Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

THAM NHŨNG TỒN TẠI Ở BẤT KÌ CHẾ ĐỘ, XÃ HỘI NÀO

 

Trước hết cần thấy rằng, tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện, nó ra đời và gắn liền với sự tồn tại, phát triển của xã hội, là hiện tượng xã hội tiêu cực mà chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Do đó, cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực, không để quyền lực bị tha hóa, lạm dụng. Bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến phòng, chống tham nhũng, tuỳ vào đặc điểm và các mức độ khác nhau.

Về quan điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không chống tham nhũng, tiêu cực thành công nếu không đa nguyên, đa đảng”, đây rõ ràng là luận điệu sai trái, xuyên tạc. Bởi, khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn thường xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế - xã hội cao. Thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam hiện nay đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng, tiêu cực trong xã hội. Ngay như ở nước Mỹ (điển hình của dân chủ tư sản phương Tây) dù là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn cứ xảy ra, dư luận thế giới cũng từng chấn động trước các vụ tham nhũng nghiêm trọng. Như trường hợp ông Rod Blagojevich, cựu Thống đốc bang Illinois bị tuyên 14 năm tù giam vì tội tham nhũng, trong đó có tội định bán chiếc ghế Thượng Nghị sỹ Illinois bỏ trống sau khi ông Barack Obama đắc cử Tổng thống tháng 11/2008. Hay gần đây báo chí của nước Mỹ đưa tin, bản cáo trạng đối với Thượng nghị sĩ Bob Menendez về tội tham nhũng trong việc giúp đỡ chính phủ Ai Cập, buộc ông Menendez tạm thời rời khỏi vị trí người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ từ 22/9/2023 sau khi bị tòa án khu vực phía Nam New York truy tố về một loạt tội danh tham nhũng, hối lộ…

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ PHÒNG –CHỐNG THAM NHŨNG

 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, cố tình phủ nhận thành quả, lấy cớ kích động chống phá. Cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn của chúng để chống phá công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên những nội dung sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng, lãng phí và suy thoái thành công nếu không đa nguyên, đa đảng. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng đối lập mới chống tham nhũng thành công. Đây là chiêu bài được các thế lực thù địch, phản động diễn đi diễn lại mang tính sáo rỗng, cũ mòn.

Thứ hai, họ vu cáo rằng, chính quyền hạn chế quyền người dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó quy kết xã hiệu thiếu dân chủ trong chống tham nhũng, tiêu cực, thậm chí còn rêu rao “càng chống tham nhũng, tiêu cực thì càng tham nhũng, tiêu cực”. Đan xen với đó, họ ca ngợi thuyết “tam quyền phân lập”, ra sức rêu rao tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” giống như ở một số nước phương Tây mới có dân chủ trong chống tham nhũng.

Thứ ba, khi các vụ án liên quan đến tham nhũng, tiêu cực được khởi tố điều tra, xét xử thì các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lại suy diễn là do “đấu đá nội bộ”, “phe phái thanh trừng”… Khi các bản án nghiêm minh được công bố, họ lại vu cáo đó là do “bị triệt hạ”; còn nếu bản án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thì họ mỉa mai “có tiêu chuẩn kép”, “tham nhũng chỉ tắm từ cổ”! Từ đó vu cáo công cuộc phòng, chống tham nhũng chỉ là hình thức, không có kết quả, đâu lại vào đó… Họ tung ra nhiều quan điểm, luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá nhằm làm giảm sút, xói mòn niềm tin của nhân dân trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta lãnh đạo. Từ đó, đòi phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý bất mãn trong một bộ quận quần chúng, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục xác định: “…Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo” là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)…”. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực. Quan điểm quản trị ngày nay không chỉ dừng lại ở việc đào tạo đội ngũ lao động đơn thuần mà tiến tới phát triển nguồn nhân lực “phù hợp” mới là tài sản của doanh nghiệp, của đất nước. Phù hợp ở đây chính là một đội ngũ cán bộ chất lượng cao - phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là trong nền công nghiệp 4.0, góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho quốc gia và doanh nghiệp.

THAY ĐỔI TƯ DUY QUẢN LÝ CÁN BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Ở Việt Nam, thuật ngữ chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn từ năm 2018 khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vào ngày 3-6-2020. Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số. Chuyển đổi số không chỉ giúp tăng năng suất, giảm chi phí mà còn mở ra không gian phát triển mới, tạo ra các giá trị mới ngoài các giá trị truyền thống vốn có. Thế giới luôn vận động, biến đổi. Mỗi con người muốn tồn tại và phát triển đều cần hội nhập, học tập, bồi dưỡng để thích nghi nếu không muốn bị bỏ lại ở phía sau. Do đó, muốn chuyển đổi số trước hết cần phải nhanh chóng chuyển đổi về tư duy, nhận thức, sau đó dần chuyển đổi cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ số.

Với công tác quản trị nhân sự, khi mọi vấn đề đều hầu như phụ thuộc vào công nghệ thì việc áp dụng chuyển đổi số là cần thiết để đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều này sẽ giúp cho các đơn vị tối ưu hóa quy trình quản lý nhân sự, giảm thiểu thủ tục giấy tờ, nâng cao tính chính xác và thuận tiện hơn, nhanh hơn trong quá trình quản lý, điều hành. Bên cạnh đó, việc áp dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực quản trị nhân sự có thể tăng tính minh bạch, giảm bớt các sai sót so với cách làm thủ công trước đây.

Hẳn chúng ta đều nhớ hình ảnh vị Cha già dân tộc luôn ngồi gõ máy chữ để soạn thảo các văn bản trong khi phần đông mọi người khi ấy vẫn đang chỉ biết viết tay trên giấy. Người còn biết và thông thạo nhiều ngoại ngữ. Trong bản Lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Bác Hồ đã ghi: “Biết các thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Nhưng thực tế khi đi thăm nước ngoài, cũng như đón tiếp các đoàn ngoại giao tới thăm và làm việc tại Việt Nam, chúng ta được biết Bác đã sử dụng thành thạo, thuần thục nhiều ngoại ngữ khác, như: Tiếng Thái Lan, Tây Ban Nha, Ả Rập… và chưa kể 54 tiếng dân tộc của Việt Nam. 

Ðầu tháng 2-1922, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và những người cách mạng Algeria, Tunisia, Maroc, Madagascar ở Paris họp bàn và cùng nhau lập ra Hội hợp tác người cùng khổ, đóng cổ phần để ra một ấn phẩm báo chí thật sự của các thuộc địa bằng tiếng Pháp. Báo Người cùng khổ - Le Paria ra hằng tháng, măng-sét báo ghi bằng ba thứ tiếng: Pháp, Arab và chữ Hán, đã góp phần truyền tải những thành quả mang tính thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga, tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết đấu tranh giành tự do, độc lập. Đó là những sáng kiến kiệt xuất không thể phủ nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhờ có khả năng giỏi ngoại ngữ mà Bác đã thực hiện được một việc làm vô cùng ý nghĩa trong hành trình tìm đường cứu nước của Người. 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã dẫn đầu nhiều đoàn đàm phán đi nước ngoài và trực tiếp đàm phán bằng ngôn ngữ của nước sở tại. Sử dụng thông thạo nhiều ngoại ngữ là điều kiện hết sức thuận lợi trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Rõ ràng, Bác là minh chứng rõ nét nhất, là tấm gương ưu tú nhất trong tư duy thay đổi, học tập để hội nhập, chuyển đổi. Muốn chuyển đổi số để hội nhập, việc sử dụng tốt tin học và ngoại ngữ là yếu tố không thể thiếu của mỗi nhân sự, nhất là đối với nhân lực quản lý, cấp cao.

HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ

 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng của người cán bộ phải được thường xuyên rèn giũa, giống như ngọc càng mài càng sáng, thể hiện rõ trong công tác và trong sinh hoạt thường ngày. Học và làm theo Bác, ở các đơn vị cả nhà nước hay tư nhân đều đang hình thành văn hóa công sở. Những quy tắc ứng xử trong môi trường làm việc; cách tạo sự kết nối, đoàn kết đối với các cá nhân để trở thành một tập thể vững mạnh; các hoạt động thi đua - khen thưởng để tạo động lực cố gắng… đã và đang nhân rộng ở rất nhiều đơn vị, công ty, tập đoàn trong cả nước.

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác đánh giá cán bộ, vì: “Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải là dễ”. Để “hiểu biết cán bộ”, cùng với việc yêu cầu người đánh giá cán bộ phải tự “sửa những khuyết điểm của mình”, còn phải có cách đánh giá đúng cán bộ, nhất là có những tiêu chí để nhận biết cán bộ tốt hay không tốt, với mục tiêu nhằm xây dựng Đảng ta thành một Đảng thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đánh giá cán bộ từ đạo đức đến chuyên môn xuất phát từ công tác quản lý nhân sự. Bộ phận này có nhiệm vụ nhận xét, báo cáo và tham mưu với lãnh đạo về tình hình nhân sự ở mỗi bộ phận trong đơn vị, để từ đó tìm ra được những nhân tố xuất sắc, chọn được người có năng lực đúng vị trí xứng đáng để phát huy tốt nhất khả năng của họ.