Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

Chữa bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí!

(ĐCSVN) - Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhận diện và xác định hệ thống các biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sau hơn 5 năm thực hiện, việc nhận diện và khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ vẫn là vấn đề có tính cấp thiết.

Nhận diện những biểu hiện và tính nguy hại của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ những biểu hiện của một số cán bộ có “tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”[1].

Trong đó, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ, đảng viên có những biểu hiện hết sức đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác nhau nhưng không có nghĩa là “bí ẩn” không nhận diện được. Có thể nêu một số biểu hiện chính như sau:

Một là, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc để đoạt được quyền lực

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”[2]. Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó nổi bật là biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể thành quyền lực cá nhân; đây là quyền lực bị tha hóa, khi quyền lực của nhân dân rơi vào tay những kẻ đam mê quyền lực; biến sức mạnh của tập thể thành quyền lực cá nhân.

Người đam mê quyền lực thường có biểu hiện theo kiểu dân túy, thông qua những tuyên bố gây sốc với những hành vi đánh bóng tên tuổi để “mị dân” - lấy lòng đám đông trong giải quyết mối quan hệ và những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong xã hội, chạm vào “trái tim” của một bộ phận người dân với những lợi ích trước mắt họ, lại có truyền thông hậu thuẫn và tung hô xuất hiện dày đặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, họ tìm cách mua chuộc quần chúng, nhất là cấp dưới để tăng tín nhiệm, thuận lợi cho việc giới thiệu mình theo quy trình vào diện quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ... Họ luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, lấy lòng mọi người, từ đồng nghiệp đến những người có tiếng nói, uy tín trong cơ quan, đơn vị, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm. Họ sẵn sàng dùng tiền để lấy lòng mọi người nhằm tạo dựng mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên…

Một số ít cán bộ chủ chốt khi được luân chuyển về bộ, ngành, địa phương khác, thay vì sâu sát cơ sở, bám nắm tình hình nội bộ, tình hình mọi mặt của bộ, ngành, địa phương để xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, nhất là trong nội bộ cấp ủy lại tranh thủ “gặp gỡ” các doanh nghiệp, sốt sắng xây dựng cánh hẩu, sân sau; cũng có trường hợp đi cơ sở và tranh thủ phát biểu, “động viên” tinh thần cấp dưới, với giọng “dân túy” để đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhằm vận động hành lang tranh thủ sự ủng hộ…; mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng ngày 26/3/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cứ vào Đại hội, cứ chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm lại râm ran chuyện vận động, mời nhau ăn uống, cho tiền, tặng quà. Có cái gì luồn vào trong cái tình cảm ấy?”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy luân chuyển... Từ đó, Tổng Bí thư cảnh báo, nếu có thì chúng ta phải sửa, phải rút kinh nghiệm; nếu không có thì chúng ta cũng phải trả lời rõ ràng, sòng phẳng, chỉ ra ai chạy, chạy ai?”[3].

Hai là, tìm mọi cách xây dựng “cánh hẩu” để củng cố quyền lực

Biểu hiện về cán bộ có đam mê quyền lực là luôn tìm mọi cách để củng cố quyền lực thông qua việc dùng ảnh hưởng và tác động để đưa người thân, người quen vào diện quy hoạch và sau đó là bổ nhiệm vào các chức vụ. Họ luôn tìm mọi cách, mọi cơ hội để đưa người thân, người quen, cánh hẩu được vào ê kíp để củng cố quyền lực của mình ngày thêm vững chắc. Khi có quyền lực, một mặt, họ sẽ tìm cách thao túng, phá “thủng” nguyên tắc tổ chức và quản lý để đặc quyền, đặc lợi. Mặt khác, tìm mọi cách để kiềm chế, triệt hạ những người thẳng thắn, những người “không theo dây” hay nhóm lợi ích tiêu cực do mình là chủ trò tiếp tục đưa những kẻ nịnh nọt, chạy chức, chạy quyền vào bộ máy nhà nước.

Theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, người được bổ nhiệm nắm giữ chức vụ không phải là vô hạn về không gian, thời gian mà có thời hạn, nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, cán bộ lãnh đạo phải được cấp có thẩm quyền gia hạn, bổ nhiệm lại (nếu còn tuổi, năng lực, đủ phẩm chất, tiêu chuẩn), hoặc không làm quản lý, lãnh đạo, sẽ làm chuyên môn thuần túy, hoặc nghỉ hưu. Đó là nguyên tắc công tác tổ chức cán bộ. Nhìn chung, cán bộ có đam mê quyền lực đều ý thức rất rõ về nhiệm kỳ. “Tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội xuất hiện với mức độ, hình thức, biểu hiện trong đánh giá, nhận xét, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ….

Ê kíp, “cánh hẩu” là tình trạng ở một số cơ quan, địa phương, đơn vị khi lãnh đạo có người “say mê quyền lực” chủ động nâng đỡ “đàn em”, con cháu “không trong sáng” thông qua việc đề bạt quá nhanh, quá nhiều, bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện theo kiểu “9C” (con cháu các cụ cả, chiếu cố các cháu). Do vậy, nhân dân gọi những người được đề bạt, bổ nhiệm sai là tầng lớp “5C4Đ” (con cháu các cụ cả, đừng được động đến). Đây không chỉ là tư tưởng dễ dãi, xuê xoa trong công tác cán bộ mà là hiện tượng kéo bè, kéo cánh, xây dựng ê kíp mới sẽ tạo ra “chân rết” là một nhóm lợi ích tiêu cực nhằm kéo dài bòn rút, đục khoét tài sản nhà nước và nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách mua chức, đoạn quyền

Điểm chung của những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí là luôn thực hiện cái gọi là phương châm “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Vì vậy, họ luôn có nhiều mưu mô nhằm đoạt cho được quyền lực; sẵn sàng vung tiền, quà biếu, tặng bằng vật chất hối lộ cấp trên thoái hóa, biến chất và đi kèm với đó là những lời nịnh hót, xin xỏ, thậm chí mặc cả về chức vị của mình.

Những bài học chạy chức quyền, chạy luân chuyển cán bộ thời gian qua cho thấy rõ biểu hiện này khi mà nhiều cán bộ dù năng lực yếu kém, thiếu tiêu chuẩn, bằng cấp, nhưng nếu có tiền, vật chất hối lộ, và biết đưa hối lộ thì vẫn được sếp để mắt tới, được bố trí vào những vị trí có nhiều “màu mè”, lợi ích...

Bốn là, kén chọn vị trí công tác.

Những cán bộ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực khi đã được quy hoạch, bổ nhiệm lại “kén cá chọn canh”, chọn vị trí công tác mà họ cho là “ngon”; chọn việc dễ, tránh việc khó; chọn nơi gần, tránh nơi xa; chọn nơi có nhiều lợi ích, bổng lộc. Những con người này chỉ thích được phân công tại những nơi có nhiều “màu mỡ”, thích công tác bên chính quyền, doanh nghiệp lớn ở thành phố lớn, vùng đô thị…, không thích công tác ở khối Đảng, Mặt trận, đoàn thể bởi ở những nơi này không có “màu mỡ”, khó kiếm chác.

Có những trường hợp mặc dù đã được tổ chức Đảng phân công vị trí công tác mới, nhưng với những mánh khóe, thủ đoạn sẵn có là hối lộ, kẻ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực tư lợi, vun vén cá nhân vẫn “lội ngược dòng” vào “phút bù giờ” để về công tác tại những vị trí có nhiều màu mỡ, bổng lộc.

Vì tư tưởng cục bộ, bản vị, vì “lợi ích nhóm tiêu cực” một số cán bộ chủ chốt nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác ở địa phương nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm mọi cách để gây khó khăn hay cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm chung là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

Đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác - Hiểm họa khôn lường

Bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có đạo đức tốt.

Mặt tiêu cực của quyền lực là luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì lợi ích thấp hèn của cá nhân.

Quyền lực là của nhân dân, người được ủy quyền khi bị quyền lực làm tha hóa, sẽ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà vì lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, của một nhóm người, họ quay lại với nhân dân, nhưng biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành bị chèn ép, thậm chí bị tước đoạt. Họ sử dụng quyền để trục lợi cá nhân hay lợi ích nhóm hoặc sử dụng quyền vượt ra ngoài giới hạn được trao để thỏa mãn khát khao quyền lực. Trường hợp thứ nhất sinh ra tham nhũng, trường hợp thứ hai gọi là lạm quyền. Đó đều là quyền lực bị tha hóa. Trên thực tế, tham nhũng và lạm quyền luôn song hành.

Hiểm họa khôn lường của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí của cán bộ xuất phát từ vai trò của cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) khi Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”[4]. Theo đó, mức độ nguy hại phụ thuộc vào việc những kẻ đam mê quyền lực đó đang giữ vị trí nào, ở lĩnh vực nào, cụ thể là:

Trước hết, đối với nội bộ, người đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác sẽ làm mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, từ đó làm suy yếu thậm chí làm mất sức chiến đấu của các tổ chức, nhất là tổ chức Đảng, chính quyền và bộ máy quản lý. Điều này xuất phát từ vấn nạn chạy chức, chạy quyền. Bởi lẽ, những người có phẩm chất, năng lực nhưng không chịu chạy sẽ không được đề bạt, bổ nhiệm; từ đó nảy sinh tư tưởng, bất mãn, chán chường với công việc, sẵn sàng đề đạt nguyện vọng thuyên chuyển sang nơi khác, thậm chí nghỉ việc. Còn những kẻ kém tài, kém đức nhưng khéo chạy, biết cách chạy có thể sẽ dễ dàng leo lên các thang bậc của quyền lực. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công lớn mà còn đẻ ra tham nhũng. Bởi vì, khi đã có chức quyền, kẻ có tham vọng chức quyền trục lợi phi pháp, chúng sẽ dùng chính những đồng tiền trục lợi được để đi hối lộ nhằm tạo sự bao che một cách trắng trợn, để rồi được tiếp tục thăng tiến hoặc hạ cánh an toàn. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công, mà còn dẫn đến nghịch cảnh trớ trêu là: “Nước quá trong thì không có cá, người tốt quá thì không ai chơi” và bị coi là quan hệ kém… 

Nếu cán bộ đam mê quyền lực là cán bộ cấp chiến lược thì hiểm họa càng lớn. Bởi vì, khi họ ở vị trí có quyền quyết định đến sinh mệnh chính trị của người khác, thì họ ký thêm hàng chục, hàng trăm quyết định bổ nhiệm cán bộ thuộc quyền, cấp dưới cũng có hành vi “chạy” như mình; hệ quả là sẽ tạo ra “một dây” - hệ thống vướng vào tiêu cực trong nhiệm kỳ của anh ta, vì một lẽ thường tình: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Chính vì vậy, bất kì sai lầm nào trong công tác cán bộ, đặc biệt là với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp chiến lược sẽ đều phải trả giá rất đắt, “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”[5].

Thứ hai, đối với nhân dân, những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác thực chất là những kẻ đã “tha hóa quyền lực”, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định thì bị chính người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta, là trở lực lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút niềm tin vào kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ.

Thứ ba, đối với bạn bè và đối tác, làm suy giảm sự tin cậy của bạn bè và đối tác của Việt Nam về môi trường kinh doanh ở các địa phương và của cả nước vì những cán bộ vướng vào tham nhũng, tiêu cực thì hầu hết lại là những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác lại thường gây khó khăn cho các doanh nghiệp xúc tiến đầu tư và triển khai các dự án khi nhũng nhiễu doanh nghiệp để trục lợi bất chính. Nếu các hành vi tiêu cực đó của họ bị các thế lực thù địch và kẻ cơ hội chính trị lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước ta thì mức độ nguy hại càng lớn. Trước hết, làm mất thiện cảm, mất niềm tin của bạn bè quốc tế và các đối tác đối với Việt Nam; nguy hiểm hơn và không loại trừ khả năng nước ta dễ rơi vào hoàn cảnh bị cô lập nếu những kẻ đam mê quyền lực đã “chui sâu, leo cao” vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của Việt Nam khi họ đưa ra hoặc tham mưu cho Đảng, Nhà nước ra những quyết định sai lầm.

Căn nguyên của tình trạng đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.

Một là, chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ là nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân của mọi nguyên. Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ đảng viên, làm tha hóa Đảng. Chủ nghĩa cá nhân đặc biệt nguy hiểm và khó chống vì nó là kẻ thù vô hình, lại nằm trong bản thân mỗi con người, là gốc của mọi bệnh, với những biến tướng phức tạp, đa dạng khôn lường. Căn bệnh này trong cán bộ, đảng viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ và “mổ xẻ” từ sớm khi cho rằng: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[6]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân và người lãnh đạo phải khắc ghi điều đó trong công việc hằng ngày; muốn vậy, phải gần gũi, học hỏi quần chúng nhân dân, đảng viên, biết lắng nghe ý kiến của họ. Người lên án mạnh mẽ các biểu hiện tha hóa quyền lực, như lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông Ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng...”[7].

Chủ nghĩa cá nhân, suy đến cùng là nguyên nhân tạo nên những cán bộ có tham vọng quyền lực, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác. Vì chủ nghĩa cá nhân, lòng tham vô đáy đã thúc đẩy họ có tham vọng chức quyền. Vào Đảng là để có quyền lực nhiều hơn, vì thế có nhiều lợi ích hơn, dễ kiếm tìm danh lợi, bổng lộc, địa vị, tiền bạc. Quyền lực - lợi ích là công thức, đồng thời cũng là “vòng tròn khép kín” những mưu mô, thủ đoạn của những kẻ có tham vọng chức quyền, biến họ trở thành kẻ thoái hóa, biến chất, cơ hội, vụ lợi, có lối sống buông thả, chạy theo vật chất tầm thường, trở thành người có tội với Đảng, với nhân dân.

Hai là, tham vọng quyền lực xuất hiện có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu và cơ bản vẫn là do cơ chế kiểm soát quyền lực, chế ước quyền lực chưa hữu hiệu, tình trạng lạm dụng quyền lực chưa được khống chế. Quyền lực nhà nước từ chỗ là quyền lực công, nhưng do không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ mà ít nhiều bị tha hóa, bị lợi dụng, trở thành quyền lực của cá nhân, hoặc của một nhóm người để tư lợi cá nhân.

Mặc dù Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống “chạy chức, chạy quyền”, nhất Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, nhưng việc quán triệt và thực hiện ở các cấp chưa nghiêm.

Ba là, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. Việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa thực hiện nghiêm túc trong sinh hoạt Đảng, đoàn thể là một trong những nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, suy thoái về đạo đức, lối sống.

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.

Thứ nhất, tiếp tục nhận diện những biểu hiện mới, biến tướng mới cũng như tác hại và nguyên của bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác trong đội ngũ cán bộ các cấp và không ngừng đấu tranh phê phán và có chế tài đủ mạnh để phòng, ngừa những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác chui vào nội bộ ta.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và triển khai sâu rộng Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm”, đặc biệt là nội dung: Đảng viên không được quan liêu, thiếu trách nhiệm; đảng viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”…, đảng viên không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy định; không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được “đề cử, ứng cử”…, “không được lợi dụng chức vụ để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan có thẩm quyền”…

Thứ ba, đẩy mạnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (thay thế Quy định số 205-QĐ/TW). Quy định 114-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đã liệt kê cụ thể 8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; 6 hành vi “chạy chức, chạy quyền” và 5 hành vi tiêu cực khác. Thực hiện tốt trách nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, “người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời, phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn”[8]. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện, tự chỉ trích, lòng tự trọng và biết liêm sỉ, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên hết, trước hết.

Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn 2021 - 2030. Một trong 10 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là: “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”[9].

Thứ tư, tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại gắn với chế độ công vụ. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Luật về đạo đức công vụ và thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức. Thực hiện “cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”[10]; tạo động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến, ngăn ngừa tiêu cực trong thi hành công vụ, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.28-29.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.28.

[3] Xem: Nguyễn Phú Trọng (2018), Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, khó khăn nào cũng vượt qua, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.339-340.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.280.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.23.

[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.611.

[7] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.51.

[8] Nguyễn Phú Trọng (2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.129-130.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 187-188.

[10] Nguyễn Phú Trọng (2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd, tr.438.

TS. Nguyễn Kiêm Viện

 

 

Xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Những năm gần đây, Quân đội được điều chỉnh, xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà, với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn đó, chúng cho rằng: Thời bình không cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang, hiện đại hóa Quân đội, đó là sự “lãng phí, tốn kém”, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước; đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, hợp tác toàn diện, sâu rộng với các nước, các đối tác, tổ chức quốc tế,... thì càng không có nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh, nên không cần xây dựng Quân đội hiện đại. Chúng soi mói, chĩa mũi vào hiệu quả tiến trình hiện đại hóa, phủ nhận vai trò của Quân đội, lợi dụng các vấn đề an ninh phức tạp trên Biển Đông để kích động, tuyên truyền Quân đội “vô dụng”, chi phí, tiêu tốn nhiều ngân sách Nhà nước, nhưng khi có tình huống thì “không dám động binh”,… nhằm làm cho tình hình Biển Đông “nóng” lên, Nhân dân hiểu sai lệch đường lối, chủ trương hiện đại hóa Quân đội của Đảng, từ đó làm chậm tiến độ, chệch hướng, tiến tới không thực hiện được mục tiêu hiện đại hóa Quân đội. Lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, sĩ quan cao cấp trong Quân đội thời gian qua, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc: xây dựng Quân đội hiện đại chính là môi trường, “mảnh đất màu mỡ” cho nạn tham nhũng trong Quân đội “đâm chồi, nảy lộc”. Thâm độc hơn, chúng khuyên nhủ: “Để hiện đại hóa Quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, đang muốn giúp đỡ Việt Nam xây dựng theo mô hình quân đội kiểu phương Tây - quân đội nhà nghề”. Nguy hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam xây dựng Quân đội hiện đại là “khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”, làm cho tình hình an ninh, chính trị, quốc phòng khu vực trở nên phức tạp hơn, v.v. Những luận điệu trên nghe qua có vẻ là yêu nước, có thái độ phẫn nộ với hành động sai trái, nhưng nghiên cứu kỹ bản chất thì thấy đó vừa là sự ngộ nhận, vừa thâm độc và cực kỳ nham hiểm, phản động; không dựa trên bất cứ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học nào; vừa thiếu khách quan, vừa sai lệch về bản chất; thậm chí xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúng không hiểu mục đích hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam là để tự vệ; không hiểu chính sách “bốn không” trong đó có “không liên minh quân sự”; không hiểu nghệ thuật “kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao” của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc và càng không hiểu cặn kẽ, bản chất của quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” - vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam. Động cơ của các thế lực thù địch, phản động lộ rõ bản chất cố tình gây nhiễu, cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kích động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, gây bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và hợp tác quốc phòng, nhất là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước lớn. Do vậy, xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vậy mà, hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, chống phá hòng làm chậm tiến trình, chệch hướng mục tiêu hiện đại hóa, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ đoạn này cần phải được nhận diện, đấu tranh, loại bỏ để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, định hướng trên; đồng thời, đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội.

Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại ở nước ta hiện nay

Chủ nghĩa xét lại là trào lưu tư tưởng - chính trị thù địch, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất hiện trong nội bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế dưới chiêu bài “xét lại”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta: “Cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay. Chúng ta đều biết, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chủ nghĩa xét lại cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của nó không hề thay đổi. Đó là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác, là tàn dư của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào công nhân, là sự phản bội quyền lợi cơ bản lâu dài của phong trào công nhân vì những lợi ích trước mắt, cục bộ của một nhóm người cam tâm đầu hàng trước hệ tư tưởng tư sản. Đại biểu đầu tiên của chủ nghĩa xét lại là E. Béc-stanh ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã đòi xét lại học thuyết của C. Mác. Ngay từ thời kỳ ấy, chủ nghĩa xét lại đã trở thành một hiện tượng quốc tế nảy sinh không chỉ ở các nước: Đức, Pháp, Bỉ, Nga,... mà còn ở cả những nước khác. Chủ nghĩa xét lại hiện đại ngày nay có những nội dung biểu hiện chủ yếu sau: Thứ nhất, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Hiện nay, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho cơ cấu giai cấp xã hội có sự biến đổi sâu sắc,... những người theo chủ nghĩa xét lại cho rằng, quan niệm về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời. Theo họ, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản là tàn bạo, cực quyền, không dân chủ. Họ đi tới kết luận phải chung sống hòa bình với chủ nghĩa đế quốc, phải “ưu tiên” lợi ích toàn nhân loại. Vì vậy, họ bắt tay thỏa hiệp vô nguyên tắc với chủ nghĩa đế quốc. Thứ hai, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, tước mất bản chất giai cấp của chủ nghĩa quốc tế vô sản, chỉ còn lại những lời kêu gọi chung chung vô nguyên tắc; là sự thỏa hiệp đầu hàng đối với chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, những người xét lại đề cao quá mức thứ chủ nghĩa dân tộc: cực đoan, hẹp hòi, sô vanh nước lớn. Thứ ba, từ bỏ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ đưa ra chiêu bài “ủng hộ quan điểm sáng tạo đối với lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội, chủ trương xây dựng, phát triển chúng theo con đường “cải biến” chủ nghĩa xã hội hòa nhập với chủ nghĩa xã hội dân chủ, trở thành lệ thuộc vào hệ tư tưởng tư sản. Với “tư duy chính trị mới”, họ đưa ra sự lựa chọn là “chủ nghĩa xã hội nhân đạo và dân chủ” và cho rằng đó là một xã hội duy nhất đem tới cuộc sống xứng đáng. Thực chất xã hội họ chọn vẫn nằm trong khuôn mẫu của chủ nghĩa xã hội, nhưng chấp nhận những cải biến xã hội trong giới hạn duy trì trật tự tư bản chủ nghĩa. Thứ tư, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những người theo chủ nghĩa xét lại đòi đảng phải chấm dứt sự độc quyền về chính quyền và quản lý, đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, tước bỏ quyền lãnh đạo của đảng trên thực tế dẫn tới phá sập chế độ xã hội chủ nghĩa, làm tan rã hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Thứ năm, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ cho rằng trong thời đại phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, trí thức mới là người giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới thay giai cấp công nhân. Ngoài ra, họ còn xuyên tạc lý luận về hình thái kinh tế xã hội, thời đại, v.v. Như vậy, nội dung bao quát của chủ nghĩa xét lại ngày nay là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên những vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất, phá hoại nghiêm trọng chủ nghĩa xã hội hiện thực, làm suy yếu phong trào cách mạng thế giới. Ở Việt Nam, chủ nghĩa xét lại không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nó chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng không thành hệ thống lý luận, không nhất quán và biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động,... của một số người, một số tổ chức phi pháp. Hiện nay, “... bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm” trong bối cảnh quốc tế, khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định; các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam,… là mảnh đất màu mỡ để những kẻ xét lại có điều kiện trỗi dậy như “nấm độc sau mưa”. Chủ nghĩa xét lại không phải là “định mệnh” đối với tất cả các đảng cộng sản; sự xuất hiện của nó phản ánh tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Đấu tranh có hiệu quả những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc là nhiệm vụ có tính chất mở đường, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thắng lợi của mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không thể phủ nhận những thành tựu về dân chủ và bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Phản bác những luận điệu xuyên tạc vấn đề dân chủ ở Việt Nam Giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị coi vấn đề dân chủ là một “mũi nhọn” tập trung xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những luận điệu xuyên tạc về dân chủ là đặc biệt nguy hiểm, dễ gây nên sự hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và bản chất, tính ưu việt của chế độ dân chủ nước ta. Vì vậy, cần phải chủ động đấu tranh, phản bác thủ đoạn này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vấn đề dân chủ không đứng riêng một cách biệt lập, mà được các thế lực thù địch xuyên xoáy, xen lồng trong các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tự do tín ngưỡng, tôn giáo,… tạo “hợp lực” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những luận điệu xuyên tạc dân chủ được chúng thực hiện trên tất cả các lĩnh vực; trong đó, xuyên tạc dân chủ trên lĩnh vực chính trị là trọng điểm, mang tính bao trùm, được triển khai trên hai “mảng miếng”, hai hướng chính: thứ nhất, bóp méo, xuyên tạc những biểu hiện dân chủ trong đời sống hiện thực; thứ hai, xuyên tạc bản chất, căn nguyên của tình trạng “mất dân chủ”, “không có dân chủ” ở nước ta. Các luận điệu xuyên tạc được thực hiện với nhiều hình thức, biện pháp rất xảo quyệt và tinh vi, tạo nên “ma trận”, dàn “hợp xướng” tiến công ta từ nhiều phía. Chúng kết hợp bên trong và bên ngoài với nhiều lực lượng; kết hợp dùng “lý luận cao siêu” với kiểu “hàng tôm hàng cá”; kết hợp chống quan điểm với trực tiếp tiến công vào con người, tổ chức. Chúng ra sức lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của ta; khai thác các thông tin trong nước và quốc tế liên quan để lồng ghép các luận điệu xuyên tạc. Các luận điệu họ đưa ra đều cố tỏ vẻ khách quan, khoa học, tâm huyết với vận mệnh quốc gia, dân tộc; khoác cái áo “nhà dân chủ”, “yêu nước” để chống phá, xuyên tạc. Họ triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các nền tảng mạng xã hội để móc nối, tập hợp, huấn luyện các đối tượng, lập các trang, nhóm, tài khoản có số người theo dõi lớn nhằm lan truyền những luận điệu xuyên tạc. Không thể bóp méo, phủ nhận những thành tựu về dân chủ và bản chất chế độ dân chủ nước ta; không thể vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, “vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”. Thực tiễn cho thấy, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức và xây dựng xã hội mới, chăm lo cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của chính mình; bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động, cụ thể trong cuộc sống của nhân dân. Người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, dân chủ, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ thế nào là dân chủ. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng, của nền dân chủ nước ta. Chỉ cần có cái nhìn khách quan, thiện chí thì sẽ hiểu được những thành tựu dân chủ mà nhân dân ta với bao mồ hôi, công sức và cả máu xương mới có được, thấu hiểu được xã hội Việt Nam là thực sự dân chủ. Những ai cố tình vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, “vi phạm dân chủ” cần thấy rằng: sau hơn 35 năm đổi mới, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng thể hiện sinh động trong đời sống hiện thực trên tất cả các lĩnh vực. Đời sống cả về vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nếu như năm 1989, quy mô nền kinh tế đất nước chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, xếp thứ 37 thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và nằm trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Thu nhập bình quân đầu người những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Mọi công dân đều “có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Hệ thống báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ với đội ngũ “khoảng 50.000 người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí; gần 1.000 cơ quan báo chí thuộc 04 loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử, trong đó có 165 cơ quan báo, 663 tạp chí, 23 cơ quan báo điện tử độc lập, 02 đài phát thanh - truyền hình quốc gia, 64 đài địa phương, 05 kênh truyền hình3. Ở Việt Nam, có hơn 70% dân số dùng mạng xã hội với nhiều mạng xã hội lớn phổ biến như Facebook, YouTube, Lotus, Zalo, Twitter, Instagram, v.v. Những con số trên chưa phải là đầy đủ, nhưng nó đã khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ và sự thụ hưởng nền dân chủ nước ta. Không thể cho rằng, bầu cử ở Việt Nam “không dân chủ”?! Bởi, ở Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bầu cử, có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước và cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng nhiều. Việc thực hiện nguyên tắc dân chủ trong bầu cử đã tập hợp, phát huy trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ và chăm lo đến dân. Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kỳ bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp, các luật,... đã thực sự tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và gián tiếp, thực thi quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Rõ ràng, chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,...; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những ai ra rả kêu gọi hãy “mở rộng dân chủ” hơn nữa cần phải thấy rõ rằng: dân chủ bao giờ cũng gắn liền với chuyên chính, với pháp luật, kỷ luật. Bất cứ nền dân chủ nào cũng vậy, đó không phải là thứ vô nguyên tắc, càng không thể là vô chính phủ, mà phải “gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”. Họ cũng cần phải thấy rằng: không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ và ngược lại. “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”. Mọi sự lợi dụng dân chủ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, làm tổn hại tới lợi ích quốc gia và cuộc sống bình yên của nhân dân là không thể chấp nhận, là trái với dân chủ, đều phải bị nghiêm trị. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc là trái với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” mà các thế lực thù địch tung ra như là một “tiền đề” và “yêu cầu” của thứ dân chủ mị dân, thực chất là nhằm tước bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa của nền dân chủ nước ta. Những yêu sách đòi Việt Nam phải “khuôn” theo “mẫu hình” dân chủ tư sản phương Tây là không thể chấp nhận. Chúng ta không phủ nhận nhiều giá trị của dân chủ tư sản, nhưng nền dân chủ ấy, dù có được tô vẽ như thế nào, thì vẫn là dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động. Không thể xuyên tạc: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là căn nguyên của tình trạng mất dân chủ, không có dân chủ. Với sự lựa chọn của lịch sử và bằng kiểm nghiệm thực tế, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước ta không phải là tạo ra vị thế đó, mà đó là sự ghi nhận, khẳng định một thực tiễn chính trị - xã hội đã xác lập trong thực tế, không có lý do nào buộc chúng ta phải từ bỏ Điều 4 Hiến pháp. Đảng ta “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”; “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích nào khác”. Đảng độc tôn lãnh đạo, cầm quyền chính là vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”. Vì thế, vấn đề “then chốt của chế độ dân chủ” nước ta không phải là từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng, mà là khẳng định, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo ấy trong thực tiễn. Từ bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thực hiện đa đảng không những sẽ không dân chủ hơn mà còn dẫn tới đất nước mất ổn định, xã hội hỗn loạn, có thể rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước.

QUÁ ĐÀ QUÁ LỐ !?


Cái gì quá đà quá lố đều không ổn, đều trở nên kệch cỡm vô duyên, ca ngợi quá lố, biểu hiện quá lố, cười nói quá lố, thể hiện cảm xúc quá đà, tuyên truyền quá lố, lên án quá đáng đều phản tác dụng.
Ai đó do vô tư vô tâm, để rồi có những lời nói biểu hiện thiếu tính tế, thể hiện cảm xúc quá đà, có người kiến thức thì lơ mơ nhưng thích thể hiện, không may dính phốt thì thôi rồi nổi tiếng rầm rầm. Những vấn đề tiêu cực khiến dư luận quan tâm, thì họ càng cố ý khai thác, ăn theo Đu Trend đủ kiểu !?
Tận dụng MXH để điều chỉnh hành vi con người, để mỗi người khi nghĩ đến KGM thì cần ý thức hơn, sống tốt đẹp hơn, ứng xử chuẩn mực hơn, dần hoàn thiện bản thân, thiếu khôn khéo hời hợt vô duyên thì ăn gạch đá cho đủ, cũng có những mặt tích cực không thể phủ nhận.
Tuy nhiên nhiều người lạm dụng MXH để đả kích, để thực hiện suy nghĩ cá nhân của mình, thiếu lòng bao dung, chì trích chê bai quá đà vô tình xâm phạm đến danh dự uy tín của một cá nhân nào đó. Nếu cá nhân nào đó bị tổn thương nặng nề, chịu đựng không nổi thì sẽ ra sao ?!
Quả là MXH luôn có hai mặt, tuy nhiên tiêu cực hay tích cực là do tâm tính và ý thức của người sử dụng. Bất cứ vấn đề nào cũng vậy phải chừng mực, biết đâu là giới hạn, đừng quá đà quá lố. Mỗi người nên rút kinh nghiệm một chút, cẩn thận hơn ý thức hơn, vì cộng đồng chung thì sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

DÙNG MXH PHẢI CÓ Ý THỨC !?

 

MXH phát triển mạnh mạnh trên thế giới bùng nổ ở Việt nam, cả thế giới thu nhỏ trong chiếc điện thoại. MXH giúp cho chúng ta xích lại gần nhau, những tiện ích mà MXH đem đến là không thể phủ nhận, nhưng việc sử dụng MXH ra sao để nó mang lại lợi ích chung cho cộng đồng mới là điều chúng ta nên suy ngẫm.
Trong cuộc sống bất kể ai cũng vậy, mỗi người có cuộc sống riêng, một hoàn cảnh riêng, làm gì có ai hoàn hảo. Mỗi người đều có những góc khuất của riêng mình, đẹp thì khoe xấu thì che, không lẽ đem những chuyện Hỉ- Nộ -Ái - Ố quáng lên MXH rồi than thở nọ kia, bơi chuyện người này người khác, để phỉ báng lẫn nhau, vậy thì khác gì cái chợ!
Viết những lời hay ý đẹp cũng chưa chắc đã vừa lòng hết mọi người, có người còn mỉa mai, nói thì hay chắc gì bản thân ngoài đời sống đã ra gì ? Có thể đúng một phần không sai, nhưng đó là cuộc sống riêng tư của họ, dù họ có thế nào thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến ai, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi bài viết đăng tải lên MXH đều ảnh hưởng đến xã hội, bởi MXH có sức lan tỏa khủng khiếp.
Vậy cho nên đừng bao giờ nghĩ MXH là ảo muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, dùng MXH cần phải thận trọng hơn cuộc sống ngoài đời gấp trăm ngàn lần, trên MXH lời nó gió không bay, nó sẽ lưu lại mãi mãi. Khi đăng tải lên MXH những thông điệp tích cực hay tiêu cực đều có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh mẽ. Vậy thì tại sao chúng ta không lan tỏa những điều tích cực, bản thân ta thoải mái cũng giúp ích cho cộng đồng chung xã hội.
Nói gì cũng phải có lý nhưng đừng lý cùn để bào chữa cho những hành vi ích kỷ của mình. Tôi cũng có rất nhiều khiếm khuyết nhưng không để cảm xúc tiêu cực trưng bày lên MXH, cũng không thích quy chụp một cách tùy tiện bất kỳ ai. Cảm hóa con người, góp ý một cách xây dựng, mới là biểu hiện con người có văn hóa có tấm lòng.

HÃY NGHĨ ĐẾN NGÀY NÀY

 

Có một kẻ từng là người Việt Nam, nhưng đã biến hình thành một tên bồi bút, theo ông chủ Mỹ đề chống lại nơi từng là tổ quốc của hắn, đó là tên chủ kênh “Saigon Entertainment Television – SET”, hắn nói rằng, trong số năm triệu đảng viên Cộng sản Việt Nam hiện tại thì chỉ có 30% là còn chất cộng sản. Hắn nói mò!
Hắn nói mò, song hắn cũng phải dựa vào một hiện trạng, thời gian vừa qua có quá nhiều tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật. Chao ơi, sao mà đau xót thế! Nếu lão là đảng viên Cộng sản thì lão phải tự soi lại mình, có đúng là mình đã rơi vào số 70% còn lại? Kìa, thưa các đồng chí đảng viên, các đồng chí phải chứng minh cho mọi người thấy, tên này nói láo đi. Phải vả vào mồm nó và nói to lên rằng, tất cả các đồng chí còn nguyên vẹn chất cộng sản đi. Nếu không, điều đó sẽ làm giảm sút uy tín của đảng.
Có bao nhiêu đảng viên đang “rơi”? Có đúng như tên bồi bút kia nói không?
Lão dùng động từ “rơi” để mô tả những kẻ từng là thành viên cốt cán của đảng, những kẻ cơ hội đang còn khoác chiếc áo đảng viên đã và sẽ tuột khỏi nấc thang quyền lực, buông tay để mình rơi tự do, hoặc xuống đáy của xã hội hoặc vào chiếc lò của cụ Tổng.
Chao ơi, lão nhìn thấy cái cảnh, những kẻ một thời đứng trên cao mà giảng dạy về đạo đức cách mạng, nay hai tay đã bị chắp lại dưới sức mạnh của cái còng số tám, kè hai bên là hai viên cảnh sát, bước xuống từ cái xe chở tù, che bít bùng bỗng thấy chạnh lòng, bèn thốt lên câu cảm thán, “than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Thì ra, những kẻ này đang rơi tự do từ chiếc ghế quyền lực.
Nhìn cảnh người nhà của các bị cáo thẫn thờ ngồi chờ tòa tuyên án. Đây là lúc nhân dân lên tiếng, ông quan tòa chỉ là người đại diện của nhân dân mà thôi. Nhân dân buộc những kẻ này phải chịu hình phạt bởi hành động của chúng đã gây ra cho xã hội. Thế là từ hôm đó, chúng hắn lại rơi tự do khỏi những tình cảm gia đình, thân thiết. Người thân bắt đầu đếm ngày, đếm tháng, đếm năm…, không biết ngày nào gia đình sẽ đón nhận chúng trở về. Đó là những kẻ còn biết sẽ có ngày mình được trở về, còn một số tên khác thì rơi xuống nấm mồ lạnh lẽo cơ.
Còn các đồng chí của chúng ư? Mối dây liên hệ ấy đã bị cắt đứt để hắn rơi tự do. Trong số các đồng chí của chúng, cũng có người bị liên lụy để tuột mất chiếc ghế quyền lực như ông phó thủ tướng nọ, kia; nhưng cũng có người lo sợ, không biết khi nào đến lượt mình; những người tử tế thì lấy đó làm bài học răn mình, để tránh xa mọi sự cám dỗ. Những người tử tế, thậm chí còn không muốn ai đó nhắc tên chúng trước mặt mình.
Các đồng chí thân mến. Nghe nói, trông thấy nhiều kẻ quyền cao chức trọng bị biến thành củi đốt lò, nên nhiều đồng chí “co vòi” lại, giống như con rùa rụt đầu dưới cái mai, không dám làm chỉ sợ làm rồi lại sai. Ngay cái suy nghĩ như vậy đã không xứng đáng là đảng viên Cộng sản rồi. Người Cộng sản phải có dũng khí, phải dám dấn thân, miễn là điều mình làm không phải vì lợi ích cá nhân mình, thì dẫu có sai, nhân dân cũng tha thứ, đảng cũng sẽ tha thứ.
Các đồng chí thấy những kẻ một thời từng là đồng chí của mình, nay phải đứng trước bục bị cáo, thì cũng chỉ nên coi đó là một lời cảnh tỉnh cho mình. Nào, hãy cất cao lời ca, “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…”, thế mới là người Cộng sản./.

VẤN ĐỀ CẤP BÁCH QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

 

Thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã có bước phát triển về nhận thức và thực tiễn, nhưng trên thực tế chưa có sự thống nhất về khái niệm và nội dung của vấn đề. Vậy, xây dựng Đảng về đạo đức bao hàm những nội dung gì? Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức được xác định ra sao?
Lĩnh vực quan trọng được Đảng đặc biệt quan tâm
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác xây dựng Đảng, trong đó có những nội dung định hướng, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, nội dung “xây dựng Đảng về đạo đức” là một nội dung độc lập, đặt ngang hàng với “xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ”. Bởi vậy, trong thời gian qua, Đảng ta đã ban hành các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Điều đó cho thấy, công tác xây dựng Đảng về đạo đức là lĩnh vực quan trọng được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây “cái gốc”, bảo đảm cho xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ đi đúng hướng và có hiệu quả.
Phát biểu tại Hội thảo, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai khẳng định, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, xây dựng Đảng về đạo đức được xác định có vai trò quan trọng; nhằm giữ vững và làm cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn suốt đời phấn đấu hy sinh vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, hiện thực hóa bản chất cách mạng chân chính của Đảng.
Về mặt nhận thức, trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng được Đảng ta coi trọng và nhấn mạnh. Nhiệm kỳ Đại hội XII, lần đầu tiên cụm từ “Xây dựng Đảng về đạo đức” chính thức được đưa vào Văn kiện và khẳng định mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Về mặt thực tiễn, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động, kết hợp việc tổ chức học tập nâng cao nhận thức, rèn luyện và thực hành đạo đức, coi trọng việc nêu gương. Đồng thời, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong Đảng. Từ năm 2003 đến nay, Đảng ta đã ban hành 06 chỉ thị, kết luận về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; 03 quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên...
Trong thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về đạo đức tuy đã có bước phát triển về nhận thức và thực tiễn nhưng trên thực tế chưa có sự thống nhất về khái niệm, nội dung. Có người cho rằng, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng môi trường trong sạch, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện những quy định, chuẩn mực đạo đức; đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội, gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhưng cũng có quan niệm, xây dựng Đảng về đạo đức là hoạt động chủ động của Đảng về mặt giáo dục, rèn luyện, hành động thực tiễn để bồi đắp, củng cố những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với vai trò đội tiên phong, người lãnh đạo, Đảng cầm quyền.
Nhận thức đúng để tự giác tu dưỡng
Nội dung của công tác xây dựng Đảng về đạo đức được thể hiện trên hai phương diện: Đạo đức của Đảng, của tổ chức đảng; Đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đối với phương diện thứ nhất, phải xây dựng, chỉnh đốn để Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Muốn thực hiện được điều này cần giữ vững bản chất của Đảng, xây dựng các quy định, quy chế trong Đảng, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên để cán bộ, đảng viên có cơ sở, căn cứ thực hiện.
Phân tích khái niệm “công tác xây dựng Đảng về đạo đức”, tham luận của một số đại biểu đã chỉ ra rằng, đây chính là toàn bộ hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên nhằm hình thành, củng cố và phát triển những giá trị đạo đức tốt đẹp, thái độ, hành vi chuẩn mực của mỗi tổ chức đảng và đảng viên, phù hợp với những giá trị đạo đức tiến bộ của dân tộc và nhân loại, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong ưu tú nhất của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Cùng với đó, phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh; có lối sống trong sáng, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; thật sự là “đày tớ” trung thành của nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. Nội bộ Đảng phải dân chủ, đoàn kết thống nhất, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc, không nể nang, bao che khuyết điểm của nhau, thường xuyên tự soi, tự sửa. Ngoài ra, Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe nhân dân. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện đúng nguyên tắc Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đối với vấn đề xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên: trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phân định giải quyết phù hợp mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích và xác định các tầng mức ưu tiên đối với cán bộ, đảng viên trong cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp chung và cho bản thân. Theo đó, lợi ích quốc gia, dân tộc cần phải đặt lên hàng đầu, tiếp sau đó là lợi ích của tập thể, cơ quan, đơn vị và cuối cùng là lợi ích của cá nhân cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, tăng cường nêu gương trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần thật sự tiên phong, gương mẫu thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; nói đi đôi với làm; không tham nhũng, lãng phí; dũng cảm bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai. Xây dựng tác phong, lối sống giản dị, quan tâm, gần gũi với quần chúng, thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân.
Bên cạnh việc phân tích làm rõ kết quả đạt được (như việc triển khai các chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, nhất là về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên tham gia và có những kết quả tích cực; xuất hiện những mô hình hay, cách làm sáng tạo, điển hình người tốt, việc tốt có sức lan tỏa...), Hội thảo cũng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong thời gian qua. Điển hình là việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao...
Thực tiễn cách mạng những năm qua và công cuộc đổi mới hiện nay cho thấy, sự nghiệp cách mạng muốn giành thắng lợi đòi hỏi phải có những con người có đức, có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Riêng về khía cạnh đạo đức, đó phải là những người có tinh thần yêu nước, thương dân; đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, trước hết. Sự phát triển đất nước hiện nay còn đòi hỏi những con người trong xã hội - trước hết là cán bộ nắm giữ các cương vị trong hệ thống chính trị - phải là những người không để các “căn bệnh” quan liêu, tham nhũng, tiêu cực... xâm nhập, khống chế; đồng thời dám đấu tranh chống lại các tiêu cực đó.
Để hình thành được các chuẩn mực đạo đức, không phải diễn ra trong “một sớm, một chiều” mà phải trải qua một quá trình tu dưỡng lâu dài, bền bỉ. Xét đến cùng thì việc nhận thức đúng để từ đó tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là yếu tố quan trọng nhất hình thành nên chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Nói cách khác, một nền đạo đức mới chỉ có thể xây dựng trên cơ sở sự tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi người. Đây cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.
Cho đến nay, những tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có giá trị vô cùng to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước; vẫn vẹn nguyên ý nghĩa và giá trị thời sự trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bởi vậy, rèn luyện và thấm nhuần văn hóa đạo đức cho cán bộ, đảng viên đang trở thành vấn đề cấp bách, quyết định sức mạnh của Đảng trong giai đoạn mới./.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐÂY LÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG…

     Đã dắt mũi CIA cả chục năm trời, qua mặt được cả giới truyền thông báo chí tại xứ sở cờ hoa với tai vách mạch rừng, “lừa đảo” các chuyên gia từ MI6 - Cơ quan tình báo nước ngoài Vương quốc Anh (nếu ai xem Điệp viên 007 chắc chắn sẽ biết) để qua các vòng phỏng vấn nhân thân điều tra. Ông đã vô hiệu hóa hoàn toàn CIO - Phủ Đặc ủy Trung ương trực thuộc Tổng thống VNCH (ngụy quyền Sài Gòn) và che mắt hành tung trước hàng trăm nhân viên phản tình báo của Nha Kỹ thuật tình báo ngụy quân VNCH. Một con người đã làm được những cái việc mà KGB - Cơ quan tình báo Liên Xô, Hoa Nam Cục - Cục tình báo TW Trung Quốc… không thể làm được. 

Đơn thương độc mã hoạt động, con người này đã gửi tổng cộng khoảng 500 báo cáo thuộc hàng bí mật nhất trên thế giới từ sau Thế chiến thứ hai. Thậm chí, có những tài liệu mà cấp bậc Trung tướng của ngụy quân VNCH còn không thể tiếp cận và chỉ có một vài người trong bộ máy chế độ ngụy quyền VNCH được biết. Từ những tài liệu của Ấp chiến lược đến Việt Nam hóa chiến tranh, từ trận phản công Cánh đồng Chum đến Khe Sanh, từ những tài liệu cơ mật đổ quân trong Mậu Thân 1968 rồi những sơ đồ bày binh bố trận của quân đội ngụy VNCH để đối phó với Quân Giải phóng trong những năm tháng cuối 1974 và đầu 1975.

Không ai nghĩ rằng một con người mà bề ngoài phong lưu, miệng hay ngậm thuốc, quần áo lúc nào chỉnh tề bóng loáng chất chơi, tóc vuốt vuốt giống những gã trai hư sẵn sàng cưa đổ bất cứ cô gái nào lại gần… lại là một sĩ quan tình báo kinh điển của không chỉ Việt Nam mà còn của thế giới. Trong cuộc đời tình báo, ông có nhiều người con gái ở bên cạnh, thậm chí có người chấp nhận uất ức, nhẫn nhịn, thậm chí có thể hy sinh vì ông... Một chi tiết mà có lẽ các nhà làm phim Hollywood đã mượn để xây dựng hình tượng James Bond trong loạt phim 007.

Người ta thường gọi ông bằng những cái tên “điệp viên hoàn hảo”, “quý ông tình báo”, “người hủy hoại danh tiếng CIA”. Một con người mà mọi cơ quan tình báo trên thế giới đều phải nghiên cứu và đúc rút. Một sĩ quan tình báo vĩ đại đến những năm tháng già yếu nhất vẫn sẵn sàng cống hiến, tham mưu cho Tổng cục Tình báo - Quân đội Nhân dân Việt Nam trong những năm tháng Liên Xô sụp đổ… 

Đó là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn./.
Môi trường ST.

 

Ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch

Trên cơ sở phân tích, nhận định, đánh giá và dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (Văn kiện) xác định bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam đã chỉ ra từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1994) nay vẫn còn tồn tại, thậm chí có mặt diễn biến phức tạp hơn, đó là tham nhũng, lãng phí, quan liêu; “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với âm mưu, thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt, nhất là khi không gian mạng và các phương tiện thông tin, truyền thông như in-tơ-nét bị lợi dụng triệt để.

Trên cơ sở nhận định này, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới là: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” .

Tuyên truyền quan điểm sai trái là một trong nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với Việt Nam, mà bản chất là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, xã hội; đòi xóa bỏ chế độ XHCN. Để thực hiện toan tính, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, các phương tiện thông tin, truyền thông, triệt để sử dụng in-tơ-nét và địa chỉ truyền thông nước ngoài để phát tán tài liệu, tuyên truyền quan điểm xuyên tạc, vu cáo, gieo rắc thông tin xấu, độc hại hòng làm nhiễu loạn đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội, làm nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Để phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc các vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin (như học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, thời đại ngày nay và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết giá trị thặng dư)... kết hợp tuyên truyền quan điểm xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; phát tán tài liệu, ấn phẩm xuyên tạc cuộc đời hoạt động và tấm gương đạo đức của Người. Gần đây, trước, trong và sau Đại hội XII của Đảng, nhiều mạng xã hội đăng tải khá nhiều bài, tin, tranh ảnh chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, tung tin bịa đặt, vu khống, vu cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội và Công an, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013 nước CHXHCN Việt Nam, đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập",... Đồng thời tuyên truyền kích động, phủ nhận chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai; xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; kích động chia rẽ nội bộ Đảng và Nhà nước, gieo rắc hoài nghi, bi quan, bất bình trong nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quốc hội.

Đặc biệt, các thế lực thù địch đẩy mạnh việc tuyên truyền các quan điểm sai trái, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt đối với Quân đội; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận lòng dân gắn với xây dựng an ninh nhân dân. Qua đó chúng trông đợi sẽ truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào quân đội, làm cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.

Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, những năm qua, Đảng và Nhà nước chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phòng, chống các quan điểm sai trái và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững định hướng tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố lòng tin trong cán bộ, đảng viên và quần chúng vào công cuộc đổi mới, từ đó đoàn kết, cố gắng thực hiện tốt hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, cuộc đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch còn có hạn chế nhất định. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”. Biểu hiện cụ thể của hiện tượng này là một số hạn chế, bất cập trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Hơn thế, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế,… đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cộng hưởng các nguyên nhân này đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên bị “lây nhiễm”, mắc bệnh “tự diễn biến” và tự đẩy mình vào quá trình “tự chuyển hóa”, như Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “…những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội. Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”.

Trong thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp, đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và sẽ còn có diễn biến khó lường với khó khăn, thách thức mới. Đặc biệt, thời gian tới chúng ta tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; tổ chức bầu cử HĐND các cấp, bầu cử Quốc hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016 - 2021,… Trong bối cảnh ấy, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng mọi phương tiện để chống phá, nhất là sử dụng không gian mạng, sử dụng các phương tiện truyền thông quốc tế để đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam phải đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Và để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, các giải pháp mà Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định, đó là:

Kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Để đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch một cách có hiệu quả, trước hết cần phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, đối với việc hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định cụ thể: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới” . Đồng thời, Văn kiện cũng xác định tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận

Chúng ta khẳng định rằng, khi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân trong xã hội có sự giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, về các đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thì không chỉ mỗi người mà toàn xã hội sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tự ý thức trong việc nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng xã hội, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Về điều này, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả” . Đồng thời, Văn kiện cũng xác định, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.

Chủ động ngăn chặn, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

Một trong những biện pháp quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch là chủ động nghiên cứu dự báo, sớm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kịp thời ngăn chặn việc tuyên truyền, phát tán các thông tin xấu độc, tài liệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của chúng. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” .

Cùng với việc sớm phát hiện để kịp thời ngăn chặn, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy các cấp và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các Ban Chỉ đạo về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách ở các cơ quan báo chí, truyền thông, các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu, các lực lượng nòng cốt ở các ban, bộ, ngành và địa phương trong đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, huy động lực lượng rộng rãi trong nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ở nước ngoài, các tổ chức tiến bộ… tiến công chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhằm bảo vệ lẽ phải, chân lý, thực hiện sự tiến bộ xã hội.

Đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Các quan điểm sai trái, thù địch sẽ gây tác hại trong môi trường xã hội có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đấu tranh ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm.

Như vậy, đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và xã hội ta đặc biệt quan tâm. Đại hội XII của Đảng xác định đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch.