Cần hiểu đúng chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam
Lợi dụng việc Nhà
nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai
(sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc
cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà
nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu
của nhân dân”.
Một số trang báo
hải ngoại trích dẫn những ý kiến của đối tượng chống phá Nhà nước, lấy danh
nghĩa “nhà quan sát”, “nhà nghiên cứu” cho rằng, nguồn gốc của mọi tranh chấp
đất đai là vấn đề sở hữu khi “người dân bị Đảng tước đoạt quyền sở hữu đất
đai”, người dân đấu tranh giành chính quyền nhưng “không được sở hữu gì”!
Từ đó, các đối
tượng mượn cớ “góp ý” để cổ suý tư tưởng đất đai không thể thuộc sở hữu toàn
dân mà “phải giao đất đai về cho cá nhân”, người dân cần phải “đấu tranh đòi
quyền sở hữu đất đai”! Qua đó, các thế lực thù địch, phản động lấy cớ kích động
mâu thuẫn trong nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trước đó, Ban Chấp
hành Trung ương khoá XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi
mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử
dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập
cao".
Đây là cơ sở chính
trị rất quan trọng để hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nước ta.
Các thế lực thù địch và số đối tượng cơ hội chính trị, phản động đã ra sức bới
móc, thổi phồng các vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai, những vi phạm, bất
cập, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Họ quy chụp, suy diễn
các vụ việc tiêu cực trong lĩnh vực quản lý đất đai liên quan đến sai phạm của
một số cán bộ, đảng viên để kích động mâu thuẫn trong xã hội; qua đó bôi lem,
hạ bệ vai trò của Đảng, Nhà nước, phủ nhận những thành tựu đạt được trong quản
lý đất đai ở nước ta.
Thực hiện Nghị
quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban
hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa
đổi) từ ngày 3/1/2023 đến 15/3/2023.
Việc tổ chức lấy ý
kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhằm huy động trí tuệ, tâm
huyết của nhân dân vào việc hoàn thiện dự án luật bảo đảm chất lượng, khoa học,
khả thi, đồng bộ, hiệu quả; phản ánh ý chí, nguyện vọng, vì lợi ích nhân dân;
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay
trong từng chính sách. Việc sửa đổi luật cũng nhằm thúc đẩy phát huy cao nhất
giá trị nguồn lực đất đai; ngăn ngừa, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật đất
đai; khắc phục tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, tham nhũng, đầu cơ đất đai
và tạo không gian, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước.
Đảng, Nhà nước ta
đã khẳng định, Luật Đất đai (sửa đổi) phải đặt lợi ích của nhân dân, của đất
nước lên cao nhất, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay trong từng chính
sách cụ thể; phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương của
Đảng về quản lý và sử dụng đất đai tại Nghị quyết số 18-NQ/TW phù hợp với thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đất đai là một bộ
phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và
phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là
thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành
quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể
để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.
Quyền lực Nhà nước
thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và
được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân. Việc sở hữu toàn dân về
đất đai tạo điều kiện để mọi người được tiếp cận đất đai tạo ra của cải, góp
phần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhà nước là chủ thể
của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực
nhân dân, do vậy, Nhà nước phải là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực dưới
hình thức dân chủ đại diện.
Điều 53, Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi
ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước
đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa
đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công
hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự
bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền
làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.
Chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai là chế độ sở hữu chung của toàn xã hội; các cơ quan nhà nước với
tư cách là đại diện pháp lý, được giao quyền thống nhất quản lý trên toàn bộ
lãnh thổ quốc gia và giao cho người sử dụng đất một số quyền quan trọng, phù
hợp với định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta.
Như vậy, người sử
dụng đất có thể phát triển kinh tế, còn Nhà nước có thể điều tiết quan hệ đất
đai có lợi cho lợi ích quốc gia. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích
chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công
bằng, công khai, hiệu quả và bền vững.
Xét cả góc độ lý
luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể
hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng
XHCN mà chúng ta lựa chọn.
Khi chế độ sở hữu
toàn dân về đất đai được đảm bảo, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, duy trì
ổn định, phát triển và đảm bảo công bằng xã hội chứ không có chuyện “sở hữu
toàn dân về đất đai đã làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về
đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã
tước quyền sở hữu của nhân dân” như luận điệu của các thế lực thù địch rêu rao,
xuyên tạc.
Cũng cần nhấn mạnh
rằng, nguyên nhân chính của chế độ người bóc lột người trong chế độ cũ là do sự
tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó đất đai chính là tư
liệu sản xuất quan trọng nhất. Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước
của dân, do dân và vì dân, có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy,
để loại trừ nguyên nhân, nguồn gốc của bóc lột và bất công trong xã hội thì Nhà
nước phải là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai.
Nhà nước với tư
cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều
tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ
sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên
này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo,
bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.
Ở nhiều nước tư bản
như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư
nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện
tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là
các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân
hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn
Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có
thể trưng thu.
Mỹ, Canada thừa
nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng không có nghĩa là chủ sở hữu có thể
toàn quyền định đoạt với tài sản này, nhà nước vẫn giữ nhiều quyền định đoạt
quan trọng như quyền quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích sử
dụng đất, thậm chí thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công
cộng.
Mỗi quốc gia có
hoàn cảnh lịch sử khác nhau, không thể lấy quy định của quốc gia này, thậm chí
là thông lệ quốc tế để áp dụng đối với một quốc gia khác. Ở nước ta hiện nay,
về bản chất, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất được Nhà
nước trao nhiều quyền gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp
vốn, tặng, cho…
Ngay ở các nước tư
bản nói trên thì cá nhân cũng không thể có quyền tuyệt đối với đất đai của
mình. Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở
để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế
với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất
cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều
này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa
nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là đi chệch hướng XHCN,
trái với bản chất Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng.
Cũng phải thấy rõ
rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham
nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai gây ra.
Nguyên nhân chính
bắt nguồn từ sự yếu kém trong thực thi Luật Đất đai và các luật liên quan, nhất
là tình trạng tham ô, trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên được giao chức
trách, quyền hạn. Cùng với đó là công tác quản lý còn yếu kém, tình trạng quy
hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, đất thu hồi bị bỏ hoang làm cho
người sử dụng đất rơi vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý
của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.
Muốn giải quyết
những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính
sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy
định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa,
công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và
xử lý nghiêm các sai phạm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét