Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

HỒ CHÍ MINH - PHÚT CUỐI CỦA NGƯỜI VÀ NGỌN LỬA ĐẦU TIÊN CỦA ĐỜI!

     Đã 54 năm trôi qua, kể từ phút giây Người đi xa, đồng bào Hà Nội cùng cả nước đau đớn vĩnh biệt Người. Tất cả đã đi vào ký ức thiêng liêng của lịch sử. Tình thương yêu của Người với đồng bào, đồng chí, với nhân dân - dân tộc và nhân loại đã từng được biết đến, mãi mãi được nhắc đến như huyền thoại về một tình yêu.

Thời gian mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc ở Hà Nội từ cuối Tháng Tám, năm 1945 đến khi Người qua đời, vào 9 giờ 47 phút sáng ngày 2-9-1969 là 24 năm nhưng không liên tục. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Người và cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, của Chính phủ đã rời Hà Nội về căn cứ địa cách mạng ở Việt Bắc. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ngày 1 tháng 1 năm 1955, đồng bào Hà Nội, thay mặt cả nước hân hoan chào đón Người cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô. Cho đến lúc qua đời, thời gian Người sống và làm việc tại Hà Nội chỉ trong khoảng 15 năm. Đó là khoảng thời gian Hà Nội cùng cả nước chứng kiến những quyết định trọng đại của Người, in dấu ấn vào những bước ngoặt lịch sử của Đất nước và Dân tộc. Bản Di chúc của Người đã hơn 1/2 thế kỷ kể từ khi Người viết những dòng đầu tiên, từ ngày 19-5 đến ngày 15-5-1965, lúc đó Người đã 75 tuổi. Người sửa Di chúc lần cuối cùng vào tháng 5-1969. Bốn tháng sau, Người vĩnh biệt chúng ta (2-9-1969).

Đã 54 năm trôi qua, kể từ phút giây Người đi xa và đồng bào Hà Nội cùng cả nước đau đớn vĩnh biệt Người.     

“Như thế, Người đi, phút cuối cùng     
Nhẹ nhàng thanh tịnh rất ung dung 
Lời Di chúc gửi êm bên gối   
Quên nỗi mình đau để nhớ chung”. 
                                  (Tố Hữu)

Tất cả đã đi vào ký ức thiêng liêng của lịch sử. Tình thương yêu của Người với đồng bào, đồng chí, với nhân dân - dân tộc và nhân loại đã từng được biết đến, mãi mãi được nhắc đến như huyền thoại về một tình yêu.

Phút lâm chung, vẫn nguyên vẹn sự minh mẫn của bậc vĩ nhân và cốt cách hiền triết Á Đông, đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, Người cầm tay Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà thường ngày Người vẫn gọi trìu mến là “chú Tô” và hỏi: “Hai Giáp có phải không chú?”.

Ấy là Người nhớ rằng, lễ mừng Quốc khánh lần thứ 24 là năm chẵn, hãy đốt pháo hoa cho dân chúng mừng. Mọi năm vào ngày lễ trọng đại mùa Thu tháng Tám, đồng bào Hà Nội vẫn hân hoan chào đón Người, lắng nghe tiếng nói ấm áp của Người. Trong nắng sớm mùa Thu và rợp trời cờ đỏ sao vàng, đi giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, đồng bào Hà Nội ai cũng ngước nhìn lên lễ đài để được nhìn rõ ánh mắt, nụ cười của Người, để nhận từ đó sự ấm lòng và niềm tin yêu, hy vọng. Vậy mà, Quốc khánh lần thứ 24, lần đầu tiên, người dân Thủ đô không được nhìn thấy Bác Hồ trên lễ đài như bao năm trước. Nào có ai hay, Bác đã ra đi vĩnh viễn, trở về với thế giới người hiền, sau những cơn đau quặn thắt đáy lòng. Từ 9 giờ 47 phút sáng ngày 2-9-1969, thời gian như ngừng trôi. Suốt những ngày tang lễ, “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”, Hà Nội và cả nước dường như vỡ òa trong tiếng khóc. Bạn bè khắp năm châu bốn biển cùng đau nỗi đau không gì có thể đền bù cùng dân tộc và nhân dân Việt Nam. Vì dân tộc độc lập mà Người đã trọn đời tranh đấu, vì nhân dân phải được tự do và sống trong hạnh phúc mà Người đã hy sinh, dâng hiến và hóa thân.

Ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị Người đã ở, trọn một đời giường đơn chiếu mộc, cũng trọn một đời không một giấc ngủ yên. Gần đó, “nhà 67”, Người đã ở những ngày cuối cùng và tại nơi đây, trên giường bệnh, giữa những cơn đau, Người vẫn hằng mong tin chiến thắng báo về từ miền Nam - miền Nam luôn ở trong trái tim Người. Nghe tin đê vỡ, lũ lụt tràn về, Người hỏi trong hơi thở gấp: Đê vỡ ở đâu? Có kịp sơ tán dân đi chưa? Người còn hỏi, sắp đến ngày khai trường rồi, các chú chuẩn bị trường, lớp, sách vở cho các cháu đến đâu rồi?

Hãy nhớ lại trong những ngày chiến tranh ác liệt, đời sống căng thẳng, công việc bộn bề, Người lâm bệnh nặng. Biết rằng sinh tử là quy luật của muôn đời, không ai tránh được, Người vẫn cố chờ đợi miền Nam, dù linh cảm đã mách bảo Người, đó là điều không thể.

Trong Di chúc, Người đã dặn lại chúng ta, nếu như khi tôi đã qua đời mà miền Nam vẫn chưa được giải phóng thì xin gửi lại một ít tro xương cho đồng bào miền Nam. Ta thấu hiểu nỗi đau của Người, biết rõ nỗi đau ấy trên từng nét chữ. Trong lần cuối cùng sửa Di chúc giữa ngày tháng năm sinh nhật, nét bút đỏ của Người gạch chữ “xương” đi, để lại chữ “tro” và dặn lại: Tro thì chia vào ba hộp sành, cho miền Bắc một hộp, miền Trung một hộp, miền Nam một hộp, tìm đồi cao mà chôn xuống cho đỡ tốn đất ruộng.

Người nghĩ tới dân, thương nông dân, để đất ruộng cho nông dân, dặn miễn thuế nông nghiệp cho bà con trong các hợp tác xã, ngay sau ngày giải phóng miền Nam. Trước lúc ra đi, Người muốn nghe một câu hò Huế, một làn điệu dân ca xứ Nghệ và muốn được uống một ngụm nước dừa. Ở đời, không ai có thể sống mãi và “sinh có hạn, tử bất kỳ”, đó là lẽ thường, cũng là điều nghiệt ngã của số phận - cái hữu hạn của sự sống cá thể. Vậy mà, với Hồ Chí Minh, Người không chỉ vượt lên nỗi đau, “quên nỗi mình đau để nhớ chung”, không chỉ cố chờ đợi đến ngày toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - dù không thể chờ được - mà Người còn cố chờ đến ngày Quốc khánh với một nỗi niềm, ra với đồng bào, dù chỉ nói dăm câu, gặp dân dăm phút. Nỗi niềm ấy của Người, không chỉ đồng bào Thủ đô mà đồng bào cả nước, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài thấu hiểu linh thiêng và cao cả đến nhường nào. Với Hà Nội và người dân ở Hà Nội, nỗi đau chịu tang Người da diết khôn cùng, bởi được trực tiếp đến với Người, “Ta đi qua đau khổ trước di hài”. “Bác ơi!” là tiếng gọi, tiếng khóc của tất cả mọi người, từ em nhỏ thơ ngây đến những người già từng trải, những giọt nước mắt này thay cho cả những người vắng mặt do hoàn cảnh đất nước còn chia cắt.

Hà Nội đã đón Người trong Lễ Độc lập đầu tiên, lắng nghe Tuyên ngôn Độc lập do Người đích thân soạn thảo và tuyên đọc. Hà Nội đã được nghe trực tiếp tiếng Người: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Có lãnh tụ nào trên đời gần gũi, thân thương với dân và hòa vào lòng dân đến như vậy? Hà Nội lại vinh dự thay mặt cả nước đón Người cùng Trung ương Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về sau 9 năm kháng chiến thắng lợi với kỳ tích Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu.

Hai mươi tư năm sau kể từ ngày Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, Hà Nội đau đớn vĩnh biệt Người.

Hà Nội và cả nước, bạn bè quốc tế trong giờ phút tiễn đưa Người về với tổ tiên và thế giới người hiền, có vạn người, triệu người lắng nghe đọc Di chúc của Người - Bản Di chúc 1.000 từ mà Người dồn tâm sức để viết và sửa chữa hàng năm, sửa lần cuối cùng vào dịp sinh nhật tháng 5-1969, bốn tháng sau, Người vĩnh biệt chúng ta. Bản Di chúc ấy là một đại tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, lắng đọng và kết tinh những tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, tâm hồn và tình cảm cao quý của Người - con người Việt Nam đẹp nhất, Con Người viết hoa Chân - Thiện - Mỹ mà lịch sử đã tạo nên, đã làm rạng rỡ Việt Nam, đã tỏa sáng trong nhân loại. Người khiêm nhường chỉ gọi đó là một bức thư, là mấy lời để lại cho đồng bào đồng chí. Văn kiện lịch sử vô giá này, Người đã ấp ủ và viết ra từ Hà Nội - trái tim Tổ quốc. Người sửa chữa từng câu, từng chữ, để lại cho chúng ta muôn vàn tình thân yêu, ký thác vào ta bao dự định tốt lành, tràn ngập niềm tin và tinh thần lạc quan để cổ vũ đồng bào đồng chí, còn nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế, Người nén chặt trong lòng. Người ra đi không có điều gì phải ân hận, Người chỉ có một niềm nuối tiếc, “chỉ tiếc là tiếc rằng, không được phục vụ Cách mạng, Tổ quốc và đồng bào lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Khi Tổng Bí thư Lê Duẩn (lúc đó gọi là Bí thư thứ nhất) đọc đến đoạn này thì cả Quảng trường Ba Đình lịch sử và khắp mọi nơi - dưới các loa phóng thanh trong phút đau thương vĩnh biệt - cả một biển người đã khóc, đã đồng cảm cùng nhau bởi nỗi đau lớn nhất, đã kết thành sức mạnh của đồng tâm, đồng chí, đồng lòng để đồng hành, thề quyết biến đau thương thành hành động, giải phóng miền Nam để thỏa lòng mong ước của Người, thề đưa lá cờ quyết chiến, quyết thắng của Người mà Người ký thác, trao gửi cho đồng bào đồng chí tới đích cuối cùng.

Năm lời thề của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vĩnh biệt Người được “chắt” ra từ những điều cốt yếu nhất trong Di chúc 1000 từ của Người. Cảm xúc lại trào dâng bởi thương yêu và tự hào khi chúng ta biết rằng, Người chỉ dành riêng cho mình điều tối thiểu trong cái tối đa, chỉ vẻn vẹn 79 từ Người dặn về việc riêng. Ngay việc đó vẫn chỉ thấy một tấm lòng thương dân, thương nước đến vô cùng: “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu tới đồng bào, đồng chí, tới các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý cùng bạn bè quốc tế…”. Chu đáo và ân cần là vậy, là đặc trưng nổi bật của tình thương yêu, thấm đẫm chất nhân văn Hồ Chí Minh.

Từ Di chúc của Người, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi ấy đã nhận xét, trong trái tim mênh mông của Người có tất cả tình thương mà Người dành cho mỗi chúng ta. Người đã đi trọn lô gích của một đời, trọn vẹn và toàn vẹn để dâng hiến và hóa thân. Vào lúc cuối đời, trả lời câu hỏi phỏng vấn của một nhà báo nữ Cu Ba “trong cuộc đời của Chủ tịch, đâu là điều thiêng liêng nhất?”, Người đã đặt tay lên ngực, nơi có nhịp đập trái tim, Người nói một câu thôi: “Tôi tự nguyện dâng hiến đời tôi cho nhân dân tôi, cho dân tộc tôi và cho cả nhân loại”. Những lời cảm động ấy đã tạc vào ký ức của lịch sử, ký ức của muôn đời.

Có thể nào quên những chi tiết này trong cuộc đời của Người. Cho đến lúc ra đi, trên ngực áo của Người không một tấm huân chương. Quốc hội tôn vinh Người, trao tặng Người Huân chương Sao vàng, là huân chương cao quý nhất của Việt Nam. Người đã nói lời cảm ơn và đề nghị hoãn lại, đợi đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lúc đó đồng bào miền Nam gắn huân chương cho Người cũng chưa muộn. Tự đáy lòng, Người nói rằng, mình chưa xứng đáng.

Người giải thích rằng, mình mới chỉ đi đến nơi mà chưa về đến chốn; Người có một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của cách mạng nhưng biết rằng, sẽ không gặp được đồng bào trong ngày toàn thắng. Miền Nam luôn ở trong trái tim Người là như vậy, có thương yêu và tin tưởng, có hy vọng và chờ mong với nỗi niềm day dứt khôn nguôi.

Những giọt nước mắt cửa Người thấm hai bên gối và trên ngực áo của Người cũng đẫm nước mắt. Đó là nước mắt của các bác sĩ trong tổ y tế đặc biệt đã nỗ lực hết sức để cứu chữa cho Người, thầm mong một phép nhiệm màu cho tim Người đập lại mà không được.

Người đã đi vào một khoảnh khắc thiêng - giờ Người từng viết và sửa Di chúc, giờ mà Người vẫn dành riêng để đọc báo mỗi ngày, dõi theo từng tấm gương “người tốt việc tốt”, “mỗi người tốt là một bông hoa đẹp, cả nước, cả dân tộc là một vườn hoa đẹp”. Mười năm cuối đời, Người đã gửi tặng 5.000-6.000 Huy hiệu Người tốt-Việc tốt từ em nhỏ đến các cụ già. Vậy là, chữ “Dân” đã quy tụ tất cả mọi nỗ lực cho mục đích sống của Người và “Vì dân” đã định hình lẽ sống cao thượng nhất mà Người suốt đời thực hành để chúng ta noi theo. Những chi tiết sống động ấy là những sự kiện và kỷ niệm mà Người gắn bó với Dân - từ Hà Nội, từ ngôi nhà sàn bình dị, Người hướng tới cả nước, tới cả bạn bè quốc tế, từ dân tộc đến thế giới nhân loại.

Trong hàng ngàn, hàng vạn thư và điện từ khắp năm châu bốn biển gửi tới Hà Nội - Việt Nam để chia sẻ nỗi đau buồn của chúng ta, lời của Phi Đen CátxtơRô sâu sắc biết nhường nào: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc về một lớp người đặc biệt, mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt (tác giả nhấn mạnh). Đó không chỉ là ngợi ca nhân cách và tầm vóc của Người mà còn là sự khẳng định một thực tế lịch sử, một giá trị vĩnh hằng. Sự sống mạnh hơn cái chết. Cá thể là hữu hạn mà nhân loại là vô cùng. Hồ Chí Minh đã từ Việt Nam đến với thế giới. Thế giới hiểu Việt Nam và Việt Nam được tin yêu giữa lòng bè bạn là nhờ có Người, con người “có tầm mắt đại dương” (Chế Lan Viên), biểu tượng cao quý của khát vọng tự do và suốt đời tranh đấu cho hòa bình, cho lẽ phải và sự công bằng dành cho tất cả mọi người trên trái đất này như bạn bè quốc tế đã nói về Người. Sinh thời, Người đã nghiền ngẫm các giá trị nhân sinh qua nếm trải trực tiếp mọi gian nan, khó nhọc, hiểm nguy trên đường tranh đấu, qua sự thấu hiểu và thấu cảm tâm nguyện và đời sống của muôn vạn người từ những thân phận và cảnh đời nô lệ. Bởi vậy, Người đã nâng cao sự thực hành “Thân dân” tới “Dân chủ” trong lẽ sống ở đời và đem vào sự tu dưỡng “chính tâm” của người cộng sản hiện đại những giá trị cao quý của đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính - bốn đức để làm người. Ánh sáng trí tuệ, tinh thần ấy của Hồ Chí Minh, ngọn lửa thiêng ấy của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh sáng mãi qua các thế hệ.

Đã hơn nửa thế kỷ, kể từ ngày đầu tiên Người viết Di chúc tại Hà Nội. Đã 54 năm qua, từ giây phút Người vĩnh biệt chúng ta, cũng tại Hà Nội này.

Bởi Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại nên tất cả những gì thuộc về sự nghiệp và sự sống của Người vẫn nguyên vẹn trong suy tư và cảm xúc của mỗi chúng ta. Tố Hữu đã nói hộ chúng ta điều đó  

“Tháng năm ơi! Có thể nào quên    
Hàng bóng cờ tang thắt dải đen 
Rủ giữa lòng đau ta nhớ mãi   
Cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên”…    
                           (Theo chân Bác)

Ngọn lửa đầu tiên ấy, qua trải nghiệm của lịch sử, từ mỗi cuộc đời của mỗi con người, các thế hệ nối tiếp nhau, ta nhận ra, ánh sáng ngọn lửa ấy được bắt đầu từ ngày Nguyễn Tất Thành, “Người đi tìm hình của Nước” rời bến cảng Nhà Rồng ngày 5-6-1911. Và, sau 30 năm của cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Người đã trở về Pác Bó, Cao Bằng, đặt tên “núi Các Mác”, “suối Lênin” như một lời nguyện thề suốt đời chung thủy với chủ nghĩa, một lòng một dạ kiên trì con đường cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh ngày 19-5-1941 dẫn tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự tỏa sáng rực rỡ của ngọn lửa thần kỳ này bởi người thắp lửa thiên tài Hồ Chí Minh.

Trong “Việt Nam diễn sử ca”, được viết giữa núi rừng Việt Bắc, Người dự báo, năm 1945, Việt Nam độc lập. Điều tiên tri kỳ lạ và kỳ diệu ấy đã xảy ra, từ Quốc dân đại hội Tân Trào đến Thủ đô Hà Nội, giữa Quảng trường Ba Đình rợp trời cờ đỏ sao vàng trong ngày lễ Độc lập ngày 2-9-1945.

“Người đi tìm hình của nước” giữa đêm đen nô lệ là người khai sinh ra nước Việt Nam mới với Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ - Tuyên ngôn dựng nước, lập quốc trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta.

Áng thiên cổ hùng văn được sản sinh trong thời đại mới đã vừa kế tục tinh hoa của truyền thống vừa phát huy và làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn, khí phách và bản lĩnh Việt Nam.

Từ khi Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng để dấn thân vào sự nghiệp cứu nước cứu dân đến khi Người có mặt ở Hà Nội, viết và đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người cảm nhận rằng, đó là những giây phút sung sướng nhất của đời mình, phải trải qua độ dài thời gian 34 năm (1911-1945). Cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 thế kỷ XX đã chấm dứt, khi Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy chân lý, với bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ngọn lửa đầu tiên của đời đã rọi ánh sáng cho lịch sử sang trang sử mới.

Từ làng Sen, làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê nội và quê ngoại của Người đến Thủ đô Hà Nội, chỉ mấy trăm cây số mà Người đã đi từ thuở thiếu thời đến khi tuổi đời đã hơn nửa thế kỷ để tới nơi. Đó là cuộc đi làm thay đổi hình hài, số phận của cả dân tộc từ nô lệ tới tự do. Ngọn lửa đầu tiên của Đời, Bác Hồ đã thắp lên và tỏa sáng, đang tiếp tục truyền lửa và mãi mãi tỏa sáng trong cuộc đời các thế hệ con cháu của Người để thực hiện đầy đủ và xứng đáng nhất với tâm nguyện và hoài bão của Người: Độc lập vững bền cho Tổ quốc, Tự do và Hạnh phúc thực sự cho dân tộc và nhân dân./.

Theo: Báo QĐND.
Yêu nước ST.

KHẮC PHỤC “CĂN BỆNH” NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY TRÁCH NHIỆM!

         Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta xác định: Cán bộ, công chức là công bộc của Nhân dân và có trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay, ở không ít nơi, cán bộ, công chức lại co cụm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không làm đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình. “Căn bệnh” này khiến việc giải quyết nhiều công việc chính đáng của người dân, doanh nghiệp bị đình trệ; làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

“Căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm đã được lãnh đạo Ðảng, Nhà nước nhận diện và chỉ rõ, đó là thường gặp ở những cán bộ có bổn phận thực thi, giải quyết những vấn đề, công việc thuộc phạm vi mình phụ trách nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, tìm cách đẩy sang cho người khác, đẩy lên cho cấp trên, đẩy cho cấp dưới… Vậy điều gì khiến “căn bệnh” này tồn tại và thời gian gần đây càng trở nên nổi cộm, gây bức xúc dư luận? Phân tích, tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, “căn bệnh” này sinh ra từ nhận thức về quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ý thức, trách nhiệm về vị trí công tác của một số cán bộ, công chức chưa cao.

Một số cán bộ lãnh đạo có tư tưởng sợ “mất phiếu”, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Trường hợp khác do năng lực, trình độ chuyên môn yếu, không đáp ứng được nhiệm vụ nên e dè, làm gì cũng sợ sai. Ngoài ra, hệ thống văn bản, quy định của Đảng, Nhà nước thường xuyên thay đổi, có sự chồng chéo, thiếu đồng bộ nên nhiều khi cán bộ, công chức chưa tiếp thu được đầy đủ, kịp thời, không dám làm vì sợ sai…

Sau 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, hiện tại, nước ta vẫn là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, có khoảng cách khá xa với các nước phát triển. Kìm hãm sự phát triển của đất nước, như đã nói ở trên, có trách nhiệm của “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm.

Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đặc biệt, lãnh đạo Ðảng, Nhà nước đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu các cấp, ngành, đơn vị phải kịp thời đề ra những giải pháp ngăn chặn và tháo gỡ... Mới đây nhất (ngày 16/8), chủ trì phiên họp thứ 24 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 6 tháng đầu năm 2023 và nhìn lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo: “Các cơ quan chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng thêm một số quy chế cần thiết khắc phục ngay tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy”.

Rõ ràng, để đất nước phát triển nhanh, bền vững thì việc cấp thiết và quan trọng là cần quyết tâm, quyết liệt, kiên trì chữa trị dứt điểm “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Trong đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, đó là phải có những quy chế, chính sách kịp thời, đúng đắn. Quy chế cần cụ thể, cá thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong từng khâu, tuyệt đối không để xảy ra việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.

Trường hợp đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định. Bên cạnh đó, kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc. Ở chiều ngược lại, cần có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải hết sức nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc lớn hay việc nhỏ, việc đơn giản hay phức tạp, nhiệm vụ bình thường hay quan trọng, bí mật. Ðảng ta cũng đã ban hành nhiều quy định liên quan đến trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, các công bộc của Nhân dân cần chấm dứt ngay việc đùn đẩy, nể nang, né tránh trách nhiệm, thay vào đó là tiên phong, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Khắc phục “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm, đồng nghĩa với việc xóa bỏ được những cản trở để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững./.
Yêu nước ST.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Biểu tượng của tinh hoa và khí phách dân tộc Việt Nam

“Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. ất cả những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta trong hàng nghìn năm lịch sử đều được kết tinh, hun đúc, sống dậy, tràn đầy sức mạnh hơn bao giờ hết trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, trong thời đại Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị tinh thần cao quý như độc lập, tự do, hạnh phúc, loại bỏ bất công, bất bình đẳng, hòa bình và công lý, một thế giới mới chống lại đói nghèo, bệnh tật, dốt nát. Chủ nghĩa yêu nước,giá trị hàng đầu, nhất quán, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam xuất hiện từ thời cổ đại, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, đến thời đại Hồ Chí Minh, là một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam và nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi thì đích thực là đạo Việt Nam”(1). Trải qua các giai đoạn lịch sử từ cái nôi Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc chống đô hộ Hán, Đường, qua kháng chiến chống xâm lược thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có cách biểu hiện cao thấp, sắc thái khác nhau, nhưng ngày càng phát triển cả bề rộng và sâu, đậm đà cốt cách Việt Nam. Đến giai đoạn lịch sử cận đại, khi triều Nguyễn lên ngôi, giai cấp phong kiến Việt Nam từng bước từ bỏ ngọn cờ yêu nước, giai cấp tư sản không đủ sức giương cao ngọn cờ yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được giai cấp công nhân nâng lên một tầm cao mới. Được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin) soi sáng, Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Từ đó trở đi, Người cùng với Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam - Đảng do Người sáng lập và rèn luyện - phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống, đưa vào những nội dung mới, chất lượng mới, trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế, kết hợp nhuần nhuyễn, phát huy một cách hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong toàn bộ tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa yêu nước là thứ của quý, động lực tinh thần lớn nhất cho cách mạng, kháng chiến và xây dựng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước “có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống không phải bằng lý luận, sách vở thuần túy mà chủ yếu thông qua thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người sử dụng liên tục chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn luyện vũ khí ấy ngày càng sắc bén trong trường kỳ cách mạng và kháng chiến. Người chỉ rõ: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(4) Sau gần 90 năm (1858-1945), dân tộc ta đánh Pháp, Nhật và chế độ phong kiến với tinh thần Hồ Chí Minh trong lời hiệu triệu: “Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật. Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không? Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!... Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”(5). Cuối cùng, chúng ta đã thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!(6). Khi thực dân Pháp trở lại cướp nước ta một lần nữa, lời hịch của ông cha ta tự ngàn xưa vang vọng trong lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Chúng ta phải đứng lên… Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(7). Sau chín năm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn, đem thân làm giá súng”, chúng ta đã viết nên thiên sử vàng Điện Biên, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Hơn hai mươi năm tiếp theo, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở cả miền Nam và miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ hào khí Việt Nam, khảng khái tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(8). “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(9). Cuối cùng, Mỹ phải cút, ngụy phải nhào, Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối. Chúng ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(10). Nhiều dân tộc trên thế giới bị xâm lược và đứng lên chống xâm lược, không riêng Việt Nam, nhưng như Việt Nam thì không nhiều. Nhiều người nước ngoài không hiểu nổi sức mạnh của dân tộc Việt Nam là gì? Vì sao dân tộc Việt Nam thời trung đại, không những không bị Hán hóa, mà còn giành được độc lập dân tộc? Ba lần đánh bại quân Mông, Nguyên, những kẻ luôn luôn chiến thắng từ Á sang Âu? Từ một nước nông nghiệp, khoa học kỹ thuật kém phát triển, đã vùng lên giải phóng, đánh bại các cuộc xâm lược của các đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ? Còn nhiều câu hỏi vẫn phải tiếp tục tìm câu trả lời hoàn toàn thuyết phục Việt Nam đất không rộng, người không đông, vũ khí súng đạn không nhiều, không lớn, luôn phải đối mặt với những cường quốc to lớn hơn mình gấp nhiều lần. Vậy khí phách của dân tộc Việt Nam là gì? Câu trả lời nằm ở chỗ một dân tộc biết đặt tâm lý tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu; luôn coi trọng luân lý biết hy sinh lợi ích cá nhân mình, làm lợi cho quần chúng. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh kéo dài hàng nghìn năm đã nhào nặn tâm hồn Việt Nam, đạo lý và khí phách Việt Nam. Chúng ta tự hào về một dân tộc rắn rỏi, kiên trung, hiên ngang, có tinh thần độc lập tự chủ, lạc quan, sáng tạo, thương người, chính nghĩa, đại nghĩa, trước “sóng cả không ngã tay chèo”. Những giá trị đó có tự ngàn xưa, được vun bồi, kết tinh, sống dậy trong Hồ Chí Minh, phát sáng hào quang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do; là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính nhân đạo, tượng trưng cho tinh thần của dân tộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(11); “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12); “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp mình đã”(13). Để khởi nghĩa thắng lợi, Người khái quát và nâng cao tinh thần, khí phách của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(14). Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt vời về nhiệt tình, chí khí cách mạng kiên cường, khí phách anh hùng, tinh thần độc lập tự do, một lòng kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, lâu dài, phức tạp, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thắng không kiêu, bại không nản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc. Nguyễn Trãi viết: “Lấy đại nghĩa thắng hùng tàn/Dùng chí nhân thay cường bạo”. “Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới Càn khôn bĩ rồi lại thái Nhật nguyệt tối rồi lại minh Để mở nền muôn thuở thái bình Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”. Đó là một khía cạnh đặc trưng thuộc tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam - tinh hoa và khí phách về khát vọng đổi mới, hạnh phúc và phát triển bền vững, thái bình. Hồ Chí Minh tiếp nối, phát triển, nâng cao khát vọng đó với tâm nguyện đến ngày thắng lợi sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, hơn mười ngày nay. Trong Di chúc, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(15). Thế giới khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế, đồng thời tượng trưng cho dân tộc mình, một dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thời cổ trung đại đến cận hiện đại đã tiến hành liên tục các cuộc đấu tranh anh hùng để bênh vực những giá trị đạo đức cao cả, chân chính không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại, đó là quyền sống, độc lập, tự do, hạnh phúc, công lý cho mọi dân tộc và vì mọi người, bình đẳng giữa các dân tộc, thế giới hòa bình. Năm 1980, trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, Rômét Chanđra nhấn mạnh: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(16). Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc. Hai mươi năm sau, năm 2000, trên cương vị Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới, phát biểu trong Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Rômét Chanđa có một phát hiện độc đáo khác: “Trong nửa sau thế kỷ XX, có một từ đã xuất hiện trong tiếng nói của những người bảo vệ và kiến tạo hòa bình trên thế giới, một từ mà cùng một lúc mang rất nhiều ý nghĩa: đấu tranh, dũng cảm, anh hùng; và nó còn có ý nghĩa là chiến thắng, độc lập, tự do. Từ đó là Việt Nam. Và có một cái tên luôn luôn gắn với từ này - từ chỉ tên của một đất nước. Đó là Hồ Chí Minh… Người là niềm cảm hứng cho cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc mình, và cũng là nguồn cảm hứng cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho những điều tốt đẹp nhất của nhân loại. Lời nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vang vọng khắp mọi nơi và nó đã được phụ nữ, nam giới trên khắp các châu lục, những người đang chiến đấu để giành lấy những mục tiêu thiêng liêng đó, hưởng ứng”(17). Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, “một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(18). Vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu”(19). Người “là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta”(20). Đánh giá, ghi nhận của Đảng ta và bè bạn quốc tế là sự khái quát cao, cô đọng, súc tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng cho tinh hoa và khí phách của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”. Sự phi lý của một luận điệu Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này. Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”. Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan. Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế. Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương. Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước. Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu. Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế. Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế. Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả. Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng. Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này./.

 DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA 🇻🇳⭐️🇻🇳


(Lịch sử nước ta trong thơ của Bác)


Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.


Hồng Bàng là tổ nước ta.

Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

Thiếu niên ta rất vẻ vang,

Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.


Tuổi tuy chưa đến chín mười,

Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.

An Dương Vương thế Hùng Vương,

Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.


Triệu Đà là vị hiền quân,

Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.

Nước Tàu cậy thế đông người,

Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.


Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,

Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

Hai Bà Trưng có đại tài,

Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,


Ra tay khôi phục giang san,

Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.

Tỉnh Thanh Hoá có một bà,

Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,


Tài năng dũng cảm hơn người,

Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.

Phụ nữ ta chẳng tầm thường,

Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời.


Kể gần sáu trăm năm giời,

Ta không đoàn kết bị người tính thôn.

Anh hùng thay ông Lý Bôn,

Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người.


Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.

Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.

Vì Lý Phật Tử ngu hèn,

Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.


Thương dân cực khổ xót xa,

Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,

Vì dân đoàn kết chưa sâu,

Cho nên thất bại trước sau mấy lần.


Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

Đến hồi Thập nhị sứ quân,

Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.


Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,

Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.

Ra tài kiến thiết kinh dinh,

Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.


Lê Đại Hành nối lên ngôi.

Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.

Vì con bạo ngược hoành hành,

Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.


Công Uẩn là kẻ phi thường,

Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.

Mở mang văn hoá nước nhà,

Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.


Lý Thường Kiệt là hiền thần,

Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.

Tuổi già phỉ chí công danh,

Mà lòng yêu nước trung thành không phai.


Họ Lý truyền được chín đời,

Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.

Nhà Trần thống trị giang san,

Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài.


Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:

Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,

Tung hoành chiếm nửa Âu châu,

Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la.


Lăm le muốn chiếm nước ta,

Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,

Hải quân theo bể kéo đi,

Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.


Dân ta nào có chịu hèn,

Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.

Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,

Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang.


Mênh mông một giải Bạch Đằng,

Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,

Hai lần đại phá Nguyên binh,

Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.


Quốc Toản là trẻ có tài,

Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,

Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,

Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.


Thật là một đấng anh hùng,

Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.

Đời Trần văn giỏi võ nhiều,

Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.


Mười hai đời được hiển vinh,

Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.

Cha con nhà Hồ Quý Ly,

Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.


Tình hình trong nước không yên,

Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,

Bao nhiêu của cải trân châu,

Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.


Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,

Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.

Mấy phen sông Nhị núi Lam,

Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.


Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,

Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.

Mười năm sự nghiệp hoàn thành,

Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.


Vì dân hăng hái kết đoàn,

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.

Vua hiền có Lê Thánh Tông,

Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.


Trăm năm truyền đến cung hoàng,

Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.

Bấy giờ trong nước lôi thôi,

Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà.


Bảy mươi năm nạn can qua.

Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.

Từ đời mười sáu trở đi,

Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.


Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,

Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.

Dân gian có kẻ anh hùng,

Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn.


Đóng đô ở đất Quy Nhơn,

Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.

Nhà Lê cũng bị mất quyền,

Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.


Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,

Ông đà chí cả mưu cao,

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.


Cho nên Tàu dẫu làm hung,

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.

Tướng Tây Sơn có một bà,

Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân.


Tay bà thống đốc ba quân,

Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.

Gia Long lại dấy can qua,

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.


Tự mình đã chẳng có tài,

Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.

Nay ta mất nước thế này,

Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà.


Khác gì cõng rắn cắn gà,

Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.

Từ năm Tân Hợi trở đi,

Tây đà gây chuyện thị phi với mình.


Vậy mà vua chúa triều đình,

Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.

Nay ta nước mất nhà tan

Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.


Năm Tự Đức thập nhất niên,

Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.

Hăm lăm năm sau trận này,

Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan.


Ngàn năm gấm vóc giang san,

Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

Tội kia càng đắp càng đầy,

Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.


Nước ta nhiều kẻ tôi trung,

Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.

Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,

Cùng thành còn mất làm gương để đời.


Nước ta bị Pháp cướp rồi,

Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;

Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng

Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.


Mấy năm ra sức Cần Vương,

Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,

Giang san độc lập một miền,

Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.


Anh em khố đỏ, khố xanh,

Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,

Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.


Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An

Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.

Nam Kỳ im lặng đã lâu,

Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.


Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!

Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.

Xét trong lịch sử Việt Nam,

Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.


Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,

Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.

Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,

Vì ta chỉ biết lo yên một mình.


Để người đè nén, xem khinh,

Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!

Bây giờ Pháp mất nước rồi,

Không đủ sức, không đủ người trị ta.


Giặc Nhật Bản thì mới qua,

Cái nền thống trị chưa ra mối mành.

Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,

Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.


Ấy là nhịp tốt cho ta,

Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.

Người chúng ít, người mình đông

Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.


Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!

Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.

Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,

Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.


Người giúp sức, kẻ giúp tiền,

Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.

Trên vì nước, dưới vì nhà,

Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.


Chúng ta có hội Việt Minh

Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh

Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng


Dân ta xin nhớ chữ đồng:

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!


Hồ Chí Minh - 1942




 

QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN: SỨC MẠNH QUÂN SỰ CỦA MỘT QUÂN ĐỘI PHẢI ĐƯỢC XEM XÉT TRÊN GÓC NHÌN TOÀN DIỆN

 Theo Ph. Ăng-ghen muốn đánh giá đúng đắn khả năng chiến đấu của một quân đội, cần xem xét không những mặt trang bị của nó, mà cần xem xét cả trình độ kỷ luật, tinh thần quyết chiến, khả năng và chuẩn bị của nó để chịu đựng những gian khổ của chiến tranh và sự “nhất là trạng thái tinh thần của nó, nghĩa là có thể đòi hỏi nó những gì mà không sợ làm cho nó mất tinh thần.

Những tư tưởng, luận điểm của Ph. Ăng-ghen đi sâu giải thích một cách khách quan, khoa học hiện tượng xã hội phức tạp là chiến tranh và hòa bình, quân sự và quốc phòng, khởi nghĩa vũ trang và đấu tranh cách mạng. xây dựng quân đội cách mạng và bảo vệ Tổ quốc; sự chuyển hóa tiềm lực quân sự trong chiến tranh; quan hệ giữa con người và vũ khí... Trong đó, có những quan điểm, luận điểm về xây dựng, tăng cường sức mạnh quân sự của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc của giai cấp vô sản, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cách mạng sâu sắc. Theo ông, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó và “Quân đội đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó” [1]

Dựa trên quan niệm chủ nghĩa duy vật về các quá trình lịch sử - xã hội, C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, giữa chính trị, chiến tranh, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và đối ngoại...có quan hệ mật thiết, quy định và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là yêu cầu cấp thiết phải xây dựng và tăng cường tiềm lực quân sự của nhà nước vô sản. Ông cho rằng, sức mạnh nền quốc phòng của đất nước được biểu hiện ở khả năng vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu các loại hình chiến tranh thông thưởng và hiện đại. Trong đó, tiềm lực kinh quân sự là một bộ phận đặc biệt của tiềm lực kinh tế đất nước, trực tiếp cục cấp trang bị, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất cho tiềm lực quân sự để tạo nên sức mạnh quân sự của Nhà nước vô sản. Đồng thời, sức mạnh của quân đội  phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của Nhà nước sinh ra nó. Vì vậy, “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và cá phương tiện giao thông nữa" [2].

Thực tiễn xung đột quân sự đang diễn ra giữa Nga – Ucraina đang minh chứng cho học thuyết quân sự của Ph.ăngghen…Chúng ta cần tiếp tục xem xét và đi sâu phân tích luận giải nó…



  • [1] C. Mác và Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia Sư thật, Hà nội, Tr.242.
  • [2] C. Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia Sư thật, Hà nội, Tr.235.

 Cái trống trường em


Cái trống trường em

Mùa hè cũng nghỉ.

Suốt ba tháng liền

Trống nằm ngẫm nghĩ.


Buồn không hả trống?

Trong những ngày hè

Bọn mình đi vắng

Chỉ còn tiếng ve.


Cái trống lặng yên

Nghiêng đầu trên giá,

Chắc thấy chúng em,

Nó mừng vui quá!


Kìa trống đang gọi:

Tùng! Tùng! Tùng! Tùng...

Vào năm học mới

Rộn vang tưng bừng.





 SÁNG NGỜI CHIẾN CÔNG 


Trường Sơn rừng núi điệp trùng

Bước chân chiến sỹ vui cùng thời gian

Ba lô súng khoác vượt ngàn

Rau rừng cơm nắm vinh quang một thời.

Như vì sao sáng giữa trời

Chiến công anh mãi sáng ngời chiến công

Anh đi gìn giữ non sông

Mưa bom bão lửa vẫn không sờn lòng.

Trường Sơn hùng vĩ điệp trùng

Dấu chân ấy mãi in cùng thời gian

Những khi mưa đổ nắng tràn

Tiếng bàn chân bước còn vang giữa đời.

Chiến tranh nay đã xa rồi

Trái tim người lính sáng ngời sử xanh.

Giờ đây là cựu chiến binh

Bước chân ngày ấy viết thành bài ca.


(St)



 

PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP ĐỂ NÂNG CAO
SỨC MẠNH BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO QUAN ĐIỂM CỦA
 V.I. LÊNIN VÀ HỒ CHÍ MINH

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo đất nước Nga xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền độc lập non trẻ của mình, V.I.Lênin cho rằng, trong chiến tranh nếu bên nào có khả năng huy động được toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, vận tải, các ngành kinh tế và khoa học, mọi tài nguyên, vật chất... thì bên đó sẽ hy vọng giành được thắng lợi; tất cả những điều đó lại phụ thuộc vào chế độ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Vì vậy, V.I.Lê-nin yêu cầu: "Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo con người trong mắt mình, hãy nhớ rằng chúng ta không được phép lơ là một ngày, một phút trong việc bảo vệ công nhân và nông dân chúng ta, bảo vệ những thành quả của chính họ"[1].

Trong bối cảnh đế quốc Mỹ rắp tâm phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, mưu toan mở rộng chiến tranh ra phạm vi cả nước. Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm cho miền Bắc là chỗ dựa về chính trị, tinh thần, vật chất cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, Hồ Chí Minh cho rằng, "Phải củng cố lực lượng quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng"[2] .

Trong dịp nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 tại đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Người nói: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" [3]. Người đã căn dặn toàn dân, toàn quân ta: bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước.

Đó là sức mạnh tổng hợp của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự biểu hiện trong sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần của cộng đồng các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam. Xem xét sức mạnh BVTQ phải nhìn vấn đề trên mọi phương diện, không chỉ xem xét sức mạnh về vật chất, về vũ khí trang bị..., mà còn phải xem xét sức mạnh đó về mặt tinh thần, về sức mạnh của quần chúng nhân dân. Người yêu cầu: "Chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng" [4]. Nếu chỉ dựa vào vũ khí, trang bị thì dù vũ khí, trang bị đó có tối tân, hiện đại đến đâu cũng khó có thể giành được thắng lợi./.

[1] V.I.Lê-nin (1981), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, tr.368-369
[2] Hồ Chí Minh,  (2000), Toàn tập, tập 11. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tr.234.
[3] Viện Hồ Chí Minh,  (1995), Hồ Chí Minh biên niên sử, tập 11. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr.234.
[4]  Hồ Chí Minh,  (2011), Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tr.447.

 Hồ Chí Minh - Người  anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, Người cộng sản vĩ đại, Người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản Quốc tế. Cả cuộc đời Người đấu tranh không biết mệt mỏi vì tự do của dân tộc, vì hòa bình công lý trên thế giới. Bác đã để lại cho nhân loại nền di sản văn hóa vô giá. 


Cao cả vĩ đại là thế nhưng Bác cũng chỉ là con  người bằng xương bằng thịt, Bác cũng có gia đình, có  bạn bè, có tình yêu đôi lứa như bao nhiêu con người Việt Nam chân chính khác, nhưng vì nghĩa lớn Bác đã  gác lại lợi ích riêng của bản thân cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp cứu nước vĩ đại của dân tộc.


Bác sinh  ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cuộc sống đói khổ lầm than của kiếp người nô lệ, Bác quyết ra đi tìm đường cứu nước cứu dân. Trong hành trình bôn ba nơi xứ người Bác đã phải chịu đựng bao gian khổ hiểm nguy, có lúc Bác phải làm bồi bàn, có lúc Bác phải sống trong chốn lao tù, viên gạch hồng sưởi ấm Bác trong những đêm mùa đông lạnh giá .. 


Tại sao Bác lại có được động lực to lớn và sức mạnh phi thường đến vậy? Chỉ có tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng mới giúp Bác vượt qua tất cả. Tình yêu thương sự hy sinh cao cả chính là sự thuyết phục mạnh mẽ nhất, làm rung động triệu triệu trái tim người dân đất Việt, nhân dân Việt nam tự nguyện đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. 


Toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng - Bác Hồ vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, không kể phụ nữ chân yếu tay mềm, không xá chi tuổi tác già nua, với khí thế sục sôi tất cả cho tiền tuyến. Tính thần yêu nước, sự đoàn kết đã tạo nên sức mạnh giúp dân tộc Việt nam chiến thắng kè thù xâm lược dành lại nền độc lập tự do cho Tổ quốc. 


Thắng lợi to lớn mở ra bước ngoặc lịch sử trọng đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh, đó là một thời đại rực rỡ nhất, huy hoàng nhất mãi mãi là niềm kiêu hãnh của người dân đất Việt. Bác đã để lại cho nhân dân ta một tình yêu thương vô bờ bến. Trong con mắt của  em thơ Bác như ông tiên hiền hòa, trong con mắt của Nhân dân Bác như người anh người cha gần gũi thân thương, dưới góc nhìn của các nhà quân sự chính trị Bác là một bậc "đại nhân, đại trí, đại dũng”. một con  người văn võ song toàn. 


Văn hóa phong cách của Bác là sự kết tinh sáng ngời giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Bác có khả năng mang đến niềm vui, niềm tin yêu đến mọi người khắp nơi trên thế giới. Sự ấm áp chan chứa ân tình luôn có sức thu hút cảm hóa lòng người mạnh mẽ, với bất kỳ ai không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, giới tính, nó vượt qua khỏi biên giới quốc gia đến với bạn bè khắp nơi trên thế giới .


Tài năng phi phàm đạo đức sáng ngời vì vậy Bác đã trở thành nhân vật nổi tiếng tầm cỡ Quốc tế, chính điều đó đã gây nên sự tò mò to lớn ? Tại sao Bác không vợ không con ?! Ngày 26/10  trả lời câu hỏi cuối cùng của nhà báo nước ngoài. “Tôi không nhà, không cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là gia đình tôi, Phụ lão là thân thích của tôi, phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi”… “Tôi chỉ có ham muốn làm cho Tổ quốc tôi độc lập, thống nhất, dân chủ, bao giờ đạt được mục đích tôi trở về làm một người nông dân , du sơn ngoạn thủy đọc sách làm vườn". 


Bác không màng danh lợi, mơ ước của Bác là cho nước nhà độc lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc”. Trong  cuộc Cách Mạng giải phóng dân tộc Bác đã  vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn Cách Mạng Việt Nam. Bác là kết tinh văn hóa nhân loại, Bác là tấm gương đạo đức sáng ngời về lối sống và tư tưởng Cách Mạng. Chính tư tưởng phẩm chất cao đẹp của Bác đã truyền lại sức mạnh  và niềm tin to lớn cho nhân dân Việt Nam, tư tưởng đao đức của Bác mãi mãi là tấm gương sáng ngời để chúng con học tập và noi theo ./.



 

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÀNH VÀ GIỮ CHÍNH QUYỀN THEO 
QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN

V.I.Lênin đã kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen trong điều kiện vận dụng vào Cách mạng tháng Mười Nga. Đó là trước Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã chuẩn bị những tiền đề lý luận về vấn đề bảo vệ thành quả của cách mạng vô sản từ sớm, từ xa, từ khi cách mạng tháng Mười Nga chưa diễn ra, trong đó khẳng định, sau khi giành được thắng lợi, giai cấp vô sản và nhân dân lao động phải luôn củng cố, tăng cường sức mạnh vũ trang để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Người chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để bảo vệ lấy mình[1]. Quan điểm này được hình thành từ sớm, từ xa và được xây dựng ngay cả khi Cách mạng nước Nga chưa diễn ra và được hoàn chỉnh khi Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, với thực tiễn của cuộc nội chiến cùng với đó là sự câu kết với 14 nước đế quốc, các thế lực tư sản và phản động trong nước thực hiện âm mưu can thiệp, gây chiến tranh xâm lược hòng thủ tiêu thành quả cách mạng, xóa bỏ nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới. Người chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[2].Trước tình hình đó đặt ra yêu cầu cần kíp và tất yếu khách quan đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô-viết: phải sẵn sàng chuẩn bị về mọi mặt để đánh bại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc chính quyền Xô-viết non trẻ và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lê-nin đã nêu lên một luận điểm nổi tiếng: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó khăn phức tạp hơn nhiều” và “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ, nhưng không phải cách mạng có thể biết ngay được cách bảo vệ [3]. Vấn đề này không chỉ diễn ra ở nước Nga, cũng không chỉ trong thời kỳ cách mạng vô sản mà đã trở thành một quy luật phổ biến của quá trình xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Luận điểm được chỉ ra từ sớm, từ xa khi mà phong trào cách mạng vô sản mới chỉ diễn ra ở một nước, đó là nước Nga, mà đó đã trở thành kim chỉ nam của giai cấp vô sản ở các nước và trên toàn thế giới phải lấy đó là nguyên tắc, là chân lý ngay cả trước khi tiến hành cách mạng và ngay cả khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền cách mạng về tay mình./.



[1], V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Tr165-166
[2], V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập tập 36, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.Tr.102.
[3] V.I.Lê-nin (2005), Toàn tập,  tập 37, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tr.145.

 BÀI HỌC TỪ THIẾU SỰ BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG CÔNG XÃ PARI 1871 VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI                                           CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Cho đến giữa Thế kỷ XIX, Chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và đạt được những thành tựu lớn ở các nước Tây Âu, đặc biệt tại các nước Anh, Pháp. Sự phát triển đó, một mặt tạo ra được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII. Cuộc cách mạng công nghiệp không những đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công sang nền sản xuất đại công nghiệp đồng thời còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.

Tuy nhiên, mặt trái của nó là đã tự tạo ra những mâu thuẫn không thể giải quyết được trong phạm vi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trung tâm của những mâu thuẫn đó được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Mâu thuẫn đó được bộc lộ thông qua những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Quá trình đấu tranh đó, cách mạng vô sản đã được soi sáng bằng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác, đồng thời thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản đã không ngừng bổ sung cho lý luận chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, tại thời điểm đó giai cấp công nhân chưa giành được chính quyền, chưa có Tổ quốc nên các vấn đề liên quan về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; vai trò của quần chúng nhân dân trong giành và giữ chính quyền; xây dựng liên minh và bảo vệ liên minh của giai cấp vô sản; đặc biệt là về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa… Trong điều kiện xã hội ở phương Tây, dân tộc với tính cách là một cộng đồng xã hội - bộ tộc người và chỉ được hình thành cùng với sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa tư bản, khi CNTB đại diện cho các giai cấp và tầng lớp của dân tộc tư sản để đi áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Qua thực tiễn của Công xã Paris (28/3/1871) C. Mác đã có những quan niệm đầu tiên về bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăng-Ghen đã minh chứng: “Một Pari lao động, suy nghĩ, chiến đấu, đổ máu nhưng rạng rỡ trong niềm tự hào hứng, sáng tạo lịch sử mà hớn hở mải mê xây dựng xã hội mới, hầu như quên mất bọn ăn thịt người đang ở ngay của ngõ của mình”[1].

Theo đó, ngày nay trước những biến động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam, thành quả đổi mới của toàn thể nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cho nên chúng ta phải luôn luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn kẻ thù để bảo vệ và phát triển thành quả đã đạt được./.



[1] C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (1995), Toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Tr.437.

 

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NHẬN THỨC
BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
 

Xuyên suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta luôn thể hiện rõ tinh thần chú động, tích cực bảo vệ Tổ quốc. Để giữ vững nền độc lập tự chủ của đất nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện nhiều kế sách như “tiên phát chế nhân", "khoan thư sức dân”, “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vì dân, động vi binh".. đồng thời, chăm lo xây dựng quân đội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân. Đó là cơ sở quan trọng để dân tộc Việt Nam viết lên những trang sử hào hùng với những chiến thắng như Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi-Đống Đa.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, kế sách BVTQ tử xa tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và triệt tiêu các nguy cơ, nhân tố bất lợi nhằm BVTQ từ sớm, từ xa là quan điểm thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về quốc phòng, an ninh, BVTQ trong tình hình mới. Kế thừa những kinh nghiệm, truyền thống quý báu của dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn lịch sử, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển lý luận BVTQ, đặc biệt là quan điểm BVTQ “từ sớm, từ xa”. Trên cơ sở đó, chủ động, tích cực xây dựng, củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia; chủ động ngăn ngừ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kị thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; giữ nước ngay từ thời bình phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu lớn, song cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự trỗi dậy của nghĩa dân tộc cực đoan; xung đột cục bộ tiếp tục diễn biến phức tạp trong  bức tranh của đời sống chính trị thế giới; cuộc chiến giữa Nga và Ukraina vẫn chưa có hồi kết và khó dự báo. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang phát triển mạnh mẽ, trực tiếp tác động đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội trong đó có quốc phòng, an ninh. Kinh tế toàn cầu có dấu hiệu suy giảm, kinh tế nước ta tiếp tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng; chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tin quốc tế như ngày nay. Nhưng cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề đặt ra cần nhận thức và giải quyết. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa", thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen. Vì vậy, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Petrovietnam - 48 năm phát triển cùng đất nước

 Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) được thành lập với sứ mệnh góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và là trụ đỡ kinh tế trong xây dựng, phát triển đất nước. Sau 48 năm xây dựng và trưởng thành (3-9-1975 / 3-9-2023), Petrovietnam đã có những bước phát triển vượt bậc, toàn diện cả về quy mô và chiều sâu, hoàn chỉnh đồng bộ từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí đến công nghiệp khí, lọc hóa dầu, điện và năng lượng tái tạo, dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao.

Hiện thực hóa mong ước về một ngành dầu khí vững mạnh

Năm 1975 là năm trọng đại trong lịch sử ngành dầu khí Việt Nam, khi Đảng, Chính phủ quyết tâm hiện thực hóa mong ước của Bác Hồ với cuộc trường chinh đi tìm lửa trong lòng đất mà cả dân tộc trông đợi để phát triển kinh tế đất nước. Ngay sau khi thống nhất đất nước, ngày 3-9-1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (tiền thân của Petrovietnam) được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ theo Quyết định số 170/CP của Hội đồng Chính phủ.

Năm 1986 cũng là năm ngành dầu khí đánh dấu mốc son cho sự đổi thay khi mỏ dầu Bạch Hổ tại thềm lục địa Việt Nam đã cho ra đời những tấn dầu thô thương mại đầu tiên. Sự kiện này không chỉ có giá trị ghi danh Việt Nam vào danh sách các nước sản xuất dầu khí thế giới mà quan trọng hơn, sự kiện này được xem như một trụ đỡ về tinh thần và cả vật chất đối với đất nước trong giai đoạn khó khăn.

Đồng hành với đất nước trong công cuộc đổi mới, ngành dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, đóng góp cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Qua đó góp phần đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng và kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới. Hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa cũng đã góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

Qua gần nửa thế kỷ, Petrovietnam đã đi từ “không” đến “có”, làm chủ được công nghệ, khoa học tiên tiến nhất, xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ. Tính từ năm 1986 đến hết năm 2022, tổng doanh thu của Petrovietnam đạt hơn 400 tỷ USD. Trong giai đoạn 2006-2015, Petrovietnam đóng góp trung bình 20-25% tổng thu ngân sách Nhà nước, 18-25% GDP cả nước. Từ năm 2015 đến nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường và mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, Petrovietnam vẫn đóng góp khoảng 10% tổng thu ngân sách nhà nước (trong đó từ dầu thô là 5-6%), 10-13% GDP cả nước.

Trong dòng chảy của lịch sử, sẽ không thể tránh khỏi thăng trầm và Petrovietnam cũng không phải ngoại lệ. Từ năm 2019 đến nay là thời kỳ Petrovietnam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong lịch sử phát triển của ngành dầu khí. Công nghiệp dầu khí thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng khiến giá dầu giảm xuống mức thấp kéo dài, cá biệt có thời điểm giá dầu xuống mức âm (-37USD/thùng) vào cuối năm 2019.

Tình hình Biển Đông phức tạp, chiến tranh thương mại, biến đổi khí hậu, khủng hoảng do đại dịch Covid-19 đã tác động trực tiếp đến mọi mặt hoạt động của Petrovietnam. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về dầu khí, các chính sách hỗ trợ ngành dầu khí bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập, thiếu thống nhất...

Mặc dù vậy, với tinh thần cầu thị, bản lĩnh kiên cường, đoàn kết và ý chí vượt qua khó khăn, cán bộ, công nhân viên, người lao động dầu khí đã luôn nỗ lực không ngừng, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2020, Petrovietnam vững vàng vượt qua khủng hoảng kép do dịch bệnh và giá dầu giảm sâu. Năm 2021, phục hồi tăng trưởng.

Nhờ áp dụng linh hoạt nhiều giải pháp sản xuất kinh doanh và quản trị rủi ro, năm 2022, Petrovietnam đã đạt kỷ lục khi cán mốc doanh thu hơn 930 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 170,6 nghìn tỷ đồng, bằng 9,6% tổng thu ngân sách nhà nước. Năm 2022 cũng là năm thứ ba công tác “quản trị biến động” của Petrovietnam đạt được thành tích ấn tượng. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định toàn diện đến kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Nỗ lực phát triển trở thành Tập đoàn công nghiệp năng lượng quốc gia

Sau 48 năm kể từ khi thành lập, Petrovietnam đã trở thành một tập đoàn kinh tế lớn mạnh có tổng tài sản hợp nhất gần 43 tỷ USD, nguồn vốn chủ sở hữu hợp nhất 22,5 tỷ USD. Giai đoạn 2016-2022, tổng tài sản tăng 3,9%, với đội ngũ hơn 50.000 cán bộ, công nhân viên đang lao động sáng tạo trên các lĩnh vực của chuỗi giá trị dầu khí; đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực; đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, ban lãnh đạo Petrovietnam đã sớm đề ra định hướng phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo trong chiến lược phát triển dài hạn. Petrovietnam đã và đang từng bước chuẩn bị nguồn lực, xác định mô hình đầu tư, sẵn sàng tạo đà cho việc mở rộng sang lĩnh vực năng lượng tái tạo một cách phù hợp, hiệu quả, trên cơ sở tận dụng thế mạnh của Petrovietnam và các đơn vị thành viên, kết hợp với chiến lược phát triển ngành dầu khí.

Lãnh đạo Petrovietnam luôn tâm niệm, trong giai đoạn mới, cách tri ân tốt nhất với lớp người đi trước chính là phải kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dầu khí, không ngừng bồi đắp, gìn giữ giá trị cốt lõi “Khát vọng-trí tuệ-chuyên nghiệp-nghĩa tình”, để ngọn lửa nhiệt huyết luôn rực cháy trong trái tim mỗi người lao động dầu khí, cống hiến hết mình, làm tròn trách nhiệm phát triển chuỗi giá trị năng lượng làm giàu cho Tổ quốc.

Nói về mục tiêu phát triển trong tương lai của Petrovietnam, đồng chí Lê Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Petrovietnam cho biết, vượt qua mọi khó khăn, Petrovietnam thực hiện thành công các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó, xác định được mục tiêu và giá trị cốt lõi để xây dựng, phát triển Petrovietnam trong tương lai. Đó là xây dựng và phát triển Petrovietnam thành tập đoàn công nghiệp năng lượng hàng đầu đất nước, khu vực; có vị trí và vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.