỉ biết làm giày cho người ta đi, may quần áo cho người ta mặc thì có gì mà khoe!

Vâng, nếu như đất nước chúng tôi có được hơn 200 năm bình yên như ai; nếu như đất nước chúng tôi không bị người ta gây ra nạn đói năm 1945; nếu như đất nước chúng tôi không bị xâm chiếm làm thuộc địa và gây cảnh chiến tranh hàng trăm năm qua; nếu như đất nước chúng tôi cũng từng đi gây chiến để có dịp xuất khẩu vũ khí như ai; nếu nhân dân chúng tôi cũng từng đi tước đoạt tài nguyên nước khác đem về làm giàu cho nước mình… thì chẳng ai nói trước được điều gì.

Ngày nay, chúng tôi chẳng còn phải ăn món “cỏ luộc” như người vợ kia đãi chồng, chúng tôi đã thanh toán được nạn bỏ bữa, đã đi qua thời kỳ “ăn no mặc ấm”, đang đi vào thời kỳ “ăn ngon mặc đẹp”. Chúng tôi trân trọng điều đó.

Ấy thế mà, nhiều kẻ, dù được hưởng vô số thành quả của đất nước này, song vẫn tưởng chúng chỉ được ăn món “cỏ luộc”, rồi quay ra chê bai, chống đối, thậm chí phá hoại nữa. Đó chính là những kẻ “thực bất tri kỳ vị”. Vậy thì hãy tiếp tục cho chúng ăn “cỏ luộc” mới đáng!./.

Một quốc gia đánh mất văn hóa, lịch sử thì chẳng có quá khứ và cũng không còn tương lai

 Việt âm thi tập là một trong những quốc bảo văn thơ Việt Nam thời phong kiến, được Nhà sử học Phan Phu Tiên và Thị Ngự sử Chu Xa biên soạn, sưu tầm. Đây là một trong 25 tư liệu quý giá đã bị mất, thất lạc tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Một số quyển trong Toàn Việt thi lục được nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn cũng “không cánh mà bay” - đây là bộ sách văn hiến dân tộc, là một kho báu quốc gia, chất chứa tinh hoa văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến XVI. Chúng ta sẽ ăn nói ra sao với thế hệ sau khi không thể gìn giữ được tinh hoa văn hóa từ cha ông? Trong một nhóm chơi truyện tranh, có người bình luận rằng một người chơi truyện tranh cũng có ý thức giữ gìn tài sản hơn là những người có chuyên môn, lại còn là tài sản quốc gia, có giá trị rất lớn.

Một tài liệu vô giá khác là Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, có ghi chép chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa - Trường Sa cũng biến mất trong kho nghiên cứu của viện. Nếu một ngày nào đó diễn ra tranh chấp chủ quyền, chẳng lẽ Việt Nam lại mang ra những tài liệu được sao chép, scan, photocopy ra hay sao? Như vậy thì khác gì trò cười trên bàn đàm phán quốc tế. Người ta sẽ đặt ra câu hỏi là cả một quốc gia mà không có tài liệu gốc, khác gì bịa đặt về chủ quyền?

Chiều nay, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân cho biết hơn 300 phim lưu trữ tại Hãng phim truyện Việt Nam đã mất khả năng sử dụng, hỏng hóc không thể khôi phục. Trong đó có những bộ phim có giá trị lịch sử, văn hóa, thời kỳ như Mùi cỏ cháy, Sống cùng lịch sử, Sóng ở đáy sông… Tuy đã được lưu trữ số hóa, nhưng 300 phim lưu trữ này có giá trị lớn về mặt nghiên cứu, là nguồn chứng minh sự phát triển của phim ảnh Việt Nam, tài sản lưu trữ quốc gia, là minh chứng công sức của biết bao nhiêu nghệ sĩ tài năng.

Tài liệu văn hóa, lịch sử của Việt Nam đã ít do chiến tranh, loạn lạc. Giờ đây đã hòa bình rồi, hiện đại, đất nước khá hơn mà còn bị mất mát đi thì không còn gì để diễn ra nữa. Và đây mới chỉ là ở Viện nghiên cứu Hán Nôm thôi, liệu ở các viện, trường, trung tâm nghiên cứu khác có diễn ra thực trạng như thế này hay không? Hay là có những không bị khui ra rồi những tài liệu quốc gia cứ âm thầm biến mất.

Mới đây, ĐH Tôn Đức Thắng lại ghép hình lính Mỹ vào trong một tài liệu giảng dạy về Quân đội Nhân dân Việt Nam, ĐH Kinh doanh Công nghệ Hà Nội đưa cờ Trung Quốc và lính Trung Quốc vào phông chào mừng ngày 22/12. Đây có lẽ không phải chỉ là sự cẩu thả đơn thuần mà có lẽ là sự thiếu hiểu biết, hời hợt và đối phó cho qua. Là hệ quả của sự xem nhẹ lịch sử!

Có bình luận tại một hội nhóm rằng: “Những gì mà họ làm mấy hôm nay đang biến Việt Nam thành một quốc gia không văn hóa, không lịch sử và không có tương lai”. Bình luận trên thì hơi quá, nhưng, khi nhìn vào trường hợp nhiều người muốn biến Lịch sử thành môn học tự chọn hoặc ghép Lịch sử vào môn học khác và những gì gần đây… Phải chăng là có những con người đang muốn Việt Nam trở thành một quốc gia không có quá khứ cũng chẳng có tương lai?./.

Đúng là một bầy hợm ăn no húng tụng!

 Sau khi bị cộng đồng mạng lên án vì mặc đồ Mỹ, nguỵ đi nghênh ngang ngoài đường phố Hà Nội, anh em "Hội yêu đồ lính Hà Nội" chơi lớn bằng quả cosplay đồ phát xít Đức rồi diễu hành, chụp ảnh ầm ĩ tại khu vực Văn Phú, Hà Đông, dân chỉ đứng ngó, nghiêng.

Có người bảo: "ngầu thật, y như thằng hít hột lê" (hitle).

Người thì bảo "y như bọn ngợm".

Người thì bảo: "bọn này năm sáu tám (1968) giết hơn 500 người ở Sơn Mỹ Lai (Quảng Ngãi) còn gì.

Có anh hùa vào: "Bọn này là Đức Quốc xã, nó nghiền sống hàng trăm ngàn người Châu Âu đấy!".

Đúng thật, hơn 4 triệu người Việt chết dưới tay Mỹ xâm lược, ngụy tay sai thì cả dân tộc biết, nhưng có 1 điều cả thế giới thừa biết, trong thế chiến thứ 2, theo thống kê của các chính phủ châu Âu, chế độ quốc xã (Đức - Ý) đã giết hại hàng trăm ngàn người dân châu Âu, trong đó có khoảng 30.000 người Do Thái, 65.000 người dân Ba Lan gây ra nỗi kinh hoàng cho cả thế giới, đến giờ Ba Lan còn đòi chính phủ Đức bồi thường đấy còn gì. Thế mà vẫn mạc nhiên làm trò dị hợm thế chứ!

Nói thật, cơ quan chức năng Hà Nội chưa có biện pháp gì nhưng CĐM nhìn thấy mấy cái ảnh này đã buồn nôn rồi. Như một bầy hợm ăn no húng tụng!./.

Xuất khẩu lao động cũng là một kế sách phát triển kt-xh, vậy có gì mà phải "sửng sốt"!?

 Với 24 triệu thanh niên Việt Nam ở cả trong và ngoài nước thì con số 500.000 thanh niên đi XKLĐ cũng chỉ chiếm 2,0833% so với tổng số thanh niên mà thôi. Đồng thời XKLĐ góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân trong đó có không ít thanh niên (những người đang ở độ tuổi lao động và mong muốn “bay nhảy”) để không chỉ làm kinh tế từ hướng đi mới mà còn học tập những cách làm hay, khoa học kĩ thuật, cách tổ chức vận hành và sự sáng tạo từ các nước tiên tiến trên Thế giới. Trong khi theo số liệu mới nhất thì 09 tháng đầu năm 2022, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 42.837 lao động (trong số này, phần lớn là thanh niên). Bình quân thu nhập (kể cả làm thêm) của người lao động làm việc ở nước ngoài là 400 - 600 USD/tháng ở thị trường Trung Đông; 700 - 800 USD/tháng ở thị trường Đài Loan; 1.000 - 1.200 USD/tháng ở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản. Mỗi năm đội ngũ XKLĐ gửi về đất nước khoảng 10 tỉ USD.

Như vậy, trên cơ sở chỉ số XKLĐ gần nhất và những địa chỉ đi xuất khẩu là các nước tiên tiến trên thế giới trong đó nhiều nhất là qua Nhật Bản, Hàn Quốc,… và thu nhập của lao động xuất khẩu cũng không hề nhỏ. Thu nhập này góp phần cải thiện cuộc sống và kinh tế cho chính gia đình người lao động. Rõ ràng trong các hướng đi thì đây cũng là một hướng đi khá tốt và ổn. Đó là chưa kể lợi ích khác từ văn hóa đến khoa học kĩ thuật có được từ những lao động xuất khẩu sau khi về nước.

Tất nhiên, bài toán đặt ra là cần phải tạo công ăn, việc làm nâng cao thu nhập cho thanh niên ngay trên đất nước mình là điều tiếp tục phấn đấu. Đồng thời đối với những thanh niên sau khi XKLĐ về nước phải có công ăn, việc làm ổn định thì mới đảm bảo toàn diện và “có trước có sau”.

Nói tóm lại, chẳng có gì đáng phải “sửng sốt” với con số 500.000 kia đâu. Nó chỉ là một chỉ số bình thường trong sự phát triển và xu hướng hiện nay mà thôi. Đồng thời, đó là một hướng đi tích cực của một bộ phận thanh niên chứ có gì đâu mà ồn với ào./.

Một bộ giẻ rách được bị vứt đi lại được mặc lên người

 Bộ quần áo nguỵ từng là nỗi ám ảnh của cả dân tộc Việt vì độ hèn với giặc nhưng lại rất ác với dân. Trên thì luôn cúi quan thầy Mỹ, dưới thì hà hiếp, cưỡng bách nhân dân. Nên sự oai, sự oách từ bộ quân phục nguỵ đó lại đến từ nỗi sợ của người dân.

Cách đây gần nửa thế kỷ, quân nực hạng tư thế giới đã chạy tụt cả quần, chạy một mạch nửa vòng trái đất. Cái gì mà Tổ quốc, là danh dự, là trách nhiệm. Tất cả chỉ là khẩu hiệu suông, bị vứt bỏ, chỉ mong giữ được cái mạng sống sau bao nhiêu tội ác gây ra cho đồng bào mình. Quân phục nguỵ bị vứt đầy đường, nhiều không xuể, quân nhân nguỵ sau giải phóng cũng vứt bỏ thứ quân phục này như tạm quên đi một quá khứ nhơ nhớp.

Thế mà ngày nay, nhiều kẻ dị hợm lại nhặt thứ người ta vứt đi để mặc lên người. Tự hào, hành diện chạy ngoài phố. Có biết rằng, oai chẳng thấy đâu nhưng người đi đường lại nhìn ngao ngán. Bởi họ nhìn thấy một đống rẻ rách đang được trưng diện trên một con người./.

Một tác phẩm tô đen lịch sử!

 Mới đây, Hồ Đăng Định - một cựu sĩ quan chế độ VNCH hiện định cư ở Mỹ theo diện HO) đã cho ra mắt cuốn sách Cõi nhớ tại Thừa Thiên Huế. Đáng nói, cuốn sách này có nhiều chi tiết xuyên tạc lịch sử, ca ngợi những người lính Việt Nam Cộng hòa.

Điển hình như trong phần 2 cuốn sách có viết về Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn II (giai đoạn 1972-1974) và Tư lệnh Quân đoàn III (giai đoạn 1975) của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) với mục đích tôn vinh kẻ bán nước, diệt dân Nguyễn Văn Toàn là “một quân nhân can trường” lập nhiều chiến công diệt Cộng Sản trong “Mùa hè đỏ lửa 1972”.

Ấy vậy mà không hiểu lý do gì, cuốn sách trên vẫn được NXB Đà Nẵng xuất bản, giới thiệu công khai với bạn đọc. Chưa kể, cuốn sách có sự phối hợp trong phát hành của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, khiến buổi ra mắt sách được PR trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có báo điện tử Thừa Thiên Huế, tờ Văn nghệ Huế. Hơn thế nữa, người biên tập, giúp xin giấy phép xuất bản lại là TS Trần Đức Anh Sơn – một kẻ đã bị khai trừ Đảng về những quan điểm, phát ngôn sai trái.

Nên nhớ, chúng ta chủ trương “Hòa hợp dân tộc” chứ không phải là vẽ lại lịch sử, tôn vinh những kẻ có tội ác với dân tộc. Đây là một bài học đắt giá cho các cơ quan quản lý các hoạt động xuất bản, chỉ cần lơ là một chút thôi là hậu quả sẽ là khôn lường./.

Cảnh giác với những kẻ xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

 Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm, nhất là thời gian gần đây. Một số quốc gia xác định đây là nội dung quan trọng trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tại Việt Nam, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng tuy còn khá mới mẻ nhưng được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng, với mục tiêu đề ra là bảo đảm tốt nhất an ninh con người, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia.

          Thời gian qua, một số đối tượng phản động, cực đoan và tội phạm có tổ chức đã lợi dụng thành tựu của khoa học - công nghệ để tấn công cá nhân, quốc gia trên chính “vùng lãnh thổ mới” này. Chúng đã lợi dụng không gian mạng để chuyển hóa chế độ chính trị như: kích động biểu tình, phá rối an ninh, tiến hành cách mạng màu, cách mạng đường phố, bạo loạn và lật đổ. Điều này thể hiện rõ trong “Mùa xuân A Rập” diễn ra tại Trung Đông và Bắc Phi từ năm 2010 đến 2012. Từ lời kêu gọi được phát đi trên Facebook, 18 ngày sau, chính quyền của Tổng thống Mubarak tại Ai Cập bị sụp đổ sau 30 năm cầm quyền, dù trước đó ông đã ra lệnh cắt internet và sóng di động nhưng cũng không ngăn cản được làn sóng biểu tình chống đối. Biểu hiện tiêu cực khác là việc sử dụng thành tựu khoa học - công nghệ để tác động vào cử tri đi bầu; thậm chí là quảng cáo chính trị làm thay đổi nhận thức, ý thức hệ nhằm gây ra sự bất mãn trong nhân dân với những ý đồ chính trị đen tối.

          Từ những diễn biến phức tạp thời gian qua, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã và đang được nhiều nước hết sức coi trọng, từ đó ban hành những chính sách, biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp. Tại Việt Nam, từ năm 2018, Luật An ninh mạng được ban hành, trong đó xác định “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát”.

          Việt Nam là một trong số 20 quốc gia có người sử dụng internet cao trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi các thách thức an ninh mạng. Do vậy việc nhận thức và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cần được quán triệt đến mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức nghiên cứu khoa học, bài bản để từng bước hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ

 Những hình ảnh bộ đội giúp dân “diệt giặc đói, giặc dốt”, chống “giặc nội xâm”, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; cùng nhân dân vượt qua thảm họa thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, làm tròn nghĩa vụ quốc tế..., còn đọng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.


          Những người lính sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần, dù ở nơi biển, đảo, biên cương xa xôi, hay có mặt tại các điểm nóng của tâm dịch Covid-19, hoặc dầm mình trong bão lũ miền Trung thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, thậm chí nhịn đói khát, chịu nóng bức, hy sinh; đằng đẵng xa gia đình, người thân để thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, giúp nhân dân Nam Phi, Nam Xu Đăng vượt qua hoạn nạn, giành lại quyền sống làm người. Những việc làm thầm lặng ấy thật vẻ vang; những cống hiến, hy sinh cao cả ấy thật to lớn. Không có kẻ thù nào có thể xâm phạm, hủy hoại điều thiêng liêng ấy; không thế lực nào được phép vi phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; làm hoen ố bản chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

          Suốt 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã khẳng định, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta chính là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, thể hiện rõ khát vọng sống vì hòa bình. Dù ở cương vị nào cũng vậy, mọi quân nhân đều son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và cuộc sống của mình cho cách mạng. Không bao giờ “buông súng”, sa ngã, “lạc đường, chệch hướng” chỉ vì gian khổ, khó khăn, thử thách; chỉ vì sự xuyên tạc, chống phá của kẻ thù; không bao giờ quên lời hứa thiêng liêng đã khắc ghi trong tim mình trước Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự tự nguyện dâng hiến, tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân. Chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành tựu xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự tuyệt đối trung thành, niềm tin, danh dự và lẽ sống cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Thế giới có thể đổi thay, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

          Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với hành trang và tài sản vô giá Bộ đội Cụ Hồ, cán bộ, chiến sĩ toàn quân hân hoan chào mừng 78 năm ngày truyền thống vẻ vang của mình ra sức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và viết tiếp bản anh hùng ca “tiến bước dưới quân kỳ”, “vì nhân dân quên mình”, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, tỏa sáng danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.


 

Luận điệu bôi xấu về anh ninh lương thực ở Việt Nam

 Ngày nay, Việt Nam ngày nay là nước có sản lượng xuất khẩu lương thực lớn hàng nhất nhì thế giới. Nhưng rất khó hiểu khi một số trang thông tin vẫn kiên quyết cho rằng Việt Nam vẫn là một quốc gia ngập chìm trong nghèo đói. Vậy thực sự đằng sau những nhận định ấy là gì?

          Gần đây, khi ngày 30/10, để lên án hành động của Nga đình chỉ vô thời hạn thỏa thuận xuất khẩu ngũ cốc, Tổng thống Ukraine Zelensky đã lên truyền hình đọc một bài diễn văn. Đáng chú ý trong đó có chi tiết nói rằng, việc không xuất khẩu được ngũ cốc sẽ gây nạn đói tại một số quốc gia, và bất ngờ là trong đó có Việt Nam. Trong khi thực tế người ta cũng phải bật cười nếu biết Việt Nam đang là quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, với nền nông nghiệp hùng mạnh xuất khẩu mỗi năm tới 45 tỷ đô la. Có lẽ một số bộ phận truyền thông đã đưa ra các thông tin hết sức sai lạc về Việt Nam, dẫn đến sự nhầm lẫn của ông Zelenky.

          Tiếp theo, nhân sự kiện có một số người Việt thiếu ý thức đã bỏ trốn sau khi đáp chuyến bay xuống Hàn Quốc, RFA dẫn lại bài viết của ông nhạc sỹ Tuấn Khanh. Với đại ý cho rằng, người Việt bỏ ra nước ngoài vì đời sống quá khó khăn. Để cường điệu hóa nhận định, RFA đã trích dẫn kèm theo phát biểu của Chuyên gia kinh tế trưởng Rajiv Biswas thuộc công ty IHS Markit châu Á – Thái Bình Dương cho rằng có khoảng 10% người Việt sống trong nghèo đói. Chưa rõ câu nói này trong bối cảnh nào, và dựa trên chuẩn nghèo như thế nào, nhưng ta cũng có thể đặt câu hỏi con số 10% đó có giá trị thực tế đến đâu.

          Được biết, IHS Markit vốn chỉ là 1 công ty nghiên cứu thị trường, khó có khả năng tiếp cận đầy đủ các số liệu. Mặt khác, rất có thể báo cáo của HIS Markit về Việt Nam đã bị cắt xén để phục vụ cho nhu cầu riêng trong bài viết của RFA. Tương tự như việc ông Zelensky nhầm lẫn khi lo lắng cho Việt Nam, cường quốc xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới bị đói ăn. Rõ ràng RFA, BBC cùng nhiều kênh truyền thông cũng đang cố tình đưa những tin tức giả để nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam mà thôi.

Thảm họa ở Hàn Quốc không thể so sánh với dịch Covid-19 ở Việt Nam

 Tổng thống Hàn Quốc đã quyết định tổ chức Quốc tang sau thảm kịch dịp lễ hội Halloween khiến cho 154 người thiệt mạng. Ngay lập tức xuất hiện luận điệu, vì sao Hàn Quốc thiệt hại có hơn 150 người mà đã tổ chức Quốc tang, còn Việt Nam đợt dịch Covid -19 có hàng chục nghìn người chết mà không tổ chức.

          Ai cũng cũng biết rõ là trong đợt dịch Covid-19, Hàn Quốc có tới gần 30 nghìn người thiệt mạng, nhiều hơn Việt Nam nhưng họ cũng không hề tổ chức Quốc tang. Nước Mỹ cũng đã có hơn 1 triệu người chết vì đại dịch Covid -19, một con số kinh khủng, nhưng họ cũng không tổ chức Quốc tang. Dù nghĩa tử là nghĩa tận, mạng người nào cũng quý giá, nhưng Quốc tang không phải là hình thức mà thích thì làm, muốn tổ chức lúc nào cũng được. Mỗi một con người khi qua đời đều được người thân, bạn bè tổ chức tang lễ, còn Quốc tang là cả nước để tang, và như vậy nó là một đặc quyền chỉ dành cho một số rất rất ít cá nhân có tầm ảnh hưởng.

          Với nhiều nước, Quốc tang là một nghi lễ an táng dành cho người đứng đầu một quốc gia, hoặc một người rất quan trọng. Tuy vậy, không phải Quốc tang ở quốc gia nào cũng giống nhau. Tại Hàn Quốc, có hai hình thức tang lễ toàn quốc, đó là Quốc tang và Quốc dân tang. Quốc tang chỉ dành cho tổng thống và nhân sĩ có công kéo dài 9 ngày. Quốc dân tang, kéo dài 7 ngày dành cho các nhân vật có công đặc biệt với quốc gia. Hàn Quốc đã tổ chức quốc tang cho Tổng thống Park Chung-hee vào 1979. Chiếu theo quy định này thì tương đối khó lý giải cho quyết định ban bố quốc tang đối với vụ giẫm đạp ngày Halloween ở Hàn Quốc. Tại Nhật, khi cựu Thủ tướng Shinzo Abe qua đời vì bị ám sát, bất chấp những thành tựu “khổng lồ” trong giai đoạn nắm quyền, gần một nửa số người Nhật được phỏng vấn tỏ ý phản đối khi chính quyền tổ chức Quốc tang cho ông Abe, cũng vì ở Nhật chưa có những quy định cụ thể.

          Như vậy, Quốc tang là việc riêng của mỗi quốc gia, thậm chí đến từ quyết định riêng ở từng thời điểm, và không thể so sánh. Người Hàn chưa hề so sánh vì sao các nạn nhân Covid không được tổ chức Quốc tang, và nực cười Việt Tân lại đem chuyện ở Việt Nam ra để so sánh. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác thương cảm các nạn nhân Hàn Quốc, đồng cảm với quyết định tổ chức Quốc tang của Thủ tướng nước này, nhưng Việt Nam có quy định riêng của mình về việc sử dụng công quỹ quốc gia. Việc lợi dụng điều đó để đưa ra những so sánh bậy bạ là điều đáng lên án.

Tình thương trong xã hội Việt Nam ngày nay

 Truyền thống dân tộc Việt Nam luôn có tình tương thân tương ái. Trong thời đại ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, lòng nhân ái luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, phát triển mạnh mẽ hơn.           Hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, nội dung xóa đói giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam. Thủ tướng Phạm Minh Chính trong chương trình truyền hình “cả nước chung tay vì người nghèo” ngày 17/10 đã gửi một thông điệp sâu sắc đến toàn xã hội: “Hãy đặt mình vào những số phận kém may mắn để giúp đỡ bằng trái tim, bằng sự thấu hiểu”! Việt Nam là đất nước của nền văn hóa trọng tình. Chúng ta coi trọng tình thân ruột thịt, tình bạn bè đồng chí và rộng hơn là tình cảm đối với đồng bào. Những nghĩa cử nhân ái thể hiện tinh thần tương thân tương ái vì người nghèo không phải hiếm gặp. Thủ tướng, Chính phủ đã nâng tầm quan trọng và ý nghĩa của tinh thần ấy thành một cuộc thi đua sâu rộng trên 63 tỉnh thành mang tên: “Vì người nghèo – Không để ai phải bỏ lại phía sau”. Cũng như câu chuyện của bà Trần Thị Kim Thia (Đồng Tháp) dạy bơi miễn phí cho 4000 trẻ em nghèo vùng sông nước trong suốt 30 năm qua, là người phụ nữ truyền cảm hứng về tinh thần sống giá trị và san sẻ yêu thương trong mọi điều kiện và hoàn cảnh.

          Kết quả sau nhiều năm bền lòng vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, UBMTTQ Việt Nam các cấp đã vận động được trên 19.432 tỷ đồng, xây dựng trên 1.680.231 nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn cùng hàng trăm công trình dân sinh, hỗ trợ hàng triệu lượt người nghèo khám chữa bệnh… Dù trong sự nỗ lực và quyết tâm chung của Chính phủ về mục tiêu giảm nghèo thì tính đến năm nay cả nước vẫn còn gần 2,4 triệu hộ nghèo, chiếm hơn 9% hộ dân cả nước. Đời sống vật chất tinh thần người dân đồng bào vùng sâu xa biên giới hải đảo vẫn còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Thủ tướng chỉ đạo trong công tác giảm nghèo phải tập trung, đồng bộ các giải pháp, thực hiện trong quy mô sâu rộng trên tất cả các tỉnh thành. Sự quan tâm trực tiếp và sâu sắc của Chính phủ đến vấn đề sinh kế cho người nghèo luôn là nguồn động lực lớn lao cho những mảnh đời còn nhiều khó khăn vất vả. Từ đó, động lực ấy sẽ tạo ra nỗ lực vượt khó thắng nghèo, hướng tới một cuộc đời no đủ yên vui.

          Ở Việt Nam ngày nay,tình thương không chỉ khi đã đủ đầy dư giả hay nghèo túng. Ai có công góp công, ai có của góp của, ai chia sẻ động viên, ai chỉ đường dẫn lối… Sinh kế của người nghèo có được tạo ra hay không phải có sự góp sức chung của toàn xã hội. Lòng nhân ái là một nét đẹp thuộc về văn hóa Việt. Phát huy nhân rộng và lan tỏa tình tương thân tương ái, tất yếu sẽ mang đến chiến thắng trọn vẹn trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho hôm nay và mai sau.

Sự đúng đắn của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Mặc dù còn không ít khuyết điểm, hạn chế trong quá trình phát triển đi lên. Đúng là nước ta còn nghèo, thu nhập còn ở mức trung bình thấp, nhưng đó không phải là lỗi của con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta lựa chọn mà do chính thực dân, đế quốc và các thế lực thù địch, tay sai đã kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.

          Nhưng giờ đây, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là bằng chứng sống động bác bỏ những toan tính của các phần tử chống đối, thù địch muốn chúng ta rời bỏ lựa chọn này, chia rẽ sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tạo ra kỳ tích về xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh từ 50% xuống còn khoảng 2%. Năm 2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm.

          Nhìn lại những năm qua, những tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 và các cuộc xung đột quân sự đã ảnh hưởng nặng nề tới người dân ở nhiều quốc gia khi mà tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Mặc dù vậy, vượt bao khó khăn, sóng gió của đại dịch, Đảng, Nhà nước luôn giữ những nguyên tắc bất di, bất dịch. Đó là ưu tiên sức khỏe và sự an toàn của người dân lên trên hết. Mục tiêu ấy phù hợp lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng lòng ủng hộ và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những nỗ lực của Việt Nam đã chứng minh rằng, chúng ta đã giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Chính thực tế này thêm khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ còn lâu dài, liên tục, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách và không thể nóng vội. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường ấy sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn, đất nước sẽ ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, giàu mạnh.

Tổ chức Voice - tay sai của Việt Tân!

 Những ngày này, Tổ chức Voice đang ráo riết tung những bài viết sai sự thật về Việt Nam với mục đích phá hoại. Đây chính là tay sai, công cụ của Việt Tân mà ai chũng biết là tổ chức của những kẻ phản động lưu vong ở nước ngoài.

          Kẻ cầm đầu ổ chức Voice chính là Trịnh Hội, sinh 1970, con rối được "Việt Tân" sử dụng để lập nên một nhóm phản động núp bóng một tổ chức phi chính phủ. Tên này đã từng có thời gian theo Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn để thực hiện nhiều mưu đồ cá nhân, đánh bóng tên tuổi dưới cái mác “luật sư”. Trước đây, theo chỉ đạo của "Việt Tân", Trịnh Hội đã sử dụng hộp thư điện tử của Nguyễn Cao Kỳ Duyên tán phát các bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam; gửi thông tin đến các cơ quan chức năng của Việt Nam ở các nước để khủng bố thông tin, phản đối Cơ quan An ninh Việt Nam đã tạm giữ hắn nhằm hủy hoại hình ảnh của gia đình ông Nguyễn Cao Kỳ vì trước đó gia đình ông này đã có những hoạt động hướng về quê hương đất nước, hoà giải dân tộc và được Đảng, Nhà nước Việt Nam ưu ái, đánh giá cao. Sau đó, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên đã phải lên tiếng thanh minh đồng thời đường ai nấy đi với Trịnh Hội.

          Dưới cái mác là luật sư, diễn viên điện ảnh Trịnh Hội đã được "Việt Tân" chỉ đạo cùng với Hoàng Tứ Duy và Chu Quang Ngọc những kẻ sừng sỏ của "Việt Tân" lập ra cái gọi là "Tổ chức sáng kiến lương tâm vì người Việt hải ngoại - Voice" để làm bình phong huy động tiền từ những quỹ dân chủ, nhân quyền làm vỏ bọc xâm nhập về nước tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Với vỏ bọc của NGO, Trịnh Hội không ngừng nâng cấp hình ảnh, lấy uy tín trong cộng đồng người Việt nhằm quyên góp tiền thực hiện mục đích cá nhân. Gần đây, Trịnh Hội đã nẫng tay trên số tiền quyên góp 120.000 USD từ các "thân hữu" để triển khai "chương trình đào tạo xã hội dân sự" gây bức xúc lớn cho số "anh em chiến hữu". Bản thân Hội cũng bị không ít người ghét và tẩy chay vì những hành vi trục lợi cá nhân, gian lận khi lấy bóng NGO để làm hồ sơ bát nháo "cho số người không đủ tiêu chuẩn" sang Canada định cư và cuỗm luôn số tiền làm hồ sơ...

          Một tổ chức phản động, lưu vong, một kẻ ngay cả khi đứng ở phe phản diện nhưng cũng sẵn sàng lừa luôn cả số ít những người “cùng phe”, lợi dụng triệt để những người đi theo, tin theo tổ chức của y thì liệu rằng những giá trị “dân chủ, nhân quyền” mà y và Tổ chức phi chính phủ của y đang rêu rao liệu có đáng tin? Hãy cảnh giác, tránh xa Voice và Trịnh Hội, những viễn cảnh mỹ miều mà hắn vẽ ra cùng cái "xã hội dân sự" tươi đẹp được nhồi nhét cho những người tham gia những khóa học vô bổ của hắn sẽ chỉ khiến người tin theo hắn tiền mất, án mang, thân bại danh liệt!

Sự hiện diện của Chủ nghĩa xã hội ở nhiều quốc gia, nhiều cấp độ

 Với bản chất tiến bộ, khoa học của Chủ nghĩa xã hội (CNXH), ngày nay, CNXH đang phát triển và lan rộng ở nhiều quốc gia, nhiều cấp độ.

          Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.

          Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.
          Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.

          Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của CNXH được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác. Đây chính quy luật của cuộc sống là là xu thế thúc đẩy những tiến bộ xã hội, góp phần phát triển CNXH trên toàn thế giới.

Cảnh giác với các thủ đoạn chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo

 Vì mục tiêu phá hoại, các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định trật tự xã hội, hòng làm suy yếu đất nước ta. Thực tế này đòi hỏi các tổ chức tôn giáo cũng như mọi người dân trong xã hội phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác để không bị lôi kéo vào các hoạt động phi pháp, gây tổn hại đến khối đoàn kết dân tộc.

          Từ ngàn đời nay, với bản tính hòa đồng, khoan dung tôn giáo, người Việt Nam luôn cởi mở trong việc du nhập và dung dưỡng nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nếu các tôn giáo, tín ngưỡng đó không đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc, biết tôn trọng văn hóa bản địa. Chính vì thế, dù là một quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc song nước ta không có hiện tượng xung đột tôn giáo.

          Kể từ khi có Đảng, Việt Nam luôn chú trọng giữ gìn đoàn kết tôn giáo, chủ động tập hợp, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, huy động nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Ðiều 3, Luật Tín ngưỡng Tôn giáo 2016 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

          Thực tế cho thấy, trải qua nhiều biến cố của lịch sử, các tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nổi bật trong thời gian qua là sự đồng hành, tham gia tích cực của lực lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong công tác xã hội, phòng, chống dịch, thiện nguyện, xây dựng nếp sống mới… góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước, thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc.

          Mặc dù vậy, với dã tâm đen tối các thế lực thù địch luôn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết tôn giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Chúng lợi dụng triệt để sự phát triển phong phú, đa dạng của các tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam để tung ra các luận điệu kích động, gây chia rẽ người dân, chia rẽ giữa các tôn giáo với nhau, tạo mâu thuẫn trong nội bộ tôn giáo. Do vậy, mỗi người dân Việt Nam ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những thủ đoạn xấu xa của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng làm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam ta./.

Thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để thực hiện cách mạng màu

 Ngày nay, không gian mạng ngày nay đã trở thành không gian sống của hầu khắp các thành phần xã hội. Lợi dụng không gian mạng và các trang mạng xã hội,  các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn điều hành đưa ra hàng loạt bài viết sai trái, tiêu cực để tiến hành “cách mạng màu online” để làm nền tảng hiện thực hóa “cách mạng đường phố”. Trong đó, các mũi nhọn chống phá mà các đối tượng đang thực hiện là:

          Thứ nhất, xuyên tạc, bôi đen tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền và bức tranh chính trị - xã hội tại Việt Nam. Từ lâu, các “mõ làng dân chủ” vẫn cố tình xuyên tạc một cách hết sức trắng trợn rằng Việt Nam đang đặt dưới “chế độ độc tài toàn trị” nên không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Mặc dù những kết quả to lớn về nhân quyền đã đạt được thực tế ở  Việt Nam, nhưng những thế lực thù địch vẫn cố tình bêu xấu, bóp méo và lừa gạt người dân, làm cho người dân và cả những cơ quan quốc tế hiểu sai về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

          Thứ hai, chúng rêu rao các luận điệu sai trái, độc hại như: “Chính quyền Cộng sản Việt Nam đã thành công tạo ra một xã hội con người không còn đề cao những giá trị tinh thần và quyền con người, chỉ biết hưởng thụ vật chất”, “bài toán của Miến Điện sẽ được giải quyết trong vài tháng nhưng bài toán dân chủ của Việt Nam thì chưa biết chừng nào mới có giải đáp”, “Đảng Cộng sản chỉ chăm lo bảo vệ quyền lợi của bản thân mà không chú ý tới đời sống của nhân dân”… Đây là những thủ đoạn không mới nhưng chúng lặp lại quá nhiều nhằm mục đích thực hiện cách mạng màu.

          Thứ ba, truyền bá các tư tưởng thù địch thông qua diễn biến tình hình quốc tế và khu vực. Ví dụ như chúng lợi dụng “những gì đang diễn ra tại Myanmar sẽ tạo ra một thông điệp dân chủ cho Việt Nam”, “Myanmar là hình mẫu mà Việt Nam phải học tập”, kích động người dân Việt Nam phải “học theo Myanmar”, phải “xuống đường đấu tranh vì dân chủ”, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát tán nhiều bài ca thán về các cuộc biểu tình tại Myanmar kèm những luận điệu xuyên tạc để gieo rắc tâm lý tiêu cực đến với cộng đồng mạng. Chúng đang cố gẳng cổ súy rằng: “Người dân Việt Nam có thể giàu hơn người Myanmar về kinh tế, nhưng về trí tuệ và tâm hồn thì chưa chắc là đã hơn?

          Như vậy, các thế lực phản động luôn cố tình liên hệ về những câu chuyện vốn không liên quan để thêu dệt, suy diễn, qua đó tung hô, cổ vũ, coi vấn đề biểu tình tại đất nước Myanmar là “hình mẫu lý tưởng” để Việt Nam học theo, chúng ta cần hết sức cảnh giác để không bị rơi vào cái bẫy cách mạng màu online trên không gian mạng.

Thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ

 Bộ đội cụ Hồ là danh hiệu cao quý mà Nhân dân ta đã trìu mến trao cho những chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng vì không đủ kiến thức, thiếu thực tiễn hoặc vì những lý do nào đó mà có những quan điểm nhận thức không đúng về Quân đội ta, về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Vẫn có người ngộ nhận rằng, bộ đội bây giờ lương cao, “được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy”; “bộ đội bây giờ không còn vất vả”; Quân đội với “bộ máy cồng kềnh, gây hao tốn ngân sách quốc gia, kéo chậm sự phát triển đất nước”...

          Với tầm nhìn hạn hẹp, hoặc thiếu hiểu biết, các thế lực thù địch đã “vơ đũa cả nắm”, tuyệt đối hóa hiện tượng rồi nâng lên thành bản chất; quy kết một số quân nhân vi phạm pháp luật đến mức phải kỷ luật..., đã làm cho “quân đội hư hỏng”. Từ đó, chúng tung tin, đồn thổi rằng: “QĐND Việt Nam đã thoái hóa, biến chất”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”; “cần phải phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội... Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, mà thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa" Quân đội rất phi lý, không thể chấp nhận. Kịch bản và các chiêu thức mới trong sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu, độc; tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là tiếp nối chiêu trò “hà hơi, tiếp sức” để thực hiện ý đồ “phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Không những thế, chúng còn muốn lấy đi sức mạnh, niềm tin của nhân dân đối với Bộ đội Cụ Hồ, phủ nhận mối quan hệ máu thịt, “cá với nước” của quân và dân ta vì chúng biết rõ rằng trong tái tim người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ có vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin, tình yêu, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên. Phủ nhận nguồn gốc, bản chất, truyền thống của Quân đội, chúng không muốn thế hệ trẻ kế thừa sự nghiệp của cha anh, không muốn thế hệ chủ nhân của đất nước hiểu rằng Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng và gửi gắm niềm tin vào Quân đội ta. Qua đó, đánh cắp niềm vinh dự, tự hào: Quân đội ta được mang tên lãnh tụ kính yêu; không muốn thế hệ trẻ biết rằng, trên thế giới, duy nhất chỉ có Quân đội ta có được niềm vinh dự, tự hào và hạnh phúc lớn lao ấy.

          Cái đích cuối cùng các thế lực thù địch đó là hướng đến thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội, biến Quân đội ta trở nên vô dụng. Chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu thâm độc ấy và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi hành vi chống phá; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.