Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HÒNG BÔI NHỌ CHÂN DUNG, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HÒNG BÔI NHỌ CHÂN DUNG, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

  Hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những di sản mà Người để lại có sức sống lâu bền, là những giá trị không thể phủ nhận, tồn tại mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động luôn ý thức được rằng, muốn đánh đổ chế độ xã hội chủ nghĩa thì không chỉ tấn công vào hệ tư tưởng Mác - Lênin, cường điệu các sai lầm, khuyết tật của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cán bộ, đảng viên mà còn phải “hạ bệ thần tượng”, đánh đổ “huyền thoại”- người tiêu biểu nhất cho ý chí cách mạng, khát vọng của nhân dân, trí tuệ của dân tộc, hòng làm sụp đổ tận gốc niềm tin của nhân dân đối với con đường cách mạng do Đảng, Bác Hồ lựa chọn và lãnh đạo.

Không cần nói, cũng có thể biết tác giả của những bài viết xuyên tạc về hình ảnh lãnh tụ Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh là ai. Đó đa phần là những kẻ bất mãn về chính trị, chống đối chế độ. Một bộ phận khác là những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết nên bị lợi dụng, trở thành những “cái loa” phát ngôn không công cho lực lượng chống đối chế độ, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Một số người tự nhận là “học giả”, những “chuyên gia” nghiên cứu, "người am hiểu" sâu sắc về Hồ Chí Minh, thường dựa vào đặc điểm ngôn ngữ và cách diễn đạt của Hồ Chí Minh để lập luận, xuyên tạc rằng "không có tư tưởng Hồ Chí Minh". Họ cho rằng, Hồ Chí Minh không hề có ý định viết lý luận, không hề có ý định trở thành nhà tư tưởng, nhà lý luận, không để lại những công trình lớn, "dày cộp" mang tính chuyên luận mà chỉ toàn là những bài viết, bức thư ngắn gọn vài trang nên không thể coi là tư tưởng, là lý luận được.

Trước hết, cần phải khẳng định: Tư tưởng, lý luận không nhất thiết sinh ra từ những cuốn sách "dày cộp". Giá trị tư tưởng, lý luận không phụ thuộc vào số trang, số tập mà ở ý nghĩa, tác dụng đối với sự biến đổi của lịch sử, ở sự đóng góp vào sự phát triển của đời sống dân tộc và nhân loại.

Bác Hồ không viết dài, phần lớn những bài viết của Người là diễn văn, thư từ, lời kêu gọi, bài nói chuyện… rất giản dị, mộc mạc. Cần nói ngay rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết giản dị không phải vì Người không viết được uyên bác. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ một nền Quốc học sâu sắc. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã sống, học tập, hoạt động thực tiễn và lý luận ở giữa trung tâm văn hóa, khoa học và cách mạng châu Âu; đã gần gũi và làm việc bên cạnh những chính khách hàng đầu của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế… Một người có trí tuệ lỗi lạc và học vấn uyên thâm như Hồ Chí Minh, muốn viết lý luận kiểu hàn lâm không phải là chuyện không làm được.

Tùy đối tượng, khi cần uyên bác, Người cũng đã từng viết rất uyên bác. Đó là những bài báo, luận văn, bút chiến,… được viết một cách đanh thép, sắc sảo nhằm chống lại ngôn luận dối trá của bọn chính khách tư sản và lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân được viết vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX tại Pháp. Đó là những bài phát biểu, tham luận, tranh luận về các vấn đề lý luận phức tạp trên các diễn đàn quốc tế cộng sản, các đại hội ở Paris và Moscow. Đó còn là cách nói hàm súc, ẩn dụ, "ý tại ngôn ngoại" để nói với các bậc đại nho ở trong nước.

Nhưng cách mạng Việt Nam ở thời điểm lúc bấy giờ, với hơn 90% người Việt Nam là nông dân, Người không thể dùng cách nói, cách viết hàn lâm được, mà phải bằng cách viết, cách nói dễ hiểu, dễ nhớ, Người làm cho lý luận trở nên gần gũi với tất cả mọi người. Thức tỉnh lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của hàng chục triệu người mù chữ, từ chỉ quen sống yên phận, dám vùng dậy đấu tranh đòi giải phóng, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường. Phải nói và viết sao cho họ hiểu được, hiểu để làm được, đó là mục tiêu, là cứu cánh của lý luận. Người chủ trương: “Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế”.

Có thể hiểu được mục đích và quan điểm về cách viết lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới hiểu được phong cách lý luận Hồ Chí Minh, một phong cách thống nhất với lý tưởng, đạo đức của Người. Cũng như việc Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề nhận mình là nhà thơ nhưng sự nghiệp thơ ca của Người để lại đã đưa Người lên hàng những nhà thơ xuất sắc của dân tộc, việc Người không hề có tham vọng trở thành nhà lý luận, nhà tư tưởng, càng không thích lý luận một cách dông dài, nhưng sự nghiệp tư tưởng, lý luận của Người để lại đã làm cho Người được thừa nhận là một nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà lý luận sáng tạo.

Luận điệu xuyên tạc hòng bôi nhọ chân dung, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tìm cách hạ bệ hình ảnh của Người trong lòng nhân dân Việt Nam là chiêu bài xảo trá của các thế lực thù địch, song những di sản mà Người để lại có sức sống lâu bền, là những giá trị không thể phủ nhận.

 

DƯ LUẬN ITALY PHẢN ĐỐI VIỆC NATO CAN THIỆP VÀO XUNG ĐỘT UKRAINE

Cuộc khảo sát do công ty nghiên cứu Euromedia Research thực hiện, trong đó 68,5% người trả lời phản đối NATO can thiệp vào cuộc xung đột Nga-Ukraine trong khi có 16,2% ủng hộ.
Báo La Stampa của Italy ngày 29/1 đăng kết quả một cuộc thăm dò dư luận cho thấy 52% số người Italy được hỏi ý kiến phản đối việc cung cấp vũ khí hiện đại do phương Tây sản xuất cho Ukraine.
Cuộc khảo sát do công ty nghiên cứu Euromedia Research thực hiện ngày 24/1, trong đó 68,5% người trả lời phản đối NATO can thiệp vào cuộc xung đột Nga-Ukraine trong khi có 16,2% ủng hộ.
Theo cuộc khảo sát, 32,5% số người được hỏi tin rằng sẽ đạt được thỏa thuận ngừng bắn mà Nga và Ukraine đều chấp nhận. Khoảng 24,9% cho rằng hỗ trợ quân sự cho Kiev sẽ giảm dần./.

Nguồn: TTXVN 


TỈNH TÁO NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 TỈNH TÁO NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan để phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước, tận dụng ngoại lực để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để mở rộng và nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, trong đó có hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt nhiều kết quả hết sức to lớn, hiện nay chúng ta đã thiết lập quan hệ với 189 trong tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần. Nhờ hội nhập kinh tế quốc tế, những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2022 GDP tăng 8,02% so với năm trước do nền kinh tế được khôi phục trở lại và đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 360,65 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm trước; xuất siêu 11,2 tỷ USD (năm trước xuất siêu 3,32 tỷ USD). Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam: Tính đến ngày 20/12/2022 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt gần 27,72 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2022 ước đạt gần 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2022 đạt gần 534 triệu USD. Đây là những con số biết nói, thể hiện sự đúng đắn trong đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc hội nhập kinh tế quốc của Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa thay đổi căn bản; chất lượng tăng trưởng chưa thực sự ổn định, bền vững; Quá trình hội nhập kinh tế quốc chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, chưa có chiến lược rõ ràng khi tham gia các FTA; Việc ứng phó với các biến động và xử lý những tác động xấu do nền kinh tế thế giới gây ra còn bị động, lúng túng; Hệ thống luật pháp theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ; Còn tồn tại tệ nạn tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng, triển khai các dự án, đề án hợp tác kinh tế quốc tế… Đó là những yếu tố để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình”, với một số hoạt động cơ bản như sau:

Một là, thúc đẩy việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài để từng bước chi phối nền kinh tế Việt Nam, thông qua đó nhằm làm cho Nhà nước từng bước mất dần khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với phương châm: “Lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”, các thế lực thù địch âm mưu từng bước xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa một cách từ từ, êm ả, không gây ra chấn động lớn trong xã hội mà khởi nguồn là từ những sai lầm trong hội nhập kinh tế quốc ở Việt Nam.  

Hai là, lợi dụng hội nhập kinh tế quốc và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là thông qua hợp tác với các cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam để xâm nhập nội bộ, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thu thập tin tức bí mật nhà nước để chống phá Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao để thu thập tin, đánh cắp bí mật nhà nước, lấy cắp các phát minh, sáng chế của Việt Nam, gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.

Ba là, thông qua các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp quốc tế hợp tác, làm ăn với Việt Nam để đưa ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý. Tìm cách chi phối nền kinh tế, gây ra “khủng hoảng”, những tác động tiêu cực từ bên ngoài làm suy yếu nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng đến phúc lợi nhân dân và sức mạnh của Nhà nước. Thông qua các chương trình hợp tác với nước ta để tạo sức ép từ bên ngoài, kết hợp với kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Bốn là, tìm cách tác động tới các chính khách cực đoan trong quốc hội một số nước phương Tây, đòi gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây; đòi thay Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây, đòi thả các đối tượng chống đối vi phạm pháp luật... nhằm tạo nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, xã hội ngay từ bên trong đất nước.

Mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức về tính tất yếu khách quan, vai trò to lớn của việc hội nhập kinh tế quốc với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với những thành tựu đã đạt được trong hội nhập kinh tế quốc, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta sẽ hội nhập kinh tế quốc thành công, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển.

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Với định kiến chính trị và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Gần đây, trên internet, mạng xã hội, youtube,… các thế lực thù địch, phản động có nhiều bài viết xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên trang Facebook của Đài Á Châu tự do (RFA) có bài viết “Vạch trần bản chất phản động của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền”. Đây là bài viết hết sức phản động, nguy hại khi cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là Đảng cầm quyền” và rằng: “tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền là phản dân chủ”…

Chúng ta khẳng định rằng: Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đứng lên lãnh đạo nhân dân ta đánh Pháp, đuổi Nhật, lật đổ phong kiến giành lại chính quyền về tay nhân dân, được nhân dân tin tưởng, tôn vinh vị trí độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam và kể từ tháng 9/1945, đã trở thành Đảng cầm quyền. Cả về mặt lý luận và thực tiễn, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, xã hội là hoàn toàn phù hợp quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay.

Thứ nhất, bản chất, mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngoài bản chất, mục tiêu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác. Bản chất của Đảng là sự thống nhất hài hòa giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc làm cho Đảng thực sự được nhân dân kính trọng, tin yêu gọi là “Đảng ta”. Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” – là mục tiêu, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, những thành tựu của đất nước từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đười cho đến nay là không thể phủ nhận

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã luôn đồng hành cùng dân tộc, gắn bó với Nhân dân, phấn đấu đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chèo chống con thuyền cách mạng của dân tộc ta, thông qua việc đề ra đường lối đúng đắn, sáng suốt, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam lập nên những chiến công lẫy lừng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Không khó để nhận ra tính phi lý của các luận điệu nêu trên. Bởi vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận. Đảng ra đời không chỉ chấm dứt cuộc khủng hoảng thiếu về lực lượng lãnh đạo, mà còn trở thành hạt nhân đoàn kết, thống nhất. Từ đó, tập hợp các lực lượng dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đưa toàn dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn cũng chứng minh, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô chỉ là sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Bằng chứng là dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã thu được những thành tựu to lớn. Tính chất ưu việt, vì Nhân dân của chế độ chủ nghĩa xã hội được thể hiện ngày càng rõ nét trong thực tiễn công tác an sinh xã hội trên phạm vi cả nước, nhất là qua công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong những năm qua.

Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế – xã hội nước ta có sự phát triển khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định rất tự hào trong Đại hội XIII của đảng “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Do đó, mọi âm mưu, luận điệu phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng đều là biểu hiện của động cơ chính trị đen tối, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác; tích cực vạch trần và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, luận điệu nói trên để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân.

 

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀ MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT

 BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀ MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT

Bảo vệ chính trị nội bộ là một nhiệm vụ quan trọng, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ; đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng luôn trong sạch vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Vì thế, những luận điệu sai trái, phản động mà các thế lực thù địch suy diễn, quy kết hồ đồ rằng: Đảng phải tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là do những ''phức tạp không nhỏ" trong nội bộ; do tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ngày càng gia tăng; do nội bộ mất đoàn kết vì sự "tranh giành ghế và các phe nhóm"; do các cơ quan tuyên truyền, tuyên giáo của Đảng "tung hỏa mù" để ngụy trang cho sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên… cần phải được nhận diện đúng là rất quan trọng và cần thiết.

Trước hết, phải khẳng định rằng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ không phải là việc làm nhằm "bới lông tìm vết" mà chính là quá trình thực hiện nghiêm các nguyên tắc về xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; theo đúng Điều lệ Đảng và văn kiện các kỳ Đại hội Đảng trên tinh thần kết hợp giữa “chống và xây”, “xây và chống”, "lấy phòng ngừa là chính" để xây dựng từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với sự ra đời, phát triển của Đảng, chứ không phải chỉ khi có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, thì Đảng mới tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ.

Tuy nhiên, xuất phát từ sự biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; từ sự gia tăng các hoạt động chống phá của thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vào việc thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được đẩy mạnh; được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát.

Hai là, vì có tầm quan trọng như vậy, cho nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đó chính là nền tảng quan trọng cho việc giữ vững an ninh chính trị của Đảng, Nhà nước. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được triển khai thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị; từ Trung ương đến địa phương gắn với văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Điều lệ Đảng, với các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng; với việc kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Ba là, những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần: 1) Làm cho công tác đấu tranh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ tổ chức và cán bộ, đảng viên trước những diễn biến phức tạp của tình hình và âm mưu, hoạt động chống phá nội bộ của các thế lực thù địch đạt hiệu quả rõ rệt; để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc hơn về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cũng nhận thức sâu sắc hơn về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. 2) Để mỗi cấp ủy, mỗi người cán bộ, đảng viên chân chính nhận diện rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những suy nghĩ và hành động sai trái, đi ngược với lợi ích của Đảng, của nhân dân và cả sự xâm nhập của tư tưởng phản động, lối sống thực dụng, các biểu hiện tiêu cực tác động vào mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, từ đó biết tự bảo vệ mình và kịp thời báo cáo tổ chức xem xét, giải quyết những vướng mắc nảy sinh theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 3) Làm cho các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện vi phạm về chính trị nội bộ; thực hiện thẩm định tiêu chuẩn chính trị nhân sự phục vụ yêu cầu công tác cán bộ, phục vụ Đại hội Đảng các cấp và kết nạp đảng viên; công tác thẩm tra, xác minh và kết luận đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm về tiêu chuẩn chính trị… được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Hơn nữa, việc thường xuyên nắm bắt, quản lý chặt chẽ tình hình chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh kết luận về tiêu chuẩn chính trị nhân sự; sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác cán bộ để chủ động ngăn ngừa, kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu bịa đặt, vu khống, nói xấu nhằm chia rẽ, hạ uy tín của tổ chức đảng, đảng viên; việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng về bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ… đã cho thấy sự vu khống của các thế lực thù địch khi cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là nhằm "bảo vệ quyền lợi cho Đảng" thật sự lố bịch, hoàn toàn sai sự thật. Đồng thời, qua đó cũng khẳng định rằng, việc xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng là vì cán bộ, đảng viên ngày càng suy thoái, càng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", cho nên càng ngày Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ chính là một âm mưu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Những luận điệu bịa đặt, bôi đen này nếu không được chỉ ra, được nhận diện đúng, để từ đó nâng cao cảnh giác thì ắt sẽ là một trong những nguyên nhân tạo ra những kẽ hở, "vết nứt" để các phần tử xấu, phản động lợi dụng, tác động vào công tác chính trị nội bộ; thậm chí lôi kéo, mua chuộc, chuyển hóa những người có tư tưởng bất mãn, lệch lạc, suy thoái, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; dẫn đến phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng nói riêng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung.

NHỮNG CHIẾN CÔNG TRÊN BẦU TRỜ ĐÊM “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

 NHỮNG CHIẾN CÔNG TRÊN BẦU TRỜ ĐÊM “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

 Trong chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” 50 năm về trước, có một đơn vị phòng không đã ghi tên mình vào lịch sử, đó là Đoàn Không quân Sao Đỏ. Những năm 1971-1972, không quân nhân dân Việt Nam mới có chưa đầy 10 phi công MIG -21 có khả năng đánh đêm. Các trung đoàn không quân được bố trí ở các sân bay dã chiến bên ngoài Hà Nội, khi được lệnh là cất cánh đánh B52 và lực lượng máy bay chiến thuật. Song, chính các sĩ quan trẻ này đã bắn hạ những chiếc B52 siêu hạng được bảo vệ “tận răng”, góp phần quan trọng vào thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử.

Ngày 27/12/1972 có thể coi là một sự kiện của Không quân Việt Nam khi bắn rơi B52 với chiến công đầu tiên của phi công Phạm Tuân - người con ưu tú quê hương Thái Bình. Anh là phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi pháo đài bay B52 bằng chiếc MIG -21 trong chiến 12 ngày đêm. Cũng như những đồng đội của mình, anh mang trong mình quyết tâm bắn hạ B52 trừng trị kẻ thù, bảo vệ Hà Nội – trái tim của cả nước. Đêm 27/12, chiếc MIG - 21 do Phạm Tuân điều khiển được lệnh cất cánh từ sân bay Yên Bái, đổi chiến thuật bay vòng sang Lào rồi bất ngờ bẻ ngược lại đột nhập vào đội hình dày đặc máy bay Mỹ đang tiến vào bầu trời Hà Nội giữa đêm đen, đôi lúc lại bùng sáng sau những tiếng bom nổ lớn. Dưới sự chỉ dẫn của Sở Chỉ huy mặt đất, với vận tốc bay lên đến 1.200km/h (gấp đôi tốc độ bay của địch), áp sát chỉ cách đuôi chiếc B52 khoảng 1.500m, Phạm Tuân nhấn nút phóng hai quả tên lửa. Chiếc B52 bùng cháy... Được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 25 tuổi thành tích bắn rơi B52, anh chia sẻ: “Phải sau 9 ngày chiến đấu, không quân Việt Nam mới bắn rơi được B52. Đó là do những ngày đầu chiến thuật của chúng ta chưa phù hợp nên không nắm được thời cơ.

Sau đó không quân ta đã kịp thời rút kinh nghiệm và điều chỉnh phương án chiến đấu, thay đổi khéo léo và sáng tạo nên đã dành chiến thắng. Đây là chiến công của tập thể vì có hàng nghìn người tham gia trận đánh, thành tích của tôi là người nhấn nút phóng quả tên lửa, chứ đây là công lao của tập thể. Tôi sẽ không làm được gì nếu không có đồng đội”.

Không quân Việt Nam luôn nhớ tới chiến công quả cảm của người phi công Anh hùng Vũ Xuân Thiều đêm 28/12, khi anh cùng chiếc MIG -21 của mình đã biến thành quả tên lửa thứ 3 lao thẳng vào chiếc B52 của Mỹ. Là sinh viên năm cuối của trường Đại học Bách khoa, đang chuẩn bị làm luận án tốt nghiệp ngành Vô tuyến điện, năm 1965 Vũ Xuân Thiều tình nguyện nhập ngũ và được chọn vào Binh chủng Không quân, được cử đi học lái máy bay MIG -21 ở Liên Xô. Năm 1968, tốt nghiệp về nước, anh được điều về phi đội 5 Trung đoàn Sao Đỏ, huấn luyện bay và chiến đấu đêm; Vũ Xuân Thiều là một trong những phi công bay giỏi của Không quân Sao Đỏ. Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, sau khi rút kinh nghiệm đánh B52 của Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều hạ quyết tâm: “Lần sau khi phát hiện B52, xin phép cho tôi được xuất kích tiêu diệt. Bắn mà B52 không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó.” Tối 28/12, từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy, Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích khi B52 bắt đầu đánh phá. Trên vùng trời Sơn La, anh tiếp cận chiếc B52 và phóng 2 quả tên lửa làm chiếc B52 bị thương, nhưng không rơi. Xin phép Sở Chỉ huy mặt đất công kích lần 2, chiếc MIG -21 do phi công Vũ Xuân Thiều điều khiển đã lao thẳng vào chiếc B52, làm nó bốc cháy và rơi tại chỗ. Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh khi quyết tâm thực hiện ước mơ cao đẹp của mình. Anh trở thành một cảm tử quân với ý chí quyết tử khi thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình. Trên bầu đêm 28/12 năm ấy, giữa bao luồng ánh sáng của bom đạn và của máy bay B52 bốc cháy là vầng sáng mang tên Vũ Xuân Thiều. Chiến công của anh đã được nhiều sách và báo chí Mỹ viết và ca ngợi. Và hiện nay, trên bàn thờ Vũ Xuân Thiều tại số nhà 21 phố Đặng Dung, có một chiếc đồng hồ Quân chủng không quân tặng gia đình đã được đặt cố định ở 9 giờ 45 phút đêm, thời khắc vinh quang mà người phi công Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Vũ Xuân Thiều đã hy sinh anh dũng khi mới 27 tuổi.

Ngày 27 và 28/12/1972, Không quân Việt Nam cũng xuất sắc bắn rơi 2 máy bay F4 và 1 máy bay RA - 5C. Bên cạnh những phi công lái máy bay còn có Sở Chỉ huy mặt đất và những hoa tiêu tiêu đồ (sĩ quan dẫn đường hỗ trợ các phi công lái máy bay MIG đánh máy bay Mỹ). Bằng kinh nghiệm của mình, những sĩ quan dẫn đường đã dẫn dắt phi công vượt qua những tốp máy bay địch, tiếp cận mục tiêu B52 và khai hỏa. Những cái tên như Lê Thành Chơn, Lê Thiết Hùng, Lê Liên, Đặng Dũng… là những sĩ quan dẫn đường giàu kinh nghiệm trong các trận đánh, đã thầm lặng góp phần giúp các phi công bắn rơi máy bay Mỹ, làm nên chiến công oanh liệt của Không quân Việt Nam. Cựu Thiếu tá Lê Thành Chơn đã từng khẳng định: “Lực lượng quân sự trong chiến dịch giữa ta và Mỹ khi đó chênh lệch đến 1/200. Chúng ta thắng được là nhờ trí tuệ và lòng quả cảm. Để gây bất ngờ, MIG -21 của ta xuất kích bay vòng sang Lào, đánh “thọc nách” đội hình bay của địch. Địch phá sân bay chính thì ta dùng sân bay nhỏ, dã chiến.

Nhờ đó mà không quân Việt Nam đã làm được điều kì diệu là bắn rơi pháo đài bay B52, quấy rối đội hình địch, hỗ trợ đắc lực cho tên lửa, pháo cao xạ lập công”. 12 ngày đêm chiến dịch đánh trả cuộc tập kích đại quy mô của không lực Hoa Kỳ, quân dân miền Bắc đã chứng minh cho đế quốc Mỹ và cả thế giới thấy được tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nông nàn và ý chí chiến đấu kiên cường bất khuất của một dân tộc nhỏ bé nhưng đầy kiêu hãnh. 

Chiến thắng vang dội này là thành quả của cả một tập thể những cá nhân ưu tú, những con người luôn đặt hai tiếng “Tổ quốc” ở trong tim. Quả thật, nếu không nặng tình yêu đất nước, sẽ không có được ý chí và nghị lực, hiên ngang trong mưa bom bão đạn để đánh thắng quân thù, lập những chiến công và làm nên một kì tích “Điện Biên Phủ trên không” đi vào lịch sử nhân loại.

 

TIẾP TỤC KIÊN TRÌ CHÍNH SÁCH “BỐN KHÔNG” GẮN VỚI MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG, AN NINH

 TIẾP TỤC KIÊN TRÌ CHÍNH SÁCH “BỐN KHÔNG” GẮN VỚI MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG, AN NINH

 Liên minh quân sự và mở rộng đối ngoại quốc phòng, an ninh là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự không có nghĩa là chúng ta khép kín, không mở rộng hợp tác, thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng, an ninh. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; làm sâu sắc, hiệu quả hơn đối ngoại quốc phòng, an ninh; với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các quốc gia, nhất là các nước lớn; không theo bên này để chống bên khác; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc vào nước ngoài; Việt Nam làm bạn, làm đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 viết: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm sự linh hoạt, chủ động ứng phó trong những tình huống phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, Việt Nam thiết lập, mở rộng ngoại giao với 189 trong tổng số hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, quan hệ đối ngoại quốc phòng ngày càng phát triển với hơn 80 quốc gia trải rộng cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét chứng minh đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, sáng tạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, là kết quả của sự hội tụ sức mạnh “ý Đảng, lòng dân” trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Đồng thời, mở ra những thuận lợi, cơ hội để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và con người, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Khuyến nghị được hiểu là đưa ra lời khuyên, lời đề nghị với thái độ trân trọng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích quốc gia dân tộc nhưng cái cách mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã làm hoàn toàn ngược lại. Họ mượn vỏ bọc “khuyến nghị”, lợi dụng “khuyến nghị”, làm méo mó, biến dạng “khuyến nghị”, xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh cũng như phủ nhận mọi nỗ lực và thành tựu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước trong thời gian qua.

 

“Gieo” hạt giống… Nảy mầm xanh tươi trên vùng biên ải

 


“Vùng Lìa” (là cách gọi về các xã của huyện Hướng Hóa dọc theo bờ sông biên giới Sê Pôn, cũng là nơi sinh sống của cộng đồng người Pa Cô, Vân Kiều) mới chỉ nghe thôi đã thấy khó khăn, cách trở. Thế nhưng, tình quân dân nơi đây luôn ấm áp tròn đầy. Trong số những việc mà người lính Biên phòng nơi đây đã, đang và kiên trì làm cho người dân, đó là thay đổi nhận thức, mở các lớp học xóa mù, chống tái mù chữ. Và người đứng lớp chính là những người đã được con chữ làm thay đổi cuộc đời.

Thiếu tá Hồ Văn Hai, Đội trưởng Kiểm soát Hành chính, Đồn Biên phòng Ba Tầng (giáo viên dạy xóa mù chữ của Đồn Biên phòng Ba Tầng) cũng là một trong những học sinh của lớp học bổ túc văn hóa ở Khe Sanh ngày ấy. Khi nhập ngũ, anh đã 20 tuổi, nhưng khi nghe chỉ huy nói vẫn vui vẻ bắt đầu học tiếp lên lớp 7. Cứ thế, đến năm 2001, thì anh tốt nghiệp lớp 12 và tiếp tục theo học khóa Dự bị đại học tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 cho đến lúc có thông báo nhập học vào Học viện Biên phòng. Trở lại công tác tại BĐBP Quảng Trị, ở cương vị nào, Thiếu tá Hồ Văn Hai cũng luôn nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được cấp trên, đồng đội tin tưởng.

Những cán bộ trẻ học được cách mà người lính Biên phòng làm thế nào để người dân thấy mình là “anh em ruột thịt”, để từ đó tin những gì bộ đội nói, làm theo những việc bộ đội làm. Hơn ai hết, anh hiểu được sự quan trọng của việc học chữ, bởi vậy mà khi đơn vị mở lớp dạy cho đồng bào Vân Kiều trên địa bàn, anh đã xung phong đứng lớp. Anh cũng không ngại ngần kể câu chuyện của mình để bà con thấy rằng việc học không bao giờ là muộn.

Bài học của thầy giáo Biên phòng không chỉ là viết chữ, làm các phép toán, mà còn có những câu chuyện về bảo vệ biên giới quốc gia, bài trừ tập tục lạc hậu để bắt đầu nếp sống văn minh mới, ăn chín, uống sôi, thậm chí là cả sinh đẻ có kế hoạch... Những bài học của các thầy giáo quân hàm xanh như cơn mưa dầm thấm lâu, dần dần đã làm chuyển biến nhận thức của đồng bào. Thực tế, sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức là tiền đề hóa địa bàn, tạo môi trường thuận lợi, ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thành khóa học xóa mù, người dân không chỉ biết chữ, làm phép tính, mà còn có cho mình suy nghĩ, lối sống mới, bắt nhịp với thời đại. Điều ấy được thể hiện qua việc trồng keo dọc theo bờ sông Sê Pôn để chống xói mòn và phát triển kinh tế gia đình, triển khai mô hình trồng lạc trên cát, trồng cà gai leo bán cho công ty dược liệu. Đó là những tín hiệu vui về sự đổi thay cho vùng đất biên cương này.

Những năm trở lại đây, trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới Quảng Trị đều đến trường đúng độ tuổi. Những người lính Biên phòng lại đồng hành trên hành trình con chữ của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số bằng cách đỡ đầu học sinh theo cách riêng. Tính đến tháng 10/2022, các đơn vị thuộc Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị nhận đỡ đầu 55 học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số theo Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn Biên phòng”. Đây là các cháu có hoàn cảnh khó khăn, bố hoặc mẹ hoặc cả bố và mẹ đều đã mất phải ở với người thân nhưng vẫn nỗ lực, cố gắng vươn lên, đạt thành tích cao trong học tập. Việc nhận đỡ đầu cho các cháu học sinh nhằm tạo cơ hội, điều kiện để các cháu được đến trường, trở thành người có ích cho xã hội cũng là một cách để “tạo nguồn” lực lượng chung tay bảo vệ biên giới trong tương lai./.



 

 

Khi “phên dậu biên cương” được “xây” bằng sức mạnh lòng dân


Thực tế cho thấy, việc quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi có sự chung tay của chính những công dân sinh sống ở khu vực biên giới. Những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị luôn quan tâm đến việc “trồng người” là tạo nguồn, phát triển đội ngũ cán bộ người đồng bào dân tộc thiểu số để ngày hôm nay thu những “trái ngọt” bằng đội ngũ cán bộ năng lực, đầy nhiệt huyết này.

Nhiều năm về trước, cuộc sống của người dân khu vực biên giới Quảng Trị gặp rất nhiều khó khăn. Người dân thiếu ăn, thiếu mặc và thiếu cả trường lớp. Đến tận đầu những năm 2000, ở một số nơi, đường đến trường của học sinh vẫn là cung đường gập ghềnh, trắc trở. Trung úy Hồ Văn Chi, nhân viên vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Hướng Lập, BĐBP Quảng Trị chia sẻ việc học của mình: “Ngày đó, để đi được từ Cù Bai, xã Hướng Lập về thị trấn Khe Sanh, chúng tôi phải đi bộ mất mấy ngày, theo đường mòn vắt qua những đỉnh núi, thậm chí đi sang cả đất Lào vì chưa có đường Hồ Chí Minh như bây giờ. Cũng bởi thế mà sĩ số học sinh rơi rớt dần, không phải ai cũng kiên trì được với con đường đến trường”.

Thế nhưng, tỷ lệ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 15% quân số trong BĐBP Quảng Trị là con số vô cùng ấn tượng. Trong quá trình tìm câu trả lời, chúng tôi được gặp Thiếu tướng Trần Đình Dũng, nguyên Phó Tư lệnh BĐBP, nguyên Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Trị. Đầu những năm 1990, Thiếu tướng Trần Đình Dũng đã có suy nghĩ về việc xây dựng đội ngũ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số, bởi hơn ai hết, ông hiểu rằng “phên dậu biên cương” sẽ bền chắc hơn khi được “xây” bằng chính những công dân ở khu vực biên giới. Trong một cuộc hội ý của Thường vụ Đảng ủy BĐBP Quảng Trị, Đại tá Trần Đình Dũng đã nói về việc cần phải mở lớp học cho chiến sĩ là con em đồng bào dân tộc thiểu số để “tạo nguồn” cho BĐBP. Chủ trương này đã được các thành viên trong Thường vụ thống nhất cao và giao cho cơ quan tham mưu, chính trị nhanh chóng triển khai.

Sau nhiều lần làm việc, Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hướng Hóa tổ chức lớp học bổ túc văn hóa cho hạ sĩ quan tại ngũ của BĐBP Quảng Trị. Qua 3 khóa học, gần 100 chiến sĩ đã có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc tiếp tục theo học tại Trường Văn hóa-Ngoại ngữ của BĐBP tại tỉnh Hưng Yên, rồi từ đó theo học các trường đại học, trung học và trở về phục vụ công tác trong BĐBP Quảng Trị. Cho đến hôm nay, nhìn lại mới thấy “công trình” gieo những “hạt giống đỏ” của Thường vụ Đảng ủy BĐBP Quảng Trị có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biên giới quốc gia của BĐBP Quảng Trị.

Các lớp học này đã “đóng góp” cho lực lượng BĐBP nhiều cán bộ như: Trung tá Hồ Văn Sỹ (Chính trị viên Đồn Biên phòng Hướng Phùng), Trung tá Hồ Văn Cường (Trưởng ban Bảo vệ An ninh, Phòng Chính trị, BĐBP Quảng Trị), Trung tá Hồ Sĩ Hạnh (Phó Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa Tùng)… Một số người sau đó phục viên, nhưng nhờ có trình độ đã trở thành cán bộ địa phương như ông Hồ Văn Biên, Phó Chủ tịch UBND xã Ba Nang (huyện Đakrông), ông Hồ Văn Hiền (chuyên viên Hội Nông dân huyện Đakrông)… “Trưởng thành từ người lính Biên phòng, nên tôi hiểu những việc làm của mình đều vì nhân dân, vì đất nước. Bởi vậy, địa phương chúng tôi luôn ủng hộ, sẵn sàng chung tay cùng đồn Biên phòng trong các hoạt động” - ông Hồ Văn Biên khẳng định. 

"Giữ nước từ khi nước chưa nguy" theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (tiếp theo)

 

Từ đó "phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo tình hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường; xử lý đúng đắn, linh hoạt, hiệu quả các mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc"[2].

Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Xác định nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Có kế sách ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Thế hệ chúng ta hôm nay, được sống trong điều kiện đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, cuộc sống của nhân dân ngày một ấm no, hạnh phúc, đó là thành quả của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu; là công sức, máu xương của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống vì nền tự do, độc lập. Chúng ta càng tự hào về đất nước, dân tộc Việt Nam anh hùng, về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mỗi chúng ta cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm của một công dân trước Tổ quốc thân yêu và những người đã ngã xuống cho quê hương, đất nước, cho nền tự do, độc lập. Chúng ta càng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, và con đường đi lên của dân tộc, vào thành công của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới; mỗi chúng ta cần ra sức học tập, nghiên cứu, lao động sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ, làm ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội, để có điều kiện xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

"Giữ nước từ khi nước chưa nguy" theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 


Khi trình bày mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh, Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh những nhiệm vụ mới nổi lên cần giải quyết trong những năm tới là: "Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; đồng thời còn nhấn mạnh thêm: "có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển".

Đây là một trong những điểm mới trong tư duy của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thực tế cho thấy, dựng nước đi đôi với giữ nước là bài học xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta, “dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy” đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Đó vừa là sản phẩm, vừa là động lực của sự nghiệp giữ nước, của công cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước suốt mấy nghìn năm lịch sử. Do đó, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, trở thành một tư tưởng chỉ đạo, triết lý và phương châm giữ nước của ông cha ta.

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu với các thế lực ngoại xâm có sức mạnh quân sự mạnh hơn ta rất nhiều, song với nghệ thuật giữ nước từ sớm, từ xa; bằng tinh thần đoàn kết và ý chí quật khởi của dân tộc, chúng ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, đem lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước đó chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, giữ yên lòng dân, ngăn ngừa, đẩy lùi các nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột. Tướng Trần Quang Khải khi chỉ đạo quân dân Đại Việt chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) đã thể hiện tư tưởng này qua câu thơ: “Thái bình tu trí lực/Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu). Giành lại nền độc lập dân tộc sau 10 năm gian lao kháng chiến, vua Lê Thái Tổ đã nêu cao tinh thần hòa hiếu, giữ đất nước thái bình, tránh xung đột, chiến tranh. Khi đi kinh lý vùng biên, vua Lê Thái Tổ đã thể hiện rõ tư tưởng đó của mình bằng bài thơ cho khắc trên vách núi đá Thác Bờ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài”. Cho đến lúc cuối đời, vua Lê Thái Tổ di chúc lại cho con cháu: “Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Giữa thế kỷ XV, trước nhiệm vụ giữ nước còn rất nặng nề, vua Lê Thánh Tông đã nhắc nhở: “Phàm có nhà nước tất có võ bị” và ra chỉ dụ khuyên các tướng sĩ phải biết quý trọng gìn giữ, bảo vệ từng thước núi, tấc sông do cha ông để lại, năng luyện rèn sẵn sàng đối phó với giặc ngoài...

Điều đó cho thấy, "giữ nước từ lúc nước chưa nguy" là tư tưởng chiến lược, đã trở thành một quy luật trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta. “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là thực hiện nhiệm vụ giữ nước trong điều kiện đất nước dựng xây hòa bình, không phải khi có chiến tranh thì mới nói đến giữ nước. Nhiệm vụ giữ nước luôn gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và được thực hiện ngay trong quá trình xây dựng đất nước. Trong điều kiện kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đất nước thái bình đã phải chú trọng và thực tốt nhiệm vụ giữ nước. Đồng thời cần thấy rằng, hiện nay chúng ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Đó là sự kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới tư tưởng giữ nước của ông cha ta trong điều kiện lịch sử mới.

Không thể nói rằng, ngày nay chúng ta bảo vệ Tổ quốc là chỉ bảo vệ đất nước, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Đó là quan điểm sai trái và phản khoa học. Mọi sự tách rời, đối lập các mặt, các nội dung trên đều là sai lầm, không đúng với bản chất của tư tưởng và phương cách giữ nước trong giai đoạn hiện nay, càng không đúng với thực chất bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, vì vậy cần phải được đấu tranh, phản bác.

Trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động lớn, nhanh chóng và phức tạp, nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống trở thành những thách thức lớn trên quy mô toàn cầu. Đại dịch Covid-19 kéo dài, diễn biến phức tạp làm đảo lộn, suy thoái nghiêm trọng kinh tế thế giới; khu vực Đông Nam Á là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn, tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp chủ quyền, biển, đảo căng thẳng, phức tạp; đất nước đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra.

Để chủ động đối phó với những nguy cơ, thách thức mới, Đảng ta xác định: Phải xây dựng đất nước hùng cường “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Trong đó xây dựng các tiềm lực kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc ngay trong thời bình.

“Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là nhấn mạnh một bài học lịch sử, một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc của dân tộc ta, là sự tiếp nối và phát huy giá trị đó, nâng lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng và sự phát triển của dân tộc trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Phát huy vai trò của Quân đội trong xây dựng “thế trận lòng dân”

 Phát huy vai trò của Quân đội trong xây dựng “thế trận lòng dân”

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, bên cạnh những thuận lợi như: Xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo đã tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong phát triển đất nước; nâng cao trình độ nguồn nhân lực… cũng đặt ra không ít thách thức đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực, nhất là Biển Đông diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh phi truyền thống như: xung đột sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc, thiên tai, dịch bệnh; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Việt Nam bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; các nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn… Bởi vậy, để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, vấn đề quan trọng là phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước, điều này đồng nghĩa với việc phải xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đứng trước thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải quán triệt sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của “thế trận lòng dân” và quan điểm của Đảng về “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết Quân đội nhân dân giữ vai trò là lực lượng nòng cốt. Để nâng cao hiệu quả xây dựng “thế trận lòng dân” khu vực phòng thủ của Quân đội trong tình hình mới phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng nòng cốt để xây dựng “thế trận lòng dân”; thực hiện tốt công tác dân vận trong toàn quân, góp phần xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch nhằm phá vỡ “thế trận lòng dân”, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân là những giải pháp quan trọng./.

Nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” của Quân đội đã có bước đổi mới toàn diện cả về nội dung, cách làm, sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn và điều kiện của đơn vị, đạt hiệu quả thiết thực; là cầu nối để tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Đồng thời, giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý thức, trách nhiệm, phong cách của người quân nhân cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ; nêu cao niềm tự hào, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, làm cho phẩm chất này ngày càng được lan tỏa trong toàn quân và trong đời sống xã hội.

Tri ân quân và dân biên giới bằng những việc làm thiết thực


Trong 2 ngày 21-22/12, Trường Trung học phổ thông Trần Phú (quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) phối hợp với các đơn vị đồng hành tổ chức chương trình "Hành trình sống đẹp vì cộng đồng" tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.

Tại chương trình, cô giáo Trần Thị Hải Yến, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Trần Phú cùng hơn 200 cán bộ, nhân viên, các em học sinh và phụ huynh học sinh của trường đã đến thăm, tặng quà, chúc mừng cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si Ma Cai, BĐBP Lào Cai nhân kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2022) và 33 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2022).

Tại đồn biên phòng, thay mặt đoàn công tác, cô giáo Trần Thị Hải Yến đã gửi lời tri ân đến các cán bộ, chiến sĩ BĐBP nhân ngày truyền thống QĐND; đồng thời, tin tưởng rằng cán bộ, chiến sĩ đơn vị sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

Tiếp tục chương trình, tại xã Sín Chéng, đoàn công tác đã tặng nhiều đồ dùng, nhu yếu phẩm thiết yếu như gạo, chăn, màn, đệm, quần áo cho Trường Trung học cơ sở Sín Chéng, Trường Tiểu học 1 Sín Chéng, Trường Tiểu học 2 Sín Chéng, Trường Mầm non Sín Chéng; tặng lương thực và tiền hỗ trợ xây nhà mới 3 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở xã Sín Chéng; tặng 41 suất quà cho 41 hộ dân có hoàn cảnh khó khăn của xã. Tổng giá trị quà tặng tại chương trình là gần 350 triệu đồng, do cán bộ, giáo viên và phụ huynh học sinh nhà trường chung tay đóng góp.

Chia sẻ với phóng viên, cô giáo Trần Thị Hải Yến, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Trần Phú cho biết: “Thầy và trò Trường Trung học phổ thông Trần Phú rất vui và xúc động khi có mặt tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai để cùng chia sẻ một phần khó khăn với đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã Sín Chéng, được kết nối những yêu thương với các bạn học sinh của các nhà trường trên địa bàn, được giao lưu với các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si Ma Cai. Chương trình được nhà trường phát động hơn 1 tháng nay và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn thể học sinh, phụ huynh toàn trường”.


Tăng cường đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Tăng cường đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá Đảng, Nhà nước ta với cấp độ ngày càng tinh vi. Chúng lợi dụng không gian mạng, mạng xã hội (Facebook, Tiktok…) để tuyên truyền xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, họ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về những tệ tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, rồi quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong chủ trương, đường lối đổi mới cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.

          Hơn thế nữa, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tuyên truyền xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò quản lý của Nhà nước của chính quyền các cấp, với những thủ đoạn rất tinh vi, sảo quyệt. Triệt để tấn công vào nội bộ ta một cách toàn diện cả về tổ chức, con người và nhu cầu của đời sống xã hội như tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng một số vụ việc phức tạp, nhạy cảm, sai phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để kích động, chia rẽ nội bộ, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao. Nếu cán bộ, đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ rất dễ bị tác động dẫn tới hoang mang, dao động, không phân biệt được đúng - sai, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thậm chí có hành động làm trái với Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây chính là những mầm mống bên trong rất nguy hiểm, đe dọa đến nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Âm mưu, thủ đoạn và phương thức chống phá của các phần tử cơ hội âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường; Chúng đòi xóa bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng cầm quyền chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân... Cùng với đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng chính là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả.

          Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

          Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

          Hai là, chủ động phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, không để chúng tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng.

          Ba là, chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng sai trái và ý đồ thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

          Bốn là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để có luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm.

 

Bình yên mùa Xuân xứ đạo ở khu vực biên giới biển

 

1.

Nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân, củng cố hệ thống chính trị, những năm qua, Đồn Biên phòng Hải Hòa, BĐBP Thanh Hóa đã chú trọng làm tốt công tác dân vận, đặc biệt ở vùng đồng bào Công giáo. Từ đó, tạo được sự đoàn kết trong nhân dân, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng khu vực biên giới biển vững mạnh.

Có dịp được theo chân Thiếu tá Mai Xuân Huy, Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Hải Hòa tới khu phố Công giáo toàn tòng Yên Châu, phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi mới thấy sự thay da đổi thịt từng ngày của xứ đạo bình yên nơi đây. Yên Châu có 400 hộ dân, 2.000 khẩu, với 100% giáo dân. Dọc đường làng, những ngôi nhà cao tầng được xây dựng khang trang, những con được bê tông hóa sạch, đẹp chạy đến từng cổng, ngõ của mỗi hộ dân…

Không khí mùa Xuân thực sự đã tràn ngập nơi xứ đạo bình yên này. Ngõ nhỏ rực rỡ hơn với những lá cờ đủ màu treo dọc phố, cành cây đâm chồi nảy lộc, trẻ em nô nức khoe khắp xóm làng những bộ quần áo mới tinh tươm. Thấp thoáng thấy bóng dáng áo xanh của cán bộ Đồn Biên phòng Hải Hòa, ông Vũ Khắc Cả, Trưởng khu phố Yên Châu phấn khởi ra cổng đón. “Chú Huy vào đây, vừa hay, tôi mới pha ấm trà” - ông Cả đon đả mời.

Ông Vũ Khắc Cả năm nay đã gần 70 tuổi, với thâm niên hơn 40 năm làm trưởng khu phố. Cùng nhấp chén trà đầu Xuân, ông Cả lọ mọ lật mở sổ sách và hoài niệm về những ngày xưa cũ. Năm 1977, trở về quê nhà từ chiến trường, trong trí nhớ của ông Cả vẫn còn nguyên quang cảnh làng xóm ngày đó. Sau 2 cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc nói chung cũng như quê hương của ông nói riêng đều bị tàn phá nặng nề, sản xuất manh mún, đời sống người dân vô cùng khó khăn, làng xóm tiêu điều. Bà con Yên Châu lúc bấy giờ đều làm nghề muối, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, làm lụng vất vả nhưng cái nghèo khổ vẫn cứ bủa vây, trình độ dân trí thấp và thường xuyên xảy ra tình trạng trộm cắp vặt, mất an ninh trật tự. Bấy giờ, ông Cả được bà con nhân dân và chính quyền địa phương tín nhiệm bầu làm Trưởng khu phố Yên Châu.

Ông Cả chia sẻ: “Yên Châu nghèo khó của xưa kia là thế, nhưng bây giờ, cùng với sự phát triển của đất nước, quê hương tôi đã ngày càng giàu đẹp hơn. Đặc biệt, thành quả đó còn đến từ sự đồng hành của cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Từ ngày làm Trưởng khu phố Yên Châu, tôi luôn nhận được sự đồng hành của những người lính quân hàm xanh Đồn Biên phòng Hải Hòa. Không chỉ giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn, các anh còn giúp đỡ, hỗ trợ bà con chúng tôi rất nhiều trong xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế-xã hội.

Hàng năm, cấp ủy, chỉ huy Đồn Biên phòng Hải Hòa đều tới thăm hỏi, chúc mừng các chức sắc tôn giáo và bà con giáo dân chúng tôi vào các ngày lễ trọng. Đồng thời, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân theo đạo, trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ sự quan tâm của Đồn Biên phòng Hải Hòa và chính quyền địa phương đã tạo dựng được lòng tin của chúng tôi với đơn vị, chính quyền; sự yên tâm để chúng tôi sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn”.

Không chỉ khu phố Yên Châu mà các phường trên địa bàn đều được Đồn Biên phòng Hải Hòa đồng hành. Đồn Biên phòng Hải Hòa có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội địa bàn 9 phường ven biển phía Bắc của thị xã Nghi Sơn, với chiều dài 23,5km bờ biển. Trên địa bàn có tổng số hơn 25.000 hộ với hơn 98.000 khẩu. Trong đó, có 3 xứ đạo Công giáo, đó là Ba Làng, Thượng Chiều và Hoài Yên, với hơn 2.000 hộ, hơn 13.000 khẩu. Nhân dân trên địa bàn chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng, chế biến hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Thời gian qua, cấp ủy, chỉ huy Đồn Biên phòng Hải Hòa luôn chú trọng công tác vận động quần chúng và xác định rõ công tác vận động quần chúng là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Chính vì vậy, cấp ủy, chỉ huy đồn đã thường xuyên duy trì lực lượng bám, nắm địa bàn, tham mưu và tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết kịp thời các vấn đề, vụ việc nảy sinh trong quần chúng nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn.

Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luật pháp quốc tế về biển, Luật Biên giới quốc gia, Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về chiến lược biển; vị trí ý nghĩa và tầm quan trọng của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới... với nhiều nội dung và hình thức phong phú, từ tuyên truyền tập trung đến tuyên truyền cá biệt, tuyên truyền qua hệ thống phát thanh, tuyên truyền bằng tờ rơi, bảng ảnh...

Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, Đồn Biên phòng Hải Hòa đã giúp nhân dân hiểu pháp luật ngày càng tốt hơn, số vụ vi phạm pháp luật có phần giảm xuống. Nhân dân đã cung cấp cho đơn vị những nguồn tin có giá trị phục vụ kịp thời công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm như vận chuyển trái phép vật liệu nổ, buôn bán, sử dụng các chất ma túy, sử dụng kích điện, dùng thuốc nổ khai thác hải sản, va chạm, tai nạn trên biển. Từ đó, đơn vị kịp thời giải quyết các vụ việc xảy ra theo quy định của pháp luật làm ổn định địa bàn, tạo môi trường thuận lợi để bà con làm ăn sinh sống.

Gần cuối buổi trò chuyện, ông Cả bật mí dấu ấn đặc biệt của những người lính quân hàm xanh trên quê hương ông. Đó là tại trụ sở UBND phường Hải Châu, địa phương đặc cách, bố trí một phòng làm việc dành riêng cho cán bộ Đồn Biên phòng Hải Hòa. Tại đây, cán bộ Đồn Biên phòng Hải Hòa sẽ tiếp nhận những thắc mắc và giải đáp cho nhân dân những điều chưa rõ; đồng thời, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân.

Thường xuyên bám dân, bám địa bàn, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nên nhiều năm liền, an ninh trật tự trên địa bàn đơn vị quản lý luôn ổn định, các tệ nạn được đẩy lùi. Đặc biệt, nhân dân, bà con giáo dân nơi đây luôn tin tưởng và yêu thương cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hải Hòa, cùng với đơn vị bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

 

Khó khăn biến thành động lực

 

Buổi chiều, dạo một vòng quanh công viên, cảm nhận không khí dễ chịu sau trận mưa rào, tôi vô tình hướng ánh mắt sang ngang. Trước mắt tôi là chàng quân nhân bế con trai kháu khỉnh, bên cạnh là người vợ tay cầm chùm bóng bay, họ đang cùng trò chuyện vui vẻ.

Tiến lại gần hơn, tôi nhận ra đó là gia đình Trung úy QNCN Nguyễn Dương Thanh Tùng, nhân viên Phòng Hậu cần, Lữ đoàn 454 (Quân khu 3) và Bùi Thị Bích Phương, giáo viên Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Hướng Dương (Đông Triều, Quảng Ninh).

Nguyễn Dương Thanh Tùng vừa từ đơn vị về thăm gia đình. Do công việc bận rộn nên đã lâu tôi và anh chưa có dịp gặp nhau. Tùng giới thiệu với tôi về tổ ấm của mình. Trước kia, Tùng và Phương từng là bạn học thời phổ thông, cùng khóa nhưng khác lớp. Tính Tùng sôi nổi, năng động tham gia các phong trào Đoàn của nhà trường. Còn Phương vừa xinh đẹp lại vừa ngoan hiền nên được các bạn trong lớp rất quý mến.

Trong Cuộc thi “Thanh niên thanh lịch” do nhà trường tổ chức, Tùng và Phương được ghép cặp theo khối để tham gia trình diễn thời trang học đường nên họ biết nhau và nhanh chóng thân thiện, phối hợp ăn ý trong phần thi. Từ đó, hai bạn thường trao đổi về việc học tập trên lớp. Năm cuối cấp, Phương đăng ký nguyện vọng thi vào sư phạm, còn Tùng ước mơ vào quân ngũ để tiếp nối sự nghiệp gia đình. Ngày ra trường, cầm trên tay cuốn sổ lưu bút ghi lại kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ với lời chúc thi tốt, cả hai lấy đó làm động lực để quyết tâm đạt được mơ ước của mình.

Khó khăn biến thành động lực

Nguyễn Dương Thanh Tùng và Bùi Thị Bích Phương trong ngày chung đôi. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Năm 2014, khi đang học Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô, Tùng chính thức theo đuổi Phương với những bức thư tình gây thương nhớ, lời động viên và quan tâm chân thành khiến nàng nhanh chóng bị chinh phục. Suốt thời gian học tập, rèn luyện liên tục khiến Tùng ít có dịp về thăm nhà và bạn gái. Tranh thủ dịp nghỉ cuối tuần, Phương bắt xe từ 4 giờ sáng, vượt quãng đường xa xôi để kịp gặp bạn trai được hai tiếng đồng hồ, rồi lại bắt xe về.

Thời tiết mùa hè đã vậy, mùa đông có ngày trời mưa rét căm căm, một mình đứng ở ngã tư đường đón xe tới thăm người yêu gặp nhiều gian nan. Những lúc xe bị hỏng giữa đường khiến cuộc gặp gỡ của hai người bị rút ngắn thời gian hơn, nhưng khi đến nơi, nhìn thấy người yêu, dường như mọi khó khăn đã biến thành động lực, sức mạnh để vượt qua tất cả. Tình cảm của hai người cứ thế được vun đắp và lớn dần theo năm tháng.

Ngày anh ra trường, khoác trên mình bộ quân phục để nhận nhiệm vụ mới tại đơn vị cũng là ngày chàng ngỏ lời hẹn ước kết duyên: “Em đã cho anh biết thế nào là tình yêu, sự sẻ chia, niềm hạnh phúc. Hãy cùng anh vượt qua những khó khăn và vun đắp, xây dựng tổ ấm tương lai của chúng mình ngày càng bền chặt, em nhé!”.

Năm 2020, trong niềm vui đón sinh nhật tuổi 26, thực hiện lời hẹn ước năm nào, Thanh Tùng chính thức đón Bích Phương về chung một nhà sau quãng thời gian yêu xa. Trái ngọt của mối tình ấy là cậu con trai kháu khỉnh đang lớn lên từng ngày như tiếp thêm sức mạnh để hai vợ chồng càng quyết tâm phấn đấu, rèn luyện.

Nguồn: QĐND.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới

 Xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, liên quan trực tiếp đến sự sự an nguy của quốc gia - dân tộc và sự tồn vong của chế độ. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh xung đột từ sớm, từ xa, nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển”. Đó là sự kế thừa, phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc và là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, cần tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung, giải pháp, trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” là vấn đề đặc biệt quan trọng.

Một số giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân” trong tình hình mới:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về nội dung, vị trí, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân” trong khu vực phòng thủ cho các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị và toàn dân. 

Hai là, tiếp tục xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Ba là, không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy dân chủ cơ sở. 

Bốn , đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với đảm bảo tốt an sinh xã hội, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. 

Năm là, thường xuyên chăm lo gìn giữ, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc. 

Sáu là, phát huy vai trò của Quân đội tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” của khu vực phòng thủ

Bảy làchủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc “thế trận lòng dân”.

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Thấm nhuần tư tưởng trọng dân, phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt nhiệm vụ này, làm cho nhân dân luôn tin tưởng, đồng thuận với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kết thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Tạo sinh kế, giúp đồng bào thoát nghèo bền vững

 

Thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội-Mô hình bộ đội gắn với thôn, bản đồng bào dân tộc thiểu số, Binh đoàn 16 đã tổ chức trao 113 con bò giống, 15 con trâu giống, 44 con dê giống tặng 139 hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn 16 xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thuộc tỉnh Bình Phước và Đắk Nông, với tổng kinh phí hơn 4,7 tỷ đồng.

Tạo sinh kế, giúp đồng bào thoát nghèo bền vững
Đại tá Nguyễn Văn Trọng, Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 16 trao quà tặng các cháu học sinh nghèo hiếu học.  

Trong tháng 1-2023, Binh đoàn 16 phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức Chương trình “Tết sum vầy-xuân ấm tình quân dân”-Xuân Quý Mão năm 2023 tại 38 thôn, bon, bản. Chương trình đã hỗ trợ 430 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, người lao động hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo, đau ốm điều trị dài ngày. Cùng với đó, đơn vị thăm hỏi và trao 2.710 phần quà tặng các đối tượng chính sách, hộ gia đình khó khăn, gia đình cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ đặc biệt, nơi biên giới, vùng sâu, vùng xa với tổng kinh phí gần 1,4 tỷ đồng.

Nguồn: QĐND.