Thứ Ba, 11 tháng 4, 2023

Nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

 

Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong khi chúng đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện những khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động về tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình trạng nhạt đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản, về chủ nghĩa xã hội, chủ  nghĩa Mác - Lênin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, về thời kỳ quá độ và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... bên cạnh đó, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch như: Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX - thời đại của nền văn minh cơ khí, còn bây giờ, thế kỷ XXI - thời đại của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa; rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương tây nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam... đã tác động đến tư tưởng, nhận thức của một số người.

Những luận điệu đó xét cho cùng là để hậu thuẫn, biện hộ cho những kẻ cơ hội chính trị. Bởi, đứng trên quan điểm khách quan mà xem xét, có thể khẳng định: Một số luận điểm cụ thể của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin ra đời cách đây rất lâu, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua hoặc bị  nhận thức sai lầm nên cần nhận thức lại cho đúng, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần khoa học, cách mạng và biện chứng của nó vẫn giữ nguyên giá trị. Họ không thấy được rằng, hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên là không thay đổi, vẫn luôn có giá trị bền vững, lâu dài. Họ cũng không thấy hoặc cố tình không thấy rằng trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn có sự phát triển về tư duy lý luận, luôn khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều, chủ quan, nóng vội hoặc duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội, phân biệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điểm cụ thể của các ông gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể lúc đó mà sau này đã bị lịch sử vượt qua. Họ cũng không thấy rằng, thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới ở Việt Nam trên một loạt vấn đề. Chẳng hạn như: vấn đề mục tiêu và đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về phát triển con người, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế... Không có sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được qua hơn 36 năm đổi mới.

Trong số những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ có các thế lực thù địch, cơ hội chính trị mà có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về ý thức hệ, về niềm tin, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Có người đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng (chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh), chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc, bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã hiểu không đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy chụp và áp đặt chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thiên về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, bạo lực trấn áp. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đem đối lập một cách giả tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với dân tộc (họ nói: “cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì phản bội dân tộc”, hoặc cứ “theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không bảo vệ được chủ quyền quốc gia”); họ còn đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với sự phát triển của đất nước (họ nói “Đảng coi trọng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không coi trọng sự phát triển”).

Những quan niệm này hoàn toàn không hiểu hoặc cố tình phủ nhận rằng, trước đây chỉ khi tìm đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng giai cấp lao động và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, nhờ đó mới có thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường phát triển đất nước. Vì vậy, nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng để có cơ sở lý luận khoa học đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Quan tâm tự do, dân chủ, nhân quyền hay cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội

 Theo chu kỳ mỗi tháng Ba hằng năm, tổ chức Freedom House lại tung ra “báo cáo” đánh giá, xếp hạng tự do và dân chủ của hơn 200 nước trên thế giới. Năm nay, trong cái gọi là Báo cáo “tự do toàn cầu” năm 2022, họ vẫn “chấm cho” Việt Nam 19/100 điểm như các năm 2020 và 2021.


Chỉ chờ có vậy, các tổ chức, cá nhân chống cộng cực đoan ở hải ngoại đã đồng loạt lấy đó để “ngoài hô trong ủng” rêu rao Việt Nam không có tự do, dân chủ, nhân quyền, rồi kêu gọi người dân cùng đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ đòi lại tự do, nhân quyền. Tấm tuồng quen thuộc này không khỏi khiến người ta thấy buồn cười, chẳng biết đến tận bao giờ đám người đó mới hết bệnh hoang tưởng, vì người dân trong nước từ lâu đã chẳng còn để ý đến tổ chức Freedom House cũng như bảng xếp hạng đã sai lệch thực tế lại còn sặc mùi “tiêu chuẩn kép”.


Trước hết, có lẽ cần hiểu thêm về tổ chức Freedom House để tránh lầm tưởng về “sức nặng” của bảng xếp hạng trên. Freedom House được thành lập vào năm 1941 bởi Eleanor Roosevelt, vợ của tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt. Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Freedom House không còn nhiệm vụ chống phát-xít, nên chuyển sang chống các đối thủ của chính quyền Mỹ lúc đó như các phong trào cộng sản, thậm chí các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của giới trẻ Mỹ và các phong trào đòi quyền bình đẳng của người da đen. Nó ủng hộ các chính sách thúc đẩy Chiến tranh Việt Nam của chính quyền Johnson dẫn đến cái chết của hàng triệu người dân Việt Nam vô tội, trong khi lại đả kích những phong trào dân sự, đấu tranh bất bạo động vì nhân quyền do người Mỹ phát động trên chính đất Mỹ – như phong trào phản đối phân biệt chủng tộc của Martin Luther King.  


Đến nay, Freedom House là một tổ chức phi chính phủ nhưng tự khoác cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”, là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”. Chính việc Freedom House có trụ sở ở Washington và ngân sách hoạt động do Mỹ tài trợ là chủ yếu, có năm lên tới 86%, đã khiến cho mọi người nghi ngại về mức độ khách quan, tin cậy của bảng xếp hạng tự do toàn cầu. Nhiều quốc gia đã lên tiếng về việc Freedom House lấy tiêu chuẩn về tự do, dân chủ của Mỹ và phương Tây để đánh giá, xếp hạng tự do, dân chủ cho các quốc gia còn lại trên thế giới. Sự ngang ngược, hống hách tự cho bản thân là “bề trên” không chỉ tồn tại trong các cơ quan lập pháp, ngoại giao Mỹ mà còn có cả ở một tổ chức phi chính phủ như Freedom House.


Trong khi đó, Freedom House luôn dành sự “ưu ái” đặc biệt đối với các quốc gia không theo nền tự do dân chủ Mỹ, phương Tây, đặc biệt là các quốc gia có nền dân chủ XHCN như Việt Nam. Trong báo cáo của mình, ngoài bảo vệ những kẻ đang lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền để vi phạm pháp luật, Freedom House thường xuyên đưa ra những thông tin chưa được kiểm chứng, thật giả lẫn lộn về Việt Nam, những thông tin mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước . Từ các thông tin đầy định kiến và thù địch mà Freedom House công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, nhất là đối với người dân Việt Nam ở trong nước, chúng chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. 


Tiếp theo, cần nghiêm túc xem xét và trả lời câu hỏi: Liệu việc lật đổ một chế độ không thân Mỹ có đem lại “tự do dân chủ”, như các tổ chức chống cộng cực đoan ở hải ngoại đang tuyên truyền kêu gọi hay không?


Theo báo cáo của Freedom House, năm 2023 là năm thứ 17 liên tiếp tình hình “tự do, dân chủ” toàn cầu suy giảm. Nói cách khác, đà giảm này bắt đầu từ năm 2006, khi Mỹ mang “tự do dân chủ” đến phân phát ở Trung Đông thông qua hình thức chiến tranh và tiếp tục suy giảm trong những năm 2010-2011, khi thế giới Hồi giáo chứng kiến các cuộc cách mạng đường phố mang tên “Mùa Xuân Arab”, nhằm lật đổ các chế độ sẵn có và dựng lên các chính quyền thân Mỹ.


Iraq – sau khi chế độ của Saddam Hussein bị lật đổ, mặc dù Mỹ đã dựng lên một chính quyền giả dân chủ nhưng vẫn bị Freedom House xếp vào nhóm “không tự do”. Vào năm 2018 và 2019, tham nhũng đã lan tràn trong chính quyền Iraq tới nỗi xảy ra một loạt các cuộc biểu tình chống chính phủ, và bị trấn áp đầy bạo lực. Tóm lại, sau khi được Mỹ gửi “dân chủ” đến dưới dạng tên lửa và bom, để rồi phải trả giá bằng cái chết của hàng triệu người, tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở Iraq còn bê bết hơn trước rất nhiều.


Các cuộc cách mạng đường phố vào năm 2011 cũng dẫn đến kết quả tương tự. Nó đã đẩy nhiều quốc gia như Libya, Yemen, Syria vào một chuỗi nội chiến thảm khốc. Tại Ai Cập, quân đội đã lên nắm quyền và thiết lập chế độ độc tài quân sự. Tất nhiên, chỉ số tự do của các nước này sau đó chỉ thấy giảm chứ không tăng…


Đối với Việt Nam, tuy là đối tác toàn diện, nhưng Mỹ chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, muốn Việt Nam phụ thuộc vào Mỹ, phục vụ cho các lợi ích của Mỹ bất kể với mục đích đó có thể khiến xã hội Việt Nam bị bất ổn, nhân dân không còn được đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần. Phục vụ cho âm mưu đó, hàng năm Freedom House đưa ra những đánh giá hết sức nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam, liên tục mở chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam; can thiệp vào nội bộ Việt Nam khi vận động chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức” những kẻ thực chất là vi phạm pháp luật Việt Nam.


Xâu chuỗi các hành động, việc làm của Freedom House trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để thực hiện âm mưu của Mỹ./.

Ntt sưu tầm

VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) luôn cần được bổ sung để hoàn thiện, và luôn phải tiếp tục bổ sung, bởi lý luận soi sáng thực tiễn nhưng mọi lý luận đều phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không sẽ trở thành giáo điều, lạc hậu.

Sau sự kiện phá dỡ Bức tường Berlin với tính chất của một biểu tượng, rồi sự sụp đổ của Liên Xô - nhiều người đã cho rằng đó là sự sụp đổ của lý tưởng XHCN - thế giới dường như lại hướng tới những giá trị của chủ nghĩa tư bản (CNTB) mà có vẻ không có sự thay thế khả dĩ nào khác. Chúng ta chưa đi đến cuối lịch sử loài người, nhưng CNTB dường như đã trở thành điều cuối cùng ở lại. CNXH và những người cánh tả dường như vẫn đang bị sốc, ám ảnh nên chưa sẵn sàng giương cao trở lại ngọn cờ của mình. Kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế TBCN hiện diện ở nhiều nước XHCN khiến nhiều người cảm thấy CNTB đã giành chiến thắng.

Tuy nhiên, cái gọi là toàn cầu hoá của CNTB đã không mang lại sự hoàn thiện cho một mô hình xã hội mơ ước. Nếu coi hiện thực trên thế giới ngày nay là thành công thì chúng ta đã rất sai, với kết quả thật thảm hại: với tất cả sự giàu có tích lũy, thì nạn đói vẫn tiếp tục là yếu tố tử vong chính trong dân số hành tinh này. Để 15% nhân loại được sống một cách thoải mái theo ý thích của họ, 85% còn lại phải chịu đựng những khó khăn cùng cực: nghèo đói, bệnh tật, thiếu hiểu biết, thiếu các dịch vụ tối thiểu, chiến tranh và bạo lực với các biểu hiện khác nhau ở mọi nơi (phân biệt chủng tộc, gia trưởng, định kiến). Vậy đâu là thành công của hệ thống TBCN?

Ngược dòng lịch sử, thì những bê bối của Vatican với Toà án dị giáo và “7 núi tội của Kito với nhân loại” đã không khiến các Kitô hữu từ bỏ các giáo lý trong tôn giáo của họ. So sánh dù khập khiễng, nhưng như vậy thì sự thất bại của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô cũng không thể gây ra sự từ bỏ lý tưởng XHCN khỏi chân trời lịch sử của loài người. Cho rằng chủ nghĩa xã hội thất bại là một quan niệm rất sai lầm, trong mọi trường hợp, bởi đó là thất bại của một mô hình chứ không phải của bản thân CNXH, nó đã không tiến triển được như kỳ vọng, nhưng rõ ràng ở tất cả những nơi CNXH từng tồn tại, nó đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn là những kết quả mà hệ thống TBCN đạt được. Trong XHCN không có ai chết vì đói, không có người mù chữ, không ai không có nhà ở và không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các nước XHCN không bao giờ là người phát động các cuộc chiến tranh, đảo chính hay can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy hiện tại CNXH chưa có nhiều thành tựu ở mức độ lý tưởng, nhưng giá trị tư tưởng mà CNXH mang lại vẫn là nền tảng cho hoà bình của nhân loại, trong khi đó mọi diễn văn hùng biện về chiến thắng của CNTB vẫn tự mâu thuẫn với chính nó, bởi ngoài chủ nghĩa tiêu dùng tham lam, các nhóm người quay cuồng trong cuộc sống văn hoá nghèo nàn và rẻ mạt với những giá trị cá nhân chủ nghĩa được đề cao thì nó chẳng có gì khác cả!

Bởi vậy, ngay trong thời điểm cam go của cuộc chiến ai thắng ai này, hãy tiếp tục là một người XHCN, tiếp tục nắm lấy hệ tư tưởng XHCH, để hy vọng và đấu tranh cho một thế giới có nhiều công lý hơn, không phải là những đức tin mơ hồ, niềm tin giáo điều, mù quáng, không có kết quả. Tôn giáo có thể tập hợp được một số người bởi những ảo ảnh thuần túy trong niềm tin chủ quan, mê hoặc, phi logic chỉ vì những cảm nhận cá nhân, như các nhà thần học từ thời trung cổ đã nói, rằng “đức tin không cần phải được chứng minh”!!! Là một người XHCN, thì cùng với phân tích khoa học, bạn cũng sẽ tự hình thành một niềm tin cho bản thân.

Tuy nhiên, để có được một niềm tin vững chắc vào lý tưởng XHCN thì chúng ta cần những điều lớn hơn như vậy rất nhiều, trở thành một người XHCN là một quyết định quan trọng, một quyết định mà ngay cả cuộc sống của bản thân cũng có thể phải hy sinh, nhưng chính điều đó sẽ nuôi dưỡng cho chúng ta một nhân cách cao cả, một nền tảng đạo đức vững chắc, và tư duy khoa học sâu sắc.

Ai tạo ra của cải cho xã hội? Đó chính là giai cấp công nhân và những người vô sản, không thể nghi ngờ điều đó. Nhưng đại đa số của cải lại bị chiếm đoạt bởi tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất (các chủ ngân hàng tư nhân, các nhà tài phiệt công nghiệp, các địa chủ), đó cũng là một sự thật không thể bác bỏ, điều đó không phải là lý thuyết hay chỉ là vấn đề thuộc về niềm tin. Bởi vậy, lựa chọn con đường CNXH là để giải quyết các vấn đề với một chiều sâu khoa học (chủ nghĩa duy vật lịch sử) trong khi vẫn tự bổ sung thêm khả năng nhạy cảm xã hội, quan tâm và tôn trọng phẩm giá con người, niềm tin vững chắc vào công lý, trong đó điều quan trọng nhất đối với một con người đúng nghĩa là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, ước mơ của cách mạng Pháp mà ngay từ tác phẩm “Ba người lính ngự lâm” đã đề cập đến một cách rất đẹp đẽ.

Tiếp tục lựa chọn con đường CNXH không chỉ là trách nhiệm hay chỉ vì tình cảm tốt đẹp đơn thuần, mà phải trở thành một tình yêu vô điều kiện, trong khi tình yêu đơn thuần dành cho tình yêu không thể tồn tại một cách vô điều kiện. Bởi tình yêu đối với CNXH là cả một nền văn hoá, chúng ta phải tạo ra một nền văn hóa dựa trên các giá trị của nó, đó mới chính là CNXH, để có được CNXH!

Ngay cả khi chúng ta không thể yêu tất cả những người khác một cách vô điều kiện, thì chúng ta vẫn có thể dành cho CNXH tình yêu vô điều kiện và tôn trọng điều đó. Bởi bất công, dưới bất kỳ hình thức nào của nó (bóc lột kinh tế, phụ thuộc giới tính, phân biệt sắc tộc) đều là những biểu hiện thiếu tôn trọng mà CNXH luôn đấu tranh để loại bỏ.

Những người lựa chọn CNTB để chống lại CNXH, là những người mong muốn một xã hội bất công dựa trên sự bóc lột mà họ là những người có quyền bóc lột, áp bức các tầng lớp khác. Lịch sử đã cho thấy mong muốn đó chỉ có thể đưa nhân loại đến những cuộc tàn sát đồng loại. Ham muốn quyền lực, tìm kiếm quyền lực tối cao - cám dỗ đó là yếu tố tự phát của bản năng tự nhiên, là phần con trong mỗi con người chúng ta, bản năng đó chưa bao giờ cung cấp cho con người một lối thoát hay sự giải phóng thật sự. Ham muốn đó chỉ có thể dẫn chúng ta đến chỗ quay cuồng với giá trị của những chiếc siêu xe, những smartphone thời thượng, những chai rượu đắt tiền hoặc trở thành những “ngôi sao, thần tượng” nhạt nhẽo, tầm thường.

Chỉ có những hành động mang tính cách mạng của CNXH nhằm cải tạo phần bản năng đó, thay đổi thế giới đó, thực trạng đó, ý thức đó mới có thể thực sự giải phóng con người. Nghĩa là, nếu bạn muốn trở thành một con người XHCN, nhiều khi bạn sẽ phải đi ngược lại dòng chảy thông thường theo bản năng vốn có của xã hội loài người chúng ta.

Chủ nghĩa tư bản, hình thái xã hội chỉ dựa trên lợi ích cá nhân, quên đi mọi sự tôn trọng của con người dành cho con người và thế giới tự nhiên. Với động cơ cuối cùng của cuộc sống chỉ là "lợi nhuận", đem đến một cuộc sống nghèo nàn về giá trị đích thực của con người, nên CNTB chính là một quả bom hẹn giờ có thể dẫn tới sự tự huỷ diệt của loài người. Nhân danh những giá trị của nó, CNTB sẵn sàng hy sinh tất cả chỉ để tìm kiếm lợi nhuận, từ việc gây ra các thảm họa môi trường đến việc diệt chủng, thậm chí tự huỷ diệt chính nó. Mâu thuẫn tự thân được tạo ra trong CNTB quá sâu đến mức nó không thể quay trở lại và không thể tự điều chỉnh, tự quản lý được. tất cả góp phần tạo ra một quả bom hẹn giờ sẽ phát nổ ở đâu đó. Thậm chí tệ hơn, nhân danh việc bảo vệ lợi ích của một số ít người, những cuộc chiến tranh chết chóc tạo ra nguy cơ rất cao đối với cả hành tinh chúng ta. Nếu tất cả năng lượng hạt nhân chứa trong các vũ khí nguyên tử có sẵn hiện nay được kích hoạt, sẽ có một vụ nổ hoành tráng có thể phá huỷ cả Hệ mặt trời..

Những vũ khí hoành tráng đó không hề giúp ngăn chặn được việc sau mỗi 7 giây lại có 1 người chết vì đói trên thế giới này, nghèo đói và chiến tranh là nguyên nhân chính gây ra cái chết của loài người chúng ta. Buồn vì điều đó chăng? Đừng, vì chúng ta không xứng đáng được buồn khi chưa hiểu rằng nghèo khó và chiến tranh đều không do ai khác ngoài CNTB gây ra. CNXH đã không bao giờ bắt đầu một cuộc chiến diệt chủng vì lợi nhuận cho một nhóm người, còn CNTB đã gây ra cái chết của bao nhiêu con người?

Chúng ta có thể nhìn thấy trong nhiều trường hợp, các mô hình thí điểm XHCN vẫn còn rất nhiều lỗi lầm: tả khuynh và hữu khuynh, sự lạm dụng quyền lực, thiếu cởi mở, gia đình trị, điều hành kém hiệu quả, quan liêu, sùng bái cá nhân, cùng vô số những lúng túng trong sự tìm tòi một con đường phù hợp. Cánh tả thế giới hiện nay bàn luận khá nhiều về điều này trong tự phê bình với những bài học kinh nghiệm này. Cánh hữu thì dựa vào đó để thổi phồng, cho rằng CNXH đã hoàn toàn thất bại. Nhưng sự thật về bóc lột, bất công, cướp đoạt, chủ nghĩa tiêu dùng tham lam vô độ của CNTB vẫn hiển hiện thì sao?

Mặt khác, sự lạm dụng quyền lực không phải là một “phát minh” của CNXH, mà nó là bản năng thú tính còn sót lại của con người, ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Trong chế độ XHCN thì đó là biểu hiện suy thoái, tiến hoá ngược của những ai thiếu rèn luyện, bị cám dỗ bởi quyền lực, bị tư sản hoá mà xa rời giai cấp mình đại diện, chứ nó không phải là bản chất của CNXH mà nhân loại hướng đến. Bởi vậy, CNXH và CNCS vẫn là lối thoát duy nhất, là hy vọng cuối cùng cho loài người ở cuối con đường, khi nó tự khắc phục được những điểm yếu và lỗi lầm của nó. Trong khi đó, “lối thoát” của CNTB có gì khác hơn là những cuộc chiến tranh? Cho đến nay, ngành công nghiệp có lợi nhuận cao nhất của CNTB vẫn là sản xuất vũ khí, ngành công nghiệp chết chóc. Đó có phải là thành công?

Các mô hình xã hội dựa trên sự bóc lột của giai cấp tư hữu không thể đem đến sự giải phóng con người, và do đó chắc chắn không thể đem lại sự công bằng giữa những con người với nhau. Với chân trời XHCN, chúng ta hiểu biết về chính những điều chưa hoàn hảo của CNXH và những sai lầm mà con người mắc phải, để chúng ta đối mặt với những điều đó, ít nhất cũng là với hy vọng đem lại chân lý, vượt qua sự nghèo nàn rẻ rúng của chủ nghĩa cá nhân.

Cuộc sống của chúng ta sẽ là rất không xứng đáng nếu nó chỉ được đo bằng số tiền chúng ta có trong ngân hàng, bằng chiếc xe chúng ta sử dụng hoặc bằng quần áo chúng ta mặc. Bởi ngay cả khi không có lý do để hy vọng, chúng ta vẫn luôn có lý do cho phẩm giá của mình, và giá trị cao nhất của CNXH, chính là phẩm giá con người.

Nhưng, điều gì đã xảy ra trong xã hội loài người chúng ta sau nhiều thế kỷ tiến hoá khỏi sự u mê lạc hậu? CNTB được hình thành từ trong đêm dài trung cổ tối tăm, đem lại những tiến bộ nhất định, và CNXH được xây dựng lên trong lòng CNTB để mở ra một bình minh mới, rực rỡ hơn. Vậy nhưng bây giờ nó đang khủng hoảng, có một sự thụt lùi đáng lo ngại trong việc thực hiện lý tưởng đấu tranh vì tự do cho con người, để rồi CNTB hiện đại với những điều chỉnh nhất định bằng cách vận dụng chính các giá trị của CNXH lại có thể hả hê trước sự thoái trào của CNXH.

Cuộc chiến đấu cho một thế giới tiến bộ hơn, công bằng hơn trong hơn hai trăm năm qua, từ giữa thế kỷ thứ mười tám với các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đến nay, dường như đã bị dập tắt. Các phong trào tranh đấu vì hoà bình, vì quyền của người lao động đã trở nên rời rạc, yếu ớt, thậm chí lặng lẽ biến mất trong cuộc sống của quần chúng nhân dân. Tư tưởng XHCN về cách mạng cải biến thế giới được hưởng ứng mạnh mẽ cách đây nửa thế kỷ, truyền cảm hứng cho các cuộc đấu tranh anh hùng ở tất cả các nơi trên thế giới, hiện đang có một sự thoái trào đáng xấu hổ. Nó không bị dập tắt, nhưng chìm khuất trong những mơ hồ giữa phồn hoa giả tạo với sự đói nghèo thực tế.

Có phải chúng ta đang rút lui, đầu hàng? Chắc chắn là không, bởi những điều đã thúc giục, khuyến khích chúng ta: bất công xã hội, mâu thuẫn giai cấp, cùng với tất cả những điều tà ác khác trong đời sống xã hội vẫn đang hiển hiện, chưa được khắc phục và không hề biến mất. Nghĩa là, loài người chưa dập tắt được nguyên nhân của những bạo ngược bất công, nên hậu quả của nó vẫn đang tồn tại. Nói cách khác là: khi sự bóc lột, bất công vẫn còn, thì động lực và mục tiêu đấu tranh vẫn còn. Chỉ có điều rằng, động lực đó đã không còn được khai thác, khi những tiếng thét phẫn nộ của nhân loại bị áp bức bị chìm lấp, bưng bít sau bức màn hào nhoáng giả tạo và sự thao túng của truyền thông do các thế lực tư bản nắm giữ. Nó không biến mất, nhưng nó tắc nghẹn và gần như không được lắng nghe.

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Hệ thống tư bản, với nhiều thế kỷ kinh nghiệm (từ thế kỷ 13, với những tích luỹ sơ khai ở Bắc Âu, cho đến sự bành trướng tài chính và đế quốc toàn cầu hiện nay), đã tích lũy để chiếm hữu hầu hết tài sản của thế giới, với quyền lực gần như tuyệt đối và độc tài nắm giữ kiến thức của nhân loại. Để tự bảo tồn, không sa vào cơn giãy chết, CNTB đã phát triển các công nghệ kiểm soát xã hội một cách tinh vi nhất, vượt lên mọi hình thức thống trị về tư tưởng - văn hoá từng được biết đến trong lịch sử loài người. Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có sức mạnh thâm nhập và thao túng lớn đến mức nó không cho phép có thuốc giải độc. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản đang đầu độc ngay chính bản thân nó bằng những kỹ thuật bẩn thỉu và kinh tởm nhất.

Trong thế giới của tư bản không có chỗ cho đạo đức, cho những day dứt dằn vặt mang tính nhân văn, cho sự thật. Như bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbels đã thẳng thừng tuyên bố: “Một lời nói dối lặp đi lặp lại hàng ngàn lần sẽ biến thành sự thật", và giới tinh hoa tư sản ngày nay đã biến phương châm này trở thành cốt lõi của sự thao túng đa số quần chúng nhân dân. Trong xã hội tư bản, chỉ có lợi nhuận là được coi trọng, nó biến thành một bộ luật bất thành văn, lạnh lùng và không bao giờ khoan nhượng. Để thực hiện điều đó, nó lừa dối trong mọi thông tin: hoạt động tẩy não được biến thành “đời sống tâm linh, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận”, vũ khí giết người được mô tả là “bom thông minh, đạn biết tránh người tốt”, thủ thuật cướp đoạt được gọi là “chiến lược kinh doanh” một cách tinh vi, những tên sát nhân và lạm dụng tình dục được biến thành “thần tượng của giới trẻ”, vv và vv... Mọi điều đều được diễn tả một cách thăng hoa, miễn là có thể biến nhân loại trở thành một “bầy người” có thể dẫn dắt dễ dàng.

Trong khi đó, CNXH với các nguyên tắc nền tảng của mình, không cho phép xã hội đi theo cách đó, mà nó lấy nhân phẩm làm quy tắc trung tâm. Còn với CNTB, điều duy nhất được coi là giá trị chỉ là sự tích lũy tư bản, kể cả việc gây chiến tranh, gian lận tài chính, buôn bán ma tuý và buôn bán người mà có thể đem lại lợi nhuận thì đều được hoan nghênh. CNXH không thể chấp nhận những điều này, nhưng trong cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, CNXH đến nay vẫn chưa giành được chiến thắng, điều này đặt ra một vấn đề đạo đức rất lớn: làm thế nào để CNXH có thể phù hợp để tiếp quản và quản lý sự hoành tráng mà CNTB đã tạo ra? Khi mà những lời nói dối đã trở thành “chân lý”, bởi nhân loại hầu như đã bị trói buộc và tẩy não toàn bộ suốt một quá trình rất dài?

Thế giới ngày nay đã bị ngành công nghiệp văn hóa tư tưởng khổng lồ do tư bản nắm giữ thao túng từng ngày, từng phút, từng giây. Thông điệp ý thức hệ tư sản tràn ngập tất cả mọi thứ: phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, không gian Internet, cuộc sống hàng ngày với sự quản lý của thiểu số cánh hữu mang tư tưởng tân tự do, phát xít mới, tôn giáo bảo thủ và cả các tà phái, ..., tất cả những thứ đó được tập hợp thành cơ chế kiểm soát, thao túng xã hội một cách rất hiệu quả!

Thực tế này - có thể bị cho là bi quan, nhưng nó là sự thật - chính là điều mấu chốt đặt ra cho những người XHCN, cần phải quyết liệt hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để cải tổ chính mình, tiếp tục giác ngộ chính mình, để có thể trả lời câu hỏi đơn giản mà Lenin đã đặt ra từ năm 1902: “Chúng ta phải làm gì?”. Điều đó có nghĩa là: làm thế nào để CNXH có thể tiếp tục tiến lên, trước những tiến bộ của CNTB, khi mà họ biết vận dụng chính những lý luận, phương pháp của CNXH để làm mới mình, tránh khỏi nguy cơ tự diệt vong. Vậy những người XHCN phải làm sao để giành chiến thắng?

Câu trả lời ở đây là rất khó, chắc chắn những người ở tầng lớp chúng ta không ai có thể trả lời ngay lúc này, cũng không có hướng dẫn cụ thể nào có thể khẳng định là sẽ đem đến hợp lý và thành công. Nhưng chúng ta có niềm tin, và có tình yêu vô điều kiện dành cho CNXH. Với điều đó, chúng ta có thể xây dựng các phương án khác nhau cho mình. Với những người làm công tác tư tưởng văn hoá thì rõ ràng là các phương pháp cũ sẽ phải được đánh giá lại, xem xét lại và liên tục đổi mới, không phải là chỉ làm cho “có phong cách mới” mà phải nghiên cứu sâu về thực tiễn xã hội mà chúng ta đang sống. Từ những điều cụ thể như tại sao giới trẻ lại lệch chuẩn, tại sao quần chúng không đọc sách và nghiên cứu mà chỉ chăm chú theo dõi MXH? Đến những việc vĩ mô như: Tại sao các nhân vật dân tuý lại được quần chúng lắng nghe và tung hô? Tại sao các ứng cử viên cực hữu trên thế giới lại giành chiến thắng trong bầu cử dù họ mang tư tưởng tân phát xít, siêu bảo thủ, phân biệt chủng tộc? Tại sao tổ chức công đoàn lao động mất vai trò của mình? Tại sao thuật ngữ "đấu tranh giai cấp" không còn được quan tâm và nhiều người tránh né?

Rõ ràng là, cuộc đấu tranh vẫn đang ở phía trước, và các phương pháp đấu tranh của những người XHCN phải được điều chỉnh, suy nghĩ lại để đổi mới thật sự, đổi mới hay là chết! Đơn giản như việc nếu chúng ta phê phán tuổi trẻ rằng “Thanh niên ngày nay không còn mấy ai nghĩ đến việc lên rừng để chịu đựng kham khổ mà cống hiến, lên núi để thấy mình cao hơn” thì họ sẽ hỏi lại rằng “Có còn khu rừng nào? Núi nào đáng để leo lên?”. Vâng, nếu chúng ta không giữ rừng cho họ, không là núi cao cho họ ngưỡng mộ và hướng tới thì họ sẽ chẳng biết làm gì và sẽ tiêu thụ nốt tất cả những gì còn lại của chúng ta mà chẳng làm nên gì cả! 

Việc xem xét lại để đổi mới phương pháp hoạt động chính trị và công tác tư tưởng văn hoá hiện nay của CNXH là hết sức cấp bách. Toàn cầu hoá, hiện đại hoá, lấy kinh tế là trung tâm không thể mang ý nghĩa là việc chúng ta từ bỏ lý tưởng của mình, theo bất cứ cách nào!

Với các bạn trẻ, xin nói rằng: nếu các bạn đọc hết bài viết này, các bạn đã có thể là cảm tình viên của CNXH, nếu hiểu được sâu sắc thì các bạn đã xứng đáng là Đảng viên, và nếu trả lời được các câu hỏi trong bài thì các bạn đã là NHỮNG CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

HÃY TRÂN TRỌNG VÀ GÌN GIỮ GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH

 

Trong cuộc sống, mỗi người đều có lựa chọn riêng, để sự tồn tại của mình trở nên có ý nghĩa, và chia sẻ, kết nối với người khác, với xã hội, lịch sử. Sinh thời giáo sư nổi tiếng Trần Đại Nghĩa người từ chối mức lương 20 lượng vàng để theo Hồ Chủ tịch về nước. Trong buổi trưa ngày 30/4/1975 ông đã viết vào cuốn sổ tay nhỏ của mình "Đã hoàn thành nhiệm vụ". Đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà khi mới 20 tuổi ông ấp ủ. Ông đã từ bỏ mức lương 20 lạng vàng 1 tháng để về Việt Nam theo cách mạng. Khi báo chí phương Tây hỏi vì sao ông theo Hồ Chủ tịch về nước mà không ở lại như một số bạn bè khác, ông đã nói “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”.

Để có được đất tự do sau gần 100 trăm năm bị nộ lệ bởi giặc Tây, những người lính Việt Minh đã đi ròng rã 9 năm trời từ căn cứ địa Tân Trào rồi cắm cờ trên chiến hào Điện Biên phủ. Nếu nói về quãng đường đi ngày hôm nay, nó chỉ tầm vài giờ xe chạy nhưng để có được hòa bình người Việt Nam phải đi quãng đường dài 9 năm mới có được, kèm theo đó sự đánh đổi hi sinh xương máu của hàng triệu con em máu đỏ da vàng.

Để có được thống nhất non sông, người Việt Nam đã đi ròng rã 21 năm trời trên con đường trường chinh giải phóng dân tộc, hành trình của người Việt được nâng đỡ trên những chiếc xe thồ vạn dặm, và sự bền bỉ của đôi dép cao su vượt trường sơn đi cứu nước. Ngày nay chúng ta trên chuyến bay hành trình Hà Nội - TPHCM chỉ tầm 2 giờ bay, nếu bạn đi xe khách hoặc tàu hỏa cũng chỉ hai ngày. Nhưng để có được hai ngày đó những người lính của chúng ta đã nằm gai nếm mật hi sinh gian khổ và sau 21 năm vào ngày 30/4/1975 mới tới được đích đến Dinh độc lập.

Để đuổi được người Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, người Việt đã giáng hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường với người Mỹ.

Để có được Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam và ba nước Đông dương. Kết quả của gần 5 năm đàm phán với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Nếu hòa bình độc lập mà dễ như nhiều người từng chém gió trên mạng, thì người Việt không phải đánh nhau ròng rã với người Pháp 9 năm. Để thống nhất non sông mà dễ như múa phím trên mạng xã hội người Việt đâu cần đánh Mỹ tới mấy chục năm trời.

Hòa Bình luôn là vế sau của những cuộc chiến, mà nơi đó những người con ưu tú nhất đã ra đi mãi mãi không trở về!

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

THẮT CHẶT HƠN NỮA MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Gắn bó mật thiết với Nhân dân là thể hiện bản chất và sức sống trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không có sự đùm bọc, chung sức, chung lòng của Nhân dân thì Đảng không có sức mạnh, cách mạng khó thành công. Ngược lại, nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì Nhân dân không có một phương hướng chính trị đúng đắn trong đấu tranh giành các quyền tự do, dân chủ của mình. Tư tưởng đó được Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện khá sâu sắc trong Đại hội lần thứ XIII vừa qua.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên cường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động[1].

Trong nhiệm kỳ của Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới[2]. Theo đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu cần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của Đảng.

Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân các cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố về không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”.

Thứ hai, đối cới công tác dân vận của Đảng.

Tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bàn tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận. Tiếp tục cụ thể hóa phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nghiên cứu, ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.

Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân và quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở; công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội.

Như vậy, với vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng Đảng, đoàn kết và lãnh đạo Nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Điều đó khẳng định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 227 - 228.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 228.

30/4 – TÔI NHỚ, TÔI TỰ HÀO VÌ “ĐẤT NƯỚC TA ĐÃ CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ”

 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, một Việt Nam bé nhỏ đã chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh quật cường của tinh thần đoàn kết dân tộc. Hóa ra cái mảnh đất hình chữ "S" nằm bên bờ Biển Đông ấy không dễ bị bắt nạt. Khởi đầu với những gậy tầm vông, những giáo mác thô sơ, những người dân thật thà, hiền hậu ở cái xứ ấy đã kiên cường chống lại những đại bác, những hạm đội, những pháo đài bay. Lớp này ngã xuống, lớp khác lại đứng lên. Cứ như vậy, dân tộc tôi đã kiên cường, bất khuất, chiến đấu cho đến ngày chiến thắng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau những gian khổ, hy sinh với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến”, nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập – tự do trọn vẹn sau hơn 100 năm Pháp thuộc, 21 năm Mỹ thuộc. Sự hy sinh của lớp lớp người Việt Nam đã được đền đáp xứng đáng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau 21 năm bị chia cắt, đồng bào tôi đã có thể tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc. Sau 21 năm bị ngăn đôi bởi dòng sông Bến Hải, đất nước tôi đã liền một dải, non sông đã thu về một mối.
Nếu có ai đó hỏi chúng tôi rằng tại sao chúng tôi tự hào. Chúng tôi sẽ nói: Chúng tôi tự hào vì đất nước chúng tôi, vì dân tộc chúng tôi, vì đồng bào chúng tôi kiên cường, bất khuất. Chúng tôi tự hào vì cha ông chúng tôi đã sống, đã chiến đấu hết mình vì độc lập – tự do. Chúng tôi tự hào vì bây giờ nếu có ai đó hỏi chúng tôi tới từ đâu, chúng tôi sẽ trả lời: Chúng tôi là người Việt Nam, không phải Bắc Việt Nam hay Nam Việt Nam, mà chỉ đơn giản là Việt Nam thôi./.
ST


CỐ TỔNG BÍ THƯ ĐỖ MƯỜI, CHUYỆN CHƯA KỂ

 Cụ Đỗ Mười có lẽ là duy nhất trong lịch sử chính trị Việt Nam đến thời điểm này được BCHTW tín nhiệm bầu lên làm Tổng Bí thư sau khi kết thúc nhiệm kỳ Thủ tướng.

Sau khi đất nước thống nhất có 2 việc chính mà ông phải đối mặt với thực tiễn, đó là:
1. Sau năm 1975 thống nhất đất nước chúng ta phải đối mặt với 1,8 triệu người Hoa. Cần phải nhắc lại rằng, nhóm người này có đầy đủ tầng lớp từ tài phiệt đến xã hội đen (Hội Tam Hoàng), tình báo, gián điệp Hoa Nam... Khi Polpot tấn công Việt Nam, đây trở thành lực lượng hỗ trợ đắc lực, sẵn sàng hậu thuẫn cho chúng đánh phá các tuyến biên giới, tấn công nước ta. Lực lượng này cũng khuynh đảo cả nền kinh tế miền Nam để gây áp lực về chính trị lên Chính phủ. Thời điểm này cụ Đỗ Mười là người được cử vào nhận trọng trách dẹp gọn nạn Hoa kiều trên đất Việt Nam.
2. Giai đoạn cụ lên làm Tổng Bí thư là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng chủ nghĩa Cộng sản. Tiêu biểu là các nước lớn khối XHCN sụp đổ, tâm lý hoang mang bao trùm, Đảng viên nhiều người mất niềm tin... Cụ Đỗ Mười, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể, với nỗ lực và quyết tâm cao nhất để bảo vệ các nguyên tắc Đảng, củng cố lại tinh thần và niềm tin trong Nhân dân. Nếu như là người khác không đủ bản lĩnh vững vàng cả về chính trị và tâm lý thì cũng chưa biết chừng Đảng ta cũng đã rơi vào khủng hoảng từ thời điểm đó.
Miền Nam nếu không có bàn tay sắt của Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn thì vĩnh viễn vẫn bị chia cắt. Sau thống nhất mà không có bàn tay sắt thứ hai như cụ Đỗ Mười thì đất nước lại lâm vào cảnh đối đầu tang tóc thù trong giặc ngoài. Để có thể phá được thế đối đâu quân sự, chính trị với Trung Quốc, phá được nước cờ bao vây cấm vận từ Mỹ và các thế lực sen đầm quốc tế thì công của cụ Đỗ Mười ở thời điểm đó là nhiều không kể xiết.
Cụ Đỗ Mười là nơi kết tinh trí tuệ, bản lĩnh đỉnh cao nhất của các thế hệ lãnh đạo Cộng sản, có tầm nhìn chiến lược vượt thời gian, mang tầm vóc lãnh đạo tài ba./.
ST


RÈN LUYỆN TƯ CÁCH NGƯỜI CÁCH MẠNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương ngời sáng về tư cách của một người cách mạng; là người “vật chất không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người luôn luôn nêu cao ý thức tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong tác phẩm Ðường Kách mệnh, Người viết về tư cách người cách mạng: "Tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn về vật chất...".

Ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người nêu "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" và "đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính".

Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Người thường nhắc nhở đồng bào, cán bộ, chiến sĩ kết hợp chặt chẽ phong trào thi đua giết giặc với phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu.

Năm 1947, Người viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc nêu rõ: Phải rèn luyện đạo đức cách mạng, ra sức chống những thói hư tật xấu, lên mặt quan cách mạng, hẹp hòi, tư túi, v.v.

Năm 1952, trong tác phẩm Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, Người phân tích rõ biểu hiện, bản chất, tác hại, nguyên nhân và những biện pháp chống các bệnh này và thực hành chính sách tiết kiệm.

Ngày 3-2-1969, nhân dịp kỷ niệm thành lập Ðảng, Người viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Trước lúc đi xa Người căn dặn trong Di chúc: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương ngời sáng về đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, là mẫu mực về đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị, khiêm tốn. Cuộc đời Người từ một phụ bếp trên tàu, một thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint đến khi trở thành Chủ tịch nước vẫn luôn là những tháng ngày thanh bạch, tiết kiệm và giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc về đức cần, kiệm. Người tóm tắt, "cần" tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì; "kiệm" tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân; "liêm" tức là không tham ô, luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân; "chính" là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. Cho đến lúc phải từ biệt thế giới này, Người căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm không phải là bủn xỉn, "không phải xem đồng tiền to bằng cái nong", gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép mọi người nhịn ăn, nhịn mặc; trái lại, cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, để dần dần nâng cao mức sống của nhân dân; tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, để cải thiện đời sống nhân dân. Tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của và tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi thực hành tiết kiệm là một quy luật đi lên của một đất nước, một phương pháp của chế độ kinh tế, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm. Người còn chỉ rõ: "Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ".

Muốn thành công trong thực hành tiết kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Người chỉ rõ: Tham ô đối với cán bộ, đó là "ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng"; đối với nhân dân, đó là "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế". Còn lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí của cải vật chất của nhân dân, của đất nước. Nguyên nhân gây ra lãng phí, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là do trình độ non kém, do thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, do độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm. Người còn chỉ rõ: "Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô, lãng phí, Người kết luận: "Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô".

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rõ khái niệm, nội dung, tác hại, mà còn phân tích nguyên nhân dẫn đến tham ô, lãng phí, đó là bệnh quan liêu: "Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu. Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Ðối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn". Người cho rằng, bệnh quan liêu là chỉ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở, "vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí". Người nhấn mạnh: "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng việc của ta, nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta, nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Chủ tịch Hồ Chí Minh thường coi đó "là hành động xấu xa nhất của con người... Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà", là "giặc nội xâm". Bởi vì, tham ô, lãng phí, quan liêu thường đi liền với nhau và luôn là một trở lực lớn, là nguy cơ sụp đổ đối với mọi chế độ xã hội. Vì thế, "chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng, cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Ðây là mặt trận tư tưởng và chính trị", và "muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu".

Nguyên nhân sâu xa, bao trùm của các căn bệnh nêu trên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cá nhân - một thứ trở lực nằm ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi con người. Người coi chủ nghĩa cá nhân là một trở lực nội tại và là một nguyên nhân gốc gây ra bao khuyết điểm, sai lầm và trở lực khác. Người chỉ rõ: "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó". Vì như Người phân tích: "Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành ta đi xuống dốc... vì thế càng nguy hiểm",... "chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng..., chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng". Do đó, "phải ra sức gột rửa chủ nghĩa cá nhân". Tuy nhiên, Người cũng lưu ý rằng, "đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là giày xéo lên lợi ích cá nhân". Ðặc biệt, Người nhấn mạnh trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì "thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân". Do vậy, phải thường xuyên rèn luyện và "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân".

Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề ra những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả.

Một là, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm.

Ba là, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ.

Bốn là, phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm.

Năm là, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðể thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người còn yêu cầu: "Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật".

Trước tình trạng tham nhũng và những tệ nạn xã hội ở nước ta hiện nay, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định phải “tích cực đấu tranh chống tham nhũng lãng phí, …kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân”[1]. Để thực hiện được điều đó việc quán triệt, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu càng thấy rõ tầm quan trọng hơn bao giờ hết, góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh, luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.



 [1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.195

 

TÌM LẠI THAO TRƯỜNG

 Những người cao tuổi càng già càng nặng lòng với những kỷ niệm tuổi thanh xuân. Những người lính từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuổi 70 cũng vậy, mỗi ngày một nhớ chiến trường và nhớ cả tuổi thanh xuân ra trận. Nhớ đến “cái thuở ban đầu” đời lính, chúng tôi lại nhớ các thao trường huấn luyện năm xưa-năm 1971.

Cùng chung nỗi nhớ thao trường, vừa qua, một nhóm cựu sinh viên-chiến sĩ khu vực Hà Nội chúng tôi đã lên đường tiền trạm, tìm đến Huyện ủy Việt Yên (Bắc Giang) “đặt vấn đề” xin sự trợ giúp thông tin về các địa bàn đóng quân xưa để tổ chức một chuyến đi tìm lại thao trường cũ.
Gặp đồng chí Nguyễn Hồng Đức, Phó bí thư Thường trực Huyện ủy, thật bất ngờ, cả tổ tiền trạm chúng tôi được hưởng trọn vẹn niềm vui của người lính trở về sau chiến tranh. Với giọng thảng thốt, đồng chí nói: “Sao các chú lại có cái ý định nên thơ là vậy? Các chú về đây với huyện Việt Yên này, với chúng cháu sẽ là một sự kiện văn hóa, một vinh dự lớn, một niềm tự hào, một cơ hội cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên các xã đến mà nhìn, mà nghe các chú kể về một thời kỳ lịch sử quê mình. Các chú là những nhân chứng của chiến tranh và những người làm nên chiến thắng. Vậy thì “Áo gấm không tội gì mà đi đêm”! Huyện sẽ tổ chức đón tiếp, chào mừng, các chú không phải lo kinh phí. Năm tháng các chú vào quân ngũ cũng là năm cháu mới chào đời. Các chú đến được càng đông vui huyện càng mừng. Việt Yên hôm nay đã khác hoàn toàn so với năm bảy mốt...”.
Xung quanh bàn tiệc trưa, tổ công tác tiền trạm chúng tôi được Huyện ủy phác thảo luôn chương trình lễ hội hồi hương trở lại thao trường. Một vị đại tá có nghiệp vụ thiết kế đồ họa phác luôn lên màn hình máy tính logo hội quân. Đó là hình ảnh con tàu hỏa nhả khói chạy băng băng xuyên qua những cánh đồng ngập nước mênh mông. Một hình ảnh có thật, mang đầy tính biểu tượng, nhìn rất gợi nhớ. Có thể đấy chính là con tàu chở lính sinh viên năm 1971 từ Hà Nội lên Bắc Giang bàn giao cho các đơn vị huấn luyện. Lính sinh viên Hà Nội ra quân đúng những tuần lũ lụt. Các cánh đồng vùng châu thổ sông Hồng chỉ còn nhú lên vài ngọn lúa lơ thơ...
Ngày đó, xuống tàu, chúng tôi tỏa về các thao trường: Yên Thế, Quế Võ, Việt Yên, Tân Yên. Sư đoàn 325 đã cấp tốc huấn luyện cho chúng tôi kỹ, chiến thuật bộ binh, chuẩn bị quân số bổ sung cho chiến dịch sắp tới. Chính trên mảnh đất Việt Yên (Hà Bắc khi đó) năm đó, chúng tôi được nhận những cú hích đầu tiên, định đoạt cho cả cuộc đời sau này. Chúng tôi lần đầu tiên bóp cò, nổ phát súng đầu tiên của đời lính. Phát súng nhắm vào bia, tính điểm. Trái bộc phá gói lần đầu tiên tập đánh vào lỗ châu mai. Cũng trên mảnh đất ấy, nhiều chàng lính sinh viên chúng tôi được hưởng nụ hôn đầu tiên, vì không có doanh trại, đơn vị phải trọ trong dân. Thao trường của chúng tôi là những chân ruộng mạ, những vạt đồi bạch đàn. Chúng tôi phải tỏa đi các gia đình xin tre về dựng bếp ăn đại đội và dựng mô hình lô cốt, xe tăng địch. Nhiều mái nhà dân còn dột nát, mái nhà võng xuống theo từng cơn mưa, đang chờ sửa chữa, nhưng các bà mẹ Việt Yên vẫn nén lòng để cho chúng tôi chặt đi những cây tre cuối cùng, đem về dựng trại.
Nói về tình quân dân thì dân gian có câu thành ngữ quen thuộc là “nhường cơm sẻ áo”. Đối với chúng tôi khi đó, thành ngữ đó theo nghĩa đen chỉ đúng một nửa. Bởi bà con không phải “sẻ áo”, vì quân trang chúng tôi đầy đủ, chưa hết mùi hồ. Riêng cơm ăn thì độn ngô quá nhiều, bà con trông thấy thương tình lại luộc khoai giấu cho “các con” vào ba lô con cóc. Hình ảnh bà bầm trong thơ Tố Hữu những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lại sống lại trong tâm trí chúng tôi: “Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm”. Ngay trong các gia đình chúng tôi đóng quân cũng có nhiều gia đình liệt sĩ, quân nhân. Đơn vị chúng tôi trở thành những đứa con chung của đại gia đình Việt Yên.
Cuối năm 1972, có mấy gia đình Tân Yên nửa đêm bật khóc, vì nghe tin toàn bộ trung đội chúng tôi đóng quân ở đó bị B-52 đánh, hy sinh. Mấy cô gái ôm nhau khóc, động viên nhau “chôn chặt mối tình đầu”. Chỉ đến khi hòa bình, bà con mới biết đó là tin giả...
ST


GIÁO SƯ TRẦN ĐẠI NGHĨA

 Giáo sư Trần Đại Nghĩa, người có profile trai anime đủ gọi Tony Stark là con ngan con (sương sương Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, kỹ sư quân giới, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không, cử nhân khoa học tại 5 trường đại học Pháp, Cục trưởng Quân giới,...), lại có tính tình khá là ngốc nghêk làm cả vợ con lẫn đồng nghiệp bất lực:

- "Cụ Nghĩa nhà ta" khi làm Cục trưởng quân giới bị cô quân y Nguyễn Thị Khánh miêu tả là "quần áo thì lôi thôi, úi xùi, tóc chẳng bao giờ chải, cặp kính dày cộp trên mặt...", sau này về làm vợ chồng thị lại bị vợ tả là "Đầu có lúc nào cũng súng với đạn, chẳng quan tâm gì xung quanh, cả tuần không tắm, giày thì để cóc ở, quần áo thì tơi tả". Bác Hồ từng phải bất lực kêu: “Thím Nghĩa đâu mà để chú Nghĩa ra nông nỗi này?”
- Cụ Nghĩa lơ đễnh đề xuất cắm cọc nhọn quanh cơ quan để chống lính Pháp nhảy dù. Chưa chọc được thằng lính Pháp nào thì cụ tự va trúng cọc ngã...
- Vì lớn tuổi rồi mà chưa vợ con gì, "cụ Nghĩa nhà ta" được tổ chức mai mối cho cô Khánh. Cụ Nghĩa bèn vác sách vở đến chỗ cô Khánh làm việc 2 hôm giời mà chẳng dám nói gì. Cô Khánh tức quá đành chủ động hỏi trước, thế là cụ Nghĩa nhà ta mới có vợ.
- Ở chiến khu ai cũng sợ đi qua phòng cụ Nghĩa, tại vì phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Bazoka. Đã thế ông này lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy, các cụ độ còng lưng mới còn nguyên vẹn như vậy.
- Có lần cụ Nghĩa nhà ta đi tắm suối nửa ngày chưa về làm cả cơ quan phải đi tìm. Ra đến suối thì thấy cụ đang ngồi trên tảng đá viết đầy công thức ngoằn ngoèo.
- Cụ Nghĩa được vợ nhờ trông con hộ, vợ cụ về đến nơi thấy đứa nào cũng mặt mũi lem nhem còn ba thì đang ngồi đọc sách. Cụ gọi đó là "trông con kiểu tự do sáng tạo"./.
ST


TỔ QUỐC GỌI TÊN, EM TÌNH NGUYỆN LÊN ĐƯỜNG

 Vừa hiền vừa dịu lại vừa tươi

Mà lúc xông pha mạnh tuyệt vời
Đánh giặc lo nhà xây dựng nước
Đảm đang lừng lẫy bốn phương trời.
Đâu phải bây giờ em mới đảm đang
Nuôi mẹ chăm con thay chồng trăm chuyện
Đâu phải đợi khi quân thù ập đến
Tổ quốc gọi tên, em tình nguyện lên đường.
Cái tính đảm đang em chịu đựng yêu thương
Em có sẵn từ trong bụng mẹ
Thuở mới lên ba tập bồng, tập bế
Cái gối làm con em làm mẹ ru hời.
Từ thuở đánh chuyền ngắt lá đùa chơi
Tập xếp, tập đan, em làm người nội trợ
Bà mẹ Việt Nam nuôi con từ thuở nhỏ
Đã dạy cho con cách ăn ở nên người.
Mẹ có ngờ đâu trong thế kỷ hai mươi
Tổ quốc đã giao cho con làm người dung sỹ
Tay trằm nón bài thơ, tay câm dao đánh Mỹ
Chung một góc trời đâu phải chỉ riêng ta.
Ơi! cô gái Việt Nam hiền như một bông hoa
Chính em đó, em là người đẹp nhất
Chiếc áo nâu non hiền hòa chân thật
Rất quê hương và cũng rất đáng yêu.
Đôi mắt em nhìn như niềm mơ ước
Mà sâu thẳm bao nhiêu điều suy nghĩ
Dáng em đi trong khoan thai bình dị
Mà dịu dàng như mũi chỉ đường kim.
Khi em cười môi nở một hình tim
Khi em giận mắt hóa thành ánh lửa
Bởi lắm yêu thương em không hề biết sợ
Không biết kêu xin, em tin ở chính mình.
Biết cằm thù nên em biết hy sinh
Biết im lặng nên trở thành bão tố
Trung hậu đảm đang em làm người vợ
Anh dũng hiên ngang em lại hóa anh
hùng./.
ST


VUN ĐẮP MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT, VỪA LÀ ĐỒNG CHÍ VỪA LÀ ANH EM

 Từ ngày 10 đến 11-4, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Lào theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith.

Đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên và Lào cũng là quốc gia đầu tiên mà Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới thăm trên cương vị mới. Điều này tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán, trước sau như một của Việt Nam hết sức coi trọng, luôn dành ưu tiên cao nhất và làm hết sức mình để không ngừng củng cố, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt, vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai nước, đồng thời thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của Việt Nam dành cho Lào trong công cuộc đổi mới, bảo vệ, xây dựng đất nước.
Hiếm có một mối quan hệ song phương nào trên thế giới sâu đậm, cao đẹp, bền bỉ như mối quan hệ Việt Nam-Lào. Đó là mối quan hệ chia ngọt sẻ bùi, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, cùng nắm chặt tay chiến đấu, hy sinh bên nhau. Đó là mối quan hệ đồng chí vì vận mệnh chung; là tình nghĩa ruột thịt, thân thiết, trước sau như một; là mối quan hệ khó diễn đạt hết bằng lời và đã trở thành một tấm gương mẫu mực, thủy chung, trong sáng. Trải qua những thử thách khốc liệt của chiến tranh và những năm tháng cùng gian truân trong quá trình đổi mới, hội nhập, mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào trở thành quy luật khách quan; là nhân tố có ý nghĩa sống còn, tài sản chung vô giá; là nền tảng để hai nước phát huy trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo. Mỗi thành tựu đạt được của cách mạng hai nước từ trước đến nay đều gắn liền với những bước phát triển tốt đẹp của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào.
Chúng ta vui mừng nhận thấy, những năm gần đây, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, kể cả những tác động chưa từng có của đại dịch Covid-19, quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển vững chắc, ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả. Quan hệ chính trị không ngừng được củng cố, nâng cao, từ quan hệ hữu nghị truyền thống trở thành quan hệ hữu nghị vĩ đại, ngày càng trở nên tin cậy, gắn bó, tiếp tục giúp định hướng cho các lĩnh vực hợp tác khác. Hai nước đã phối hợp tổ chức thành công Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 2022, thể hiện một cách sâu đậm, thực chất, sinh động mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào. Cùng với đó, hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, giáo dục-đào tạo, văn hóa-xã hội... ngày càng mở rộng và phát triển, mang lại lợi ích tốt đẹp cho nhân dân hai nước. Sự phối hợp và ủng hộ lẫn nhau một cách hiệu quả tại các diễn đàn đa phương cũng góp phần nâng cao vị thế của hai nước ở khu vực và trên trường quốc tế. Tình đoàn kết và những thành tựu quan trọng gặt hái được trong quan hệ song phương không chỉ tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước, củng cố thế và lực của mỗi nước mà còn đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Với điều kiện tự nhiên là hai nước láng giềng gần gũi, cùng uống chung dòng nước Mê Công, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và truyền thống bang giao hòa hiếu, gắn bó mật thiết với nhau trong suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước của hai dân tộc, chắc chắn rằng, tình cảm thủy chung, son sắt Việt Nam-Lào luôn luôn vẹn nguyên. Chúc chuyến thăm chính thức Lào của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thành công tốt đẹp. Chúc mối tình hữu nghị vĩ đại “sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, “quý hơn ngọc quý nhất” sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững./.
ST