TỈNH TÁO NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM
Hội nhập quốc tế
là một tất yếu khách quan để phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước, tận dụng
ngoại lực để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương, giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để mở rộng và nâng cao hiệu
quả các hoạt động đối ngoại, trong đó có hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt nhiều kết quả hết sức to lớn, hiện nay
chúng ta đã thiết lập quan hệ với 189 trong tổng số 193 quốc gia thành viên của
Liên Hiệp Quốc, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần. Nhờ
hội nhập kinh tế quốc tế, những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh
mẽ. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2022 GDP tăng 8,02% so với năm
trước do nền kinh tế được khôi phục trở lại và đạt mức tăng cao nhất trong giai
đoạn 2011-2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt
371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt
360,65 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm trước; xuất siêu 11,2 tỷ USD (năm trước xuất
siêu 3,32 tỷ USD). Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam: Tính đến
ngày 20/12/2022 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị
góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt gần 27,72 tỷ USD. Vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2022 ước đạt gần 22,4 tỷ
USD, tăng 13,5% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực
hiện cao nhất trong 5 năm qua. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2022
đạt gần 534 triệu USD. Đây là những con số biết nói, thể hiện sự đúng đắn
trong đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy nhiên, cũng cần
phải nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc hội nhập kinh tế quốc của Việt
Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế
Việt Nam chưa thay đổi căn bản; chất lượng tăng trưởng chưa thực sự ổn định, bền
vững; Quá trình hội nhập kinh tế quốc chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng
cao năng lực cạnh tranh, chưa có chiến lược rõ ràng khi tham gia các FTA; Việc ứng
phó với các biến động và xử lý những tác động xấu do nền kinh tế thế giới gây
ra còn bị động, lúng túng; Hệ thống luật pháp theo yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ; Còn tồn tại tệ nạn tham nhũng, tiêu cực
trong xây dựng, triển khai các dự án, đề án hợp tác kinh tế quốc tế… Đó là những
yếu tố để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa
bình”, với một số hoạt động cơ bản như sau:
Một là, thúc
đẩy việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài để
từng bước chi phối nền kinh tế Việt Nam, thông qua đó nhằm làm cho Nhà nước
từng bước mất dần khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Với phương châm: “Lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”, các thế
lực thù địch âm mưu từng bước xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa một cách từ từ, êm
ả, không gây ra chấn động lớn trong xã hội mà khởi nguồn là từ những sai lầm
trong hội nhập kinh tế quốc ở Việt Nam.
Hai là, lợi
dụng hội nhập kinh tế quốc và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là thông
qua hợp tác với các cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam để xâm nhập nội
bộ, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thu thập tin
tức bí mật nhà nước để chống phá Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng sự phát
triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao để thu
thập tin, đánh cắp bí mật nhà nước, lấy cắp các phát minh, sáng chế của Việt
Nam, gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.
Ba là, thông
qua các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp quốc tế hợp tác, làm ăn với Việt Nam
để đưa ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý. Tìm cách chi phối nền kinh tế,
gây ra “khủng hoảng”, những tác động tiêu cực từ bên ngoài làm suy yếu nền kinh
tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng
đến phúc lợi nhân dân và sức mạnh của Nhà nước. Thông qua các chương trình hợp
tác với nước ta để tạo sức ép từ bên ngoài, kết hợp với kích động các hoạt động
chống phá từ bên trong.
Bốn là, tìm cách
tác động tới các chính khách cực đoan trong quốc hội một số nước phương Tây,
đòi gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện cải cách chính trị, pháp
luật theo kiểu phương Tây; đòi thay Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng
hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải thúc đẩy tự do báo
chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây, đòi thả các đối tượng chống đối
vi phạm pháp luật... nhằm tạo nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, xã hội
ngay từ bên trong đất nước.
Mỗi chúng ta cần
nâng cao nhận thức về tính tất yếu khách quan, vai trò to lớn của việc hội nhập
kinh tế quốc với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; âm mưu, hoạt động lợi dụng
vấn đề này để “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam. Với những thành tựu đã đạt được trong hội nhập kinh tế quốc, chúng
ta có quyền tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta sẽ hội nhập
kinh tế quốc thành công, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát
triển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét