Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

 Nhiều giải pháp vận động, giác ngộ người dân

Đại tá Vì Quyền Chứ, Phó Giám đốc Công an tỉnh Sơn La cho biết: Công an tỉnh đã xây dựng Kế hoạch phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn với tà đạo “bà cô Dợ”, tham mưu với tỉnh ủy, UBND tỉnh những giải pháp để xóa bỏ hoạt động của tổ chức này trên địa bàn, tăng cường lực lượng cơ sở, vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác, đặc biệt là tăng cường tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ bản chất của tà đạo này, thực hiện nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân... 

Rũ bỏ ám ảnh từ những ngày theo tà đạo “bà cô Dợ”, anh Giàng A So đang bắt đầu những ngày tháng mới với công việc nương rẫy quen thuộc cùng niềm tin vào những mùa vàng bội thu. Có sự chung tay của lực lượng Công an và Bộ đội Biên phòng, khoảnh đất rộng nhanh chóng được đào xới, để chuẩn bị gieo những hạt giống tốt, cho năng suất cao, mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình anh và bà con trong bản. Anh còn phấn khởi khoe với chúng tôi ngôi nhà mới được chính quyền huyện hỗ trợ xây dựng năm 2019 với giá trị 60 triệu đồng.

Còn anh Giàng A Dê, sau khi nộp bản cam kết từ bỏ đạo “bà cô Dợ” trở về sinh hoạt tôn giáo thuần túy, anh như rũ bỏ được gánh nặng. Từ nay anh có thể ăn ngon ngủ yên, tập trung làm công việc nương rẫy để thóc lúa đầy nhà, cuộc sống luôn no ấm, hạnh phúc. Anh vừa chỉ cho chúng tôi gian nhà chứa những bao thóc to, vừa chia sẻ: “Vì không hiểu biết nên tôi tham gia tà đạo “bà cô Dợ”. Được các cán bộ công an tuyên truyền, giải thích, tôi đã hiểu ra cái sai. Giờ tôi cùng vợ con chỉ lo làm ăn, tích trữ thóc lúa để có cuộc sống ấm no thôi, không nghe theo lời kẻ xấu nữa”.

Những ngày tháng thực hiện ”Ba bám, bốn cùng” với nhân dân trên địa bàn... đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ công an thấu hiểu tâm tư, tình cảm và nguyện vọng cũng như những vướng mắc trong cuộc sống của người dân. Từ đó gần gũi, chia sẽ với họ... Với vốn kinh nghiệm tích lũy được khi đi địa bàn, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an lại tìm tòi, học hỏi những kiến thức mới, những cách làm hay, sáng tạo về nông nghiệp để trực tiếp hướng dẫn bà con nhân dân thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt năng suất, chất lượng cao, ít sâu bệnh, chăm bón đúng kỹ thuật... Những cử chỉ thân tình, những việc làm tuy nhỏ nhưng thiết thực, cán bộ, chiến sĩ công an khi đến địa bàn đã dần chiếm được cảm tình của người dân, được người dân coi như người nhà. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước ngày càng đạt hiệu quả cao và mang tính lan tỏa sâu rộng.

Thượng tá Lù Văn Lịch, Trưởng Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La nói: Chúng tôi đã tích cựctham mưu với Ban Giám đốc Công an tỉnh, cấp ủy, chính quyền huyện Sốp Cộp, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, Đồn Biên phòng Mường Lèo triển khai các biện pháp tuyên truyền, vận động để bà con nhân dân nhận thức đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, giúp bà con nhận thức được những luận điệu hoang đường, không có thật của “bà cô Dợ” bằng các dẫn chứng thực tế trong cuộc sống hàng ngày để bà con tin và tự giác từ bỏ.

Cùng với công tác tuyên truyền, cấp ủy, chính quyền địa phương đã ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa bàn, vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới, đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo... trên địa bàn.

Bà Tòng Thị Kiên, Phó Chủ tịch UBND huyện Sốp Cộp cho biết thêm: Đối với địa bàn bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, nơi có nhiều hộ dân theo tà đạo “bà cô Dợ”, chính quyền huyện đã tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội. Bản đã có nhà văn hóa để sinh hoạt cộng đồng, có điểm trường mầm non, tiểu học, điện lưới quốc gia, nước sinh hoạt được đảm bảo, hệ thống đường giao thông đã được đầu tư cải tạo, hiện nay đã có đường ô tô đến bản.

Từng là một trong những địa bàn phức tạp về tà đạo “bà cô Dợ”, đến nay, đồng bào các dân tộc trong tỉnh Sơn La đã trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Họ đã thực sự tỉnh ngộ sau chuỗi ngày dài u mê tin theo tà đạo để tập trung xây dựng cuộc sống ấm no, bình yên trên chính quê hương mình.

Một làn gió mới đang đến với bản Huổi Luông, với xã Mường Lèo và với những địa bàn có người theo tà đạo “bà cô Dợ”. Có sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng cùng nhau sát cánh 4 cùng với bà con nhân dân, đưa làn gió mới về bản đã khiến cho cuộc sống của người dân nơi đây thực sự thay đổi. Mường Lèo từ một nơi ít người biết đến, nay đã trở thành một trong những xã phát triển, có đường ô tô đến tận nơi, thông thương thuận lợi hơn. Người dân cũng không còn nhớ đến những ngày không yên bình khi theo tà đạo “bà cô Dợ” nữa mà đoàn kết cùng nhau phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống.

Bộ mặt thật của “Bà Cô Dợ”

 Bộ mặt thật của “Bà Cô Dợ”      

Tà đạo “bà cô Dợ” là một hình thức biến tướng của đạo Tin lành nhưng mang tính chất mê tín, dị đoan, hoang đường và xuyên tạc kinh thánh của các tôn giáo. Tổ chức “bà cô Dợ” hay còn có tên gọi khác là “Hội thánh yêu thương chúng ta” do Vừ Thị Dợ (người Mông, quốc tịch Mỹ gốc Lào) sáng lập và làm hội trưởng. Tổ chức này không có điều lệ rõ ràng, chỉ cóp nhặt, trích dẫn, xuyên tạc kinh Tân ước, Cựu ước của đạo Tin lành được sử dụng trong các hoạt động sinh hoạt và truyền đạo trái phép, sử dụng các bài hát về Chúa nhưng được “cải biên”, “chế” lại trên nền nhạc trẻ.

Vừ Thị Dợ đã thêu dệt nên nhiều câu chuyện nhảm nhí như: Bản thân được chọn để tái sinh ra chúa Giê-su lần thứ 2, con trai út của Vừ Thị Dợ là chúa Giê-su tái lâm và coi như một đấng “siêu nhiên” sẽ giải cứu người Mông trên toàn thế giới.

Ông Phạm Khắc Trình, Trưởng Phòng Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Sơn La cho biết: Tổ chức “bà cô Dợ” không phải là tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cho phép hoạt động trên lãnh thổ nước Việt Nam. Mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là trái pháp luật, mang tính mê tín dị đoan và phản khoa học”.

Ông Tòng Văn Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La chia sẻ: Những người theo tà đạo “bà cô Dợ” thường không tham gia hoạt động gì cùng chính quyền và bà con nhân dân trong bản. Đã có hai cặp vợ chồng bỏ nhau vì mâu thuẫn do người thì theo “bà cô Dợ”, người thì không; giữa những người theo đạo và không theo đạo trong bản cũng mâu thuẫn với nhau, rồi mâu thuẫn với dòng họ, với bản làng... Cuộc sống người dân bị xáo trộn từ khi tà đạo “bà cô Dợ” xuất hiện.

Thượng tá Lù Văn Lịch, Trưởng Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La cho biết: Tổ chức “bà cô Dợ” chủ yếu tuyên truyền qua mạng internet, mang màu sắc chính trị rất rõ. Nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn thì nguy cơ mất an ninh, trật tự rất lớn, tiềm ẩn việc bà con nhân dân sẽ bị lôi kéo, đòi ly khai, tự trị, thành lập nhà nước riêng và tham gia các hoạt động mang tính mê tín dị đoan, hoang đường...

Lực 

Tà đạo “Bà Cô Dợ” và những hệ lụy

 

Tà đạo “Bà Cô Dợ” và những hệ lụy

Bản Huổi Luông, một bản xa nhất của xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, nơi có nhiều người dân theo tà đạo “bà cô Dợ” nhất với 5 hộ 29 khẩu. Nơi đây từng là địa bàn nổi tiếng nhất của tỉnh Sơn La bởi những nếp nhà mang đặc trưng riêng của đồng bào dân tộc Mông và con đường duy nhất đến bản chỉ có thể là đi bộ. Người Mông ở đây vốn dĩ sống đơn giản, quanh năm làm nương rẫy, trồng trọt, chăn nuôi và làm bạn với những đồi cỏ rộng mênh mông... Nhưng rồi tà đạo “bà cô Dợ” tràn về, khiến những người dân chân chất  lạc lối, tin theo những điều nhảm nhí “ Ngày tận thế, trái đất sẽ nổ tung, mặt trời sẽ ngừng sáng, mặt trăng sẽ tối là lúc Chúa xuất hiện để cai trị lập lại trật tự của thế giới, ai theo “bà cô Dợ” sẽ được giải cứu lên Thiên đàng, ai không tin, không theo sẽ bị Chúa hủy diệt và đẩy xuống địa ngục...”, “Mẹ Dợ đang sàng lọc lựa chọn 144.000 người trung thành với tổ chức “bà cô Dợ” sẽ được sinh sống ở đất nước riêng của người Mông, nghìn năm không chết, cuộc sống an nhàn, hưởng thụ, không ốm đau, bệnh tật...”.

Lực lượng Công an phối hợp với Bộ đội Biên phòng triển khai các biện pháp tuyên truyền, vận động bà con từ bỏ đạo “Bà Cô Dợ”.

Anh Giàng A So, một người dân ở bản Huổi Luông cũng không tránh khỏi vòng xoáy “bà cô Dợ” tràn về bản. Trong căn bếp lụp xụp rộng chừng 30 mét vuông, không có gì ngoài vài cái thùng nhựa và mấy quả bí chỏng chơ, anh buồn rầu kể: Năm 2019, gia đình anh có 9 người gồm mẹ già, hai vợ chồng và 6 người con được một đối tượng khác trong bản lôi kéo tham gia tà đạo “bà cô Dợ”. Họ gửi cho tổng cộng 1.200 USD, Giàng A So đã dùng số tiền này cưới vợ cho con. Họ bảo nếu theo “bà cô Dợ” thì sau này sẽ có nhà nước riêng của người Mông. Họ cũng nói không được đi tiêm phòng COVID-19 vì sẽ làm vô sinh, giảm trí nhớ, gây hại sức khỏe con người... Oái oăm hơn, Giàng A So còn được đối tượng đó tuyên truyền rằng dịch bệnh đang tràn lan, ngày tận thế đang đến gần, chiến tranh sẽ xảy ra, lúc ấy nước sẽ biến thành máu. Do vậy, phải nấu cơm, phơi khô, đóng bao; nước đun sôi cho vào can, thùng nhựa để tích trữ. Khi có chiến tranh thì nước có sẵn để uống, còn cơm khô mang ngâm nước là ăn được, không phải nấu. Tin lời chúng, anh Giàng A So đã mua 10 thùng nhựa loại 220 lít đun nước sôi đổ đầy, nấu 3 bao gạo thành cơm rồi phơi khô, nhưng được vài hôm thì cơm mốc, nước bị thiu không dùng được. Anh còn mua 8 mặt nạ chống độc để đề phòng khí độc khi có chiến tranh. Ban ngày anh làm nương rẫy, tối đến lại học đạo, sinh hoạt với tổ chức “bà cô Dợ” qua hệ thống trực tuyến Zoom trên internet, có những ngày học đến 2 giờ sáng, Chủ nhật thì nghỉ cả ngày để cầu nguyện, người lạ cũng không được vào nhà... Sau vài năm theo tà đạo “bà cô Dợ”, anh Giàng A So ngày càng nhận thấy đạo này không có gì tốt đẹp cả. Lại được cán bộ tuyên truyền, vận động nên anh đã từ bỏ và quay lại sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Vợ anh thì vẫn mê muội tin theo. Chị đã bỏ chồng, mang theo 6 người con rời bỏ nhà cửa, dựng lều ở riêng và tiếp tục tin theo “bà cô Dợ”.

Làn gió mới về với bản làng

 Làn gió mới về với bản làng

Mưu đồ đen tối, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà con nhân dân, gieo rắc những luận điệu mê tín viển vông nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng đòi ly khai, tự trị... là những gì tà đạo “Bà Cô Dợ” đã và đang âm mưu thực hiện trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Sơn La. Cuộc sống của người dân bị xáo trộn, mâu thuẫn trong gia đình và những người theo tôn giáo khác nhau ngày càng sâu sắc...

Làm gì để đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ” là vấn đề đặt ra nhiều năm qua. Và, câu trả lời chính là cuộc sống yên bình đang dần trở lại với người dân vùng cao Sơn La

Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

 

Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân”.

Một số trang báo hải ngoại trích dẫn những ý kiến của đối tượng chống phá Nhà nước, lấy danh nghĩa “nhà quan sát”, “nhà nghiên cứu” cho rằng, nguồn gốc của mọi tranh chấp đất đai là vấn đề sở hữu khi “người dân bị Đảng tước đoạt quyền sở hữu đất đai”, người dân đấu tranh giành chính quyền nhưng “không được sở hữu gì”!

Từ đó, các đối tượng mượn cớ “góp ý” để cổ suý tư tưởng đất đai không thể thuộc sở hữu toàn dân mà “phải giao đất đai về cho cá nhân”, người dân cần phải “đấu tranh đòi quyền sở hữu đất đai”! Qua đó, các thế lực thù địch, phản động lấy cớ kích động mâu thuẫn trong nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trước đó, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao".

Đây là cơ sở chính trị rất quan trọng để hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nước ta. Các thế lực thù địch và số đối tượng cơ hội chính trị, phản động đã ra sức bới móc, thổi phồng các vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai, những vi phạm, bất cập, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Họ quy chụp, suy diễn các vụ việc tiêu cực trong lĩnh vực quản lý đất đai liên quan đến sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để kích động mâu thuẫn trong xã hội; qua đó bôi lem, hạ bệ vai trò của Đảng, Nhà nước, phủ nhận những thành tựu đạt được trong quản lý đất đai ở nước ta.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) từ ngày 3/1/2023 đến 15/3/2023.

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhằm huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân vào việc hoàn thiện dự án luật bảo đảm chất lượng, khoa học, khả thi, đồng bộ, hiệu quả; phản ánh ý chí, nguyện vọng, vì lợi ích nhân dân; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay trong từng chính sách. Việc sửa đổi luật cũng nhằm thúc đẩy phát huy cao nhất giá trị nguồn lực đất đai; ngăn ngừa, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật đất đai; khắc phục tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, tham nhũng, đầu cơ đất đai và tạo không gian, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước.

Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định, Luật Đất đai (sửa đổi) phải đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên cao nhất, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay trong từng chính sách cụ thể; phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về quản lý và sử dụng đất đai tại Nghị quyết số 18-NQ/TW phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.

Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân. Việc sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để mọi người được tiếp cận đất đai tạo ra của cải, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân, do vậy, Nhà nước phải là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực dưới hình thức dân chủ đại diện.

Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là chế độ sở hữu chung của toàn xã hội; các cơ quan nhà nước với tư cách là đại diện pháp lý, được giao quyền thống nhất quản lý trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và giao cho người sử dụng đất một số quyền quan trọng, phù hợp với định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta.

Như vậy, người sử dụng đất có thể phát triển kinh tế, còn Nhà nước có thể điều tiết quan hệ đất đai có lợi cho lợi ích quốc gia. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững.

Xét cả góc độ lý luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng XHCN mà chúng ta lựa chọn.

Khi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được đảm bảo, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, duy trì ổn định, phát triển và đảm bảo công bằng xã hội chứ không có chuyện “sở hữu toàn dân về đất đai đã làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân” như luận điệu của các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, nguyên nhân chính của chế độ người bóc lột người trong chế độ cũ là do sự tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó đất đai chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, để loại trừ nguyên nhân, nguồn gốc của bóc lột và bất công trong xã hội thì Nhà nước phải là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai.

Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.   

Ở nhiều nước tư bản như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có thể trưng thu.

Mỹ, Canada thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng không có nghĩa là chủ sở hữu có thể toàn quyền định đoạt với tài sản này, nhà nước vẫn giữ nhiều quyền định đoạt quan trọng như quyền quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất, thậm chí thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng.

Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử khác nhau, không thể lấy quy định của quốc gia này, thậm chí là thông lệ quốc tế để áp dụng đối với một quốc gia khác. Ở nước ta hiện nay, về bản chất, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất được Nhà nước trao nhiều quyền gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp vốn, tặng, cho…

Ngay ở các nước tư bản nói trên thì cá nhân cũng không thể có quyền tuyệt đối với đất đai của mình. Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là đi chệch hướng XHCN, trái với bản chất Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng.  

Cũng phải thấy rõ rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra.

Nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự yếu kém trong thực thi Luật Đất đai và các luật liên quan, nhất là tình trạng tham ô, trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên được giao chức trách, quyền hạn. Cùng với đó là công tác quản lý còn yếu kém, tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, đất thu hồi bị bỏ hoang làm cho người sử dụng đất rơi vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

Muốn giải quyết những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm

Sẵn sàng thúc đẩy quan hệ hai bên đi vào chiều sâu

 

Trả lời câu hỏi của phóng viên về kỳ vọng phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ trong tương lai, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Sau 10 thăm thiết lập, mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam và Mỹ đã phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất trên cả ba bình diện gồm song phương, khu vực và quốc tế. Hai nước duy trì các hoạt động tiếp xúc, đối thoại, trao đổi đoàn ở các ngành, các cấp, nhất là các chuyến thăm cấp cao. Trong các tuyên bố chung và các buổi tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước thì Việt Nam và Mỹ cùng nhất quán khẳng định việc tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc; luật pháp quốc tế; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau. Mỹ đồng thời nhiều lần khẳng định ủng hộ Việt Nam mạnh, độc lập và thịnh vượng”.

Bà Phạm Thu Hằng cũng thông tin, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư là điểm sáng nổi bật với kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Mỹ năm 2022 đạt 123 tỉ USD, tăng gấp 4 lần so với năm 2013. Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam vượt mốc 100 tỉ USD và Việt Nam trở thành đối tác thương mại thứ 8 của Mỹ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ tại Việt Nam đạt 11,4 tỉ USD, Mỹ hiện đứng thứ 11 trong số những nước đầu tư trực tiếp tại Việt Nam và các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Vừa qua, đoàn doanh nghiệp rất lớn của Mỹ đã đến thăm Việt Nam.

Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại đầu tư, trong các lĩnh vực khác như ứng phó với dịch bệnh COVID-19, phục hồi sau đại dịch, khoa học công nghệ, giáo dục, môi trường, hai bên cũng có những tiến triển hết sức tích cực. Mỹ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Hai bên cũng phối hợp ngày càng hiệu quả tại các diễn đàn đa phương như ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, tiểu vùng Mekong, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, liên quan đến phát triển bền vững và biến đổi khí hậu.

"Với những kết quả nêu trên, chúng tôi sẵn sàng và mong muốn hợp tác với chính quyền của Tổng thống Joe Biden để thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới", Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng tuyên bố. 

"Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, động lực của quá trình đổi mới"

 


Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước, luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống và quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là khẳng định của Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ, diễn ra chiều 23/3 tại Hà Nội.

Chiều 23/3, tại Hà Nội, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng chủ trì cuộc họp báo thường kỳ, trong đó đưa ra bình luận của Việt Nam về báo cáo nhân quyền 2022 mà Mỹ mới công bố cũng như nêu kỳ vọng trong quan hệ giữa hai bên.

Việt Nam lấy làm tiếc vì báo cáo nhân quyền 2022 của Mỹ

Cụ thể, hôm 20/3, Bộ Ngoại giao Mỹ mới công bố “Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022”, cho rằng một số quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam đã vi phạm nhân quyền có hệ thống. Bình luận về thông tin này, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Việt Nam”.

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng.

Theo Phó Phát ngôn, Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước, luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống và quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ và thúc đẩy trong các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn.

Bà Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Việt Nam lấy làm tiếc vì báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa ra một số nhận định thiếu khách quan, dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở, trên tinh thần xây dựng với Mỹ về những vấn đề có sự khác biệt, để tăng cường hiểu biết và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ”.

Lại những đánh giá sai lệch về Sách trắng Tôn giáo ở Việt Nam

 


Nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động, các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam đã câu kết với các phần tử cực đoan để chính trị hóa, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, thường xuyên lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo, tạo ra bức tranh méo mó về vấn đề tự do tôn giáo tại nước ta.

Mới đây, ngày 9/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông và Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Cuốn sách cung cấp những thông tin cơ bản về tôn giáo ở Việt Nam; chính sách tôn giáo ở Việt Nam; thành tựu cũng như thách thức của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua đó khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Sau khi Bộ Thông tin và Truyền Thông, Ban Tôn giáo Chính phủ ra mắt Sách trắng, ngay lập tức một số trang báo điện tử như VOA, RFI, RFA… cùng nhiều trang mạng của các tổ chức, cá nhân chống đối đã có những bài viết, bình luận sai trái, đánh giá một cách tiêu cực về cuốn sách này. Họ đưa ra những bài viết cho rằng, việc cho ra đời cuốn sách này là “bức bình phong” nhằm che đậy các vi phạm kéo dài tại Việt Nam, nguyên nhân đã khiến Washington đưa Hà Nội vào danh sách theo dõi đặc biệt về tôn giáo! Những đánh giá này được dựa trên nhận định của số đối tượng cực đoan, chống đối trong các tôn giáo như Thích Vĩnh Phước, một thành viên thuộc tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất; linh mục Đinh Hữu Thoại, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam; Lê Quang Hiển, thuộc tổ chức Phật giáo Hòa Hảo thuần túy… Các cá nhân trên đều là thành viên của tổ chức bất hợp pháp với danh xưng “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”.       

Đặc điểm chung của các trường hợp trên là đều thuộc các phần tử chống đối, có quá trình tu tập kém, ít chăm lo cho việc đạo nên uy tín, ảnh hưởng trong giáo hội xếp hạng thấp, năng lực yếu kém, không được trọng dụng. Từ đó, số này tỏ ra bất mãn và đã ly khai khỏi các tôn giáo, tổ chức tôn giáo, sau đó liên kết lại với nhau thành lập một tổ chức bất hợp pháp mang danh nghĩa tôn giáo để phục vụ ý đồ, động cơ riêng. Cho nên, hầu hết việc làm của họ đều mang mưu đồ, lợi ích cá nhân chứ không đại diện cho bất kỳ một tổ chức tôn giáo nào, không vì lợi ích chung của cộng đồng. Do đó, những phát ngôn, nhận định mà họ chia sẻ với phóng viên của các trang báo điện tử nêu trên cũng chỉ mang tính chủ quan, phiến diện một chiều, mang tính thù địch với Việt Nam của một nhóm nhỏ có chung lợi ích. Những nhận xét, đánh giá của số cá nhân chống đối nêu trên không thể coi là “đại diện cho tiếng nói tôn giáo”, càng không có giá trị tham khảo. Thế nhưng, bấy lâu nay, phóng viên của các trang báo điện tử VOA, RFI, RFA… lại viện dẫn những nhận định thiếu cơ sở, những đánh giá xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo của các đối tượng trên.

Trong khi đó, những nội dung trong Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” và gần đây là Chỉ thị 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” cùng với hàng chục văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đến nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân. Nhờ đó mà số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân được đảm bảo tốt hơn, các cơ sở thờ tự ngày càng được khang trang, đẹp đẽ, quan hệ quốc tế của các tôn giáo ngày càng được mở rộng, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật...

Đặc biệt, các hoạt động tôn giáo lớn đã trở thành lễ hội của người dân Việt Nam như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, trong đó năm 2019 được tổ chức tại chùa Tam Chúc (Hà Nam) với trên 1500 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng hàng vạn tăng, ni, phật tử về dự; các lễ hội của Tin Lành như ngày lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam được tổ chức trang nghiêm. Đặc biệt là ngày Lễ Giáng sinh của người Công giáo ở khắp mọi miền đất nước cũng đã trở thành một lễ hội thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân Việt Nam... Vừa qua, giáo tỉnh Hà Nội cũng đã tổ chức thành công Đại hội Giới trẻ tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng với sự tham gia của Tổng Giám mục Marak zelewki – Đặc phái viên không thường trú của Tòa Thánh Vatican tại Việt Nam cùng các vị lãnh đạo giáo hội và khoảng 15 nghìn giáo dân là thanh niên, học sinh, sinh viên người Công giáo... Đây chính là những minh chứng sống động, chân thực về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, trong các hội thảo quốc tế về vấn đề tự do tôn giáo được tổ chức tại Việt Nam hay trong các lần đón tiếp các đoàn lâm thời, các tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế vào Việt Nam tìm hiểu chính sách, pháp luật tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE), Tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF)..., Việt Nam đều chủ động cung cấp các thông tin về tình hình tự do tôn giáo và chính sách, pháp luật của tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, thẳng thắn trao đổi các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm. Từ đó, giúp các tổ chức này thấy rõ thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú cũng như cho thấy chính sách, pháp luật đã đảm bảo quyền tự don tôn giáo chính đáng của nhân dân.

Nếu như thực sự khách quan thì phóng viên của VOA, RFI, RFA, BBC… cần dẫn chứng thêm những nhận định, quan điểm của những vị lãnh đạo trong các tổ chức giáo hội đã được Nhà nước ta công nhận tư cách pháp nhân, họ mới chính là người đại diện cho giáo hội, cho lợi ích của đại đa số chức sắc, tín đồ trong các tôn giáo Việt Nam. Thế nhưng, bấy lâu nay, khi lấy thông tin đánh giá, các trang thông tin báo chí nói trên luôn phớt lờ và bỏ qua thực tế này và một mực trung thành với quan điểm của các đối tượng chống phá. Do đó, một lần nữa cần khẳng định, việc phê phán Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam là một chiêu trò nhằm chính trị hóa, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hòng phủ nhận những thành quả từ những chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Rõ ràng các đối tượng trong tổ chức “Hội đồng liên tôn Việt Nam” và các trang VOA, RFI, RFA… khi phê phán về cuốn Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam thực chất là một chiêu trò để biện hộ cho những luận điệu sai trái rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc về tình hình, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta, qua đó lấy cớ phủ nhận chính sách của Đảng, Nhà nước và thành quả trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo cho người dân.

Tại buổi họp báo công bố Sách trắng, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Nguyễn Tiến Trọng nêu rõ: Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp nhất định cho đất nước trên nhiều phương diện của đời sống xã hội, đồng thời là một nhân tố xã hội và văn hóa tích cực góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Các tôn giáo du nhập từ bên ngoài cũng có quá trình tiếp biến với văn hóa Việt, tạo ra nét riêng của tôn giáo Việt Nam. Việt Nam là đất nước ôn hòa trong quan hệ giữa các tôn giáo; có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hòa bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước bảo đảm sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo và không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Ở Việt Nam, các tôn giáo chung sống hài hòa, đoàn kết, gắn bó đồng hành với dân tộc, không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo tích cực tham gia các phong trào xã hội, từ thiện, xóa đói giảm nghèo, đóng góp thiết thực vào sự phát triển đất nước. Ngoài ra, Nhà nước cũng khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo phát huy nguồn lực tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Vấn đề đất đai liên quan đến tôn giáo luôn được Nhà nước quan tâm giải quyết. Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ và quy định pháp luật. Theo thông tin từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay, Việt Nam có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự. Nhà nước bảo đảm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% dân số.

Thủ đoạn lợi dụng góp ý sửa đổi Luật Đất đai để chống phá Đảng, Nhà nước

 

Thủ đoạn lợi dụng góp ý sửa đổi Luật Đất đai để chống phá Đảng, Nhà nước

Trong khi việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia tích cực thì những phần tử chống đối, số đối tượng cơ hội chính trị đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ để đăng tải các luận điệu xuyên tạc về nội dung, ý nghĩa của dự thảo luật cũng như chống phá hoạt động lấy ý kiến nhân dân.

Một số cá nhân đưa bài dưới danh nghĩa “trí thức góp ý dự thảo luật” để xuyên tạc, gây rối, cố tình làm trầm trọng hóa các vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến đất đai nhằm thực hiện mưu đồ xấu. Trên mạng xã hội xuất hiện một số luận điệu mang danh "góp ý" song cố tình xuyên tạc, đưa ra các quan điểm cho rằng Việt Nam sửa đổi Luật Đất đai là để thao túng thị trường đất đai, lồng ghép lợi ích cho những cá nhân hay nhóm người nhất định chứ không vì lợi ích của nhân dân.

 

Để chứng minh quan điểm này, các đối tượng đã cắt gọt, đánh tráo phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm làm sai lệch bản chất, cho đó là bằng chứng để tố cáo. Họ phủ nhận sạch trơn giá trị của sự đổi mới là để thay thế cái cũ, khắc phục những bất cập còn tồn tại mà ngụy biện rằng, thực tế nhiều năm qua có sự cài cắm lợi ích vào trong luật. Từ đó quy kết “Việt Nam có sửa đổi luật nhiều lần thì cũng chỉ là hoạt động chắp vá, không thực tiễn, không hề vì dân”. Một số ý kiến còn cho rằng, Luật Đất đai mới sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc “cướp đất” của chính quyền cộng sản. Họ “kiến nghị” rằng, để gỡ rối thì phải xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai!.

Một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch là cố tình đăng tải các câu chuyện liên quan đến những tiêu cực, các vụ án về tranh chấp đất đai nhằm gây ác cảm đối với việc góp ý dự thảo luật, từ đó tạo ra luồng suy nghĩ tiêu cực khiến người dân bất hợp tác, không tin tưởng vào hiệu quả của việc lấy ý kiến cho dự thảo, hiểu sai về các chính sách của Đảng, Nhà nước. Các đối tượng liên tục lập những nick ảo, tài khoản giả mạo người dân để tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin, bài viết liên quan đến các vụ việc về đất đai với góc nhìn lệch lạc, tiêu cực nhằm kích động người dân, tạo tâm lý hoang mang, mất niềm tin đối với luật pháp và chính quyền.

Một trong những vụ việc gần đây cho thấy rõ bản chất chống phá của các thế lực thù địch qua việc lợi dụng thông tin Phòng Giáo dục và Đào tạo quận 12 (TP Hồ Chí Minh) có văn bản chỉ đạo tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) gửi tới nhóm trẻ lớp mẫu giáo, lớp mầm non; trường mẫu giáo, mầm non (công lập và ngoài công lập); trường tiểu học (công lập và ngoài công lập), trường trung học cơ sở... Điều đáng nói, nội dung văn bản nêu rõ việc lấy ý kiến đối với các cơ sở giáo dục công lập là toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên tại đơn vị. Đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập là chủ đầu tư các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non, trường mầm non, trường tiểu học ngoài công lập và toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên tại đơn vị.

Văn bản này sau đó đã xuất hiện trên mạng, tuy nhiên ảnh chụp văn bản chỉ có phần tiêu đề và mục “kính gửi” mà thiếu hoàn toàn nội dung chính. Một số người mới chỉ đọc vài dòng mở đầu của văn bản nên đã có sự nhầm lẫn về đối tượng lấy ý kiến, cho rằng văn bản hướng đến lấy ý kiến dự thảo Luật Đất đai đối với… trẻ mẫu giáo, mầm non! Với cách hiểu như vậy, các ý kiến (trong đó có cả người nổi tiếng) lên tiếng phê phán, miệt thị, cho rằng đây là một chỉ đạo kỳ quặc! Sự việc ngày càng bị đẩy đi quá xa khi các đối tượng cực đoan, phản động đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ để đăng tải luận điệu xuyên tạc, cho rằng “chính quyền mị dân”, người dân không nên “mất thời gian góp ý”!

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, tư liệu sản xuất cơ bản, là không gian phát triển và là nguồn lực to lớn của đất nước. Trong thời gian qua, thực hiện Luật Đất đai năm 2013, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế; nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững; việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tình hình khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; suy thoái, ô nhiễm, sạt lở đất ngày càng nghiêm trọng…

Việc sửa đổi Luật Đất đai là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy nguồn lực đất đai đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao…

Mục đích xây dựng dự án luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế; giải quyết các chồng chéo, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn; tăng cường quản lý đất đai cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế... hài hòa quyền, lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Thúc đẩy thương mại hóa quyền sử dụng đất, phát triển thị trường bất động sản lành mạnh. Phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Thiết lập hệ thống quản lý đất đai hiện đại, minh bạch, hiệu quả gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát huy dân chủ, hạn chế tình trạng khiếu kiện về đất đai.

Việc lấy ý kiến đóng góp của người dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, đặt người dân vào vị trí trung tâm, nhằm hướng đến đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân về đất đai mà Luật Đất đai là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền cơ bản ấy. Mặt khác, Luật Đất đai là đạo luật quan trọng, có mối quan hệ và ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực thi các chính sách được quy định trong rất nhiều luật khác, trong đó người dân là chủ thể chịu sự tác động nhiều nhất, do đó việc lấy ý kiến toàn dân đối với dự thảo luật này vừa thể hiện sự tôn trọng quyền chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, vừa huy động được trí tuệ, tâm huyết, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, từ đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đất đai, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật.

Công tác lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được hưởng ứng tích cực, rộng khắp, thể hiện sự quan tâm của các cấp, các ngành, các giai tầng xã hội đối với dự án luật rất quan trọng này. Nhiều ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tán thành với các nội dung cơ bản của dự thảo luật, đánh giá dự thảo đã có nhiều đổi mới, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát huy được nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quản lý đất đai chặt chẽ, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Các ý kiến góp ý tập trung vào nhiều nhóm nội dung, trong đó cho ý kiến về thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nhiều ý kiến tán thành với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng nhưng đề nghị mở rộng thêm đối với các dự án xã hội hóa (y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường), không phân biệt vốn đầu tư là công hay tư. Có ý kiến đề nghị không quy định việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đảm bảo thu nhập của người có đất bị thu hồi tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, chỉ quy định về điều kiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tốt hơn nơi ở cũ…

Cần thấy rằng, việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta nhằm huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, hoàn thiện dự án luật quan trọng này theo hướng sát với thực tiễn và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Trên cơ sở ý kiến nhân dân, ý kiến của các cơ quan, tổ chức, dự thảo sẽ được Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 sắp tới. Theo đánh giá của ban soạn thảo, việc lấy ý kiến vào dự thảo luật quan trọng này được triển khai nghiêm túc, đảm bảo chất lượng, khoa học, đồng bộ, khả thi; phản ánh ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Từ những thủ đoạn lợi dụng góp ý Luật Đất đai (sửa đổi) để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh trong cộng đồng về việc tiếp nhận thông tin. Mỗi sự việc, hiện tượng cần được đánh giá khách quan, toàn diện, dựa trên các dữ liệu đầy đủ, tin cậy. Vội vã tin, nghe theo và lan truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, rất có thể người sử dụng mạng xã hội đang tiếp tay cho tin giả, tin xấu độc phát tán. Vì thế, người dân cần tỉnh táo nhận thức rõ, tránh mưu đồ của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động, gây bất ổn môi trường chính trị - xã hội, kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng ý kiến sai trái…

Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna do Việt Nam đề xuất, soạn thảo.

 

Ngày 4/4, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc (LHQ) ở Geneva (Thụy Sĩ), Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ đã kết thúc, hoàn thành chương trình đề ra từ đầu Khóa họp, với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna do Việt Nam đề xuất, soạn thảo.

Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong Khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.

Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2, nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.

Nghị quyết nhận được sự tham gia đồng bảo trợ Nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều 3/4 giờ Geneva), bao gồm 14 nước nòng cốt (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Rumani, Nam Phi và Tây Ban Nha), 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.

     Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Để nhiệm vụ này đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn, mỗi cán bộ, đảng viên cần hiểu và nhận thức đầy đủ những yếu tố tác động đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh tình hình hiện nay.

THỰC TIỄN CHỨNG MNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM LÀ CHIẾN LƯỢC ĐÚNG ĐẮN

 Trong thời gian gần đây trên các trang mạng xã hội lại xuất hiện một số thông

tin cho rằng; việc thực hiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, là

không thực tế; không khả thi và cần phải bác bỏ. Đó là những luận điệu cố tình bóp

méo, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Bài viết

đưa ra một vài dẫn chứng thực tiễn; Đảng, nhà nước, nhân dân ta đã và đang làm rất

thành công trong hơn 75 năm qua, không như những gì các thế lực phản động, thù

địch đã xuyên tạc.

Trước hết quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn

lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và là sự vận dụng

sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu

mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh,

vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn

đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực

Nhà nước. Toàn bộ quyền lực Nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Điều 1, Hiến

pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, khẳng định: “Nước Việt Nam là một

nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt

Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách

mạng. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,

gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, dân tộc. Cương lĩnh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm

2011) khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân

dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”, được cụ thể hóa tại Khoản 1, Điều 2,


Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nghị quyết

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu

quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của

đổi mới hệ thống chính trị...”.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định trong các bản Hiến

pháp của Việt Nam. Với Hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người

từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch

sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn

mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đã hơn

75 năm qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt tương ứng với các giai đoạn phát triển của

cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi bản

Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) là một mốc quan trọng trong quá

trình xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang thấm dần vào cuộc sống; với những

mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành một nước phát triển có thu nhập cao theo

định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện

Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” dưới sự lãnh đạo của Đảng là

một xu thế khách quan, mang tính quy luật; tạo sự đồng thuận và quy tụ sức mạnh đại

đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân

chủ, công bằng, văn minh”. Với sự đồng thuận của trên 90 triệu người dân Việt Nam,

đã tạo thành sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, không có thế lực phản động nào có

thể phủ nhận hay xuyên tạc, bôi nhọ được thực tế này./.

THAM NHŨNG KHÔNG PHẢI LỖI CỦA ĐỘC ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG

 Từ các nghiên cứu về lịch sử nhân loại cho thấy; ở mỗi thời đại, tham nhũng

được hiểu, đề cập và định danh với những tên gọi khác nhau, phạm vi rộng hẹp cũng

khác nhau,... nhưng điểm chung của vấn nạn này là gây ra những hậu quả nghiêm


trọng, cản trở hoặc đối lập với tiến bộ xã hội. Với cách tiếp cận đó, có thể hiểu tham

nhũng là một hiện tượng xã hội, xuất hiện cùng với sự xuất hiện tư hữu và quá trình

hình thành, phát triển của giai cấp, nhà nước; nó được biểu hiện qua hành vi của con

người, tác động tiêu cực đến xã hội và sẽ mất đi khi xã hội không còn sở hữu tư

nhân. Bản chất của hiện tượng này nằm ngay trong lòng xã hội, do cá nhân hay bộ

phận nắm giữ những trọng trách trong xã hội thực hiện với mục đích vụ lợi riêng, làm

cản trở, kìm hãm quá trình vận động, phát triển của xã hội. Vì vậy, đây là cuộc chiến

lâu dài, đầy gian nan, phức tạp đối với tất cả các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt

Nam chúng ta.

Nghiên cứu lý luận và những bằng chứng khoa học cho thấy; thủa “bình minh”,

loài người muốn tồn tại phải đoàn kết, sống theo “bầy đàn”, cùng nhau sáng tạo ra

công cụ lao động, chinh phục, cải tạo tự nhiên và cùng nhau sản xuất, sử dụng tư liệu

sinh hoạt,… nên mọi của cải vật chất đều là của chung, chưa có hành vi chiếm hữu và

lúc đó chưa có tham nhũng. Khi sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, năng

suất lao động được nâng lên, tư liệu sinh hoạt chung được sản xuất ra vượt quá nhu

cầu duy trì sự sống của cộng đồng, dẫn đến hiện tượng dư thừa; khi đó, bắt đầu xuất

hiện những cá nhân, bộ phận người bị “tha hóa”, tìm mọi cách độc chiếm lượng tư

liệu sinh hoạt dư thừa đó làm của riêng - hành vi tham nhũng xuất hiện. Sự “tha hóa”

ngày càng tăng, nhu cầu chiếm hữu ngày càng lớn, dẫn đến chiếm đoạt về lao động và

tư liệu sản xuất, rồi tổ chức lực lượng chuyên trách để bảo vệ, mở rộng nội dung,

phạm vi, lãnh thổ chiếm hữu,... Như vậy, tham nhũng xuất hiện từ cuối xã hội nguyên

thủy; khởi đầu là hành vi chiếm đoạt tư liệu sinh hoạt dư thừa trong cộng đồng; sau

đó, nội dung, phạm vi chiếm hữu ngày càng mở rộng. Ban đầu là một, hay một bộ

phận người trong cộng đồng, rồi đến giai cấp bóc lột (trong xã hội có đối kháng giai

cấp). Hiện nay, nhân loại đang trong giai đoạn phát triển có sự đan xen giữa cái cũ và

cái mới, vẫn còn cơ sở tồn tại, nên vẫn còn tình trạng tham nhũng, Việt Nam cũng

không ngoại lệ.

Quá trình nghiên cứu xây dựng học thuyết về con người; các nhà kinh điển

Mác - Lênin khẳng định: “con người khác với con cừu chỉ là ở chỗ trong con người,

ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng của con người là bản năng đã được ý thức”.

Thực tế là, sự tồn tại của con người luôn gắn liền với bản năng, nhu cầu tự nhiên:

ăn, uống, mặc, ở, đi lại,... và nó được “ý thức hóa”, đó là sự khác biệt căn bản nhất


giữa con người so với con vật. Quá trình hoạt động thực tiễn làm cho sự thống nhất

biện chứng giữa bản năng sinh vật và mặt xã hội trong con người ngày càng hoàn

thiện, nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, tức nhu cầu về lợi ích ngày càng cao,

không có giới hạn, vì nó được “ý thức hóa”; ngược lại, những nhu cầu đó cũng tác

động mạnh mẽ trở lại, thúc đẩy hoạt động thực tiễn, làm cho ý thức con người phát

triển ngày càng hoàn thiện…

Tuy nhiên, số lượng cá nhân, bộ phận người bị “tha hóa” nhỏ hơn nhiều so với

thành phần lao động và các tầng lớp khác trong cộng đồng, xã hội, nhưng hành vi

tham nhũng luôn kìm hãm, gây hậu quả nghiêm trọng đối với mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội. Vì, bản năng, sinh vật, nhu cầu tự nhiên của họ được “ý thức hóa” theo

hướng tiêu cực, luôn tìm mọi thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, biến tài

sản chung của xã hội, tập thể hay của công dân thành tài sản riêng, làm thất thoát,

lãng phí kìm hãm sự phát triển; đảo lộn những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức,…

và len lỏi vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Bước vào công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên phạm vi cả

nước, nhất là từ khi đổi mới đến nay, tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra với tính chất,

mức độ khác nhau, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước. Để đấu tranh

ngăn chặn, phòng, chống hiện tượng này, Đảng, Nhà nước ta ban hành nhiều chủ

trương, chính sách phù hợp với từng giai đoạn. Mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đều ban hành

những nghị quyết chuyên đề, hoặc lồng ghép nội dung phòng, chống tham nhũng vào

nhiều nghị quyết Trung ương. Hệ thống luật, nghị định, hướng dẫn thực hiện do Nhà

nước ban hành liên quan đến lĩnh vực này ngày càng hoàn thiện. Hệ thống cơ quan

chỉ đạo, cơ quan chuyên trách được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm

tính đồng bộ, thống nhất, chuyên sâu. Những năm gần đây, cuộc chiến này được toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh với quyết tâm chính trị cao và đã thu được

nhiều kết quả quan trọng được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Như vậy, tham nhũng xuất hiện từ cuối xã hội nguyên thủy; Tham nhũng luôn

là một “căn bệnh” nguy hiểm của xã hội, có ở tất cả các chế độ chính trị khác nhau, để

có thể phòng ngừa, đẩy lùi, chữa khỏi được nó phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp

xóa bỏ chế độ tư hữu, cùng đối kháng giai cấp; đồng thời, ngày càng hoàn thiện bản

chất “người” để lao động, cống hiến trở thành nhu cầu, mục đích cao nhất trong hoạt

động của mỗi người, đặc biệt là những cá nhân, bộ phận được giao cho nắm giữ

những trọng trách xã hội nhất định. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể khẳng định


rằng: tham nhũng không phải lỗi của độc Đảng hay đa Đảng như các tổ chức phản

động thường rêu rao, ám chỉ Đảng cộng sản Việt Nam; mà đằng sau đó là âm mưu

chống phá Đảng và Nhà nước ta mà thôi./.

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN TRÊN TRANG MẠNG XÃ HỘI

 Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người

ngày càng nhiều hơn, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh. Do vậy,

nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

Cho dù trong mấy năm gần đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong

việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng thông qua việc đấu

tranh phản bác lại những quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động,

song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là

một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy

giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con

đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Để hoạt động tư

tưởng, lý luận trên không gian mạng đạt hiệu quả cao hơn nữa, cần thực hiện tốt một

số nội dung sau:

Một là, đầu tư mạnh công tác nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên

không gian mạng; Trên mặt trận tư tưởng vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận,

song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất

phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề

nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Cho dù

sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì

suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu

không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu

hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý

luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trận địa tư


tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không

liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế

có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay,

không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho

cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa

công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về

mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do

đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công

tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến này.

Để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ

nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ

thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án

giải quyết các vấn đề của đất nước một cách đúng đắn, hiệu quả; từ đó mới có thể

nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Hai là, Từ bài học “lấy dân làm gốc” kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công

tác lý luận trên môi trường không gian mạng; Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị

cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian

mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng

trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân,

đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng

ta. Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì

những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là môi trường

này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình

huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng

đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường

sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục

tư tưởng đối với cư dân mạng. Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên.

Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn

với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo

đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan

trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng

và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được

có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa

vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.


Ba là, đổi mới phương pháp truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần

hay hơn và hấp dẫn hơn; Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe

các bài viết một chiều. Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác

động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền

thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư

tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức

năng giải trí ngày càng tăng nhanh.

Hiện nay, nội dung thể hiện luận điểm của những cá nhân tham gia không gian

mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên

các diễn đàn như trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên

trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp

cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các

nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không

gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như

hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng, họ cũng bỏ qua và không quan

tâm nhiều. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu

quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thực sự thu hút và lấy được sự yêu thích

không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà cả với quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới

trẻ hiện nay.

Có được những chiến dịch truyền thông tư tưởng trên không gian mạng được

người dân đón nhận hồ hởi và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh

giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư

tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên

không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương

tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn

hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo

quần chúng nhân dân cùng tham gia vào các hoạt động tư tưởng, lý luận trên môi

trường không gian mạng./.

Việt Nam góp phần định hình những giá trị của nhân loại

    Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo đã được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua. Điều này đã hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề cộng đồng quốc tế quan tâm của Việt Nam.

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN THA HÓA KHÔNG DO MỘT ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG LÃNH ĐẠO

 Hiện nay các thế lực thù địch thường rêu rao cho rằng: “bỏ độc quyền lãnh đạo

mới có thể chấm dứt nạn đảng viên tha hóa”, với những luận điệu rất nguy hiểm này,


nếu chúng ta không tỉnh táo dễ bị mắc mưu những thế lực phản động, xuyên tạc; để từ

đó, tìm mọi cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà

nước và xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị của đất

nước. Vì vậy, cần nhận thức đúng đắn vấn đề này để đấu tranh với những luận điệu

sai trái, phản động đó.

Thực tiễn trên thế giới, bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có người trong bộ máy

công quyền tha hóa quyền lực, vì nó là hiện tượng gắn liền với quyền lực chính trị.

Thực trạng ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập cũng có không

ít người trong bộ máy công quyền bị tha hóa. Bài viết chỉ nêu một vài vụ điển hình

như: Vụ bê bối quyền lực chính trị để trục lợi (Watergate) của Tổng thống Mỹ

Richard Nixon năm 1972 - 1974, buộc Ông này phải từ chức khi đang là Tổng thống

nhiệm kỳ hai; vụ ông Bernard Kerit, nguyên Chỉ huy trưởng Cảnh sát New York, năm

2004 đã được Tổng thống Mỹ Geore W.Bush đề cử làm Bộ trưởng Bộ An ninh nội

địa Mỹ, nhưng do phạm tội tham nhũng trốn thuế và nhận tiền hối lộ nên đã không

được bổ nhiệm. Hoặc là ở Hàn Quốc, vào tháng 12/2016, Tổng thống Hàn Quốc Park

Geun - Hye bị Quốc hội phế truất chức Tổng thống do bị buộc tội tham nhũng dính líu

đến vụ dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính. Trên thế giưới

còn rất nhiều chính khách của các nước có chế độ đa đảng bị tha hóa mà các phương

tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước đã đưa tin. Họ đều là những người đại

diện cho một đảng chính trị nhất định của các nước đó. Vậy mà mấy ông “dân chủ

cuội” chẳng thấy ho he một tiếng nào.

Đối với Việt Nam ta, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ

mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Không phải ngày nào cũng kiểm

tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết

điểm, phát triển ưu điểm”. Người cho rằng, lãnh đạo đúng là cùng với việc “quyết

định mọi vấn đề cho đúng”, “phải tổ chức thi hành cho đúng”, còn “Phải tổ chức sự

kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”.

Người yêu cầu: “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán

bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải

nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm

soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng


tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Đảng nhấn mạnh: Hoàn thiện và thực hiện

nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ

cương. Đặc biệt, xác định được kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là gốc của

kiểm soát quyền lực trong Đảng. Vì vậy, ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị (khóa XII) đã

ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán

bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó nhấn mạnh: Sử dụng cơ chế, biện

pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn

chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là

các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực

hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị

được giao trong công tác cán bộ.

Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, những năm qua, nước ta đã đạt

được những kết quả quan trọng trong kiểm soát quyền lực chính trị. Trong đó, công

tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng

bộ, quyết liệt; chất lượng lãnh đạo, hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và

đảng viên được nâng lên. Việc sắp xếp bộ máy hệ thống chính trị được thực hiện theo

hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đất nước.

Cho đến năm 2019, cả nước đã giảm được 6 đơn vị hành chính cấp huyện; 545

đơn vị hành chính cấp xã; 15.354 thôn, tổ dân phố; giảm 4 đầu mối trực thuộc Trung

ương, 6 tổng cục và 2 bộ tư lệnh; 83 cục, vụ và tương đương…; Công tác kiểm tra,

giám sát, kỷ luật Đảng được tăng cường, có trọng tâm, trọng điểm theo đúng tinh thần

của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “không có vùng cấm, không có ngoại

lệ”. Từ năm 2016 đến 2019, thông qua công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy và ủy ban

kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp

và 54.573 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

thi hành kỷ luật 8 tổ chức đảng, 45 đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành

kỷ luật 111 đảng viên (có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý). Công tác phòng,

chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, kiên trì, có hiệu

quả…; Vai trò của pháp luật ngày càng được đề cao; cơ chế phân công, phối hợp và

kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập

pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rành mạch. Hoạt động của Chính phủ và các


bộ, ngành đổi mới theo hướng kiến tạo, tập trung điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, hỗ

trợ phát triển cho các doanh nghiệp, để phát triển kinh tế đất nước.

Như vậy, kiểm soát quyền lực, phòng chống sự tha hóa của cán bộ, đảng viên là

việc làm thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến các địa

phương. Vậy mà, các thế lực thù địch luôn rêu rao nói rằng; độc Đảng là buông lỏng

quản lý; là phe cánh, là lợi ích nhóm dẫn đến cán bộ đảng viên tha hóa biến chất,

tham ô lẵng phí. Đây cũng chỉ là những chiêu trò nhằm xuyên tạc, bôi nhọ làm mất uy

tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân mà thôi; chúng ta cần tỉnh táo trước những

luận điệu xuyên tác này./.

CẦN NẮM CHẮC LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thời gian gần đây, các bài đấu tranh trên không gian mạng ở các cơ quan, đơn

vị đã thường xuyên được đổi mới về nội dung, đa dạng hóa về hình thức, góp phần

nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về bản chất cách mạng,

khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế

nhất định như: Một số bài viết chưa thực sự quan tâm đúng mức chất lượng, hiệu quả

về; nội dung và hình thức, biện pháp đấu tranh chưa phong phú, đa dạng, hiệu quả còn

thấp; số lượng bài viết có tính chiến đấu, sâu sắc, thuyết phục chưa được nhiều... Để

nâng cao chất lượng, hiệu quả các bài đấu tranh của trên không gian mạng, cần phải

nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp

luật Nhà nước trong viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên

không gian mạng.

Các bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng,

thực chất là cuộc đấu tranh ý thức hệ nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp cách mạng của

Đảng và nhân dân ta... Việc nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, chủ


trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, các quy định của quân đội là cơ

sở củng cố và phát triển thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý

vững chắc nhất để chúng ta viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên

không gian mạng. Vì vậy, mỗi tác giả của bài viết cần quán triệt sâu sắc các nghị

quyết, chỉ thị, định hướng của Đảng, Nhà nước về chống “diễn biến hòa bình”, bạo

loạn lật đổ của các thế lực phản động; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia; đặc biệt là Chỉ

thị số 03/CT- BQP ngày 23/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường

công tác bảo đảm an toàn thông tin và một số vấn đề về tổ chức hoạt động tác chiến

không gian mạng; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 8/1/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục

Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội

chính trị trên không gian mạng trong quân đội. Bên cạnh đó, cần vận dụng linh hoạt,

khéo léo các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước sát

với các tình huống và hoàn cảnh cụ thể, tránh rập khuôn máy móc, cứng nhắc, cảm

tính, làm mất tính chiến đấu trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên không

gian mạng, các bài viết cần thể hiện quan điểm cứng rắn của mình và phê phán thẳng

thắn không khoan nhượng các quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch trên cơ sở

các luận chứng khoa học, không vòng vo để đọc giả dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu.

Chính vì vậy, lực lượng tham gia đấu tranh trên không gian mạng cần có sự vận

dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh

giá tình hình, tổ chức viết bài đấu tranh hiệu quả nhất, đảm bảo sự kịp thời trong nhận

diện kẻ xấu và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại hoạt động

chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng

đạt hiệu quả cao nhất.