Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

Xác định “đối tác”, “đối tượng” trong bối cảnh mới

 

Thế giới đang chuyển sang một cục diện mới - cục diện hậu dịch bệnh COVID-19, cuộc xung đột Nga - U-crai-na diễn biến phức tạp... Mặc dù vẫn còn sớm để nhận diện rõ ràng, nhưng các diễn biến đến nay cho thấy, trong vòng 5 - 10 năm tới, đặc điểm nổi trội trong quan hệ quốc tế được dự báo sẽ chuyển động theo chiều hướng các nước lớn tuy vẫn hợp tác, nhưng vẫn tiếp tục cạnh tranh, thậm chí đối đầu gay gắt, căng thẳng hơn nhiều so với giai đoạn 5 - 10 năm qua, nhất là trong những vấn đề liên quan đến địa - chính trị, địa - kinh tế, quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ... làm thay đổi nhanh chóng tương quan sức mạnh kinh tế, quốc phòng và ảnh hưởng giữa các quốc gia, khuyến khích nhiều hình thức tập hợp lực lượng, liên kết mới giữa các quốc gia.

Ngày 12-10-2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc, phản đối Nga sáp nhập bốn tỉnh miền Đông và miền Nam U-crai-na với 143 phiếu thuận. Từ ngày 22-2-2022 đến 20-10-2022, Mỹ và các nước phương Tây đã áp đặt 9.873 lệnh trừng phạt lên các tổ chức và cá nhân người dân Nga, bao gồm cả Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin. Trong quan hệ với Trung Quốc, chính quyền Tổng thống Mỹ Giô Bai-đơn thực thi chính sách “cạnh tranh khi cần thiết, hợp tác khi có thể, đối đầu khi bắt buộc”. Việc coi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh là nhận thức chung của cả Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Điều này được dự báo có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên. Tháng 6-2022, trong “Tài liệu chiến lược mới” được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh NATO, diễn ra ở Thủ đô Ma-đrít (Tây Ban Nha), lần đầu tiên NATO coi các chính sách “áp đặt” của Trung Quốc là thách thức đối với “lợi ích, an ninh và giá trị” của NATO. Đối với Trung Quốc, trong Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc (từ ngày 16-10 đến 22-10-2022), Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định “lập trường dứt khoát” là chống chủ nghĩa bá quyền và kiên cường đối mặt với “tình trạng bị bắt nạt”; Trung Quốc “sẵn sàng đương đầu với sóng to, gió lớn và thậm chí là cả những cơn bão nguy hiểm”; sẽ chiến thắng trong “chiến tranh khu vực”.

Kinh tế thế giới cũng được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với giai đoạn trước. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, kinh tế thế giới tăng trưởng 3,2% trong năm 2022 và 2,7% trong năm 2023 - mức thấp nhất kể từ năm 2001 (trừ giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 và dịch bệnh COVID-19); lạm phát đang gia tăng nhanh và kéo dài ít nhất đến hết năm 2024, nhiều nền kinh tế có thể rơi vào suy thoái trong năm 2023. Thương mại, đầu tư quốc tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch COVID-19 nay lại chịu thêm tác động tiêu cực từ cuộc xung đột Nga - U-crai-na. Cũng như vậy, các chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu vốn đứt gãy lại đứt gãy thêm nên càng khó phục hồi. Tình hình này gây hậu quả nghiêm trọng đối với tất cả các nước, nhất là các nước nghèo, các nước đang bị ảnh hưởng bởi xung đột vũ trang.

Khi cạnh tranh, đối đầu, các nước lớn thường gia tăng lôi kéo, mua chuộc, thậm chí “cưỡng ép” các nước nhỏ phải ủng hộ và đi theo. Do đó, khi các nước vừa và nhỏ gặp khó khăn về kinh tế hoặc những vấn đề mâu thuẫn nội bộ không thể giải quyết, khó có thể giữ vững “độc lập” trước tác động từ các nước lớn. Kết quả bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc về các vấn đề liên quan đến các nước lớn cho thấy, từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, đa số các nước vừa và nhỏ đều lựa chọn chính sách “phòng ngừa”, không đứng hẳn về bên nào, quyết định bỏ phiếu tùy theo vấn đề và hoàn cảnh cụ thể. Đơn cử như, tại các cuộc họp của Phong trào Không liên kết trong những năm gần đây, Bê-la-rút, U-gan-đa, Dim-ba-bu-ê - những quốc gia không liên quan trực tiếp tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đã đi đầu phản đối các nước ASEAN cập nhật tình hình khu vực (trong đó có tình hình Biển Đông).

Trong bối cảnh trên, có thể thấy, khó có quốc gia nào luôn ủng hộ Việt Nam hoặc ngược lại, trong những vấn đề liên quan đến quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn. Nói cách khác, khó có nước nào luôn là “đối tác” hoặc luôn là “đối tượng” với Việt Nam. Mục tiêu trở thành một nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 chỉ có thể đạt được nếu Việt Nam duy trì được một môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển. Trong bối cảnh môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp, khó lường và để hiện thực hóa khát vọng phát triển, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” trong xử lý quan hệ với các nước, bên cạnh mục tiêu hóa giải các thách thức, cần đặt trọng tâm vào việc tranh thủ cơ hội, xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác, bởi không có lòng tin chiến lược khó có thể yên ổn trong môi trường luôn bất ổn, khó có nước nào cam kết hợp tác lâu dài với Việt Nam, nhất là việc bán hoặc chuyển giao công nghệ lõi.

Thế giới thay đổi, môi trường an ninh, phát triển của Việt Nam thay đổi, mục tiêu chiến lược của Việt Nam cũng cao hơn giai đoạn trước, cách xác định “đối tác”, “đối tượng” theo thực thể được cho là đã hoàn thành đúng sứ mệnh. Trong bối cảnh mới, cần xác định “đối tác”, “đối tượng” theo hành vi. Cách xác định này phù hợp với những thay đổi của tình hình mới, tạo thuận lợi cho quá trình xây dựng đồng thuận trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại. Cách xác định này cũng không ảnh hưởng tới chính sách của Việt Nam khi có thực thể nào đó luôn là “đối tác” hoặc “đối tượng” của đất nước ta. Cách xác định này cùng với phương châm “thêm bạn, bớt thù” trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh tiếp tục có ý nghĩa quan trọng trong xử lý các vấn đề đối ngoại, tạo thế và lực mới cho đất nước ta trên “bàn cờ” khu vực và toàn cầu.

HAIVAN

Xác định “đối tác”, “đối tượng” trong công tác đối ngoại

 

Thực tiễn công tác đối ngoại gần hai thập niên qua cho thấy, nguyên tắc xác định “đối tác”, “đối tượng” trong Nghị quyết là căn cứ hết sức quan trọng để Việt Nam xử lý hài hòa, ổn thỏa mối quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn.

Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam xác định rõ những mặt có thể hợp tác và các mặt cần đấu tranh, và đã kiên định xử lý thành công cả hai mặt này. Trên cơ sở phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” được xác định vào năm 1999, hai bên đã bổ sung tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” vào năm 2005. Năm 2008, hai bên nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Về vấn đề biên giới, lãnh thổ, hai bên đã hoàn thành toàn bộ công tác phân giới, cắm mốc vào năm 2008 và ký kết ba văn kiện về quản lý đường biên giới trên đất liền vào năm 2009. Về lĩnh vực thương mại, từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2021, dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đạt 165,8 tỷ USD, tăng 24,6% so năm 2020. Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc lần đầu tiên vượt ngưỡng 200 tỷ USD, đạt 230,2 tỷ USD, tăng 19,7% so với năm 2020 nếu tính theo đồng đô-la Mỹ và 12% khi tính bằng đồng nhân dân tệ (NDT). Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác thương mại lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới sau các nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Ô-xtrây-li-a. Về các vấn đề trên biển, hai bên đã ký kết “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” vào năm 2011, duy trì hoạt động thường xuyên các cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ, các cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao hai nước và ba cơ chế đàm phán Nhóm công tác cấp chuyên viên Việt Nam - Trung Quốc về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, Nhóm công tác về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển, Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển... Đối với các vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông... cũng được giải quyết ổn thỏa nhờ quán triệt chặt chẽ nguyên tắc “đối tác”, “đối tượng”. Việt Nam kiên trì, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Tổ quốc, giải quyết những bất đồng thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong thời gian đó, quan hệ hợp tác với Trung Quốc vẫn được duy trì, thúc đẩy. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2014, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2013. Nhập siêu cả năm 2014 từ Trung Quốc ước tính đạt 28,9 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2013.

Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam đã tranh thủ thành công các mặt hợp tác. Tháng 3-2006, Việt Nam kết thúc đàm phán song phương với Mỹ về việc Việt Nam gia nhập WTO. Tháng 12-2006, Quốc hội Mỹ đã thông qua Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam. Đây là những bước quyết định trong tiến trình gia nhập WTO của nước ta. Ngày 25-7-2013, hai bên xác lập quan hệ “đối tác toàn diện”. Về thương mại, sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực, doanh số thương mại giữa hai bên tăng mạnh từ 450 triệu USD (năm 1995) lên hơn 111 tỷ USD (năm 2021). Mỹ nhanh chóng trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và cũng là thị trường Việt Nam xuất siêu lớn nhất. Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mặc dù Mỹ không đứng đầu trong các nước đầu tư vào Việt Nam, nhưng Việt Nam đã tận dụng được các khoản đầu tư của Mỹ vào những ngành, lĩnh vực đặc biệt cần để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới mô hình tăng trưởng. Đó là những ngành, lĩnh vực công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao và được đầu tư từ các tập đoàn toàn cầu, có tầm nhìn dài hạn của Mỹ, như: Apple, Qualcomm, Nike, Morgan Stanley, ACORN International, General Dynamics, Google... Về quốc phòng, tháng 9-2011, hai bên đã ký kết Biên bản ghi nhớ (MoU) về hợp tác quốc phòng. Theo đó, Mỹ sẵn sàng hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, đào tạo nhân viên cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam, cũng như hỗ trợ Việt Nam một số trang thiết bị cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển (tàu, xuồng tuần tra trên biển), hợp tác về lĩnh vực quân y... Tháng 6-2015, hai bên ký kết Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ. Trên cơ sở đó, quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng giữa hai nước phát triển nhanh chóng và ngày càng thực chất, các hoạt động hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh cũng được đẩy mạnh hơn.

Mặt “đối tượng” trong quan hệ với Mỹ chủ yếu liên quan đến các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và hoạt động của các thế lực thù địch, phản động chống phá Việt Nam trên đất Mỹ. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn đưa ra các báo cáo đánh giá không khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động chống phá Việt Nam quyết liệt, như Việt Tân, cái gọi là “nhà nước Đề Ga độc lập”... đều có trụ sở trên nước Mỹ. Trong nội bộ nước Mỹ luôn có những nhóm thúc đẩy việc gắn quan hệ kinh tế - thương mại với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo. Một trong những ví dụ điển hình là việc ngày 15-9-2004, Mỹ đưa Việt Nam vào Danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo (CPC). Tuy nhiên, xác định rõ các mặt “đối tác”, “đối tượng” trong từng hành vi, từng nhân vật trong nội bộ nước Mỹ, Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh với những nhóm cực đoan, kiên trì đối thoại với những người có hiểu biết và ủng hộ quan hệ hai nước; ổn định tình hình ở Tây Nguyên; đồng thời, mời phóng viên và một số trợ lý nghị sĩ Mỹ vào thực địa để nắm rõ bản chất, sự thật của vấn đề. Đến ngày 14-11-2006, Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có sự kiện này, khó có thể có sự kiện Quốc hội Mỹ thông qua Quy chế PNTR với Việt Nam một tháng sau đó.

Thực tiễn quan hệ của Việt Nam với các nước (cả trong và ngoài khu vực) gần 20 năm qua cho thấy: Một là, Việt Nam xác định “đối tác”, “đối tượng” khi xử lý quan hệ với các nước chủ yếu theo cách thứ hai, đó là nhìn hành vi của họ trong các vấn đề cụ thể, hoàn cảnh cụ thể khi quan hệ với Việt Nam; khi có sự song trùng về lợi ích thì tranh thủ hợp tác; khi lợi ích không trùng hợp hoặc mâu thuẫn thì tùy theo mức độ, Việt Nam có hình thức đấu tranh phù hợp. Hai là, có rất ít nước luôn tôn trọng các mục tiêu của Việt Nam, có lợi ích luôn trùng hợp với lợi ích của ta và cũng có rất ít nước luôn chống phá Việt Nam. Điều này đúng với cả những nước có vị trí địa lý rất xa Việt Nam, hầu như không có quan hệ kinh tế, thương mại với Việt Nam, nhưng vẫn bị tác động bởi các nước lớn trong những vấn đề liên quan đến Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo... tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế. Ba là, cách tiếp cận theo thực thể trong nhiều trường hợp tạo khó khăn không nhỏ cho Việt Nam trong việc xây dựng đồng thuận nội bộ khi vẫn có sự tồn tại các cách nhìn  khác nhau khi thảo luận về những vấn đề phức tạp trong quan hệ với các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ.

HAIVAN

Tư duy về “đối tác”, “đối tượng của Đảng ta


Nguyên tắc xác định “đối tác”, “đối tượng” được nêu rõ: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đều là đối tượng đấu tranh. Mặt khác, trong tình hình diễn biến mau lẹ và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta”. 

Theo nguyên tắc đó, Đảng ta xác định “đối tác”, “đối tượng” từ hai góc nhìn

Thứ nhất, nhìn “đối tác”, “đối tượng” như một thực thể “trọn gói”. Góc nhìn này có thế mạnh là dễ phân biệt. Thực thể nào có chính sách và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam thì ta ứng xử với họ như “đối tác” hợp tác. Thực thể nào làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam thì là “đối tượng” đấu tranh. Tuy nhiên, cách nhìn này chỉ phù hợp với các thực thể luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ với nước ta hoặc ngược lại, luôn chống phá mục tiêu của ta. Do đó, để xác định đúng “đối tác”, “đối tượng”, cần hết sức tránh việc quy nạp không hoàn toàn, nhất là chỉ dựa trên một số chính sách, hành động để đánh giá tính chất của thực thể; tránh các định kiến lịch sử hay ý thức hệ.

Thứ hai, nhìn “đối tác”, “đối tượng” qua hành vi của họ trong các vấn đề, hoàn cảnh cụ thể khi quan hệ với ta. Nghị quyết nhấn mạnh, “trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Đây là cách nhìn phù hợp với tất cả các thực thể có chính sách và hành động khác nhau, tùy theo vấn đề cụ thể, hoàn cảnh cụ thể trong quan hệ với nước ta. Tuy nhiên, nhìn “đối tác”, “đối tượng” theo cách này luôn được xem là thách thức lớn khi đòi hỏi cần có lập trường vững vàng, kiên định vì lợi ích quốc gia - dân tộc, không vì các lợi ích cục bộ; có trí tuệ sáng suốt để nhận rõ các hành vi tôn trọng và hợp tác có lợi cho nước ta và những âm mưu, ý đồ chống phá nước ta nhưng được che đậy công phu, bài bản, tinh vi. Cách nhìn nhận này cũng rất cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng vì thực tế cho thấy luôn xuất hiện những luồng quan điểm khác nhau khi xem xét các hành vi cụ thể của từng thực thể và luôn tồn tại những định kiến liên quan đến lịch sử, sự khác nhau về chế độ chính trị và hệ giá trị.

HAIVAN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định “đối tác”, “đối tượng”


Ngày 19-1-1955, tại lễ khai giảng khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc các cán bộ nhà trường và sinh viên: “Phải vạch rõ ranh giới, chia rõ phải trái. Vạch rõ ranh giới là phải nhận rõ ai là bạn, ai là thù? Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thủ ở ngoài và ở trong mình ta”.

Với mục đích căn dặn cán bộ, sinh viên về phương pháp tư duy, cách hành xử đối với những người xung quanh và với chính mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập thực thể phân tích là “người” và “mình”; góc nhìn để phân biệt dựa trên hành vi: (ai) làm gì và những tư tưởng, hành động (của chính mình). “Bạn”, “thù” là cách nói hình tượng cho dễ hiểu và cũng phù hợp với bối cảnh khi đó.

Khi vận dụng vào công tác đối ngoại trong bối cảnh hiện nay, với chủ thể chính trong quan hệ quốc tế là các quốc gia, dân tộc, Nghị quyết đã cụ thể hóa “lợi ích cho dân, cho Tổ quốc ta” thành “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam”. Cũng như vậy, những “điều (gì) có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta” được cụ thể hóa thành “âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nguyên tắc nhất quán khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và triển khai nguyên tắc xác định “đối tác”, “đối tượng” là lấy lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam làm tiêu chí.

HAIVAN

"TAM CÔN XUYÊN DIỆP"!

         Tết sắp về trong mỗi ngôi nhà Việt "mồng một tết mẹ tết cha, mồng hai tết họ, mồng ba tết thầy". Ai mà không nhớ tết, dù giàu hay nghèo, ai xa quê cũng nau náu trong lòng với những điều ước giản dị: "Tết đoàn viên".
     Thế nhưng, với những kẻ phản động như Đoàn Thị Thùy Dương, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Hải Điếu cày, Cù Huy Hà Vũ và cả Bạch Hồng Quyền nữa..., giấc mơ Tết đoàn viên là giấc mơ xa xỉ và vạn kiếp mơ thôi!
     Thật buồn cười là trốn cả cơ quan an ninh Na Uy nhưng vẫn có vẻ ta đây được về quê mẹ rồi đăng ảnh chụp ở sân bay Tân Sơn Nhất và khẳng định mình đang ở Việt Nam.
     Đúng là đám "Tam côn xuyên diệp" có khác nhỉ! Chẳng có gì hơn ngoài lừa đảo xuyên tạc, bỉ bôi đất nước.
Thử về xem Dương ơi!
Yêu nước ST.

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐỒNG Ý CHO ĐỒNG CHÍ NGUYỄN XUÂN PHÚC THÔI CHỨC UỶ VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, UỶ VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ, CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO NGUYỆN VỌNG CỦA CÁ NHÂN!

     Ngày 17/1, tại trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã họp xem xét và cho ý kiến về nguyện vọng thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác và nghỉ hưu của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, an ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
     Ban Chấp hành Trung ương đánh giá đồng chí Nguyễn Xuân Phúc là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng; được đào tạo cơ bản, trưởng thành từ cơ sở và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị các khóa tín nhiệm phân công giữ nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước.
     Trên cương vị Thủ tướng nhiệm kỳ 2016-2021, đồng chí đã có nhiều nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch Covid-19 đạt kết quả quan trọng. Tuy nhiên, đồng chí chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có 2 phó thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng; 2 phó thủ tướng đã xin thôi giữ các chức vụ, 2 bộ trưởng và nhiều cán bộ bị xử lý hình sự. Nhận thức rõ trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu.
     Căn cứ quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước và xem xét nguyện vọng của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý để đồng chí Nguyễn Xuân Phúc thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, an ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
     Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo các cơ quan liên quan triển khai thực hiện các thủ tục theo quy định.
     Quốc hội họp bất thường lần 3, xem xét công tác nhân sự vào chiều 18/1.
Nguồn: Báo điện tử báo Nhân dân./.
Yêu nước ST.

CẦN NGHIÊM TRỊ NHỮNG CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC!

         Cứ mỗi dịp chuẩn bị đến ngày hội tòng quân trên cả nước, không gian mạng lại xuất hiện những thông tin, hình ảnh cắt ghép, xuyên tạc, có nội dung nói xấu, bôi nhọ, đả kích môi trường quân ngũ. Đây là thủ đoạn nguy hiểm của các đối tượng xấu, có tư tưởng cực đoan, bất mãn. Những sản phẩm xấu độc này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện chiến dịch tuyên truyền nhằm hạ thấp uy tín Quân đội, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong đời sống xã hội...

Hậu quả của những chiêu trò xuyên tạc
     Vụ việc tán phát clip, thông tin thất thiệt về cái gọi là “Nữ sinh HUFLIT bị hiếp dâm, nhảy lầu tự tử tại Trường Quân sự Quân khu 7” đã được các cơ quan chức năng phối hợp làm sáng tỏ. Ngày 14-1, Cơ quan Điều tra hình sự Quân khu 7 đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Đưa tin trái phép thông tin mạng máy tính”, căn cứ theo khoản 1, Điều 288, Bộ luật Hình sự và Điều 36; Điều 143; khoản 1, Điều 153; Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bước đầu, cơ quan điều tra đã xác định được một số đối tượng thực hiện hành vi cắt ghép, dàn dựng, tán phát clip, thông tin thất thiệt và đang khẩn trương củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật về hành vi nêu trên sẽ bị nghiêm trị trước pháp luật.
     Thực ra, ngay từ khi clip bị cắt ghép, xuyên tạc về nội dung nêu trên được các đối tượng xấu tung lên mạng xã hội, nhiều người đã nhận ra ngay đó là tin giả. Vậy nhưng, vì hội chứng đám đông và chiến dịch truyền thông “bẩn” do các thế lực xấu thực hiện, thông tin thất thiệt vẫn lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vấn đề đặt ra ở đây là, tại sao từ một chuyện nhỏ trong quan hệ ứng xử giữa sinh viên với nhau, các đối tượng xấu lại tạo cớ xuyên tạc, đẩy vấn đề lên thành một “sự kiện” gây xôn xao dư luận? Chúng ta cùng nhìn nhận vấn đề dưới hai góc độ.
     Thứ nhất: Những thông tin liên quan đến Quân đội thường nhận được sự quan tâm lớn của công chúng. Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 vừa qua là một ví dụ. Có rất nhiều người từ các vùng quê xa xôi đã lặn lội ra Hà Nội để xem triển lãm. Chứng kiến sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam, bà con bày tỏ niềm tin tưởng, tự hào sâu sắc. Thực tế cuộc sống đã chứng minh, mọi nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, khi đất nước, nhân dân gặp biến cố lớn về thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường... Bộ đội Cụ Hồ bao giờ và ở đâu cũng là lực lượng đầu tiên, chủ lực xả thân, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân. Chính vì hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã in dấu sâu đậm trong lòng dân, trở thành giá trị văn hóa truyền thống bền vững nên ở chiều ngược lại, các thế lực thù địch cũng luôn tìm mọi cách, áp dụng mọi phương thức, thủ đoạn để bôi nhọ, xuyên tạc, hạ bệ uy tín của Quân đội. Bằng các chiến dịch tuyên truyền kiểu “nội công ngoại kích”, họ bóp méo hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, bôi đen môi trường quân ngũ nhằm phá vỡ kết cấu bền vững của mối quan hệ đoàn kết quân dân.
     Thứ hai, việc tung tin giả liên quan đến môi trường quân ngũ trong bối cảnh hiện nay là hành động đầy thâm ý. Hiện nay, các địa phương đang chuẩn bị cho ngày hội tòng quân đầu xuân mới. Hàng vạn thanh niên trên cả nước sẽ lên đường nhập ngũ. Tung đòn tâm lý đánh vào tư tưởng thanh niên, tình cảm phụ huynh bằng những sản phẩm truyền thông “bẩn” là chiêu bài rất nguy hiểm. Xuyên tạc những sự việc, câu chuyện, vấn đề liên quan đến phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ, kỷ luật Quân đội... là chiêu bài thâm độc, hèn hạ của các đối tượng cực đoan, bất mãn.
      Sau khi sự thật đã sáng tỏ, những ồn ào dư luận từ tin giả đã lắng xuống, thì không ít tài khoản của các đối tượng cực đoan trên các nền tảng mạng xã hội lại có những cú “bẻ lái” thông tin đầy thâm ý. Họ tiếp tục xuyên tạc rằng, câu chuyện “nữ sinh bị hiếp dâm, nhảy lầu tự tử” đang được các cơ quan chức năng lái sang hướng khác để che đậy sự thật?! Họ đánh tráo khái niệm, lèo lái dư luận theo định kiến chủ quan, thể hiện rõ mưu đồ phá hoại để tiếp tục đẩy sự việc đi xa hơn theo ý đồ xấu. Họ ăn theo truyền thông “bẩn” để “đẩy thuyền”, bôi nhọ Quân đội, gieo rắc định kiến, tâm lý hoài nghi trong đời sống xã hội về môi trường quân ngũ, phá hoại ngày hội tòng quân 2023, làm hoen ố bản chất Bộ đội Cụ Hồ... Đó chính là những chiêu bài được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hiện thực hóa âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam và LLVT nhân dân...
     Thông tin “bẻ lái” là loại thông tin ăn theo tin giả. Nó diễn ra thường xuyên và diễn biến phức tạp. Người dùng mạng xã hội, nhất là giới trẻ, cần trau dồi kỹ năng phân biệt, sàng lọc, tiếp nhận... để không rơi vào bẫy truyền thông “bẩn” do các đối tượng xấu giăng sẵn.

Nghiêm trị để
cảnh tỉnh, răn đe
     Vụ việc tung tin thất thiệt tại Trường Quân sự Quân khu 7 là bài học nhãn tiền cho người dùng mạng xã hội, nhất là các bạn trẻ trong môi trường học đường, khởi nghiệp. Phải nhấn mạnh vấn đề này, bởi nếu bạn nữ sinh HUFLIT đang học chương trình Giáo dục quốc phòng và an ninh tại Trường Quân sự Quân khu 7 không quay clip, không chia sẻ thông tin thất thiệt để “làm mồi” cho các đối tượng xấu cắt ghép, xuyên tạc, tung tin giả thì đã không xảy ra vụ việc đáng tiếc như vừa qua. Từ vụ việc này, Thạc sĩ, nhà báo Phan Văn Tú, Trưởng bộ môn Báo chí, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã lên tiếng cảnh báo sinh viên: Trong thời đại 4.0 này, người sử dụng tin tức rất dễ dính bẫy tin giả, kể cả nhiều người uy tín; vì việc tiếp cận thông tin phụ thuộc vào nhiều nguồn, từ bối cảnh, môi trường, bạn bè... Cần phải tỉnh táo và cố gắng tránh chạy theo tâm lý “bầy đàn”, dễ bị cuốn vào cơn “lên đồng” tập thể...
     Những yếu tố chủ quan từ nguồn tin dẫn đến tin tức chưa được kiểm chứng bị kẻ xấu lợi dụng tung tin giả, thực hiện chiến dịch truyền thông với mưu đồ xuyên tạc, phá hoại... như thế nào, sẽ được cơ quan điều tra làm rõ, xử lý hợp tình hợp lý. Nhưng đây là bài học đắt giá cho các bạn trẻ. Đừng vì một phút bốc đồng, nông nổi mà gián tiếp gây hậu quả xấu cho đời sống xã hội. Còn những đối tượng cố tình cắt ghép, dàn dựng, tán phát, lan truyền thông tin thất thiệt, thể hiện rõ ý đồ, mưu đồ xuyên tạc, phá hoại... thì phải sớm được điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Khi những hành vi này bị lôi ra trước ánh sáng công lý thì các đối tượng có tư tưởng thù địch chuyên “bẻ lái” thông tin trên không gian mạng để lèo lái dư luận mới hết cớ xuyên tạc.
     Việt Nam tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nhưng mọi công dân đều phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Không thể tự nhiên chủ nghĩa lợi dụng không gian mạng để tung tin thất thiệt xúc phạm, hạ bệ danh dự, uy tín tập thể, cá nhân. Phải nghiêm trị các hành vi vi phạm pháp luật để răn đe và cảnh tỉnh, không để những vụ việc tương tự tái diễn.
Theo qdnd.vn./.
Yêu nước ST.

KINH NGHIỆM XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG NHÌN TỪ VỤ HULFIT!

         Câu chuyện Hulfit đã ngã ngũ, chẳng hề có chuyện hiếp râm tập thể, chẳng có một vụ nữ sinh nào quyên sinh tự tử… tất cả là một cuộc khủng hoảng truyền thông do chính những bàn tay lông lá kết hợp với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận mạng gây nên. 
     Nhưng phải nói rằng, phía quân đội đã có pha xử lý khủng hoảng truyền thông này cực hay, với một loạt công việc như:
- Lập tức xác minh làm rõ thông tin, bản chất vụ việc.
- Khẩn trương tổ chức họp báo cung cấp thông tin chính thống, đặc biệt trong họp báo mời các “nhân vật chính” có liên quan để trực tiếp cung cấp thông tin.
- Đề nghị khởi tố vụ án điều tra kèm theo khuyến cáo mọi người không lan truyền thông tin xuyên tạc.
     Thông tin xấu độc rõ ràng sẽ không có đất sống khi thông tin chính thống vào cuộc sớm và minh bạch!
     Hy vọng chuyện của Hulfit sẽ là bài học quý cho mỗi chúng ta khi xử lý khủng hoảng truyền thông.
     Sống trong thời đại công nghệ số này, ai, cơ quan nào cũng có thể trở thành nạn nhân của khủng hoảng truyền thông!
Yêu nước ST.

ĐOÀN THỊ THÙY DƯƠNG ĐẸP ĐẤY, NHƯNG LẠI MANG VẺ ĐẸP ĐU CÀNG, VONG QUỐC!

     Đây là Đoàn Thị Thùy Dương, quê ở Long An, hiện đang trốn chui trốn lủi ở Na Uy - một tên phản động từng tự ứng cử đại biểu Quốc hội để leo cao chui sâu vào bộ máy công quyền Việt Nam nhưng đã bị nhân dân phát giác là tên phản động và bị nhân dân loại ngay từ vòng hiệp thương đầu tiên. 
     Từ khi tị nạn ở Na Uy Dương cấu kết với tổ chức khủng bố Việt tân và các tổ chức phản động, chuyên sử dụng mạng xã hội đăng tải các bài viết, hình ảnh xuyên tạc, kích động, vu cáo chính phủ Việt Nam, ca ngợi những kẻ mang dong máu đu càng ba sọc chống phá khiến dư luận Việt Nam hết sức phẫn nộ.
    Gần Tết, nhớ quê hương, Dương lại khoác lên mình cái dẻ ba sọc - biểu trưng cho những kẻ tay sai, cõng rắn cắn gà nhà, bán nước hại dân rồi nói lên mấy dòng "vì sao Cộng sản sợ màu sắc này"
     Nực cười ghê, một chế độ ăn tàn phá hoại, từng bị quân và dân Việt Nam đánh cho chạy tụt quần, đu càng mà phải sợ cái dẻ rách.
     Sợ là sợ Dương và bầy ổ phản động kích động dắt mũi những kẻ cực đoan và kém hiểu biết quấy nhiễu đất nước, phá hoại bình yên, ấm no hạnh phúc của nhân dân chứ sợ gì cái dẻ vứt đầy đường ngày 30/4 ấy. 
     Dương đẹp đấy, nhưng mang vẻ đẹp đu càng, tụt quần, vong quốc!
    Cái kiếp của cái dẻ vàng này có ngàn năm sau kẻ nào quấn vào cũng sẽ mang kết cục như Dương!
Yêu nước ST.

CÓ TRỘN LẪN VÀO NHAU ĐƯỢC KHÔNG?

         Nói một cách tổng quát, hiện nay trên thế giới có hai dòng chảy - một dòng phương tây và một dòng phương đông. Cho đến nay, hai dòng cùng chảy song song, chưa bao giờ trộn lẫn vào nhau, đang dần hình thành hai cực riêng biệt. Cực phương tây do Mỹ dẫn đầu đang cố gắng duy trì hiện trạng thế giới đơn cực. Dòng chảy phương đông không có ai dẫn đầu, song các nước đã nhận ra rằng, thế giới này không thể duy trì trạng thái đơn cực, thế là nhiều nước tự nguyện nhập lại với nhau, phát huy thế mạnh của mỗi nước để chống lại thế đơn cực.
     Tại sao những dòng chảy trên thế giới lại không hòa hợp được với nhau, dù rằng từ thuở khai sinh lập địa, tất cả giống người hiện nay đều xuất thân từ một gốc? Phải chăng điều kiện tự nhiên nơi từng nhóm người sống khác nhau đã hình thành tính cách khác nhau?
     Phương tây nhìn về mặt trời xem đêm ngày cho việc chăn thả; phương đông quan sát mặt trăng để canh con nước cho việc trồng trọt. Ấy là lẽ tự nhiên khiến đông tây đôi đường cách biệt. 
     Người phương tây có tính cách đáng quý là tính sáng tạo cao nhưng lại là một tộc người đề cao cái tôi quá mức. Tức là chủ nghĩa vị kỷ như bài viết của tôi có tựa đề “Cái tôi” đã nói rồi. Từ chủ nghĩa vị kỷ, kẻ có quyền lực đã bắt kẻ khác làm nô lệ cho mình. Có lẽ vì vậy mà khi người da trắng xâm chiếm vùng Bắc Mỹ đã hình thành chế độ nô lệ. Mặc dù cuộc nội chiến ở giữa thế kỷ 19 trên nước Mỹ đã xóa bỏ chế độ nô lệ, song tư duy về nó vẫn thể hiện trong trình trạng phân biệt chủng tộc hiện nay ở Hoa Kỳ.
     Ở một số nước ở châu Âu, tuy là một nước có thể chế “dân chủ tư sản” song vẫn duy trì ngôi vua, chúng ta thường gọi là chế độ “quân chủ lập hiến”. Ở những nước này tuy không còn tình trạng “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, song vẫn duy trì một thứ tôn ty trật tự ở một mức độ nào đó. Các nước này, về căn bản khác với Hoa Kỳ. Vì từ ngày lập quốc, Hoa Kỳ chưa bao giờ trải qua thời kỳ phong kiến mà đi thẳng vào chủ nghĩa tư bản phát triển. Trải qua gần 300 năm phát triển, chủ nghĩa tư bản Mỹ tuy có những cải cách song tính cạnh tranh vẫn là chủ đạo. Vì như thế nên trong mỗi con người đã hình thành tính ích kỷ, thực dụng, không ngại dối trá và lừa lọc để giành phần có lợi về mình.
     Nhà nghiên cứu Hamada Kazuyuki viết trong sách “Cường quốc trong tương lai” rằng, “khó mà gọi quốc gia nào đó là một cường quốc, nếu quốc gia đó không có sự rộng lượng tiếp nhận tính đa dạng”. 
     Một cường quốc giàu có về vật chất thì cũng chỉ như một trọc phú. Có tiền mà thiếu cái tâm. Tôi nghĩ thế.
Khái quát về dòng chảy phương tây là như vậy.

     Dòng chảy phương đông thì trái ngược với phương tây. Người phương đông có tính cộng đồng cao. Không biết nước khác ở phương đông thế nào, còn ở Việt Nam từ xa xưa đã có câu, “chết một đống còn hơn sống một người”. Riêng cái đức tính coi trọng tôn ty trật tự thì rất rõ, tôn trọng người thủ lĩnh của mình, tôn trọng người cao tuổi và đấng sinh thành ra mình. Tuy nhiên, bởi cái tính cộng đồng nên có tình trạng là muốn “cào bằng”, vì ít có sự cạnh tranh nên cũng ít thấy những nhân vật xuất chúng nổi bật lên giữa một cộng đồng. Nước Trung Hoa từng là cái nôi về những phát minh ra nhiều thành tựu của nhân loại, song rồi cũng bị mai một để dành vị trí đó cho các nước phương tây. Cũng như vậy, hầu hết những người đoạt giải Nobel khoa học trên thế giới có mấy người phương đông?
     Chính vì nhận thức được những điểm ưu việt của cạnh tranh, nên Việt Nam cũng đi lên theo con đường tư do hóa kinh tế, ưu tiên nguyên lý thị trường. Tuy nhiên không thể để thị trường phát triển cạnh tranh một cách vô tổ chức, nên đã đề cao vai trò điều tiết của nhà nước, không để xảy ra tình trạng cá lớn nuốt cá bé và tài nguyên đất nước rơi vào tay một người hay một nhóm người.
     Dòng chảy phương tây đang có hiện tượng phân hóa, một số thành viên biến thành “vật chất trơ” không thể liên kết với các hạt vật chất khác, nếu không muốn nói nó đang ly khai. Còn dòng chảy phương đông giống như dòng nước đổ từ trên núi xuống, luôn có những dòng nước khác nhập vào, làm cho nó ngày càng trở nên lớn hơn, mạnh mẽ hơn.
     Hiện nay, dòng chảy phương tây muốn xóa nhòa đi tất cả những gì của dòng chảy phương đông, kể cả những điểm ưu việt. Vì vậy nhà nước đề ra khẩu hiệu “hòa nhập chứ không hòa tan”, cũng có cái lý của nó. Dân tộc nào cũng có bản sắc riêng của dân tộc đó, dù phát triển đến đâu thì mình vẫn phải là chính mình./.


Ảnh: 1) Hai dòng chảy; 2) Dù có trộn lẫn; 3) Rồi lại tách biệt.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

 

Vai trò của văn hóa chính trị đối với kiểm soát quyền lực chính trị

(LLCT) - Văn hóa chính trị có vai trò quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và thể chế kiểm soát quyền lực chính trị nói riêng; tác động ở nhiều phương diện đối với việc kiểm soát quyền lực chính trị, từ xây dựng thể chế pháp lý đến việc thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị. Để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị, phải nâng cao văn hóa chính trị của các nhà chính trị và người dân.



Văn hóa chính trị là tập hợp các giá trị, thái độ, niềm tin được cộng đồng chia sẻ và nó có thể chi phối, định hướng hoạt động của các cá nhân và tổ chức khi các chủ thể này tham gia vào đời sống chính trị.

Kiểm soát quyền lực chính trị là việc sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp để tác động vào chủ thể mang quyền lực nhằm hạn chế xu hướng tha hóa quyền lực.

Văn hóa chính trị có vai trò và tác động rất lớn đến việc kiểm soát quyền lực chính trị và việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị.

Để kiểm soát quyền lực chính trị phải xây dựng được các thể chế, thiết chế, cơ chế kiểm soát. Văn hóa chính trị tác động đến quá trình này, từ đó góp phần vào việc thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị. Các chủ thể của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền, nghĩa là theo quy định của pháp luật, có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm kiểm soát quyền lực chính trị. Đối tượng bị kiểm soát là các tổ chức và cá nhân nắm giữ và thực hiện quyền lực chính trị, không trừ một ai, một cơ quan nào. Văn hóa chính trị tác động vào giá trị, hành vi chính trị của các chủ thể và đối tượng của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị. Như vậy, sự tác động của văn hóa chính trị đến việc kiểm soát quyền lực chính trị là rất toàn diện.

1. Văn hóa chính trị tác động đến thể chế kiểm soát quyền lực chính trị

Để thực hiện hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị phải có một thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị. Thể chế pháp lý này được biểu hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật, như Hiến pháp, Bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư... liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị và kiểm soát việc thực hiện quyền lực chính trị. Đây chính là các chuẩn mực văn hóa chính trị, làm cơ sở, căn cứ để xây dựng, định hướng và xử lý việc kiểm soát quyền lực chính trị.

Thể thế pháp lý để kiểm soát quyền lực chính trị là những chuẩn mực văn hóa chính trị chính thức có tính rộng rãi, tác động và điều chỉnh các chủ thể chính trị trong quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Thể chế pháp lý liên quan đến kiểm soát quyền lực chính trị là những quy định về nguyên tắc, chủ thể đối tượng, nội dung, hình thức quy trình, thủ tục các biện pháp hậu quả pháp lý của hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị. Các thiết chế kiểm soát quyền lực chính trị là hệ thống tổ chức thực thi hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị dựa trên thể chế liên quan đến kiểm soát quyền lực chính trị. Nếu các thể chế này không giao đủ quyền cho các thiết chế thực thi hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị hoặc các quy định về nội dung, hình thức, thủ tục thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị quá phức tạp thì sẽ khó thực hiện được. Nếu không quy định chặt chẽ về hậu quả pháp lý thì việc kiểm soát quyền lực chính trị cũng chỉ là hình thức, không có tác dụng ngăn ngừa những hành vi trái pháp luật, lạm quyền, lộng quyền trong sử dụng quyền lực chính trị. Đồng thời, thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị còn là những văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị. Nếu các quy định này chặt chẽ thì sẽ khó có kẽ hở để cho những cá nhân, tổ chức (các chủ thể chính trị) thực thi quyền lực chính trị lạm quyền, lộng quyền. Thí dụ như, quy định chặt chẽ về vấn đề nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền, quản lý và sử dụng tài sản công, giao quyền gắn với trách nhiệm rõ ràng, minh bạch...

2. Văn hóa chính trị xác định mục tiêu của chế độ chính trị, là nền tảng trong kiểm soát quyền lực chính trị

Hoạt động quyền lực luôn gắn liền và điều chỉnh bởi mục tiêu chính trị. Thành tố quan trọng trong văn hóa chính trị xác định mục tiêu chính trị là hệ tư tưởng chính trị. Hệ tư tưởng chính trị chỉ ra mục tiêu, đường lối, chiến lược, sách lược, từ đó điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia vào đời sống chính trị. Chỉ ra mục tiêu là cơ sở, căn cứ cho việc xác định mục đích, lợi ích đúng đắn của các chủ thể chính trị, làm cho quyền lực chính trị được thực thi đúng bản chất, hiệu quả và được tự kiểm soát.

Như tất cả các hoạt động khác của con người, hoạt động chính trị cũng là hoạt động có ý thức, hướng đích và được định hướng bởi mục tiêu. Đặc biệt, hoạt động chính trị là hoạt động liên quan đến quyền lực chính trị, ảnh hưởng đến sinh mệnh của số đông trong cộng đồng, vì vậy việc xác định mục tiêu, cũng như hoạt động đúng theo mục tiêu được xác định là điều vô cùng quan trọng, giúp cho hoạt động chính trị đúng mục đích, lý tưởng, quyền lực được thực thi một cách đúng đắn, hiệu quả trong sự kiểm soát. Chỉ khi có mục tiêu rõ ràng, đúng đắn mới có thể xác định được phương pháp hợp lý, cụ thể, trên cơ sở đó hình thành lý tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị vững vàng, tạo thành sức mạnh giúp các chủ thể vượt qua những khó khăn, trở ngại, cám dỗ, đấu tranh với những điều sai trái, chệch hướng, xa rời mục tiêu, lý tưởng và lợi ích đúng đắn. Đó chính là cách thức kiểm soát quyền lực quan trọng và hiệu quả nhất.

Các chủ thể chính trị, chủ thể của quyền lực đồng thời cũng là các đối tượng cần kiểm soát quyền lực chính trị là các cá nhân, tổ chức trong quá trình chính trị, trước hết phải xác định đúng mục tiêu chính trị, hay nói cách khác, phải thấm nhuần và kiên định hệ tư tưởng chính trị mà họ đang theo đuổi, từ đó hình thành động cơ chính trị trong sáng, khoa học, thì quá trình thực thi quyền lực chính trị sẽ đạt hiệu quả cao và trở thành quá trình tự kiểm soát quyền lực chính trị.

Chính mục tiêu chính trị đúng đắn và rõ ràng là cơ sở để hình thành các giá trị chính trị cụ thể, chuẩn mực chính trị, từ đó điều chỉnh hành vi chính trị kiểm soát quyền lực của các chủ thể.

Hoạt động chính trị bản chất là hoạt động gắn với lợi ích. Trên cơ sở hệ tư tưởng, mục tiêu chính trị, các chủ thể chính trị sẽ xác định được lợi ích đúng đắn, phù hợp, đấu tranh với những tư tưởng, lợi ích sai trái, đi ngược lại mục tiêu chính trị của mình. Ngược lại, nếu không xác định được mục tiêu chính trị và không kiên định mục tiêu chính trị sẽ dẫn đến chệch hướng, hoang mang, dao động, làm cho quá trình thực thi quyền lực không những kém hiệu quả, mà còn dễ dẫn đến tình trạng tha hóa, biến chất, lạm quyền, lộng quyền, vì những mục tiêu, mục đích sai trái, mất kiểm soát.

Có thể nói, không xác định và không kiên định hệ tư tưởng chính trị, hoặc xa rời mục tiêu chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng mất kiểm soát quyền lực chính trị, là loại địch từ bên trong, không chỉ nguy hại với chính chủ thể chính trị đó, mà còn đe dọa đến sự an nguy của chế độ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”(1).

3. Văn hóa chính trị định hướng giá trị cho quá trình thực thi quyền lực chính trị, từ đó góp phần vào việc kiểm soát quyền lực chính trị

Văn hóa chính trị là những giá trị, lý tưởng cao đẹp mà con người hướng tới trong hoạt động chính trị. Các giá trị ấy định hướng quá trình thực thi quyền lực của các chủ thể chính trị, bao gồm các cá nhân và tổ chức.

Giá trị văn hóa chính trị định hướng cho quá trình cầm quyền và kiểm soát quyền lực của Đảng.

Cơ chế kiểm soát quyền lực trong đảng, xét theo nghĩa rộng là việc thiết kế, tổ chức và thực thi quyền lực trong đảng sao cho đúng mục đích, hiệu quả nhất. Việc tổ chức và thức thi quyền lực trong đảng, cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực, phải tuân theo các nguyên tắc nhất định: lý tưởng, mục tiêu bản chất của Đảng ta, nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lãnh đạo của Đảng là toàn diện, tuyệt đối, nguyên tắc công khai, minh bạch, nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật... Xét theo nghĩa hẹp, cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng là toàn bộ những cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó Đảng (và xã hội) có thể can thiệp để giữ cho quyền lực trong Đảng được thực thi đúng mục đích, hiệu quả. Giá trị của văn hóa chính trị tham gia vào định hình và điều chỉnh các phương thức kiểm soát đó. Trong đó, giá trị cốt lõi, mục tiêu là căn cứ xuyên suốt để xây dựng và kiểm soát quyền lực của Đảng. Từ đó, các giá trị chính trị cụ thể, được cụ thể hóa thành các chuẩn mực sẽ điều chỉnh và là phương thức kiểm soát quyền lực với Đảng thông qua các chủ thể là đảng viên và tổ chức của Đảng.

Với tư cách là cơ quan cầm quyền, cơ quan lãnh đạo, có thể thấy mỗi đường lối, quyết sách sách của Đảng phải mang một giá trị văn hóa định hướng với toàn hệ thống chính trị và xã hội. Theo đó, tính giá trị của văn hóa chính trị được thấm đẫm trong đường lối, quyết sách và hoạt động của Đảng để ngang tầm với vị thế tiên phong lãnh đạo là một phương thức kiểm soát quyền lực tự thân của Đảng. Nếu các giá trị văn hóa không được xác lập và định hướng trong hoạt động cầm quyền thì Đảng sẽ không thể thực hiện được vai trò lãnh đạo, dẫn dắt trong quá trình thực thi quyền lực.

Giá trị văn hóa chính trị định hướng, dẫn dắt quá trình thực thi quyền lực của Nhà nước.

Trong hệ thống chính trị, hoạt động của Nhà nước là trung tâm của hoạt động chính trị. Thực thi quyền lực nhà nước với 3 quyền cơ bản là lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là những hoạt động chính trị cốt lõi. Sự tác động của văn hóa chính trị đến quá trình thực thi quyền lực nhà nước thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, văn hóa chính trị định hướng cho hoạt động lập pháp của Nhà nước phải vì lợi ích của nhân dân. Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp của Nhà nước. Giá trị văn hóa chính trị định hướng cho quá trình xây dựng pháp luật, chính sách của Nhà nước ta như Đảng ta khẳng định đó là phải phục vụ lợi ích nhân dân “tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được Nhân dân tham gia ý kiến”(2). Vai trò của văn hóa chính trị ở đây chính là những giá trị văn hóa chính trị phục vụ nhân dân, chi phối hoạt động chính trị (xây dựng pháp luật, chính sách của nhà nước) của các chủ thể soạn thảo và thông qua pháp luật sẽ tạo ra cơ chế ngăn ngừa từ bên trong đối với những hoạt động tha hóa, nhũng lạm trong quá trình này, bảo đảm pháp luật phản ánh ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân.

Thứ hai, văn hóa chính trị định hướng cho hoạt động hành pháp của Nhà nước phục vụ lợi ích của nhân dân. Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật và tổ chức đời sống theo pháp luật, bao gồm quyền lập quy và quyền hành chính. Trên thực tế, quyền hành pháp quản lý nguồn lực quốc gia, ngân sách, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, công chức, cung cấp dịch vụ công... Tuy nhiên, quyền này cũng đang chứa đựng những nguy cơ có thể bị những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực thi quyền hành pháp lợi dụng để phục vụ lợi ích cá nhân mà xâm phạm đến lợi ích của nhân dân. Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản dưới luật để đưa các đạo luật vào cuộc sống. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, “khoảng 12% số văn bản được kiểm tra do cơ quan chức năng ban hành đã bị phát hiện có dấu hiệu trái luật”(3). Quyền hành pháp còn là quyền tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội, cung cấp các dịch vụ hành chính công thiết yếu cho người dân. Do đó, quyền hành chính tác động rất lớn đến cuộc sống và các hoạt động kinh tế, xã hội của người dân. Do đó, các chủ thể thực thi quyền hành chính này có thể gây khó dễ, chậm trễ trong việc cung cấp các dịch vụ công ảnh hưởng đến cuộc sống và các hoạt động của người dân sẽ khiến một số công dân chấp nhận bỏ thêm “chi phí” để có được sự nhanh chóng, thuận tiện, từ đó quyền hành chính không hướng tới phục vụ nhân dân mà mang lại lợi ích cho người thực thi quyền lực. Tuy nhiên, khi các hoạt động hành pháp này được sự định hướng của các giá trị văn hóa chính trị sẽ ngăn chặn được các hoạt động lợi dụng quyền hành pháp để mưu lợi riêng bảo đảm cho hoạt động hành pháp hướng tới phục vụ nhân dân. Ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã và đang thể hiện quyết tâm chính trị cao độ, hướng tới xây dựng một chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, vì nhân dân phục vụ(4). Thời gian qua, Nhà nước ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính để xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân tốt hơn như đơn giản hóa thủ tục hành chính tạo thuận tiện cho người dân; cán bộ, công chức có thái độ phục vụ nhân dân, không sách nhiễu nhân dân trong quá trình thực thi công vụ. Như vậy, giá trị chi phối, định hướng cho hoạt động hành pháp ở nước ta cũng chính là phục vụ lợi ích của nhân dân. Khi các giá trị văn hóa chính trị này chi phối suy nghĩ và hành động của các chủ thể thực thi quyền hành pháp sẽ bảo đảm cho quyền hành pháp được thực thi đúng mục đích, đó là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong.

Thứ ba, văn hóa chính trị định hướng cho hoạt động tư pháp của Nhà nước phục vụ lợi ích của nhân dân. Theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013, tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử; là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quy định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Như vậy, quyền tư pháp có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tránh sự xâm phạm từ các cá nhân, tổ chức khác, kể cả sự xâm phạm từ cán bộ và cơ quan nhà nước. Giá trị văn hóa chính trị định hướng cho việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước ta được khẳng định trong Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Khi những giá trị văn hóa chính trị đó thấm sâu vào các chủ thể thực hiện quyền tư pháp sẽ làm cho quyền tư pháp thực hiện đúng mục đích, phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, bảo vệ pháp luật (ý chí, nguyện vọng của nhân dân). Như vậy, các giá trị văn hóa chính trị định hướng cho hoạt động thực hiện quyền tư pháp theo đúng mục đích đặt ra, điều này cũng là mục tiêu của công tác kiểm soát quyền tư pháp.

Các giá trị văn hóa chính trị cũng góp phần định hướng hoạt động thực thi quyền lực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân, đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước. Các giá trị văn hóa chính trị góp phần phát huy truyền thống lịch sử của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong quá trình thực thi quyền lực, cũng như giúp cho các tổ chức này xác định vị trí, mục tiêu chính trị, kiểm soát hoạt động và đẩy mạnh sức mạnh của mình, nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động, cũng như khả năng kiểm soát quyền lực chính trị.

4. Văn hóa chính trị tác động đến năng lực, ý thức của chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị và đối tượng kiểm soát quyền lực chính trị

Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị có hoàn thiện đến đâu nhưng chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị không có văn hóa chính trị, không có đủ năng lực và tính tích cực trong thực hiện quyền kiểm soát quyền lực đã được pháp luật quy định thì hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị trên thực tế sẽ không diễn ra hoặc diễn ra không hiệu quả. Do đó, văn hóa chính trị của các chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị tác động rất lớn, thậm chí quyết định đến hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị. Đồng thời, văn hóa chính trị của đối tượng kiểm soát quyền lực chính trị (cá nhân, tổ chức thực thi quyền lực chính trị) cũng ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị.

Chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị bên trong hệ thống chính trị như Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực bên ngoài bao gồm: các cơ quan bên ngoài (ví dụ: Nhà nước chịu sự kiểm soát của Đảng, giám sát của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội), những người công tác chuyên trách và hội viên của Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, thành viên tham gia các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, thanh tra nhân dân, phương tiện truyền thông, cơ quan báo chí và những người dân cụ thể. Văn hóa chính trị trang bị những tri thức, năng lực cần thiết cho hoạt động chính trị, giúp các chủ thể hiểu biết về phương thức tổ chức và vận hành của quyền lực chính trị, qua đó mỗi cá nhân ý thức rõ hơn vai trò cũng như nghĩa vụ và bổn phận của mình trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, giúp họ nhận thức rõ trách nhiệm tham gia kiểm soát quyền lực chính trị của mình cũng như biết rõ thầm quyền, trình tự, thủ tục kiểm soát quyền lực để họ tham gia kiểm soát quyền lực chính trị đúng luật định. Văn hóa chính trị của các chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị bao gồm tri thức chính trị, kinh nghiệm chính trị, năng lực hoạt động chính trị giúp các chủ thể này có năng lực để thực hiện các hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị có hiệu quả. Chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị phải có tri thức, hiểu biết chính trị để phân tích, đánh giá mới lựa chọn được người có đủ năng lực, phẩm chất để họ “chọn mặt gửi vàng”. Chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị phải có tri thức, kinh nghiệm chính trị mới phát hiện ra những quy định pháp luật bất hợp lý là sự cài cắm lợi ích của những người soạn thảo luật hoặc những quy định pháp luật sẽ cản trở việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân để có những đóng góp loại bỏ các quy định đó cũng như có khả năng đề xuất các quy định pháp luật hợp lý hơn.

Các chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực chính trị phải có tri thức, kinh nghiệm chính trị để phát hiện ra những hoạt động trái pháp luật trong thực thi quyền lực chính trị để có cảnh báo, đưa ra những hậu quả pháp lý để ngăn chặn những hành vi đó. Do đó, nếu không có văn hóa chính trị thì các chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực không biết quyền và cách thức tham gia kiểm soát quyền lực chính trị, hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị của họ có diễn ra cũng không hiệu quả.

Hơn nữa, nếu các chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị không có lý tưởng chính trị là xây dựng một chế độ phục vụ lợi ích nhân dân định hướng cho hoạt động của họ, thậm chí họ còn muốn lợi dụng hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị để tranh giành địa vị, đưa ra những ý kiến thiếu tính xây dựng, làm cho hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị không đúng mục đích là để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền lực chính trị. Nếu không có văn hóa chính trị, thậm chí các chủ thể sẽ không thực hiện quyền kiểm soát quyền lực chính trị của mình đã được pháp luật trao cho. Văn hóa chính trị còn là tình cảm, niềm tin, lý tưởng chính trị quyết định đến ý thức, thái độ, tính tích cực chính trị của các chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị. Nếu các chủ thể này có văn hóa chính trị cao, có mong muốn, quyết tâm xây dựng một chế độ chính trị của dân, do dân, vì dân, có tinh thần vì lợi ích chung họ sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị để thực hiện các giá trị, lý tưởng chính trị đó.

Như vậy, sự tác động của văn hóa chính trị đến hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị là rất lớn, từ xây dựng thể chế pháp lý đến tổ chức thực hiện hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị. Văn hóa chính trị không chỉ tác động đến hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị từ bên ngoài mà còn tác động đến cơ chế tự kiểm soát (kiểm soát từ bên trong) quyền lực chính trị của các chủ thể thực thi quyền lực chính trị. Văn hóa chính trị tồn tại trong từng chủ thể chính trị cụ thể, trong thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị, tác động đến tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị. Từ sự tác động mạnh mẽ của văn hóa chính trị đối với hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị chúng ta thấy để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị cần chú ý nâng cao văn hóa chính trị của các đối tượng này (văn hóa chính trị của các nhà chính trị và của người dân).

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2020

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.278.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.169.

(3) Nguyễn Bá Chiến, Bùi Huy Tùng: Bàn về kiểm soát quyền lực nhà nước với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8 năm 2012

(4) Nguyễn Thị Phượng: Chính phủ liêm chính và kiến tạo từ lý thuyết tới thực tiễn, http://noichinh.vn, ngày 1-2-2017.

Nguồn : ThS Cao Phan Giang

ThS Vũ Thị Hồng Trang

 

Cơ chế bảo đảm quyền con người trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

(LLCT) - Hiệp định thương mại tự do - free trade agreement (FTA) thế hệ mới được nhiều quốc gia lựa chọn trong quá trình hợp tác đa phương với các nước trong khu vực và trên thế giới bởi những lợi ích đem lại trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó bao hàm cả cơ chế bảo đảm quyền con người ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, việc ký kết và gia nhập các FTA thế hệ mới cũng có những trở ngại nhất định trong việc bảo đảm quyền con người. Bài viết khái quát về cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới thông qua việc mô tả thiết chế và thể chế được thiết lập cho quá trình thực thi các điều khoản nhằm bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới, đồng thời chỉ ra một số ưu điểm cũng như hạn chế của cơ chế này.

Cơ chế bảo đảm quyền con người trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Từ khóa: cơ chế bảo đảm quyền con người, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Có thể thấy, từ rất sớm, các hiệp định quốc tế, bao gồm cả hiệp định về thương mại hay hợp tác và viện trợ phát triển thường gắn liền với các điều khoản về quyền con người. Ban đầu, các điều khoản này trong các FTA giữa EU với các đối tác được đưa ra nhằm thiết lập một cơ chế pháp lý cho phép EU đình chỉ nghĩa vụ theo các thỏa thuận quốc tế trong các tình huống vi phạm nghiêm trọng về quyền con người. Sau này, các điều khoản về quyền con người được xây dựng nhằm đưa vấn đề quyền con người trở thành đối tượng của các cơ chế đối thoại và hợp tác chính trị, từ đó tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại tương ứng với mức độ nghiêm trọng của các vi phạm quyền con người(1).  Để các điều khoản bảo đảm quyền con người được thực thi trên thực tế, các FTA thế hệ mới(2) đã xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện các điều khoản này.

Trên lĩnh vực quyền con người, trong các tài liệu chuyên môn, cụm từ “cơ chế của Liên Hợp quốc về quyền con người” (United Nations human rights mechanism) được sử dụng để chỉ bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên Hợp quốc thiết lập để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Theo đó, đề cập đến cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới là đề cập đến các thiết chế (các cơ quan, tổ chức) và thể chế (các nguyên tắc, trình tự, thủ tục) được các quốc gia thành viên của FTA thiết lập nhằm thực thi các điều khoản bảo đảm quyền con người được quy định trong các FTA.

1. Các thiết chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới

Mặc dù cấu trúc của các thiết chế bảo đảm quyền con người trong mỗi FTA thế hệ mới có thể thay đổi tùy theo thỏa thuận, tùy thuộc vào kết quả của các cuộc đàm phán, tuy nhiên các thiết chế này thường bao gồm: i) một “Ủy ban cấp cao” (chịu trách nhiệm giám sát thực hiện các chương liên quan đến thương mại, lao động và phát triển bền vững); ii) một số ủy ban chuyên trách; và iii) các nhóm cố vấn là các “Diễn đàn xã hội dân sự” (để tạo điều kiện đối thoại về các vấn đề lao động và phát triển bền vững). Trong đó, các thành viên của diễn đàn này bao gồm “các nhóm tư vấn trong nước” để thực hiện cơ chế tham vấn. Các nhóm tư vấn trong nước sẽ do mỗi bên thành lập với mục đích thu thập quan điểm, ý kiến đánh giá cũng như đưa ra những khuyến nghị trong phạm vi quyền hạn của mình. Các nhóm này thường được tạo thành từ đại diện các doanh nghiệp, công đoàn và các tổ chức xã hội dân sự(3).

Chẳng hạn, tất cả các hiệp định kể từ FTA giữa EU với Hàn Quốc đều có định dạng ba bên, trong đó có: i) Các ủy ban gồm các quan chức nhà nước của hai bên được thành lập để giám sát việc thực hiện các cam kết về quyền con người; ii) Các nhóm tư vấn trong nước (DAG) bao gồm đại diện của doanh nghiệp, công đoàn, tổ chức phi chính phủ (NGO) và đôi khi là giới học thuật; iii) Một hội đồng chuyên gia điều tra các khiếu nại do các bên đưa ra(4).  Cụ thể, trong FTA giữa EU và Hàn Quốc, quy định lập ra một Ủy ban về Thương mại và Phát triển bền vững bao gồm các thành viên của Ủy ban EU và của Chính phủ Hàn Quốc và các nhóm tư vấn trong nước, bao gồm các đại diện của xã hội dân sự. Thành viên của các nhóm tư vấn trong nước bao gồm các thành viên của liên đoàn lao động, tổ chức môi trường, tổ chức doanh nghiệp cũng như các bên liên quan khác. Các nhóm tư vấn này sẽ thực hiện nhiệm vụ tư vấn về việc thực hiện các điều khoản. Theo một điều khoản hợp tác chung được quy định trong FTA này, các bên cam kết mở đối thoại trên danh sách 13 chủ đề liên quan đến các hoạt động hợp tác về đánh giá tác động đối với quyền lao động của quá trình tự do hóa, về các khía cạnh liên quan đến thương mại của chương trình nghị sự ILO và hợp tác ở cấp độ đa phương trong WTO và ILO. Theo thỏa thuận chung, đại diện của các bên sẽ gặp nhau thường xuyên để thảo luận về việc thực hiện chương về lao động và phát triển bền vững(5). Như vậy, thay vì chỉ sử dụng các báo cáo chính thức của Liên hợp quốc hay của ILO như trong thiết chế của WTO thì các FTA thế hệ mới thiết lập thiết chế để sử dụng đến sự tư vấn giám sát và khả năng phân xử độc lập khách quan của các nhóm chuyên gia, mặc dù việc sử dụng cơ chế này là không thường xuyên(6).

2. Thể chế bảo đảm quyền con người trong FTA thế hệ mới

Thể chế bao gồm các quy định cho sự vận hành của các thiết chế bảo đảm quyền con người và các điều khoản thực thi các cam kết về quyền con người. Thông thường, các điều khoản bảo đảm cho quá trình thực thi các quy định về quyền con người trong các FTA thế hệ mới được chia thành ba nhóm cơ bản như sau:

 (1) Nhóm những điều khoản thực thi mang tính chất điều kiện (conditional labour provisions) là các điều khoản sử dụng các điều kiện để buộc các quốc gia tham gia phải thực hiện các cam kết. Trong trường hợp các quốc gia ký kết hiệp định không thực hiện cam kết của mình thì các quốc gia này có thể phải chịu hậu quả về kinh tế, dưới dạng phạt tiền hay trừng phạt thương mại. Loại hiệp định có điều kiện này thường được Mỹ và Canada sử dụng. Những điều khoản mang tính chất điều kiện thường đưa ra các tiêu chuẩn liên quan đến lao động, đến quyền con người và sử dụng các điều kiện để khuyến khích các quốc gia thành viên thực hiện, áp dụng các tiêu chuẩn đó. Một bên sẽ nhận được ưu đãi (incentives) nếu thực hiện đúng theo cam kết, trong một số trường hợp có thể bao gồm cả những lợi ích khác như việc hợp tác kỹ thuật nếu áp dụng quy chuẩn về lao động theo thỏa thuận. Ngược lại, trong trường hợp các quốc gia không áp dụng hay thực hiện các tiêu chuẩn được đề cập, bên còn lại sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt (sanctions).

(2) Nhóm những điều khoản thực thi mang tính chất khuyến khích (promotional labour provisions). Các điều khoản này không gắn việc thực hiện điều khoản lao động (hay quyền con người) với hậu quả kinh tế mà đưa ra một khuôn khổ để các bên đối thoại, hợp tác và giám sát lẫn nhau nhằm cải thiện tiêu chuẩn, điều kiện lao động tại các quốc gia thành viên. Có thể thấy những điều khoản mang tính khuyến khích trong các hiệp định của Liên minh châu Âu (EU) với  New Zealand hay các hiệp định Nam - Nam. Những điều khoản này thường thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động, các quyền con người thông qua việc tác động đến lợi ích hay giá trị kinh tế của mỗi quốc gia. Trong trường hợp quốc gia tuân thủ những tiêu chuẩn, biện pháp đã được ghi nhận trong hiệp định, các quốc gia sẽ được hưởng những lợi ích kinh tế nhất định, ví dụ như tăng hạn ngạch xuất khẩu. Nhưng nếu các quốc gia vi phạm và không khắc phục được hiện trạng theo các điều khoản đã thỏa thuận, các quốc gia này sẽ phải đóng một khoản tiền (dưới hình thức đóng góp vào quỹ lao động). Các điều khoản mang tính khuyến khích có thể thực thi ở cả hai cấp độ là quốc gia và doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, hầu hết các FTA thế hệ mới đều có những điều khoản mang tính khuyến khích. Những điều khoản này chiếm khoảng 60% tổng số quy định về lao động trong những hiệp định cấm vận thương mại, cả trong quá khứ và hiện tại và là một trong những biện pháp được áp dụng để đối phó với các hành vi vi phạm quyền con người và các nguyên tắc dân chủ.

(3) Nhóm các quy định liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp để giải quyết các vụ việc trong trường hợp hai bên có phát sinh các bất đồng. Khác với cơ chế giải quyết tranh chấp trong các Công ước của ILO, các FTA thế hệ mới cho phép các bên sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp đình chỉ hiệp định hoặc áp dụng các biện pháp trả đũa đối với bên kia. Biện pháp này sẽ có ba tác động tức thì đối với quyền lao động: Thứ nhất, nó sẽ chấm dứt một hình thức pháp luật ngoại lệ khá cực đoan chống lại quyền lao động trong luật thương mại quốc tế, theo đó có một khoảng cách rõ ràng giữa các công cụ thực thi của Công ước ILO và các công cụ để thực thi luật thương mại và quyền sở hữu trí tuệ. Thứ hai, nó cung cấp cho các bên tham gia thỏa thuận các công cụ pháp lý để thực thi các Công ước cốt lõi của ILO trong trường hợp không có sự hợp tác của bên kia. Cuối cùng, nó thiết lập một cơ chế thực thi hiệu quả các quyền lao động trong trường hợp một trong các quốc gia thành viên vẫn tiếp tục không tuân thủ phán quyết của hội đồng trọng tài do thiếu tôn trọng Công ước ILO bằng việc tạm thời đình chỉ hiệp định thương mại tự do hoặc thiết lập các biện pháp trả đũa thương mại đối với nước kia.

Ngoài ba nhóm quy định thực thi nêu trên, một số FTA thế hệ mới có các quy định liên quan đến “quyền điều chỉnh”. Ví dụ trong Hiệp định thương mại giữa EU và Hàn Quốc có những điều khoản được các học giả cho là có vai trò làm suy yếu giá trị ràng buộc của phần còn lại của văn bản. Đây là những phần của điều khoản xác định “quyền điều chỉnh”. Các điều khoản được đưa vào không nhằm mục đích điều hòa các tiêu chuẩn lao động mà để xác định cách thức giải quyết vấn đề trong trường hợp có xung đột giữa bất kỳ phần nào của hiệp định thương mại tự do và một trong các Công ước của ILO được liệt kê trong điều khoản phát triển bền vững. Trong những trường hợp này, các quốc gia sẽ giải quyết theo hướng bảo đảm tự do hóa thương mại. Theo đó, các quyền lao động không được cản trở quá trình tự do hóa và các quốc gia vẫn được tự do xác định mức độ bảo hộ lao động của mình. Như vậy, các điều khoản điều chỉnh cung cấp một khoảng thời gian rộng rãi cho các quốc gia thành viên để họ thỏa thuận nhằm điều chỉnh luật lao động của mình, thậm chí bỏ qua các tham chiếu ràng buộc đối với Công ước ILO.

3. Ưu điểm và hạn chế của cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới

Có thể nhận thấy hai ưu điểm căn bản của cơ chế bảo đảm quyền con người trong FTA thế hệ mới như sau:

 Thứ nhất, cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới đã thiết lập được cơ chế pháp lý rõ ràng cho việc thực thi các điều khoản về quyền con người, nhất là các điều khoản về lao động và môi trường.  Mặc dù từ rất sớm, các hiệp định thương mại quốc tế thường có các điều khoản về quyền con người, tuy nhiên các điều khoản này trong các hiệp định thương mại trước đây thường khó được bảo đảm thực thi trên thực tế do thiếu cơ chế pháp lý. Ngày nay, các FTA thế hệ mới đã tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc để các quyền con người có thể được thực thi trên thực tế. Có thể thấy các điều khoản về quyền con người trong các FTA giữa EU với các đối tác ban đầu được đưa ra nhằm thiết lập một cơ chế pháp lý cho phép EU đình chỉ nghĩa vụ theo các thỏa thuận quốc tế trong các tình huống vi phạm nghiêm trọng quyền con người. Nó bắt nguồn từ sự kiện diễn ra trong những năm 1970, khi EU muốn đình chỉ các khoản viện trợ phát triển của mình cho Uganda để đáp lại những hành động tàn bạo do chế độ độc tài gây ra, nhưng thiếu cơ chế pháp lý để thực hiện điều đó. Sau này, trong các hiệp ước thương mại song phương và đa phương, EU luôn đưa ra các điều khoản về quyền con người để khẳng định cam kết của các bên và tầm quan trọng của những quyền này nhằm đạt được mục tiêu phát triển. Đồng thời nó cũng là cơ sở pháp lý để các bên có thể đưa các điều khoản về quyền con người vào thực thi trong thực tế. Có thể thấy các tham chiếu đầu tiên về quyền con người trong hiệp định của EU với các đối tác ở châu Phi, Caribe và Thái Bình Dương vào năm 1989  hay các các thỏa thuận của EU với một số quốc gia Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu được ký kết trong những năm hay các thỏa thuận vào năm 1992 với Brazil, các nước thuộc Hiệp ước Andean, các quốc gia vùng Baltic và Albania. Đến năm 1995, Cộng đồng châu Âu đã thiết lập một chính sách trong đó gắn các các điều khoản liên quan đến quyền con người trong tất cả các hiệp định thương mại thế hệ mới của mình(7).

Thứ hai, việc thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp trên lĩnh vực quyền con người giúp các quốc gia thành viên hạn chế những điểm yếu trong cơ chế bảo vệ quyền con người trong các Công ước của ILO. Phần lớn các tiêu chuẩn về lao động và quyền con người trong các FTA thế hệ mới đều dẫn chiếu theo các Công ước cơ bản của ILO. Tuy nhiên, khác với WTO, nơi các cam kết ghi nhận trong các hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc được bảo đảm thực thi bởi một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc và biện pháp trả đũa thương mại giữa các nước thành viên, các quy định bảo vệ quyền lao động trong ILO không có cơ chế thực thi như vậy(8). Do đó, nếu sử dụng cơ chế của ILO, trường hợp một trong các quốc gia thành viên vi phạm một trong các Công ước của ILO được đề cập trong các hiệp định thương mại tự do, lựa chọn khả thi duy nhất cho bên tư nhân bị ảnh hưởng là vận động chính phủ của mình bắt đầu một trong các cơ chế hợp tác chính trị thông qua đối thoại, đàm phán. Trong trong trường hợp không có sự bảo vệ trong nước, hiệp ước không cung cấp bất kỳ biện pháp bảo vệ pháp lý bổ sung nào để bảo đảm việc bảo vệ cá nhân khỏi vi phạm quyền lao động của họ cũng như nếu vi phạm liên quan đến các tiêu chuẩn lao động cốt lõi thì tốt nhất, các công ty, doanh nghiệp, tổ chức tư nhân có thể cố gắng thúc đẩy chính phủ của họ thành lập một Ủy ban gồm các chuyên gia giải quyết những vi phạm lao động. Tuy nhiên, ngay cả trong tình huống mà nhà nước sẵn sàng giải quyết vấn đề, điều này sẽ không vượt ra ngoài các công cụ ngoại giao và việc thực thi pháp luật sẽ là không thể. Do đó, cơ chế bảo vệ quyền lao động trong các Công ước của ILO được đánh giá có nhiều hạn chế. Thực tế thực thi các cam kết về quyền con người những năm qua cho thấy vẫn còn nhiều quốc gia thành viên vẫn tiếp tục không tuân thủ phán quyết của hội đồng trọng tài do thiếu tôn trọng Công ước ILO và do cơ chế thực thi thiếu tính ràng buộc mạnh mẽ. Các công ước của ILO chủ yếu vẫn dựa trên sự tự nguyện thi hành của các bên. Do đó, tình trạng vi phạm về nhân quyền vẫn xảy ra ở một số quốc gia, ngay cả các quốc gia thành viên của Công ước. Vì vậy, việc gắn nghĩa vụ bảo đảm quyền con người với các quyền lợi về thương mại mà các FTA thế hệ mới tạo ra sẽ tạo ra động lực thúc đẩy các quốc gia thành viên tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về bảo đảm quyền con người(9).

Mặc dù được đánh giá là có nhiều ưu điểm, nhưng cơ chế bảo đảm quyền con người trong FTA thế hệ mới vẫn bộc lộ một số hạn chế, đó là:

Thứ nhất, các cam kết trong các FTA thế hệ mới về nguyên tắc là những cam kết giữa các chính phủ, nhưng các cam kết này không tự thân tạo ra những quyền, cũng như nghĩa vụ pháp lý cho các thể nhân, pháp nhân và trên thực tế, rất ít các quốc gia thừa nhận các cam kết này có giá trị áp dụng trực tiếp. Điều này dẫn đến khả năng vận dụng những quy định chứa đựng trong các điều khoản bảo đảm quyền con người thường rất hạn chế(10). Nghiên cứu của Meredith Kolsky Lewis (2014) cho thấy rằng “ngay cả khi các điều khoản về quyền con người trong các FTA hiện tại đang có những tác động tích cực, những thỏa thuận này không đến được với con người quan trọng nhất”(11).

Thứ hai, các thiết chế bảo đảm quyền con người được các FTA thế hệ mới thành lập thường hoạt động thiếu hiệu quả do các thiết chế này không phát huy vai trò của các tổ chức thành viên. Điều này liên quan đến việc thiếu các quy định rõ ràng cho sự hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, đồng thời thiếu vắng cả các cơ chế theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các thiết chế. Vai trò giám sát, đánh giá của các tổ chức xã hội dân sự trong thiết chế bảo đảm quyền con người trong FTA thế hệ mới hiện được cho là thiếu rõ ràng. Mặc dù các nhà hoạch định chính sách thương mại của EU liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của các cơ chế giám sát, họ coi việc thiết lập cơ chế giám sát với sự tham gia của các tổ chức thuộc xã hội dân sự như một phương tiện thu thập thông tin, tuy nhiên vai trò này của các tổ chức giám sát không được diễn tả rõ ràng trong các FTA thế hệ mới. Các hiệp định này thường chỉ đề cập một cách khá mơ hồ về vai trò của các nhóm tư vấn trong nước như là một tổ chức cung cấp “quan điểm” và “lời khuyên” tạo điều kiện cho việc “đối thoại”.

Thứ ba, các điều khoản trong FTA thế hệ mới cũng cho phép tạo ra sự linh hoạt cần thiết để các bên điều chỉnh phản ứng của họ cho phù hợp với điều kiện địa phương, nhưng việc làm này có thể dẫn đến sự mâu thuẫn trong cách tiếp cận giữa các đối tác thương mại khác nhau hoặc dẫn đến sự không hành động. Do đó, hiệu quả của các cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong chính phủ và các ưu tiên chính trị(12). Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh mỗi quốc gia tham gia đàm phán và thực hiện FTA đều có những mục tiêu chính trị khác nhau, do đó họ có thể chú trọng vào các lợi ích kinh tế hơn là các vấn đề về quyền con người(13).

Hiện nay, Việt Nam đã ký kết và tham gia các FTA thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU - EVFTA. Do vậy, Việt Nam cần chú trọng phát huy những ưu điểm căn bản của cơ chế bảo đảm quyền con người trong các FTA thế hệ mới, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của các FTA này đến việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2020

* Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp bộ: Bảo đảm quyền con người trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Những vấn đề lý luận và pháp lý đối với Việt Nam hiện nay, do PGS, TS Lê Văn Trung làm Chủ nhiệm, Học viện Chính trị quốc gia là cơ quan chủ trì.

(1) “Human rights in EU trade agreements”, (https://www.europarl.europa.eu/RegData/

etudes/BRIE/2019/637975/EPRSBRI(2019)637975_EN.pdf.

(2), (9) Ngô Quốc Chiến: Các giá trị nhân quyền thông qua các hiệp định thương mại tự do và thách thức đối với Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 08(384)-2019, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210300.

(3), (12) Jennifer Zerk (2019): Human Rights

Impact Assessment of Trade Agreements, https://www.chathamhouse.org/sites/default/files/2019-2-18 HumanRightsTradeAgreements.pdf.

(4), (5) Giovanni Gruni (2017): “Labor Standards in the eu-South Korea Free Trade Agreement” (https://brill.com/view/journals/kjic/5/1/article-p100_6.xml?language=en).

(6) Isabelle Loannides, 2017, The effects of human rights related clauses in the EU-Mexico Global Agreement and the EU-Chile Association Agreement, https://eulacfoundation.org/en/system/files/the_effects_of_human_rigth.pdf), p.34.

(7)“Human rights in EU trade agreements,” (https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/BRIE/2019/637975/EPRS_BRI(2019)637975_EN.pdf.

(8), (10) Nguyễn Tiến Vinh: Bảo vệ quyền con người trong khuôn khổ các hiệp định thương mại của WTO trong cuốn sách của Lê Thị Hoài Thu, Vũ Công Giao: Ảnh hưởng thương mại tự do đến nhân quyền, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr.81, 79.

(11) Meredith Kolsky Lewis (2014): Human Rights Provisions in Free Trade Agreements: Do the Ends Justify the Means?, 12 Loy. U. Chi. Int’l L. Rev. 1 (2014), htt://lawecommons.luc.edu/lucilr/vol12/iss1/2.

(13) Nguyễn Minh Tâm: Về ảnh hưởng của các hiệp định thương mại tự do với quyền con người trong cuốn sách của Lê Thị Hoài Thu, Vũ Công Giao: Ảnh hưởng thương mại tự do đến nhân quyền, Nxb Hồng Đức, tr.25.

Nguồn : PGS, TS Lê Văn Trung

Viện Quyền con người,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh