Thứ Tư, 23 tháng 8, 2023

 

Công tác đánh giá cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Trong những năm qua, công tác đánh giá cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có nhiều đổi mới, được thực hiện thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trong toàn hệ thống Học viện. Công tác đánh giá gắn với bình xét danh hiệu thi đua, giúp công tác thi đua ngày càng thực chất hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu đổi mới cho phù hợp với thực tiễn tại Học viện.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1), “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2).Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhiều lần khẳng định: “Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, thì công tác cán bộ là then chốt của then chốt”(3). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”, trong đó, đánh giá cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và liên quan đến tất cả các khâu của công tác cán bộ, như bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, đặc biệt là khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức (cán bộ).

Về công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị… như: Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08-02-2010 về đánh giá cán bộ, công chức; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt ở các cấp; Quy định số 165 và Quy định số 282-QĐ/TW ngày 08-10-2014 về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định số 89, 90-QĐ/TW ngày 04-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh và khung tiêu chí đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, đối với cán bộ cấp chiến lược nói riêng… Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CPngày 13-8-2020 về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

Vị trí, vai trò của công tác đánh giá cán bộ

Thứ nhất,đánh giá cán bộlà công việc hệ trọng và có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Đánh giá cán bộlà tiền đề để bố trí, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và thực hiện chính sách khác đối với cán bộ. Quyết định số 286-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định phải tiến hành đánh giá cán bộtrước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm lại, quy hoạch, điều động, luân chuyển. Trên cơ sở những ưu điểm, năng lực của cán bộđể đề bạt, sử dụng, cất nhắc một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng việc. Đánh giá cán bộcó mối quan hệ mật thiết với tất cả các khâu trong công tác cán bộ. Đánhgiá đúng cán bộsẽ phát huy được tiềm năng của từng cán bộvà của cả đội ngũ cán bộ; tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong cơ quan, đơn vị. Đánh giá không đúng sẽ dẫn đến lựa chọn nhầm những cán bộkhông đủ phẩm chất, năng lực để giao những cương vị có trọng trách, gây tổn thất cho tổ chức, đơn vị và ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Thứ hai, đánh giá cán bộ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực và ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đánh giá cán bộ giúp phát hiện những ưu điểm, sở trường đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, nhược điểm của cán bộ. Nói đến cán bộ là nói đến khoa học về con người - những chủ thể có đời sống tâm lý - ý thức phức tạp, sống động và luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: môi trường sống, điều kiện kinh tế, đời sống văn hóa, chính trị. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộsẽ tạo động lực mạnh mẽ, động viên cán bộbộc lộ tâm tư, tình cảm, xác định được những hạn chế, yếu kém về phẩm chất, năng lực của bản thân so với các yêu cầu đặt ra của cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ. Từ đó tạo ra ý thức tự phấn đấu, tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống cũng như trình độ, kỹ năng để đáp ứng được các tiêu chuẩn của cơ quan, đơn vị, nâng cao hiệu quả công việc. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các phần tử cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến""tự chuyển hóa" trong cán bộ; góp phần giữ gìn an ninh chính trị nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Thứ ba, đánh giá cán bộcó mối quan hệ mật thiết với thi đua, khen thưởng và là tiền đề để xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Đánh giá cán bộ tốt sẽ khuyến khích cán bộ phát huy năng lực, sở trường, tâm huyết, đồng thời giúp cán bộ thấy được cái chưa tốt, cái còn hạn chế để tìm cách giúp đỡ họ khắc phục, giúp họ hoàn thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu của họ”(4). Thi đua, khen thưởng với tiêu chí “khen trúng, thưởng xứng” sẽ là động lực, là đòn bẩy cổ vũ, động viên, khuyến khích các tập thể, cá nhân hăng say lao động, phát huy hết tài năng, sức lực, trí tuệ vào việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, cả đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng đều hướng đến con người, nhằm xây dựng và hoàn thiện con người. Do đó, đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng không chỉ là chủ trương, chính sách mà còn là công cụ quản lý của Đảng, Nhà nước và là một biện pháp hữu hiệu để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31-7-2017 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn, điều kiện có liên quan đến quy định sử dụng kết quả đánh giá cán bộ là cơ sở để thực hiện chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Công tác đánh giá cán bộtại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) có chức năng: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nướcCơ cấu tổ chức của Học viện gồm có Ban Lãnhđạo Học viện (Giám đốc, các Phó Giám đốc) và 32đơn vị trực thuộc, gồm: 10vụ, đơn vị chức năng;18 viện nghiên cứu, giảng dạy và thông tin, xuất bản;05 học viện trực thuộc, Học viện hiện có gần 2.200 cán bộ.

Trong những năm qua, được sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, công tác đánh giá cán bộ đã có nhiều đổi mới và có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác đánh giá cán bộvà công tác thi đua, khen thưởng, giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các đối tượng đánh giá và bình xét danh hiệu thi đua. Học viện đã cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng thành các quy định cụ thể và được áp dụng trong toàn hệ thống như: Hướng dẫn số 468-HD/HVCTQG ngày 30-10-2017 , Hướng dẫn số 530-HD/HVCTQG ngày 22-11-2018, Hướng dẫn số 910-HD/HVCTQG  ngày 09-10-2019, Hướng dẫn số 348-HD/HVCTQG ngày 08-10-2020, Hướng dẫn số 418-HD/HVCTQG ngày 04-10-2021.

Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ là cái gốc, là cơ sở để xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng các cấp. Công tác đánh giá cán bộvà công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được tiến hành một cách toàn diện, đa chiều, gắn với sản phẩm cụ thể nhiều hơn, hạn chế dần sự cảm tính; quy trình đánh giá cán bộ và bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được tiến hành chặt chẽ, công khai, minh bạch. Nhờ đó, kết quả đánh giá cán bộ và bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đã dần đi vào thực chất và áp dụng đánh giá cá nhân đi đôi với đánh giá tập thể.

Có thể khái quát những kết quả trong công tác đánh giá cán bộ ở Học viện trong những năm qua như sau:

Thứ nhất,xây dựng được cơ chế đánh giá cán bộ ngày càng phù hợp với thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ của Học viện.

Các văn bản Hướng dẫn đánh giá cán bộcủa Học viện được xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về đánh giá cán bộ như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Quyết định số 286-QĐ/TW, Quy định số 132-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Nghị định số 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời có sự kết hợp chặt chẽ với các quy định, quy chế hiện hành của Học viện: Quyết định số 5029/QĐ-HVCTQG ngày 26-10-2017 ban hành quy định về ứng xử văn hóa của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 882/QĐ-HVCTQG ngày 01-3-2001 về việc ban hành Quy chế nghiên cứu viên của Học viện; Quyết định số 881/QĐ-HVCTQG ngày 01-3-2005 về việc ban hành Quy chế chuyên viên của Học viện; Quyết định số 1211-QĐ/HVCTQG ngày 01-4-2015 về việc ban hành Quy chế về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ công tác của giảng viên ở Học viện. Đối với tiêu chuẩn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đối với tiêu chuẩn có sáng kiến trong công tác, Học viện đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống các thành tích thay thế cho tiêu chuẩn sáng kiến theo hướng bám sát với vị trí công việc cụ thể của cán bộ tại Học viện như: vượt định mức giờ giảng, vượt bài đăng tạp chí, chủ biên sách, tham gia đề tài, đề án, đạt giải thưởng trong lĩnh vực chuyên môn… Nhờ vậy, các quy định về đánh giá cán bộđã ngày càng hoàn thiện và dần phù hợp với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Học viện.

Thứ hai,kết quả đánh giá cán bộ đã bước đầu tạo cơ sở đánh giá đúng mức độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.

Từ năm 2018 đến nay, công tác đánh giá cán bộ đã được tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống Học viện. Với phương thức chấm điểm và xếp loại cán bộ theo thang điểm và một số tiêu chuẩn, điều kiện khác, Học viện đã bước đầu đánh giá được mức độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Năm 2018, tỷ lệ cán bộ được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 13,38%, hoàn thành tốt nhiệm vụ là 79,11%, hoàn thành nhiệm vụ là 6,88%, không hoàn thành nhiệm vụ là 0,43%, không xếp loại là 0,2%. Năm 2019, các tỷ lệ này lần lượt là: 14,75%; 79,27%; 5,74%; 0,24% và không có cán bộ nào là không được xếp loại. Đến năm 2020, các tỷ lệ này lần lượt như sau: 21,72%; 71,74%; 5,74%; 0,55%; 0,25%.

Thông qua kết quả đánh giá cán bộ, Học viện xác định được đối tượng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực. Đây chính là cơ sở để Học viện có sự điều chỉnh cần thiết trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ.

Thứ bakết quả đánh giá cán bộ được sử dụng làm căn cứ cho các khâu khác của công tác cán bộ, như công tác thi đua, khen thưởng; công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ tại Học viện.

Từ năm 2018 đến nay, khi công tác đánh giá cán bộ đã được thực hiện một cách bài bản cả trong khâu xây dựng văn bản cũng như trong công tác tổ chức thực hiện thì kết quả đánh giá cán bộ mới chính thức được Học viện ban hành Quyết định công nhận. Học viện đã sử dụng kết quả đánh giá cán bộ làm căn cứ cho công tác bổ nhiệm; bổ nhiệm lại, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp; kéo dài thời gian công tác; chi thưởng thu nhập tăng thêm; thi đua, khen thưởng; đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên… Cụ thể:

Về điều kiện bổ nhiệm, Học viện quy định cán bộ phải có ít nhất 03 năm liền kề cho đến thời điểm làm quy trình bổ nhiệm được đánh giá, phân loại hoàn thành nhiệm vụ từ tốt trở lên (áp dụng từ năm 2019).

Về khen thưởng, cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 02 năm liên tục được đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Giám đốc Học viện. Nếu có 05 năm hoàn thành nhiệm vụ trở lên, cán bộ được đề nghị khen thưởng ở các mức khen thưởng cao hơn như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương Lao động.

Về chi thưởng thu nhập tăng thêm, cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được xếp loại A, hoàn thành tốt nhiệm vụ được xếp loại loại B, hoàn thành nhiệm vụ được xếp loại C, không hoàn thành nhiệm vụ thì không được chi (áp dụng từ năm 2018).

Về xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, cán bộ phải có ít nhất 03 năm liền kề cho đến thời điểm xét thăng hạng được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (áp dụng từ năm 2018).

Thứ tư, công tác đánh giá cán bộ được thực hiện thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trong toàn hệ thống Học viện và cùng với thời điểm tổng kết, bình xét danh hiệu thi đua.

Theo quy định hiện nay của Học viện, việc đánh giá cán bộ do thủ trưởng trực tiếp quản lý cán bộ thực hiện và được áp dụng thống nhất từ đơn vị cấp phòng cho đến cấp Học viện. Kết quả đánh giá được dựa trên sự tự đánh giá, xếp loại của cá nhân cán bộ, nhận xét của cấp ủy, lãnh đạo và toàn thể cán bộ đơn vị và cuối cùng là sự đánh giá, nhận xét của Thủ trưởng đơn vị. Kết thúc hội nghị đánh giá, thủ trưởng đơn vị phải công khai kết quả đánh giá, xếp loại trong đơn vị đến toàn thể cán bộ. Đối với hội nghị cấp Học viện, trước khi Giám đốc Học viện ban hành Quyết định công nhận kết quả đánh giá, xếp loại, Học viện còn thực hiện xin ý kiến toàn thể cán bộ về kết quả đánh giá cán bộtrong thời gian 07 ngày làm việc. Quy trình đánh giá, xếp loại dân chủ, công khai, minh bạch đã nhận được sự đồng thuận rất cao của cán bộ Học viện. Đồng thời, thời điểm đánh giá, xếp loại được tổ chức cùng với bình xét danh hiệu thi đua hàng năm góp phần đánh giá đúng thành tích, đảm bảo hồ sơ và thủ tục cải cách hành chính, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khi kê khai hồ sơ đề nghị khen thưởng.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đánh giá cán bộ Học viện còn một số hạn chế:

Thứ nhất, một số nội dung tiêu chí đánh giá còn chung chung, chưa có nhiều tiêu chí đánh giá được định lượng thành các chỉ số cụ thể.

Thứ hai, phương pháp đánh giá cán bộchưa phản ánh đúng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ.

Thực tế ở những vị trí công việc khác nhau có những cách thức thực hiện công việc và quan hệ trong công việc khác nhau hay nói cách khác để hoàn thành nhiệm vụ cán bộkhông chỉ tiếp xúc, trao đổi với đồng nghiệp trong cùng một cơ quan, đơn vị mà còn phải cần đến quan hệ phối hợp với các tập thể, cá nhân bên ngoài cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, quy định thủ trưởng các đơn vị cấp cơ sở chỉ phải đọc bản tự nhận xét, đánh giá tại đơn vị mình quản lý, việc nhận xét, đánh giá là do thủ trưởng cấp trên trực tiếp quyết định cũng chưa thực sự hợp lý. Vì thủ trưởng đơn vị cấp trên tuy là người trực tiếp giao nhiệm vụ, nhưng cán bộtrong đơn vị do thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở quản lý mới hiểu rõ quá trình thực hiện nhiệm vụ của vị thủ trưởng đó. Do đó, để đánh giá thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở chính xác hơn cần phải kết hợp với lấy phiếu tín nhiệm tại tập thể nơi thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở quản lý, điều hành.

Thứ ba, một số quy định còn chưa hợp lý, chưa đáp ứng hiệu quả mục tiêu cải thiện, nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộvà khó đánh giá cán bộkhông hoàn thành nhiệm vụ.

Thực tiễn công tác đánh giá cán bộtại Học viện thời gian qua vẫn còn một số tiêu chí đánh giá cán bộtương đối dễ dãi, dẫn tới một số cán bộ chưa thực sự cố gắng, chưa nỗ lực phấn đấu trong công việc. Theo quy định hiện nay, một trong những tiêu chuẩn để đạt thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là cán bộphải hoàn thành 100% định mức nhiệm vụ chuyên môn chính theo ngạch đánh giá củacán bộ. Định mức này đối với tiêu chuẩn hoàn thành tốt nhiệm vụ là từ 80% trở lên và hoàn thành nhiệm vụ là từ 60% trở lên. Trước đó các năm 2018, 2019, hướng dẫn đánh giá cán bộkhông quy định định mức này. Đối với mỗi cán bộ, hoàn thành 100% định mức là nhiệm vụ bắt buộc, nhất là trong điều kiện hiện nay khi Học viện vẫn chưa có cơ chế đánh giá chất lượng, hiệu quả sản phẩm công việc của cán bộ. Có một số giảng viên thiếu định mức giờ giảng, nghiên cứu viên thiếu định mức công trình, nhưng do được cộng điểm từ các tiêu chí đánh giá khác nên vẫn đủ điểm hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ tư, công tác đánh giá cán bộở một số đơn vị chưa thực sự hiệu quả, tính tự giác của cán bộtrong nhận xét, đánh giá chưa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của Danh hiệu thi đua các cấp.

Thời gian qua, công tác đánh giá cán bộđã được cấp ủy, lãnh đạo nhiều đơn vị quan tâm chỉ đạo sát sao. Nhờ đó, công tác đánh giá cán bộđã bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, chính xác, tạo môi trường thuận lợi để cán bộnâng cao năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, ở một số đơn vị, công tác đánh giá cán bộcòn chưa thực sự hiệu quả, chưa đánh giá đúng người tài, người tận tâm với công việc; đánh giá cán bộcòn chủ quan, cảm tính, chưa căn cứ vào chất lượng và hiệu quả công việc. Có đơn vị, công tác đánh giá cán bộchưa trở thành nền nếp, chưa thực hiện đúng quy trình đánh giá, dẫn tới một số cán bộ"không phục", có thái độ "bất hợp tác" hoặc "bằng mặt nhưng không bằng lòng". Trong những năm qua, việc bình xét danh hiệu chiến sĩ thi đua các cấp tại Học viện đã được thực hiện tốt,với việc mở rộng tiêu chuẩn xét, công nhận giải pháp, thành tích thay thế giải pháp và lượng hóa thành tích trong đánh giá, nhưngtừ năm 2017 đến nay mới chỉ có 03 cán bộ đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Nhìn chung,công tác đánh giá cán bộ và công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được quản lý và thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống Học viện.

Công tác đánh giá cán bộđược gắn kết với công tác bình xét danh hiệu thi đua đã giúp giảm bớt thủ tục hành chính và thời gian tổ chức các hội nghị. Do đó, việc thống nhất tổ chức công tác đánh giácán bộvà công tác bình xét danh hiệu thi đua vào cùng một thời điểm, đồng thời gộp chung hai công tác này thành 01 văn bản hướng dẫn đã nhận được sự ủng hộ của hầu hết các đơn vị.

Công tác đánh giá cán bộ góp phần giúp công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được thuận lợi hơn.

Nhờ có Hướng dẫn đánh giá cán bộ, Quy chế Công tác thi đua, khen thưởng đã bỏ các tiêu chí đánh giá thi đua cụ thể theo từng vị trí công việc của cán bộ. Việc bình xét danh hiệu thi đua được thực hiện đơn giản, thuận lợi hơn hơn vì mức độ thực hiện nhiệm vụ đã được căn cứ theo kết quả đánh giá cán bộ. Việc sử dụng kết quả đánh giá cán bộđã rút ngắn quy trình bình xét danh hiệu thi đua, đồng thời giúp công tác thi đua, khen thưởng trở nên thực chất hơn, ít hình thức hơn. Công tác đánh giá xếp loại cán bộ và bình xét thi đua, khen thưởng đã góp phần xây dựng hình ảnh mẫu mực người cán bộ Trường Đảng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

__________________

(1), (2), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.309, 313, 318.  

(3) https://nhandan.vn/dang-va-cuoc-song/doi-moi-manh-me-cong-tac-danh-gia-can-bo-281015/, ngày 19-12-2016.

nguồn: TS NGÔ THỊ HẢI ANH

Ban Thi đua - Khen thưởng,

Vụ Tổ chức - Cán bộ,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


 

Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội

(LLCT) - Để xây dựng các chính sách phát triển xã hội phù hợp và có hiệu quả cần dựa trên việc nắm bắt và dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong các giai đoạn phát triển. Bài viết tập trung phân tích biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta, từ đó nhận diện một số thách thức chủ yếu, đồng thời đề xuất một số giải pháp góp phần hoạch định chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.


Cơ cấu xã hội được hình thành và biến đổi dưới tác động của các tiến trình kinh tế - xã hội, như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề trong nền kinh tế dẫn đến biến đổi cơ cấu lao động - việc làm; quá độ dân số dẫn đến biến đổi cơ cấu lứa tuổi của dân số; quá trình đô thị hóa dẫn đến biến đổi cơ cấu dân cư đô thị - nông thôn. Mặt khác, sự biến đổi cơ cấu xã hội còn chịu tác động của các chính sách đặc thù hướng đến phát triển ngành, lĩnh vực hoặc nhóm xã hội nhất định, như chính sách phát triển giai cấp công nhân và chiến lược phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo đều hướng đến gia tăng tỷ trọng công nhân trong cơ cấu lao động việc - làm, hay chính sách dân số và phát triển dẫn đến giảm tỷ trọng trẻ em và gia tăng tỷ trọng người cao tuổi trong dân số. 

Trải qua hơn 35 năm đổi mới, dưới tác động của phát triển kinh tế - xã hội cùng các chính sách đặc thù của Đảng và Nhà nước đối với các thành phần kinh tế, các nhóm xã hội, đất nước ta đã có một cơ cấu xã hội đa cấu trúc, nhiều chiều cạnh(1). Với mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao, công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển vào năm 2045, cơ cấu xã hội ở đất nước ta sẽ tiếp tục biến đổi mạnh mẽ tuân theo các quy luật tự nhiên và phù hợp với định hướng đường lối, chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước.   

Tại Đại hội XIII, Đảng ta nêu rõ yêu cầu trong xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội là cần: “Trên cơ sở dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội...”(2). Ở tầm chiến lược trung và dài hạn, các vấn đề về phát triển đất nước nói chung và phát triển xã hội nói riêng không thể tách rời ảnh hưởng và tác động của xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội nước ta trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

1. Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong một số lĩnh vực

Dân số

Biến đổi cơ cấu dân số Việt Nam trong thời kỳ quá độ dân số từ mức sinh cao sang mức sinh thấp có tác động sâu sắc đến các yếu tố đầu vào cho phát triển kinh tế - xã hội như: nguồn lực, nhu cầu tiêu dùng... Hiện nay, biến đổi cơ cấu dân số theo chiều hướng già hóa dân số đang đặt ra những thách thức mới trong bảo đảm cung cấp các dịch vụ xã hội cho người cao tuổi, bao gồm cả y tế, chăm sóc sức khỏe, cũng như việc làm và thu nhập. 

Số liệu đã công bố của Tổng điều tra dân số năm 2009 và 2019 cho thấy, mức sinh ở Việt Nam ổn định ở mức sinh thay thế (Tổng tỷ suất sinh - TFR tương đương 2,1 con/người phụ nữ). Tuy nhiên, phân tích số liệu tổng thể kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, mức sinh có thể xuống dưới 2,1, thậm chí đạt mức 1,85. Cùng với đó, số liệu phân tích theo 6 vùng kinh tế - xã hội cho thấy, chỉ số TFR của cả 6 vùng đều thấp hơn so với các kết quả đã công bố. Chỉ có 3/6 vùng kinh tế - xã hội có mức sinh bằng hoặc cao hơn 2,09 là trung du và miền núi phía Bắc, (TFR là 2,38, so với kết quả công bố 2,43); Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (TFR là 2,11, so với kết quả công bố 2,43); Tây Nguyên (TFR là 2,32, so với kết quả công bố là 2,43). Ngược lại, vùng Đông Nam Bộ có mức sinh thấp ở mức báo động (TFR là 1,27, so với kết quả công bố là 1,56); tiếp theo là đồng bằng sông Cửu Long (TFR là 1,5, so với kết quả công bố là 1,8) và đồng bằng sông Hồng (TFR là 2,04, so với kết quả công bố là 2,35). 

Với mức sinh giảm sâu, kịch bản già hóa dân số và cơ cấu dân số vàng ở nước ta sẽ rút ngắn đáng kể so với dự báo chính thức hiện nay dựa trên TFR là 2,09 (đã ước lượng thời điểm năm 2039 Việt Nam sẽ chuyển sang dân số già với tỷ lệ người già chiếm trên 14% (65 tuổi trở lên) hoặc 20% (60 tuổi trở lên)). Tuy nhiên, với mức sinh là 1,85 thì thời điểm này hoàn toàn có thể đến sớm hơn vào năm 2035 - 2036. Cùng với đó là kết thúc giai đoạn cơ cấu dân số vàng ở nước ta. Tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ tăng thêm áp lực lên hệ thống an sinh xã hội vốn chưa được hoàn thiện ở nước ta.   

Lao động - việc làm

Về chuyển dịch cơ cấu lao động: giai đoạn 2016 - 2020, cơ cấu các ngành kinh tế có sự dịch chuyển theo xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và tỷ trọng ngành dịch vụ. Năm 2020, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 33,1% (giảm 8,5% so với năm 2016); khu vực công nghiệp và xây dựng là 30,8% (tăng 5,6%); khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất 36,1% (tăng 2,9%). Tuy nhiên, khu vực công nghiệp - xây dựng có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất qua 5 năm là 22%, phản ánh sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn và thu nhập tốt hơn. 

Với định hướng trở thành quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2030, trong 10 năm tới, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ sẽ tạo việc làm nhiều hơn và thu hút nhiều hơn nữa lao động từ khu vực nông nghiệp.

Về chất lượng việc làm thông qua quan hệ lao động: hiện nay vẫn tồn tại một tỷ lệ lớn người làm việc không có quan hệ lao động, tức là không dựa trên các hợp đồng lao động. Đây là nhóm người lao động không được bảo đảm về quyền lợi, dễ bị tổn thương trước các biến cố sản xuất - kinh doanh hoặc biến cố xã hội lớn (mất việc, mất thu nhập, không có bảo hiểm). 

Năm 2020, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương giảm xuống còn 44% so với 65% vào năm 2011(3). Như vậy hiện nay, cứ 5 người làm việc thì 2 người không có hợp đồng làm việc chính thức, và được xếp vào nhóm lao động dễ tổn thương...  Trong năm 2020, số lao động có việc làm phi chính thức là 20,3 triệu người, tăng 119,1 nghìn người, số lao động có việc làm chính thức là 15,8 triệu người, giảm 21,1 nghìn người so với năm 2019. Việc rời khu vực việc làm chính thức để quay trở lại khu vực việc làm phi chính thức, không có quan hệ lao động là một tín hiệu không tốt cho diễn biến thị trường lao động việc làm trong tương lai. 

Các số liệu thống kê cho thấy, người lao động không có hợp đồng lao động chiếm đa số trong gần 70% người lao động chưa có bảo hiểm xã hội. Đây sẽ là một khoảng trống lớn trong bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động, đặc biệt khi xảy ra các biến cố xã hội lớn, như đại dịch Covid-19. Do đó, trong những năm tới nước ta đứng trước thách thức tạo việc làm cho người lao động, bao gồm tỷ trọng ngày càng cao của việc làm dựa trên hợp đồng lao động chính thức để bảo đảm sàn bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động:  Năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ chỉ đạt 26,1%, không đạt mục tiêu Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011-2020 (55% vào năm 2020, trong đó trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề chiếm tỷ lệ là 23%)(4). Đồng thời, tỷ lệ thấp này có biểu hiện lệch về cơ cấu đào tạo nghề đối chiếu với yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế.

Trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chung là 26,1% thì tỷ lệ này trong một số ngành công nghiệp lại thấp một cách đáng báo động như: Công nghiệp chế biến, chế tạo, từ 18,5% (năm 2016) giảm xuống 17,9% (năm 2020); Xây dựng là 13,9% (trong suốt giai đoạn 2013-2020)... Tỷ lệ rất thấp lao động qua đào tạo ở khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tác động trực tiếp đến năng suất lao động. Năng suất lao động ở ngành này thấp, chỉ bằng 9,2% mức năng suất lao động chung cả nước(5).

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do phần lớn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (gồm cả doanh nghiệp FDI) tham gia ở các khâu, công đoạn có giá trị gia tăng thấp, như: gia công, lắp ráp..., không có giá trị gia tăng kinh tế cao. Đồng thời các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là nơi tập hợp nhiều nhất lao động dôi dư từ quá trình phi nông nghiệp hóa với đa số người lao động đi vào các ngành nghề thâm dụng lao động như dệt, may mặc, da giày, điện tử, hóa chất...). Nếu xu hướng trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp và yếu như hiện nay kéo dài sẽ là một yếu tố cản trở lớn đến mục tiêu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo để đạt 40% sản xuất công nghiệp vào năm 2030.

Một trong những thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là quá trình tự động hóa và người máy hóa thực hiện sản xuất không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung (trung cấp, cao đẳng) cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới - kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0.

Dự báo khoảng 5 - 10 năm tới, sẽ có khoảng 50% máy móc thay thế con người vận hành sản xuất, kinh doanh và các quy trình quản trị, và sẽ khiến khoảng 1 tỷ người lao động trên toàn cầu và hàng triệu người lao động ở Việt Nam bị thiếu việc làm, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thâm dụng lao động(7). Chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh, một mặt góp phần tăng năng suất lao động, thêm giá trị gia tăng, đồng thời đòi hỏi người lao động trong tương lai cần được trang bị kiến thức và kỹ năng số hóa để có thể tham gia thị trường lao động cạnh tranh. Mặt khác, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin như nhóm lao động trình độ chuyên môn cao tham gia trực tiếp vào nền kinh tế số và hỗ trợ đắc lực cho chuyển đổi số trong hoạt động nhà nước và cả xã hội. 

Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số xác định, kinh tế số sẽ chiếm 25% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030 với nhu cầu nhân lực tương xứng là 1,2 triệu và 1,5 triệu lao động kỹ thuật số(8). Do đó, trong những năm tới, cần đẩy mạnh quy mô đào tạo nghề mới gắn liền với cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho lực lượng lao động. Cùng với đó là bảo đảm cơ hội tái đào tạo nghề cho người lao động để phòng ngừa rủi ro mất việc làm và không tìm được việc làm mới.   

Về phân hóa thu nhập

Trong 2 thập niên đầu thế kỷ XXI, khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất với 20% nghèo nhất đã tăng từ 8,2 lần (năm 2002) lên hơn 10,2 lần (năm 2019). Tiến trình này trực tiếp dẫn đến hệ số bất bình đẳng (Gini) đã chạm ngưỡng bất bình đẳng cao từ năm 2016 với mức trên 0,4. Tuy nhiên, hệ số Gini không biến động nhiều và thậm chí còn giảm nhẹ (năm 2016: 0,431; năm 2019: 0,423). 

Bên cạnh xu hướng chung về phân hóa giàu nghèo gia tăng thì một xu hướng tích cực trong phân hóa giàu nghèo thời gian qua: vùng miền, địa phương nào có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập bình quân đầu người cao hơn thì mức độ bất bình đẳng thu nhập có khuynh hướng giảm đi. Năm 2019, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn cao hơn so với thành thị (0,415 điểm so với 0,373 điểm); vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên có hệ số bất bình đẳng cao hơn hẳn các vùng khác (0,438 điểm và 0,443 điểm), trong khi đó hai vùng kinh tế trọng điểm của đất nước là đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ lại có hệ số bất bình đẳng thấp nhất là 0,387-0,375 điểm. Thu nhập bình quân đầu người theo tháng của khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2020 là 0,704, đứng thứ 117, chính thức đưa Việt Nam vào nhóm có chỉ số HDI cao (trên 0,7). Khi tính chỉ số HDI điều chỉnh theo bất bình đẳng (HDI – adjusted by inequality) thì Việt Nam đạt con số 0,588, đứng thứ 107 với chênh lệch thứ hạng là +10(9). Nhìn toàn cảnh, mức độ điều chỉnh giảm của chỉ số HDI theo bất bình đẳng ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào bất bình đẳng trong thu nhập, trong khi đó mức độ bất bình đẳng trong tuổi thọ và giáo dục lại ở mức độ thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. 

Như vậy, phân tầng xã hội theo mức sống biểu hiện qua phân hóa giàu - nghèo là một vấn đề chính sách lớn, quan trọng, đòi hỏi sự tác động và điều chỉnh của hệ thống chính sách và quản lý của nhà nước để phòng ngừa và kiểm soát các hệ quả không mong muốn có thể nảy sinh từ bất bình đẳng xã hội - kiểm soát phân tầng xã hội.

2. Phương hướng và giải pháp góp phần hoạch định các chính sách quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội 

Thứ nhất, chú trọng vấn đề tạo việc làm song hành với tăng trưởng kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động của Việt Nam. Phương châm của chuyển dịch cơ cấu lao động là phải phù hợp với cơ cấu kinh tế, có tác động thúc đẩy tăng trưởng gắn với tạo ra việc làm cho hàng triệu người lao động trong những năm tới. Đặc biệt, nhu cầu rất lớn trong chuyển đổi nghề nghiệp cho các lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do tác động của công nghiệp hóa. Xét từ góc độ tạo việc làm, chủ trương của Đảng về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, coi đây là động lực cho tăng trưởng là hết sức đúng đắn và mang tính dẫn dắt thực tiễn. Kinh nghiệm các quốc gia và ở Việt Nam cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân có khả năng tạo việc làm vượt trội so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, với trên 800 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và 5,4 triệu hộ kinh doanh gia đình, thì kinh tế tư nhân đóng góp 39-40% GDP nhưng chiếm tới 85% việc làm của toàn bộ nền kinh tế(10). Do đó, xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân chính là chiến lược hỗ trợ tạo việc làm hiệu quả nhất.  

Đổi mới hệ thống đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường mang tính dự báo cho giai đoạn 2021 - 2030. Theo đó, người lao động không chỉ được đào tạo nghề một lần mà cần có cơ hội và điều kiện tái đào tạo nghề trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể lấy đi nhiều việc làm truyền thống và đặt yêu cầu tái trang bị, đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở tốc độ cao hơn. Chiến lược phát triển thị trường lao động đến năm 2030 yêu cầu đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo là 30% (vào năm 2025) và 35 - 40% (vào năm 2030)(11) được coi là mục tiêu kỳ vọng cao so với thực tiễn hiện nay (26,1%). 

Cần thiết xã hội hóa và tư nhân hóa mạnh mẽ các hoạt động đào tạo nghề với sự tham gia của doanh nghiệp để phục vụ chính nhu cầu của thị trường, coi đây là một hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị trường.  

Thứ hai, tăng chi tiêu cho các lĩnh vực xã hội, trong đó chú trọng an sinh và phúc lợi xã hội để giảm thiểu hệ quả phân hóa giàu nghèo 

Chức năng xã hội của Nhà nước chỉ có thể được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả khi có nguồn lực chi cho các mục tiêu phát triển xã hội và bảo đảm cơ cấu chi phù hợp cho các lĩnh vực phát triển xã hội. Đồng thời, khi được chi đúng đối tượng, đúng mục tiêu thì chi xã hội sẽ góp phần giảm thiểu phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. Khảo sát chi ngân sách Trung ương trong 5 năm trở lại đây cho thấy, chi bảo đảm xã hội có khuynh hướng ít thay đổi về số lượng nhưng lại suy giảm về tỷ trọng trong ngân sách Trung ương. Năm 2017: 21,2%, đến năm 2021 còn 17,9%(12). Khuynh hướng này là chưa phù hợp với yêu cầu chung của phát triển xã hội khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao, thì tổng lượng và tỷ trọng chi cho các lĩnh vực xã hội càng lớn. Một mặt, chi của Nhà nước phục vụ các nhu cầu của thế hệ hiện nay, đặc biệt trong các biến cố xã hội lớn như dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, mặt khác chi cho xã hội trong giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe... lại được coi là một nguồn đầu tư quan trọng bậc nhất cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. 

Ở các nước phát triển, chi tiêu xã hội (bao gồm chi cho giáo dục, y tế, trợ cấp và thay thế) chiếm đến 25 - 35% tổng chi tiêu xã hội. Thậm chí, sự gia tăng chi tiêu của nhà nước cho các lĩnh vực xã hội phản ánh quá trình hình thành nhà nước xã hội (phúc lợi xã hội) trên thế giới hiện nay(13)

Văn kiện Đại hội XIII bổ sung phạm trù dân hưởng lợi bên cạnh yêu cầu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Do đó, yêu cầu dân hưởng lợi cần thiết được hiện thực hóa thực chất thông qua cơ cấu chi bảo đảm xã hội nói riêng và chi cho các lĩnh vực xã hội nói chung theo hướng gia tăng dần. 

Để tạo nguồn thu cho ngân sách, cần thiết hoạch định lộ trình cho các sắc thuế đánh vào nhóm thu nhập rất cao (siêu giàu), đối với tài sản và tích lũy qua thế hệ (thuế thừa kế). Qua 35 năm đổi mới, với sự hình thành tầng lớp giàu có trong xã hội, đã xuất hiện thế hệ thứ hai của nhà giàu được coi là những người thừa kế tài sản, có thu nhập không thông qua lao động, bao gồm cả tích lũy thông qua “phân tầng không hợp thức”. Do đó cần thiết nghiên cứu loại hình và mức thuế phù hợp để bảo đảm công bằng xã hội giữa các nhóm xã hội nhưng đồng thời không kích động chạy trốn tư bản(14)

Thứ ba, đổi mới phương thức hoạch định và thực thi chính sách phát triển xã hội

Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp ngay từ các bước đầu tiên của xây dựng chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách là một yếu tố quan trọng tác động đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đánh giá thực thi chính sách. Đối với phát triển xã hội, vốn là những lĩnh vực gần gũi đời sống của người dân, cần thiết phải coi các đóng góp của người dân là một nguồn lực cả vật chất và tinh thần để xây dựng các phương án chính sách phù hợp với nhu cầu của người dân. Đồng thời, quyền tham gia quyết định khi được hiện thực hóa, sẽ tác động tích cực đến việc huy động nguồn lực xã hội cho các mục tiêu phát triển xã hội.

Cần xây dựng các chỉ báo mới phản ánh khía cạnh chất lượng cơ cấu xã hội phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu phát triển xã hội bền vững. Với mục tiêu quản lý phát triển xã hội bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, việc thụ hưởng các thành quả phát triển của người dân trở thành một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả của đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách phát triển của Nhà nước. Mặt khác, do tính chất đa cơ cấu của xã hội cũng như bản thân tiến trình phát triển kinh tế - xã hội lại có khả năng làm mới lại các tiêu chí đánh giá cụ thể kết quả thực hiện các chính sách phát triển. Do đó, hướng đến việc bảo đảm cơ cấu xã hội hài hòa, cần thiết tính toán đến các tiêu chí nhận diện cơ cấu xã hội theo các mục tiêu phát triển xã hội lớn, như cơ cấu xã hội về bảo hiểm xã hội; hay cơ cấu lao động - việc làm bền vững và thỏa đáng...

Tăng cường công tác dự báo trong hoạch định chính sách phát triển, đặc biệt chú trọng kết quả điều tra và dự báo xã hội từ phía người dân và doanh nghiệp, coi đó là nguồn thông tin đầu vào quan trọng cho thảo luận và lựa chọn các giải pháp chính sách phù hợp nhu cầu xã hội. Các quyết định chính sách và quản lý nhằm đạt mục tiêu xác định mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như giải quyết các vấn đề phát triển cả ngắn hạn và dài hạn. 

Thực tiễn cho thấy, các quyết định này có tác động khác nhau đến các nhóm đối tượng xã hội khác nhau. Bên cạnh đó, các quyết định này có tác động thúc đẩy hoặc điều tiết các tiến trình kinh tế - chính trị - xã hội, mà theo đó, các nhóm xã hội, một mặt tham gia vào việc thực hiện triển khai các quyết định, mặt khác được hưởng lợi từ việc thực thi các quyết định này. 

Để bảo đảm hiệu quả hoạch định và thực thi các quyết định, cần thiết thực hiện các đánh giá tác động trên cả ba phương diện: kinh tế, môi trường và xã hội. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đánh giá tác động xã hội trở thành yêu cầu quan trọng và có tính bắt buộc đối với các quyết sách lớn. Làm tốt công tác dự báo xã hội và đánh giá tác động xã hội chính là thực hiện yêu cầu của Đại hội XIII về “gắn kết chặt chẽ khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên và công nghệ trong quá trình triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”(15).

__________________

(1) Nguyễn Đình Tấn: “Sự biến đổi của cơ cấu giai - tầng xã hội và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6-2019.

(2), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.148, 227.

(3) Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế ILO: Đánh giá chương trình hợp tác quốc gia về việc làm bền vững ở Việt Nam 2017 - 2021.

(4) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 630-QĐ/TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020, https://thuvienphapluat.vn/

van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Quyet-dinh-630-QD-TTg-phe-duyet-Chien-luoc-phat-trien-Day-nghe-139909.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(5) Tổng cục Thống kê: Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2016 - 2020, Nxb Thống kê, 2021, tr.190-191.

(6) Lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ bao gồm những người thỏa mãn cả hai điều kiện: (1) Đang làm việc  trong nền kinh tế hoặc thất nghiệp; (2) Đã được đào tạo ở một trường hay một cơ sở đào tạo chuyên môn,  kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên, đã tốt nghiệp, được cấp bằng/ chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định.

(7) “Xây dựng nguồn nhân lực Cách mạng 4.0 - Nhiều thách thức” https://www.mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/149808/Xay-dung-nguon-nhan-luc-cach-mang-4.0-Nhieu-thach-thuc.html, truy cập ngày 22-11-2021.

(8) “Phấn đấu đến năm 2025 tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP” http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Phan-dau-den-nam-2025-ti-trong-kinh-te-so-dat-20-GDP/441990.vgp, truy cập ngày 22-11-2021.

(9) UNDP: Human Development Report 2020, The next frontier - Human development and the Anthropocence - (Báo cáo phát triển con người năm 2020 - Giới hạn mới về sự thống trị của loài người 2021).  

(10) “Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Cần đổi mới toàn diện cách làm”, https://baochinhphu.vn/Kinh-te/Phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-Viet-Nam-Can-doi-moi-toan-dien-cach-lam/425640.vgp, truy cập ngày 6-1-2022.

(11) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 176-QĐ/TTg ngày 5-2-2021 về việc Ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Quyet-dinh-176-QD-TTg-2021-Chuong-trinh-ho-tro-phat-trien-thi-truong-lao-dong-den-nam-2030-464832.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(12) Bộ Tài chính: Công khai ngân sách nhà nước các năm 2016 - 2021, https://ckns.mof.gov.vn/SitePages/home.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(13) Thomas Piketty: Tư bản thế kỷ XXI, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2021, tr.594.

(14) “Thuế thu nhập của người giàu hiện ở mức cao nhất trong OECD”, https://www.vietnamplus.vn/thue-thu-nhap-cua-nguoi-giau-hien-o-muc-cao-nhat-trong-oecd/739626.vnp, truy cập ngày 6-1-2022.

nguồn: TS BÙI PHƯƠNG ĐÌNH

Viện Xã hội học và phát triển,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Bóc mẽ chiêu thức bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội

 Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.  

Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta

Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.


 Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế giúp dân khắc phục hậu quả bão (năm 2022). Ảnh minh họa: qdnd.vn

Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.

Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.

Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”(?!).

Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...

Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.  

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống. 

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

Theo Báo Quân đội Nhân dân

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Hội thảo quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại được tổ chức ngày 6-9-2022. Ảnh minh họa: quocte.vn

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Theo Báo Quân đội Nhân dân

Chủ động “đề kháng” trước thông tin xấu, độc

 Các cấp ủy đảng quận Ô Môn xác định công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Bằng nhiều giải pháp đồng bộ: đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác rộng khắp; kịp thời ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc trên mạng xã hội…, 5 năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên địa bàn quận đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, 5 năm qua, các cấp ủy đảng quận Ô Môn triển khai thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Theo đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn, Chủ tịch Hội Nông dân, Trưởng Ban Tuyên giáo Ðảng ủy phường Thới An, Ðảng ủy phường đã củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền ở cơ sở; thành lập Tổ nghiên cứu dư luận xã hội phường để thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, triển khai các chủ trương của Ðảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước kịp thời đến nhân dân. Tổ nghiên cứu dư luận xã hội phường theo dõi nắm bắt các vấn đề bức xúc nổi cộm được nhân dân quan tâm, đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái thù địch, qua đó kiến nghị, báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết...

Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo tôn giáo phường, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phường thường xuyên phối hợp các chức sắc, chức việc thống nhất kế hoạch, chương trình hoạt động đạo sự hằng năm. Ðồng thời, phối hợp tổ chức tuyên truyền, vận động tín đồ chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, kẻ xấu. Từ đó, hầu hết người dân nói chung, tín đồ tôn giáo nói riêng trên địa bàn phường tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, không bị kẻ xấu kích động, lôi kéo làm việc sai trái, vi phạm pháp luật.

Ðồng chí Hồ Thị Kim Loan, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Quận ủy, Giám đốc Trung tâm Chính trị quận, cho biết: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Ô Môn ổn định. Các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống dân vận, MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân tích cực triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ðảng về công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Ðảng, chính quyền, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương...

Thời gian gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phần tử xấu tiếp tục lợi dụng các vấn đề sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong nước để đăng tải tin, bài viết có nội dung xuyên tạc nội bộ, tạo dư luận trái chiều trong quần chúng nhân dân. Nhằm đấu tranh phản bác với các luận điệu sai trái, thù địch, quận Ô Môn luôn chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước để cán bộ, đảng viên và người dân biết thực hiện; thông tin về âm mưu, thủ đoạn, hình thức, nội dung chống phá của các thế lực thù địch để cán bộ, đảng viên và người dân cảnh giác, đề phòng.

Trong công tác tuyên truyền, ngoài tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh, hội họp, tuyên truyền miệng, lồng ghép trong chương trình bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại Trung tâm Chính trị quận; các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội quận đã xây dựng nhiều trang, tài khoản mạng xã hội hoạt động rất hiệu quả để mở rộng và lan tỏa thông tin tích cực, chia sẻ những thông tin chính thống. Từ năm 2019 đến nay, các trang mạng xã hội do các ban, ngành quận quản lý đã đăng tải hơn 1.000 tin bài có nội dung tích cực và phản bác các quan điểm sai trái và thù địch, qua đó, giúp cán bộ, đảng viên và người dân theo dõi, cảnh giác. Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn quận đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn trên địa bàn quận.

Theo đồng chí Hồ Thị Kim Loan, quận sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhận diện rõ những quan điểm sai trái, thù địch; quan tâm nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội, kiến nghị, đề xuất giải quyết kịp thời những vấn đề nổi cộm, bức xúc chính đáng được nhân dân quan tâm; duy trì và nâng cao chất lượng trang fanpage, Facebook do quận quản lý nhằm đưa cho công tác tuyên truyền đi vào chiều sâu. Ðồng thời, đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức phòng và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, các hành vi tiêu cực. Song song đó là tăng cường giáo dục truyền thống dân tộc, địa phương, đạo đức lối sống, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giữ vững sự đoàn kết thống nhất giữa Ðảng với nhân dân, củng cố niềm tin, bồi dưỡng ý chí, tình cảm, động viên, cổ vũ nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong sạch, vững mạnh...

Kẻ tham nhũng chỉ ‘trong sạch’ khi chưa bị lộ

 

Một số giám đốc CDC quả quyết rằng, “tôi chưa bao giờ nhận tiền từ Việt Á”, nhưng đó là khi chân tướng sự việc chưa bị phơi bày.

 

Mới ngày 23/3, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức phiên họp, xem xét kỷ luật ông Nguyễn Văn Định, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC) về việc sai phạm trong vụ đấu thầu mua bán kit Việt Á.

Nói đến ông Định, người trước đó giữ chức vụ Giám đốc CDC Nghệ An, chắc ai cũng biết về câu nói nổi tiếng của ông về sự trong sạch. 

Còn nhớ ông này trước khi bị bắt đã quả quyết trong trả lời PV VietNamNet rằng mình trong sạch. Nhưngkhông lâu sau đó, Bộ Công an làm việc với CDC Nghệ An, trong đó có ông Định, sự thật lại dần được phơi bày, giai thoại "thưa các ông chưa bị lộ và sắp bị lộ" lại được nhắc đến. 

"Thưa các ông chưa bị lộ"... là câu nói hài hước về cán bộ chỉ trong sạch khi chưa bị lộ. Và với trường hợp cụ thể ông Nguyễn Văn Định cũng vậy, ông chỉ trong sạch khi công an chưa vào cuộc. 

Còn nhớ, trước thông tin về việc chi tiền ngoài hợp đồng cho các trung tâm CDC và cơ sở y tế tùy thuộc vào đơn hàng cũng như  khoản "hoa hồng" từ Công ty Việt Á, ông Nguyễn Văn Định quả quyết như đinh đóng cột: “Tôi khẳng định chưa bao giờ nhận khoản tiền nào từ Việt Á cả. Phía CDC đang rà soát lại nội bộ xem có chỗ nào có vấn đề không để điều tra”. 

Nhưng bàn tay không che nổi mặt trời, hay như câu nói "lưới trời lồng lộng", sau tuyên bố hùng hồn ít bữa, chính ông và một số cộng sự tại CDC Nghệ An bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt giam. Và ngày 23/3, thêm một hình thức kỷ luật nữa với ông Nguyễn Văn Định khi ông bị Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An khai trừ ra khỏi Đảng. 

Nói đến cán bộ, bao giờ cũng phải coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc mà gốc của đức là liêm chính, tức là phải trong sạch, ngay thẳng. Liêm chính càng không phải ở câu nói, ở mỹ từ mà phải trong sạch từ tâm, từ sự tu dưỡng, rèn luyện, bản lĩnh để tránh cám dỗ, trãnh mũi lên làn đạn bọc đường.

Thật ra nhân dân hiểu rất rõ ai là công bộc của dân. Họ không tin vào những lời nói hoặc những lời hứa suông. Thực tế chỉ có những người đem lại lợi ích thật sự cho dân, gần dân, trung thực, nói đi đôi với làm, luôn tu dưỡng rèn luyện, hết lòng vì dân, vì nước, ắt sẽ có được sự ủng hộ, có được niềm tin từ nhân dân.

Tại sao vừa qua có một số cán bộ, lãnh đạo giữ chức vụ, mới vừa được bầu đã bị kỷ luật, thậm chí bị tù đày?, trong đó có cả trường hợp có dư luận, nhưng vẫn là câu chuyện: "Thưa các ông chưa bị lộ".

Vẫn vụ Việt Á, ngày 19/2 vừa qua, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh TT-Huế ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Hoàng Văn Đức, Giám đốc CDC tỉnh TT-Huế và ông Hà Thúc Nhật, Kế toán trưởng kiêm Trưởng phòng Tài chính kế toán của CDC tỉnh TT-Huế.

Hai ông Đức và Nhật bị bắt giữ để điều tra về những sai phạm liên quan đến việc mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế gây thiệt hại cho tài sản nhà nước.

Trước đó, trường hợp ông Hoàng Văn Đức cũng có thể được xếp vào nhóm: "Thưa các ông chưa bị lộ". Còn nhớ, khi chưa bị bắt, ông Đức khẳng định, không nhận tiền “hoa hồng” từ các hợp đồng mua bán kit xét nghiệm với Công ty Cổ phần công nghệ Việt Á. Ông còn khẳng định ngay cả việc đơn vị hợp đồng với Công ty Việt Á để mua sắm trang thiết bị chống dịch cũng được triển khai minh bạch, không sai quy định.

“Tôi không nhận từ Công ty Việt Á một đồng nào. Công ty Việt Á cho tôi dù một ly cà phê, tôi đi tù cũng xứng đáng”, ông Đức từng khẳng định chắc nịch.

Chuyện của một số ông giám đốc CDC trong vụ Việt Á chỉ là điển hình của thực tế "Thưa các ông chưa bị lộ".

Có thể còn và vẫn còn những câu chuyện "Thưa các ông chưa bị lộ" ở chỗ này, chỗ kia cho đến khi không thể chối cãi được họ mới thừa nhận hành vi tội lỗi của mình. Thậm chí, lại ăn năn, lại sám hối trước vành móng ngựa. 

Nhưng “Thưa những ai chưa bị lộ”, đừng xem thường công luận, đừng mong mãi che đậy sự thật. 

 

‘Lò’ tiếp tục nóng và sự nghiêm minh với các vụ tham nhũng, tiêu cực

 

Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân.

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 12 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

Kết luận nêu trên căn cứ từ báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 10, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (Kết luận 10).

 

Theo Kết luận số 12 của Bộ Chính trị, 5 năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận 10, tạo bước tiến rõ nét, đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nâng lên; từng bước hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Nhìn từ thực tế, sự nghiêm minh được thể hiện trong từng vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.

 

Ngay như vụ Việt Á, từ cuối năm 2021, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, tiêu cực ra thông cáo về chủ trương chỉ đạo xử lý đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á.

 

Theo đó, để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa để ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Tiếp sau đó là sự vào cuộc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ… Đến nay, vụ án đang dần được làm sáng tỏ với những tổ chức, cá nhân có vi phạm, có liên quan.

 

Những kết quả như trên được dư luận đồng tình, người dân ủng hộ, tuy nhiên, Kết luận số 12 của Bộ Chính trị vẫn thẳng thắn chỉ rõ, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận 10 thực hiện vẫn còn chậm, hiệu quả chưa cao. Cụ thể, cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, chưa ngăn chặn hiệu quả tham nhũng, lãng phí. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn nhiều hạn chế, lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong xã hội còn rất nghiêm trọng. Tình trạng cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp chưa được ngăn chặn kịp thời. Vẫn còn xảy ra những vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp gây bức xúc trong dư luận.

 

Và trong những vi phạm có tính chất thách thức đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước mới đây, những xử lý nghiêm minh, kịp thời đã được thực hiện. Tiếp đến là quyết tâm làm lành mạnh hóa thị trường chứng khoán, xử lý nghiêm minh các hành vi thao túng. Một loạt những dấu hiệu vi phạm thao túng thị trường chứng khoán cũng như dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan việc phát hành trái phiếu, huy động tiền của nhà đầu tư đã được điểm tên, những cá nhân liên quan đã bị bắt giữ để điều tra.

 

Tuy nhiên, để tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận 10; gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm.

 

Bộ Chính trị chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; thu hồi triệt để tài sản do tham nhũng mà có. Tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

 

Và với thông điệp rất rõ, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, nói như người dân ví, “lò” vẫn tiếp tục nóng. Ngoài ra, Bộ Chính trị cũng chỉ đạo tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong quản lý vốn và sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, vốn, tài sản của nhà nước ở các doanh nghiệp; đầu tư công, dịch vụ công. Từ đó, nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, đơn giá cho phù hợp với thực tiễn.

 

Trong cuộc chiến này, vai trò của quần chúng nhân dân được đề cao. Nhân dân không chỉ là người giám sát, kiểm tra mà còn là tai mắt phát hiện tham nhũng. Vì thế, Bộ Chính trị yêu cầu phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

Đặc biệt, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Nghiêm túc thực hiện Kết luận số 12 càng củng cố niềm tin của nhân dân và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng sẽ đạt được thêm những thành quả mới.

 

Nguyễn Đăng Tấn

Vụ Việt Á, chuyến bay giải cứu, thao túng chứng khoán gây lãng phí, bức xúc

Theo báo cáo thẩm tra sơ bộ do Thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, trong bối cảnh chuyển công tác phòng, chống dịch Covid-19 sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” Chính phủ chưa có văn bản chỉ đạo cụ thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...

 

Bên cạnh đó, một số chính sách được Quốc hội ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân nhưng Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan chậm ban hành quy định, hướng dẫn chi tiết.

 

Vẫn còn tình trạng ách tắc trong việc mua sắm trang thiết bị y tế chưa được tháo gỡ kịp thời, ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch.

 

Còn tồn tại thực trạng mua sắm hàng hóa, trang thiết bị, vật tư không đúng quy định hiện hành của nhà nước, mua sắm vượt quá nhu cầu dẫn đến không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả... gây lãng phí ngân sách Nhà nước.

iệc thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 có vi phạm pháp luật trong việc quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học; đấu thầu, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công như vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng".

 

Báo cáo của cơ quan thẩm tra dẫn ra vụ việc đưa hối lộ, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và một số cơ quan, địa phương trong thời gian vừa qua đã gây thất thoát, lãng phí kinh phí, tài sản công, gây bức xúc trong nhân dân.

 

Thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách đề nghị Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân từ những bất cập của hệ thống văn bản pháp luật trong quản lý khoa học, đấu thầu, mua sắm tài sản công, đấu thầu, mua sắm trang thiết bị, vắc xin, thuốc, hóa chất và sinh phẩm xét nghiệm để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

 

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân, theo báo cáo thẩm tra, thông tin thị trường bất động sản chưa đầy đủ, thiếu minh bạch, giá bất động sản tăng bất thường tại một số nơi. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh nhưng có dấu hiệu “nóng”; tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, có doanh nghiệp “lách luật” phát hành trái phiếu sai quy định. Tình trạng một số cá nhân, doanh nghiệp thao túng thị trường chứng khoán gây thiệt hại cho nhà đầu tư, thất thoát lãng phí nguồn lực trong nhân dân.

 

Còn tình trạng lừa đảo người tiêu dùng liên quan đến bán hàng đa cấp, kinh doanh trực tuyến, bán hàng kém chất lượng… Hoạt động giao dịch, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những hình thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng Internet mà đến nay vẫn chưa có khung pháp luật rõ ràng, đầy đủ để quản lý vấn đề này.

 

Một số tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn về nước khi dịch Covid-19 bùng phát để trục lợi làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, lãng phí nguồn lực xã hội.

 

Trong công tác chuẩn bị đầu tư, có nhiều dự án chưa đủ thủ tục đầu tư, không đủ điều kiện phân bổ vốn, dẫn đến không đạt mục tiêu đề ra ngay từ những bước đầu tiên; việc rà soát, điều chuyển, bổ sung vốn cho những dự án giải ngân tốt, có nhu cầu vốn để hoàn thành các dự án chưa được thực hiện kịp thời, linh hoạt. Đây là tồn tại kéo dài nhiều năm, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ cần kiên quyết xử lý dứt điểm.

 

Tình trạng chưa phân bổ chi tiết vốn ngân sách Trung ương cho các dự án, chưa phân bổ hết vốn ngân sách địa phương diễn ra trong nhiều năm chưa được khắc phục, diễn ra ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Kết quả tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đầu năm chậm, trong đó có một số dự án đầu tư trọng điểm, tuy nhiên những tháng cuối năm tỷ lệ tăng đột biến.

 

Còn nhiều tồn tại, hạn chế trong việc lập, phân bổ, quản lý, sử dụng vốn đầu tư công ở một số bộ, ngành, địa phương....

 

Một số dự án quan trọng quốc gia còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong công tác triển khai, đưa vào hoạt động gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, như các dự án đường sắt đô thị trên địa bàn TP Hà Nội và TP.HCM.

Theo trần thường

  

KHÔNG ĐỂ NGƯỜI GIÀU LẠI GIÀU THÊM DO LÀM ĂN PHI PHÁP

 

Theo dự thảo báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị, cử tri và nhân dân bày tỏ sự tin tưởng vào quyết tâm của Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng nghỉ, không có vùng cấm.

 

Cử tri và nhân dân đồng tình về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh. Đảng và Nhà nước tiếp tục chỉ đạo quyết liệt việc thanh tra kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử công khai các vụ án tham nhũng lớn, xử lý nghiêm khắc cán bộ sai phạm, kể cả cán bộ cấp cao như vụ án nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á; vụ án nhận hối lộ tại Bộ Ngoại giao, vụ án thao túng thị trường chứng khoán ở tập đoàn FLC; vụ đấu giá đất bất thường và phát hành trái phiếu có dấu hiệu lừa đảo của công ty Tân Hoàng Minh…

 

Đóng góp một số ý kiến, bà Hà Thị Liên, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cơ bản nhất trí với dự thảo của báo cáo và cho rằng, cử tri rất phấn khởi khi dịch Covid-19 được kiểm soát, cuộc sống trở lại bình thường, nhất là trong kỳ nghỉ vừa qua.Về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, qua một số vụ việc gần đây, bà nhận thấy Ban chỉ đạo Trung ương rất quyết liệt, nhân dân đồng tình, ủng hộ cao: “Có những người dù là lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo ở địa phương…nhưng nếu có sai phạm đều được đưa ra như một số vụ án liên quan đến đất đai gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng”, bà nói.

 

Cử tri vô cùng bất bình khi một số cá nhân lợi dụng dịch bệnh để nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á, đó là điều không thể chấp nhận, “tôi thấy là không có lương tâm và đề nghị cần trừng trị thích đáng”, bà nói.

 

Người dân rất bức xúc về việc nhiều cán bộ làm giàu từ đất đai, cấu kết với doanh nghiệp lợi dụng chính sách để làm giàu từ đất đai. Nguồn lực đất đai chưa được sử dụng đúng mục đích, đây là vấn đề lớn mà xã hội rất bức xúc, cần được xử lý. Bà nhắc đến phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương 5 mới diễn ra “vì sao nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội? Vì sao ở nhiều nơi, việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tệ tham nhũng, tiêu cực liên quan đến đất đai…”.

 

Vụ án “Thao túng thị trường chứng khoán" ở tập đoàn FLC cần được xử lý nghiêm minh, không chấp nhận doanh nghiệp lớn lại làm ăn phi pháp, thao túng cổ phiếu, chứng khoán. “Họ không cần gì đến danh dự, ngay cả khi họ đã giàu rồi”, bà nhấn mạnh và cho rằng không để người giàu lại giàu thêm, người nghèo lại thêm nghèo do hành vi làm ăn phi pháp.

 

Cũng bày tỏ sự bức xúc liên quan đến vụ Việt Á, GS Trần Ngọc Đường cho biết những người làm khoa học như ông đều hết sức phẫn nộ bởi vì nghiên cứu khoa học có kinh phí lớn nhưng chỉ sau 2 tháng đã nghiệm thu, tuyên truyền rầm rộ. Đến nay đã được các cơ quan chức năng chỉ ra các sai phạm, trong đó có liên quan đến một số cán bộ. Ông đề nghị tiếp tục “đấu tranh mạnh mẽ hơn trong vụ Việt Á, để không bỏ lọt ai”.

 

Còn nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Lê Truyền cho biết, nhiều ý kiến bày tỏ sự quan ngại với hiện tượng các bị can trốn ra nước ngoài vẫn tiếp diễn và ngày càng khó khăn hơn, dẫn đến những lo ngại về các vấn đề liên quan. Do đó, trong báo cáo cần có cách thể hiện vấn đề này như thế nào để giải quyết được những dấu hiệu khó khăn trong phòng, chống tham nhũng, tránh để tiếp diễn tình trạng này trong thời gian tới.