Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023
HỒ CHÍ MINH - PHÚT CUỐI CỦA NGƯỜI VÀ NGỌN LỬA ĐẦU TIÊN CỦA ĐỜI!
KHẮC PHỤC “CĂN BỆNH” NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY TRÁCH NHIỆM!
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Biểu tượng của tinh hoa và khí phách dân tộc Việt Nam
Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”
DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA 🇻🇳⭐️🇻🇳
(Lịch sử nước ta trong thơ của Bác)
Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời.
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người.
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài.
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la.
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang.
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà.
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn.
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân.
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà.
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan.
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!
Hồ Chí Minh - 1942
QUAN ĐIỂM CỦA
PH.ĂNGGHEN: SỨC MẠNH QUÂN SỰ CỦA MỘT QUÂN ĐỘI PHẢI ĐƯỢC XEM XÉT TRÊN GÓC NHÌN
TOÀN DIỆN
Theo Ph. Ăng-ghen muốn đánh giá đúng đắn khả năng chiến đấu của một quân đội, cần xem xét không những mặt trang bị của nó, mà cần xem xét cả trình độ kỷ luật, tinh thần quyết chiến, khả năng và chuẩn bị của nó để chịu đựng những gian khổ của chiến tranh và sự “nhất là trạng thái tinh thần của nó, nghĩa là có thể đòi hỏi nó những gì mà không sợ làm cho nó mất tinh thần.
Những tư tưởng,
luận điểm của Ph. Ăng-ghen đi sâu giải thích một cách khách quan, khoa học hiện
tượng xã hội phức tạp là chiến tranh và hòa bình, quân sự và quốc phòng, khởi
nghĩa vũ trang và đấu tranh cách mạng. xây dựng quân đội cách mạng và bảo vệ Tổ
quốc; sự chuyển hóa tiềm lực quân sự trong chiến tranh; quan hệ giữa con người
và vũ khí... Trong đó, có những quan điểm, luận điểm về xây dựng, tăng cường
sức mạnh quân sự của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc của giai cấp vô
sản, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cách mạng sâu sắc. Theo ông, quân đội
bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó và “Quân đội
đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó” [1]
Dựa trên quan
niệm chủ nghĩa duy vật về các quá trình lịch sử - xã hội, C. Mác, Ph. Ăng-ghen
chỉ rõ, giữa chính trị, chiến tranh, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và đối
ngoại...có quan hệ mật thiết, quy định và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là yêu cầu cấp
thiết phải xây dựng và tăng cường tiềm lực quân sự của nhà nước vô sản. Ông cho
rằng, sức mạnh nền quốc phòng của đất nước được biểu hiện ở khả năng vật chất
và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ cho nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu các loại hình chiến tranh thông thưởng và hiện
đại. Trong đó, tiềm lực kinh quân sự là một bộ phận đặc biệt của tiềm lực kinh
tế đất nước, trực tiếp cục cấp trang bị, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất
cho tiềm lực quân sự để tạo nên sức mạnh quân sự của Nhà nước vô sản. Đồng
thời, sức mạnh của quân đội phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế của Nhà nước sinh ra nó. Vì vậy, “Không có gì lại phụ
thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ
trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình
độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và cá phương tiện giao thông
nữa" [2].
Thực tiễn xung
đột quân sự đang diễn ra giữa Nga – Ucraina đang minh chứng cho học thuyết quân
sự của Ph.ăngghen…Chúng ta cần tiếp tục xem xét và đi sâu phân tích luận giải
nó…
Cái trống trường em
Cái trống trường em
Mùa hè cũng nghỉ.
Suốt ba tháng liền
Trống nằm ngẫm nghĩ.
Buồn không hả trống?
Trong những ngày hè
Bọn mình đi vắng
Chỉ còn tiếng ve.
Cái trống lặng yên
Nghiêng đầu trên giá,
Chắc thấy chúng em,
Nó mừng vui quá!
Kìa trống đang gọi:
Tùng! Tùng! Tùng! Tùng...
Vào năm học mới
Rộn vang tưng bừng.
SÁNG NGỜI CHIẾN CÔNG
Trường Sơn rừng núi điệp trùng
Bước chân chiến sỹ vui cùng thời gian
Ba lô súng khoác vượt ngàn
Rau rừng cơm nắm vinh quang một thời.
Như vì sao sáng giữa trời
Chiến công anh mãi sáng ngời chiến công
Anh đi gìn giữ non sông
Mưa bom bão lửa vẫn không sờn lòng.
Trường Sơn hùng vĩ điệp trùng
Dấu chân ấy mãi in cùng thời gian
Những khi mưa đổ nắng tràn
Tiếng bàn chân bước còn vang giữa đời.
Chiến tranh nay đã xa rồi
Trái tim người lính sáng ngời sử xanh.
Giờ đây là cựu chiến binh
Bước chân ngày ấy viết thành bài ca.
(St)
PHÁT HUY SỨC MẠNH
TỔNG HỢP ĐỂ NÂNG CAO
SỨC MẠNH BẢO VỆ TỔ
QUỐC THEO QUAN ĐIỂM CỦA
V.I. LÊNIN VÀ HỒ CHÍ MINH
Từ thực tiễn lãnh
đạo, chỉ đạo đất nước Nga xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền độc lập non
trẻ của mình, V.I.Lênin cho rằng, trong chiến tranh nếu bên nào có khả năng huy
động được toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, vận
tải, các ngành kinh tế và khoa học, mọi tài nguyên, vật chất... thì bên đó sẽ
hy vọng giành được thắng lợi; tất cả những điều đó lại phụ thuộc vào chế độ
kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Vì vậy, V.I.Lê-nin yêu cầu: "Hãy
chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo con
người trong mắt mình, hãy nhớ rằng chúng ta không được phép lơ là một ngày, một
phút trong việc bảo vệ công nhân và nông dân chúng ta, bảo vệ những thành quả
của chính họ"[1].
Trong bối cảnh đế
quốc Mỹ rắp tâm phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta,
mưu toan mở rộng chiến tranh ra phạm vi cả nước. Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm cho miền Bắc là chỗ dựa về chính trị, tinh thần,
vật chất cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, Hồ Chí Minh cho rằng,
"Phải củng cố lực lượng quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn cảnh
giác, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ và
bọn tay sai của chúng"[2]
.
Trong dịp nói
chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 tại đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ
đô Hà Nội, Người nói: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải
cùng nhau giữ lấy nước" [3].
Người đã căn dặn toàn dân, toàn quân ta: bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta
cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước.
Đó là sức mạnh
tổng hợp của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự biểu hiện trong
sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần của cộng đồng các dân tộc anh em sống
trên đất nước Việt Nam. Xem xét sức mạnh BVTQ phải nhìn vấn đề trên mọi phương
diện, không chỉ xem xét sức mạnh về vật chất, về vũ khí trang bị..., mà còn
phải xem xét sức mạnh đó về mặt tinh thần, về sức mạnh của quần chúng nhân dân.
Người yêu cầu: "Chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài
lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được đầy đủ,
mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng" [4].
Nếu chỉ dựa vào vũ khí, trang bị thì dù vũ khí, trang bị đó có tối tân, hiện
đại đến đâu cũng khó có thể giành được thắng lợi./.
[1]
V.I.Lê-nin (1981), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,
tr.368-369
[2]
Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, tập 11.
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tr.234.
[3]
Viện Hồ Chí Minh, (1995), Hồ Chí Minh
biên niên sử, tập 11. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr.234.
[4] Hồ Chí Minh,
(2011), Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
Tr.447.
Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, Người cộng sản vĩ đại, Người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản Quốc tế. Cả cuộc đời Người đấu tranh không biết mệt mỏi vì tự do của dân tộc, vì hòa bình công lý trên thế giới. Bác đã để lại cho nhân loại nền di sản văn hóa vô giá.
Cao cả vĩ đại là thế nhưng Bác cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt, Bác cũng có gia đình, có bạn bè, có tình yêu đôi lứa như bao nhiêu con người Việt Nam chân chính khác, nhưng vì nghĩa lớn Bác đã gác lại lợi ích riêng của bản thân cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp cứu nước vĩ đại của dân tộc.
Bác sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cuộc sống đói khổ lầm than của kiếp người nô lệ, Bác quyết ra đi tìm đường cứu nước cứu dân. Trong hành trình bôn ba nơi xứ người Bác đã phải chịu đựng bao gian khổ hiểm nguy, có lúc Bác phải làm bồi bàn, có lúc Bác phải sống trong chốn lao tù, viên gạch hồng sưởi ấm Bác trong những đêm mùa đông lạnh giá ..
Tại sao Bác lại có được động lực to lớn và sức mạnh phi thường đến vậy? Chỉ có tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng mới giúp Bác vượt qua tất cả. Tình yêu thương sự hy sinh cao cả chính là sự thuyết phục mạnh mẽ nhất, làm rung động triệu triệu trái tim người dân đất Việt, nhân dân Việt nam tự nguyện đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng - Bác Hồ vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, không kể phụ nữ chân yếu tay mềm, không xá chi tuổi tác già nua, với khí thế sục sôi tất cả cho tiền tuyến. Tính thần yêu nước, sự đoàn kết đã tạo nên sức mạnh giúp dân tộc Việt nam chiến thắng kè thù xâm lược dành lại nền độc lập tự do cho Tổ quốc.
Thắng lợi to lớn mở ra bước ngoặc lịch sử trọng đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh, đó là một thời đại rực rỡ nhất, huy hoàng nhất mãi mãi là niềm kiêu hãnh của người dân đất Việt. Bác đã để lại cho nhân dân ta một tình yêu thương vô bờ bến. Trong con mắt của em thơ Bác như ông tiên hiền hòa, trong con mắt của Nhân dân Bác như người anh người cha gần gũi thân thương, dưới góc nhìn của các nhà quân sự chính trị Bác là một bậc "đại nhân, đại trí, đại dũng”. một con người văn võ song toàn.
Văn hóa phong cách của Bác là sự kết tinh sáng ngời giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Bác có khả năng mang đến niềm vui, niềm tin yêu đến mọi người khắp nơi trên thế giới. Sự ấm áp chan chứa ân tình luôn có sức thu hút cảm hóa lòng người mạnh mẽ, với bất kỳ ai không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, giới tính, nó vượt qua khỏi biên giới quốc gia đến với bạn bè khắp nơi trên thế giới .
Tài năng phi phàm đạo đức sáng ngời vì vậy Bác đã trở thành nhân vật nổi tiếng tầm cỡ Quốc tế, chính điều đó đã gây nên sự tò mò to lớn ? Tại sao Bác không vợ không con ?! Ngày 26/10 trả lời câu hỏi cuối cùng của nhà báo nước ngoài. “Tôi không nhà, không cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là gia đình tôi, Phụ lão là thân thích của tôi, phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi”… “Tôi chỉ có ham muốn làm cho Tổ quốc tôi độc lập, thống nhất, dân chủ, bao giờ đạt được mục đích tôi trở về làm một người nông dân , du sơn ngoạn thủy đọc sách làm vườn".
Bác không màng danh lợi, mơ ước của Bác là cho nước nhà độc lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc”. Trong cuộc Cách Mạng giải phóng dân tộc Bác đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn Cách Mạng Việt Nam. Bác là kết tinh văn hóa nhân loại, Bác là tấm gương đạo đức sáng ngời về lối sống và tư tưởng Cách Mạng. Chính tư tưởng phẩm chất cao đẹp của Bác đã truyền lại sức mạnh và niềm tin to lớn cho nhân dân Việt Nam, tư tưởng đao đức của Bác mãi mãi là tấm gương sáng ngời để chúng con học tập và noi theo ./.
MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÀNH VÀ GIỮ CHÍNH QUYỀN
THEO
QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN
V.I.Lênin
đã kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen trong điều kiện vận dụng vào Cách mạng tháng Mười
Nga. Đó là trước Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã chuẩn
bị những tiền đề lý luận về vấn đề bảo vệ thành quả của cách mạng vô sản từ sớm, từ xa, từ khi cách
mạng tháng Mười Nga chưa diễn ra, trong đó khẳng định, sau khi
giành được thắng lợi, giai cấp vô sản và nhân dân lao động phải luôn củng cố,
tăng cường sức mạnh vũ trang để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Người chỉ rõ: “Không
cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp
thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp
bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn
bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để bảo vệ lấy mình”[1]. Quan điểm này được hình
thành từ sớm, từ xa và được xây dựng ngay cả khi Cách mạng nước Nga chưa diễn
ra và được hoàn chỉnh khi Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười
Nga giành thắng lợi, với thực tiễn của
cuộc nội chiến cùng với đó là sự câu kết với 14 nước đế quốc, các thế lực tư sản
và phản động trong nước thực hiện âm mưu can thiệp, gây chiến tranh xâm lược
hòng thủ tiêu thành quả cách mạng, xóa bỏ nhà nước vô sản đầu tiên trên thế
giới. Người chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng
Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán
thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi
tới, là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã
hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết, với tính cách là
một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[2].Trước tình hình đó đặt ra yêu cầu cần kíp và tất yếu khách quan đối với Đảng Cộng
sản và Nhà nước Xô-viết: phải sẵn sàng chuẩn bị về mọi mặt để đánh bại thù
trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc chính quyền Xô-viết non trẻ và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Từ thực
tiễn cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lê-nin đã nêu lên một luận điểm nổi
tiếng: “Giành chính quyền đã khó, giữ
chính quyền càng khó khăn phức tạp hơn nhiều” và “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị
khi nào nó biết tự vệ, nhưng không phải
cách mạng có thể biết ngay được cách bảo vệ” [3]. Vấn đề này không chỉ diễn ra ở nước Nga, cũng không
chỉ trong thời kỳ cách mạng vô sản mà đã trở thành một quy luật phổ biến của
quá trình xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Luận điểm được
chỉ ra từ sớm, từ xa khi mà phong trào cách mạng vô sản mới chỉ diễn ra ở một
nước, đó là nước Nga, mà đó đã trở thành kim chỉ nam của giai cấp vô sản ở các
nước và trên toàn thế giới phải lấy đó là nguyên tắc, là chân lý ngay cả trước
khi tiến hành cách mạng và ngay cả khi giai cấp vô sản đã giành được chính
quyền cách mạng về tay mình./.
Cho đến giữa Thế kỷ XIX, Chủ nghĩa tư bản đã
được thiết lập và đạt được những thành tựu lớn ở các nước Tây Âu, đặc biệt tại
các nước Anh, Pháp. Sự phát triển đó, một mặt tạo ra được những thành tựu to
lớn về phát triển kinh tế - xã hội. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của cuộc cách mạng
công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII. Cuộc
cách mạng công nghiệp không những đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ
công sang nền sản xuất đại công nghiệp đồng thời còn làm thay đổi sâu sắc cục
diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.
Tuy nhiên, mặt trái của nó là đã tự tạo ra những mâu thuẫn không thể giải quyết được trong phạm vi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trung tâm của những mâu thuẫn đó được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Mâu thuẫn đó được bộc lộ thông qua những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Quá trình đấu tranh đó, cách mạng vô sản đã được soi sáng bằng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác, đồng thời thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản đã không ngừng bổ sung cho lý luận chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, tại thời điểm đó giai cấp công nhân chưa giành được chính quyền, chưa có Tổ quốc nên các vấn đề liên quan về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; vai trò của quần chúng nhân dân trong giành và giữ chính quyền; xây dựng liên minh và bảo vệ liên minh của giai cấp vô sản; đặc biệt là về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa… Trong điều kiện xã hội ở phương Tây, dân tộc với tính cách là một cộng đồng xã hội - bộ tộc người và chỉ được hình thành cùng với sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa tư bản, khi CNTB đại diện cho các giai cấp và tầng lớp của dân tộc tư sản để đi áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Qua thực tiễn của Công xã Paris (28/3/1871) C. Mác đã có những quan niệm đầu tiên về bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăng-Ghen đã minh chứng: “Một Pari lao động, suy nghĩ, chiến đấu, đổ máu nhưng rạng rỡ trong niềm tự hào hứng, sáng tạo lịch sử mà hớn hở mải mê xây dựng xã hội mới, hầu như quên mất bọn ăn thịt người đang ở ngay của ngõ của mình”[1].
Theo đó, ngày nay trước những biến động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam, thành quả đổi mới của toàn thể nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cho nên chúng ta phải luôn luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn kẻ thù để bảo vệ và phát triển thành quả đã đạt được./.
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NHẬN THỨC
BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA TRONG TÌNH
HÌNH HIỆN NAY
Xuyên suốt chiều
dài lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,
ông cha ta luôn thể hiện rõ tinh thần chú động, tích cực bảo vệ Tổ quốc. Để giữ
vững nền độc lập tự chủ của đất nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực
hiện nhiều kế sách như “tiên phát chế nhân", "khoan thư sức dân”, “ngụ
binh ư nông”, “tĩnh vì dân, động vi binh".. đồng thời, chăm lo xây dựng
quân đội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố lòng tin của nhân
dân. Đó là cơ sở quan trọng để dân tộc Việt Nam viết lên những trang sử hào
hùng với những chiến thắng như Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi-Đống
Đa.
Trong thời đại
Hồ Chí Minh, kế sách BVTQ tử xa tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm
cao mới. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và triệt tiêu các nguy cơ, nhân tố bất
lợi nhằm BVTQ từ sớm, từ xa là quan điểm thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về quốc phòng, an ninh, BVTQ trong tình hình mới.
Kế thừa những kinh nghiệm, truyền thống quý báu của dân tộc và xuất phát từ yêu
cầu của thực tiễn lịch sử, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển lý luận
BVTQ, đặc biệt là quan điểm BVTQ “từ sớm, từ xa”. Trên cơ sở đó, chủ động, tích
cực xây dựng, củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia; chủ động ngăn ngừ các
nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kị thời những
yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; giữ nước ngay từ thời
bình phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Trong bối cảnh hiện
nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó dự báo. Hòa
bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu lớn, song cạnh tranh chiến lược giữa các
nước lớn, sự trỗi dậy của nghĩa dân tộc cực đoan; xung đột cục bộ tiếp tục diễn
biến phức tạp trong bức tranh của đời sống
chính trị thế giới; cuộc chiến giữa Nga và Ukraina vẫn chưa có hồi kết và khó dự
báo. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang phát triển mạnh mẽ, trực tiếp
tác động đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội trong đó có quốc phòng, an ninh. Kinh
tế toàn cầu có dấu hiệu suy giảm, kinh tế nước ta tiếp tục phát triển, đạt được
nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng; chưa bao giờ Việt Nam có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tin quốc tế như ngày nay. Nhưng cũng đang đứng
trước những khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề đặt ra cần nhận thức và giải quyết.
Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước tiếp tục
đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa",
thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Các thách thức an ninh
truyền thống và phi truyền thống đan xen. Vì vậy, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa
là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và
BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Petrovietnam - 48 năm phát triển cùng đất nước
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) được thành lập với sứ mệnh góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và là trụ đỡ kinh tế trong xây dựng, phát triển đất nước. Sau 48 năm xây dựng và trưởng thành (3-9-1975 / 3-9-2023), Petrovietnam đã có những bước phát triển vượt bậc, toàn diện cả về quy mô và chiều sâu, hoàn chỉnh đồng bộ từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí đến công nghiệp khí, lọc hóa dầu, điện và năng lượng tái tạo, dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao.
Hiện thực hóa mong ước về một ngành dầu khí vững
mạnh
Năm 1975 là năm trọng đại trong lịch sử ngành dầu
khí Việt Nam, khi Đảng, Chính phủ quyết tâm hiện thực hóa mong ước của Bác Hồ
với cuộc trường chinh đi tìm lửa trong lòng đất mà cả dân tộc trông đợi để phát
triển kinh tế đất nước. Ngay sau khi thống nhất đất nước, ngày 3-9-1975, Tổng
cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (tiền thân của Petrovietnam)
được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ theo Quyết định số 170/CP của Hội
đồng Chính phủ.
Năm 1986 cũng là năm ngành dầu khí đánh dấu mốc son
cho sự đổi thay khi mỏ dầu Bạch Hổ tại thềm lục địa Việt Nam đã cho ra đời
những tấn dầu thô thương mại đầu tiên. Sự kiện này không chỉ có giá trị ghi
danh Việt Nam vào danh sách các nước sản xuất dầu khí thế giới mà quan trọng
hơn, sự kiện này được xem như một trụ đỡ về tinh thần và cả vật chất đối với
đất nước trong giai đoạn khó khăn.
Đồng hành với đất nước trong công cuộc đổi mới,
ngành dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh,
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, gia tăng
kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, đóng góp cho ngân sách nhà nước,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Qua đó góp phần đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng và kém phát triển,
trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới. Hoạt động thăm dò khai
thác dầu khí ở thềm lục địa cũng đã góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền quốc
gia trên biển.
Qua gần nửa thế kỷ, Petrovietnam đã đi từ
“không” đến “có”, làm chủ được công nghệ, khoa học tiên tiến nhất, xây dựng
được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ. Tính từ năm 1986 đến hết
năm 2022, tổng doanh thu của Petrovietnam đạt hơn 400 tỷ USD. Trong giai đoạn
2006-2015, Petrovietnam đóng góp trung bình 20-25% tổng thu ngân sách Nhà nước,
18-25% GDP cả nước. Từ năm 2015 đến nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến
động khó lường và mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, Petrovietnam vẫn đóng
góp khoảng 10% tổng thu ngân sách nhà nước (trong đó từ dầu thô là 5-6%),
10-13% GDP cả nước.
Trong dòng chảy của lịch sử, sẽ không thể tránh
khỏi thăng trầm và Petrovietnam cũng không phải ngoại lệ. Từ năm 2019 đến nay
là thời kỳ Petrovietnam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng
có trong lịch sử phát triển của ngành dầu khí. Công nghiệp dầu khí thế giới rơi
vào khủng hoảng nghiêm trọng khiến giá dầu giảm xuống mức thấp kéo dài, cá biệt
có thời điểm giá dầu xuống mức âm (-37USD/thùng) vào cuối năm 2019.
Tình hình Biển Đông phức tạp, chiến tranh thương
mại, biến đổi khí hậu, khủng hoảng do đại dịch Covid-19 đã tác động trực tiếp
đến mọi mặt hoạt động của Petrovietnam. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước
về dầu khí, các chính sách hỗ trợ ngành dầu khí bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập,
thiếu thống nhất...
Mặc dù vậy, với tinh thần cầu thị, bản lĩnh kiên
cường, đoàn kết và ý chí vượt qua khó khăn, cán bộ, công nhân viên, người lao
động dầu khí đã luôn nỗ lực không ngừng, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt các
chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2020, Petrovietnam vững vàng vượt
qua khủng hoảng kép do dịch bệnh và giá dầu giảm sâu. Năm 2021, phục hồi tăng
trưởng.
Nhờ áp dụng linh hoạt nhiều giải pháp sản xuất kinh
doanh và quản trị rủi ro, năm 2022, Petrovietnam đã đạt kỷ lục khi cán mốc
doanh thu hơn 930 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 170,6 nghìn tỷ đồng,
bằng 9,6% tổng thu ngân sách nhà nước. Năm 2022 cũng là năm thứ ba công tác
“quản trị biến động” của Petrovietnam đạt được thành tích ấn tượng. Đây là yếu
tố quan trọng, quyết định toàn diện đến kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
Nỗ lực phát triển trở thành Tập đoàn công nghiệp
năng lượng quốc gia
Sau 48 năm kể từ khi thành lập, Petrovietnam đã trở
thành một tập đoàn kinh tế lớn mạnh có tổng tài sản hợp nhất gần 43 tỷ USD,
nguồn vốn chủ sở hữu hợp nhất 22,5 tỷ USD. Giai đoạn 2016-2022, tổng tài sản
tăng 3,9%, với đội ngũ hơn 50.000 cán bộ, công nhân viên đang lao động sáng tạo
trên các lĩnh vực của chuỗi giá trị dầu khí; đóng góp quan trọng cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an
ninh lương thực; đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách và phát triển kinh tế-xã
hội của đất nước; đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tích cực vào
công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng đang diễn ra
mạnh mẽ trên toàn thế giới, ban lãnh đạo Petrovietnam đã sớm đề ra định hướng
phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo trong chiến lược phát triển dài hạn.
Petrovietnam đã và đang từng bước chuẩn bị nguồn lực, xác định mô hình đầu tư,
sẵn sàng tạo đà cho việc mở rộng sang lĩnh vực năng lượng tái tạo một cách phù
hợp, hiệu quả, trên cơ sở tận dụng thế mạnh của Petrovietnam và các đơn vị
thành viên, kết hợp với chiến lược phát triển ngành dầu khí.
Lãnh đạo Petrovietnam luôn tâm niệm, trong giai
đoạn mới, cách tri ân tốt nhất với lớp người đi trước chính là phải kế thừa,
phát huy truyền thống văn hóa dầu khí, không ngừng bồi đắp, gìn giữ giá trị cốt
lõi “Khát vọng-trí tuệ-chuyên nghiệp-nghĩa tình”, để ngọn lửa nhiệt huyết luôn
rực cháy trong trái tim mỗi người lao động dầu khí, cống hiến hết mình, làm
tròn trách nhiệm phát triển chuỗi giá trị năng
lượng làm giàu cho Tổ quốc.
Nói về mục tiêu phát triển trong tương lai của
Petrovietnam, đồng chí Lê Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Petrovietnam cho biết, vượt
qua mọi khó khăn, Petrovietnam thực hiện thành công các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà
nước giao phó, xác định được mục tiêu và giá trị cốt lõi để xây dựng, phát
triển Petrovietnam trong tương lai. Đó là xây dựng và phát triển
Petrovietnam thành tập đoàn công nghiệp năng lượng hàng đầu đất nước, khu
vực; có vị trí và vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc
gia.






