Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH - NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN (19/5/1959 - 19/5/2024)

 I. SỰ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦA ĐOÀN 559 - BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Sự ra đời của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để giữ vững liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc, bảo đảm cho Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng ở miền Nam, ta mới chỉ có một tuyến liên lạc qua miền tây Quảng Trị do Liên khu ủy 5 phụ trách, chỉ đạo từ giới tuyến trở vào và Ủy ban Thống nhất Trung ương phụ trách từ giới tuyến trở ra. Tuy nhiên, con đường này không thể đáp ứng được yêu cầu vận tải người và vũ khí với số lượng lớn khi cách mạng miền Nam phát triển.
Bước sang năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Tháng 1/1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 15 (khóa II) đã đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng về nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trước tình hình đó, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (sau gọi là Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc với phương thức vận chuyển ban đầu hết sức thô sơ, chủ yếu là đi bộ, mang vác, gùi thồ.
Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam, tổ chức đưa đón bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại. Năm 1959, Đoàn có nhiệm vụ soi đường, bảo đảm giao thông liên lạc từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển gấp 7.000 súng bộ binh, tổ chức bảo đảm đưa 500 cán bộ trung cấp, sơ cấp hành quân vào chiến trường làm nòng cốt xây dựng lực lượng chủ lực.
Để hoàn thành nhiệm vụ, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định biên chế bước đầu của Đoàn là 500 cán bộ, chiến sĩ. Ngoài Đoàn bộ, Đoàn được tổ chức thành Tiểu đoàn vận tải bộ 301 và các bộ phận: xây dựng kho, bao gói hàng, sửa chữa vũ khí, chế biến thực phẩm.
Này 19/5/1959, ngày Bộ Chính trị và Thường trực Tổng Quân ủy triệu tập Ban Cán sự chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường chi viện cho chiến trường miền Nam cũng là ngày truyền thống của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.
Đầu tháng 6/1959, Đoàn 559 tổ chức đội khảo sát mở tuyến vào Nam bắt đầu từ Khe Hó (nằm giữa một thung lũng ở tây nam Vĩnh Linh), sau đó vạch tuyến phát triển về hướng Tây Nam, điểm đặt trạm cuối cùng là Pa Lin, kế cận trạm tiếp nhận của Khu 5. Con đường này phải vượt qua nhiều dãy núi cao hiểm trở, khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật, khẩu hiệu hành động của Đoàn là: “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”; phải chủ động tránh địch và bí mật.
Ngày 13/8/1959 chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn. Sau 8 ngày đêm vượt qua bao sông sâu, suối dữ, đèo cao và hệ thống đồn bốt chốt chặn của địch, ngày 20/8/1959, chuyến hàng đầu tiên được gùi bộ trên tuyến đường bàn giao cho Liên khu 5 tại Tà Riệp gồm 20 khẩu tiểu liên Tuyn, 20 khẩu súng trường Mát, 10 thùng đạn tiểu liên và đạn súng trường. Chuyến hàng đầu tiên tuy ít ỏi, song đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Khu 5, thể hiện quyết tâm của Đảng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của quân, dân miền Bắc gửi tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Sau khi ổn định, bước đầu phát triển về tổ chức, lực lượng và vận chuyển những chuyến hàng đầu tiên thành công, ngày 12/9/1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Kết thúc năm 1959, Đoàn 559 đã chuyển được vào Khu 5 số hàng gồm 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn và một số quân dụng thiết yếu khác, đưa 542 cán bộ, chiến sĩ vào làm nhiệm vụ ở miền Nam. Tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh được thiết lập, thật sự là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam.
2. Sự phát triển nhanh chóng của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn và hệ thống đường Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn cách mạng miền Nam
Giai đoạn 1960 - 1964: Những năm đầu xây dựng tuyến chi viện chiến lược.
Ở miền Nam, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng đã có bước phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường. Vị trí, vai trò của Đoàn 559 ngày càng quan trọng, nhiệm vụ của Đoàn ngày càng nặng nề. Trong khi đó, địch ngày càng tăng cường lùng sục, đánh phá ác liệt hơn. Ngày 1/9/1960, Hội nghị Ban cán sự Đoàn 559 ra nghị quyết nêu rõ: “Phải quyết tâm tự lực cánh sinh, tranh thủ sử dụng đi đường cũ, đồng thời tiếp tục soi đường mới để làm đường dự bị”.
Tháng 11/1960, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn 70, lực lượng nòng cốt là Tiểu đoàn 301. Xuất phát từ tình hình thực tế, phương thức vận chuyển của Đoàn được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, nhanh chóng chuyển đổi phương thức hoạt động mới, từ phòng tránh bị động tiến tới phòng tránh tích cực với phương châm: Đánh địch mà đi, đánh địch để vận chuyển[1].
Trong khi tuyến giao liên vận tải quân sự từ miền Bắc được mở dọc theo dãy Trường Sơn tiến dần vào phía Nam thì ở Trung Bộ, các con đường giao liên được mở tiếp vào các khu căn cứ Tây Nguyên và từ miền Đông Nam Bộ các đội vũ trang tuyên truyền cũng tiến hành soi đường ra Bắc. Đến cuối năm 1960, ta đã thiết lập được tuyến giao liên vận tải từ Trung Bộ vào miền Đông Nam Bộ, tuyến giao liên quân sự Trường Sơn thật sự trở thành cầu nối giữa miền Bắc với các căn cứ miền Nam.
Trong mùa khô 1960 - 1961, Đoàn 559 đã vận chuyển giao cho chiến trường được 30 tấn vũ khí, bảo đảm lương thực cho gần 2.000 cán bộ vào chiến trường, có chân hàng dự trữ cho các đợt vận chuyển tiếp theo.
Ngày 31/1/1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1961 - 1965) và phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam. Trong đó có nhiệm vụ: Mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cả đường bộ và đường biển... nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế vận chuyển phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam. Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhất trí với đề nghị của ta mở tuyến đường vận tải trên đất Lào, đồng thời cũng đề nghị dùng đường đó để vận chuyển một số nhu cầu thiết yếu tới Nam Lào, cùng Lào mở rộng vùng giải phóng ở khu vực này. Ngày 14/6/1961, Đoàn 559 chính thức bước vào hoạt động trên tuyến Tây Trường Sơn.
Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QP phát triển Đoàn 559 tương đương cấp sư đoàn, quân số 6.000 người. Không chỉ phát triển về số lượng, Đoàn 559 đã có bước phát triển quan trọng về chất lượng. Các chiến sĩ Trường Sơn vừa là người lính vận tải, vừa là chiến sĩ bộ binh, công binh, vừa công tác, vừa chiến đấu.
Đến cuối năm 1964, bộ đội tuyến 559 cùng các đơn vị vũ trang, thanh niên xung phong và giao thông Quân khu 4 đã xây dựng được tuyến hành lang vận tải gồm nhiều trục đường gùi thồ và một trục đường cơ giới ở Tây Trường Sơn, thực hiện được chiến dịch vận chuyển quy mô lớn mà Quân ủy Trung ương giao. Về lực lượng, sau hơn 5 năm hoạt động, quân số của Đoàn 559 lên đến 8.000 người.
Kết thúc năm 1964, Đoàn 559 đã đưa đón quân vào Khu 5: 15.896 người, Nam Bộ: 1.571 người.
Giai đoạn 1965 - 1968: Tuyến vận tải cơ giới đường Hồ Chí Minh vươn sâu chi viện cho chiến trường miền Nam góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Ngày 3/4/1965, Thường trực Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết tăng cường nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư lệnh 559: Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn 559 là mở đường và tổ chức vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam và Hạ Lào; đồng thời có nhiệm vụ bảo đảm vật chất và an toàn cho các lực lượng hành quân, bảo vệ hành lang chống địch tập kích bằng đường bộ và đường không, phối hợp và giúp đỡ các địa phương củng cố vùng giải phóng ở dọc hành lang.
Bộ Tư lệnh 559 có ba lực lượng chính là: lực lượng mở đường mới, giữ gìn và sửa chữa đường cũ; lực lượng vận chuyển và giữ kho; lực lượng bảo vệ. Ngoài ra còn có các lực lượng bảo đảm khác như: thông tin, quân y, sửa chữa... Về tổ chức, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh của Đoàn tương đương cấp quân khu trực thuộc Quân ủy Trung ương.
Quyết định trên đánh dấu bước phát triển mới của Đoàn 559, từ vận tải thô sơ chuyển sang vận tải cơ giới; từ quy mô cấp sư đoàn lên quy mô cấp quân khu với những nhiệm vụ chiến lược to lớn, vô cùng khó khăn, phức tạp trên một địa bàn rộng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tháng 2/1966, Bộ Tư lệnh 559 giải thể các tuyến, tổ chức thành 8 binh trạm; mỗi binh trạm phụ trách một khu vực nhất định và đều có một tiểu đoàn công binh.
Đầu năm 1967, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên được Bộ Quốc phòng điều làm Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương. Với tác phong sâu sát, cụ thể, sau khi đã khảo sát nắm chắc tình hình trên toàn tuyến, Đồng chí đã cùng Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh có nhiều quyết định sáng tạo nhằm đổi mới phương châm, phương thức hoạt động, xây dựng vững chắc thế trận Trường Sơn.
Bắt đầu từ mùa khô 1966 - 1967, đường giao liên tách khỏi đường ô tô; hệ thống cầu đường được đổi mới một cách cơ bản trong thế trận hiệp đồng chiến đấu giữa các quân, binh chủng trên toàn tuyến; nhờ đó công tác vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam tăng gấp 25 lần, giao cho bạn Lào tăng gấp 12 lần so với năm 1966, đưa bộ đội vào chiến trường tăng gấp 2,5 lần so với chỉ tiêu Bộ giao.
Cuối năm 1967, Đoàn 559 đã xây dựng được một mạng đường vững chắc với 2.959km đường ô tô bao gồm các trục dọc chính, trục dọc phụ, đường ngang, đường vòng tránh và đường vào kho lấy hàng. Đây là một thế trận cầu đường có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Sự phát triển của hệ thống đường Hồ Chí Minh đã phục vụ đắc lực cho công tác vận chuyển chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Năm 1968, Đoàn 559 đã có 25 binh trạm, 23 trung đoàn; quân số lên đến 80.000 người.
Giai đoạn 1969 - 1972: Mở rộng đường Hồ Chí Minh, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Hệ thống đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn không chỉ phát triển vào các chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên mà còn được phát triển mạnh ra phía Bắc, tiếp giáp với hậu phương lớn miền Bắc, đáp ứng với yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam.
Tháng 7/1970, Bộ Tư lệnh 559 được đổi tên thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Các binh trạm được tổ chức thành các sư đoàn; gồm 8 sư đoàn, 1 đoàn chuyên gia (tương đương sư đoàn), 16 trung đoàn trực thuộc, 6 binh trạm.
Tháng 7/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức thành: 5 Bộ Tư lệnh khu vực, 6 binh trạm trực thuộc, 6 trung đoàn công binh trực thuộc, 2 trung đoàn ô tô, 3 trung đoàn phòng không, 2 trung đoàn đường ống xăng dầu, 1 trung đoàn thông tin, 4 quân y viện và các cơ quan trực thuộc. Bộ Quốc phòng cho phép tăng thêm 61 tiểu đoàn, nâng tổng số lên 188 tiểu đoàn và tương đương trực thuộc các binh trạm; bổ sung 35.000 quân (20.000 bộ đội và 15.000 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông), nâng tổng quân số lên 92.000 người[2].
Ngày 5/5/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn huy động toàn bộ lực lượng công binh và một số lực lượng khác đồng loạt ra quân mở “đường kín” (là các con đường chạy dưới các tán cây của rừng Trường Sơn). Đến cuối năm 1971, toàn tuyến đã mở được 1.190km đường kín. Vận chuyển trên đường kín đã trở thành xu thế chủ đạo trên đường Hồ Chí Minh, được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đánh giá rất cao, coi đó là một thành tựu có ý nghĩa chiến lược, tạo được thế bất ngờ đối với không quân địch. Hệ thống đường kín tiếp tục được phát triển trong những năm tiếp theo.
Cuối năm 1972, ta đã xây dựng được một mạng đường giao thông vận tải chiến lược gồm nhiều trục dọc, ngang và các đường vòng tránh, hình thành hệ thống đường cho các kiểu, loại xe cơ giới, với tổng chiều dài 11.000km. Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến của toàn miền Nam trong năm 1972 đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn phải ký Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng góp phần cho cuộc tiến công chiến lược của quân và dân Lào giành thắng lợi toàn diện, buộc địch phải ký Hiệp định Viêng Chăn.
Giai đoạn 1973 - 1975: Hoàn thiện thế trận đường Hồ Chí Minh, cùng cả nước tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Đầu năm 1973, mạng đường chiến lược đã được xây dựng, mở rộng trên địa bàn Tây Trường Sơn, về cơ bản vẫn là tuyến đường đất, chỉ bảo đảm vận chuyển được trong mùa khô; còn trên địa bàn Đông Trường Sơn, ta chưa có điều kiện mở đường qua Tây Nguyên. Để đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng vận chuyển, tăng tốc độ xe chạy, tăng mật độ phương tiện nhằm tổ chức vận chuyển lớn, cơ động lớn và nhanh các binh đoàn chủ lực và binh khí kỹ thuật đến các hướng tác chiến, ta cần nhanh chóng xây dựng, phát triển, hoàn thiện mạng đường giao thông vận tải chiến lược phía Đông, Tây Trường Sơn.
Để hoàn thành khối lượng lớn công việc được giao, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng phù hợp với tình hình; đồng thời được tăng cường lực lượng, phương tiện. Mùa khô 1973 - 1974, lực lượng công binh được triển khai trên toàn tuyến làm nhiệm vụ xây dựng, khôi phục và bảo đảm đường vận chuyển.
Giữa năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn có tất cả 8 sư đoàn binh chủng, 20 trung đoàn và tương đương trực thuộc, hàng chục tiểu đoàn trực thuộc các cục nghiệp vụ; tổng quân số lên đến 100.495 người, trong đó có 13.155 sĩ quan[3].
Cuối năm 1974, tuyến vận tải quân sự chiến lược trên đường Hồ Chí Minh đã hoạt động cả mùa khô và mùa mưa, hình thành một hệ thống đường chiến lược nối liền từ hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường, bảo đảm cho tất cả loại binh khí kỹ thuật cơ động trong đội hình hành quân của các quân đoàn, binh chủng hợp thành ra trận.
Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng, vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000km; đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc[4]... Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.
II. NHỮNG ĐÓNG GÓP NỔI BẬT CỦA ĐOÀN 559 - BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN, ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VẺ VANG
1. Đường Hồ Chí Minh là tuyến vận tải quân sự chiến lược, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho các chiến trường
Hệ thống đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn ngày càng hoàn chỉnh, sức người, sức của đưa vào chiến trường miền Nam ngày càng tăng. Tính trong 6 tháng cuối năm 1959 (khi đường Hồ Chí Minh mới hình thành), với phương thức gùi bộ là chủ yếu, Đoàn 559 mới vận chuyển được 32 tấn vũ khí giao cho Khu 5, thì trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lượng hàng đưa đến các chiến trường là hơn 27.900 tấn, cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, đơn vị kỹ thuật cung cấp cho các mặt trận. Khi ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lượng hàng vận chuyển tới các chiến trường lên tới 66.500 tấn. Đặc biệt, trong hai năm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lượng hàng đã giao cho các chiến trường hơn 410.000 tấn. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ đội Trường Sơn, qua tuyến đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu[5]...
Cùng với vận chuyển hàng quân sự, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tuyến giao thông vận tải Trường Sơn đã bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đi vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận lớn, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh. Không chỉ là tuyến vận chuyển sức người và hàng hóa từ hậu phương ra tiền tuyến, Trường Sơn còn có một vị trí chiến lược quan trọng như là “xương sống” ở bán đảo Đông Dương, là nơi “đứng chân” của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật; là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng.
Trong suốt 16 năm, Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, góp phần to lớn làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào. Đặc biệt, từ năm 1973 đến 1975, Bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực vượt bậc, ra sức xây dựng, tu sửa, nâng cao chất lượng cầu đường đáp ứng yêu cầu của thời cơ chiến lược mới trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, quán triệt phương châm “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, Bộ đội Trường Sơn đã nhanh chóng tổ chức vận chuyển từng binh đoàn chủ lực lớn của quân đội ta, đưa một khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật lớn tới chiến trường miền Nam; luôn bám sát các mũi tiến công của bộ binh, vừa tháo gỡ bom mìn, vừa nhanh chóng sửa chữa, bắc lại cầu mới cho quân ta tiến vào giải phóng các thành phố, thị xã và giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
2. Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, chiến trường tổng hợp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó, Bộ đội Trường Sơn là lực lượng nòng cốt
Để đánh bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, thực hiện thắng lợi phương châm “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, quân, dân ta trên Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh luôn gắn liền vận chuyển với chiến đấu, chiến đấu là điều kiện tiên quyết để vận chuyển thắng lợi. Trên từng cung đường, mỗi chiến công của nhiệm vụ vận tải luôn đi cùng với những thành tích đánh địch bảo vệ đường, kho, trạm. Các lực lượng ta ở Trường Sơn còn tích cực, chủ động thực hiện nhiều chiến dịch lớn, đập tan chiến lược “chiến tranh ngăn chặn” của đế quốc Mỹ.
Bộ đội Trường Sơn từ một đơn vị nhỏ bé ban đầu đã trưởng thành nhanh chóng, bao gồm đủ các lực lượng: công binh, vận tải (ô tô, đường sông, đường ống), phòng không - không quân, bộ binh, giao liên, thông tin, hóa học, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… thực sự trở thành một chiến trường tổng hợp, tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng trên quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường. Với tinh thần “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Máu có thể đổ, đường không thể tắc”, bộ đội và dân công hỏa tuyến Trường Sơn đã bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống.
Trên mặt trận Trường Sơn, các lực lượng, các quân, binh chủng, nòng cốt là Bộ đội Trường Sơn đã trực tiếp tổ chức thế trận đánh địch tại chỗ, bên cạnh đó Bộ đội Trường Sơn còn phối hợp với bộ đội chủ lực trên các chiến trường thực hiện nhiều chiến dịch lớn làm thất bại kế hoạch “ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc” của đế quốc Mỹ, giữ vững tuyến vận tải huyết mạch, đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng tăng của tiền tuyến miền Nam, chiến trường Lào, Campuchia.
Trong 16 năm, các lực lượng trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã chiến đấu trên 2.500 trận, diệt gần 17.000 tên địch, bắt 1.200 tên, gọi hàng trên 10.000 tên, bắn rơi 2.455 máy bay địch, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh khác của địch. Để giành thắng lợi vẻ vang đó, hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong đã hy sinh, gần 3 vạn người bị thương, hàng nghìn người bị ảnh hưởng nặng nề chất độc màu da cam của địch. Biết bao bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình để giữ vững mạch máu giao thông trên con đường huyền thoại này.
3. Đường Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt chống kẻ thù chung của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế
Đường Hồ Chí Minh ra đời và phát triển, trước hết bắt nguồn từ nhu cầu của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra toàn Đông Dương, đường Trường Sơn đã không ngừng được củng cố, mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng của ba nước Đông Dương. Quân và dân ba nước đã nêu cao tinh thần đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, xây dựng và bảo vệ tuyến đường chi viện chiến lược.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn, tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam (cả Đông và Tây Trường Sơn) đã đi qua 20 tỉnh thuộc ba nước Đông Dương, bảo đảm vận chuyển nhiều đơn vị bộ đội chủ lực và số lượng lớn vật chất cho các chiến trường; là sợi dây liên kết các chiến trường, là “khúc ruột” nối với các tuyến vận tải của hậu phương lớn miền Bắc và các tuyến vận tải của các chiến trường ba nước Đông Dương, tạo nên một hệ thống liên hoàn bền vững. Nhân dân các dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia trên tuyến đường hành lang đi qua đã tự nguyện dời bản, chuyển nhà, góp phần xây dựng, bảo vệ con đường trong suốt những năm chiến tranh. Nhờ đó, tình đoàn kết quân dân ba nước thêm gắn bó.
Không chỉ là tuyến hậu cần chiến lược, là hậu phương trực tiếp, căn cứ của chiến trường miền Nam Việt Nam, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn còn đảm bảo chi viện đắc lực cho chiến trường Lào và Campuchia, tiêu biểu là:
- Từ năm 1959 đến năm 1964, tuyến vận tải chiến lược đã bảo đảm vận chuyển hàng và tổ chức hành quân cho các đơn vị vào chiến trường miền Nam và Lào được 10.136 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ cùng hàng nghìn tấn hàng quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Việt Nam, Lào...
- Năm 1970, tuyến vận tải chiến lược đã vận chuyển trên 5.000 tấn vũ khí, đạn dược phục vụ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia phối hợp với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đập tan cuộc hành quân Chen-la 1 của Mỹ - Thiệu - Lon Non.
- Trong hai năm 1973 - 1974, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia một khối lượng vật chất gấp 3,8 lần giai đoạn 1969 - 1972, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia tiến lên giành thắng lợi quyết định vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Như vậy, đường Hồ Chí Minh không chỉ là biểu hiện ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, mà còn là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt cùng chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và bạn bè quốc tế.
4. Đường Hồ Chí Minh và hoạt động tác chiến, mở đường của Bộ đội Trường Sơn đã góp phần quan trọng cho sự phát triển nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều sáng tạo; trong đó việc mở đường Hồ Chí Minh là một sáng tạo chiến lược độc đáo của Đảng ta. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, một tuyến đường vận tải chiến lược được xây dựng hoàn chỉnh để chi viện cho chiến trường với sự đa dạng về thành phần lực lượng và hoạt động tác chiến. Cùng với sự phát triển liên tục của công tác vận tải chi viện cho chiến trường, nghệ thuật quân sự trên chiến trường Trường Sơn luôn có sự sáng tạo và phát triển.
Việc tổ chức, xây dựng lực lượng và kết hợp các phương thức đấu tranh, phương thức vận chuyển trên Đường Trường Sơn là một thành công lớn trong chỉ đạo chiến lược, bước phát triển độc đáo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Đó là nghệ thuật tổ chức lực lượng, tổ chức thế trận, tổ chức hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, tổ chức mạng đường và hệ thống binh trạm, cung trạm, kho tàng, bến bãi; nghệ thuật đánh địch, mở đường, bảo đảm hành quân, bảo đảm giao thông, bảo đảm vận chuyển... Đó là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối chính trị, quân sự và khoa học, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam để giải quyết thành công một loạt vấn đề rất mới thuộc về vận tải chiến lược trong chiến tranh của Quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó là nghệ thuật tiến hành công tác đảng, công tác chính trị để xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi gian khổ hy sinh để làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần cùng toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
III. PHÁT HUY KỲ TÍCH CỦA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
1. Xây dựng đường Hồ Chí Minh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đường Hồ Chí Minh nằm ở phía Tây đất nước, có vị trí quốc phòng và an ninh quan trọng, có sự đa dạng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất, rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên, khoáng sản. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần có một tuyến đường hoàn chỉnh, thống nhất, xuyên suốt nhằm đáp ứng cho hoạt động phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm 1996, Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu quy hoạch tuyến đường để hình thành trục dọc đường bộ thứ hai ở phía Tây đất nước với tên gọi ban đầu là Xa lộ Bắc Nam (nay là đường Hồ Chí Minh).
Ngày 1/4/1997, Chính phủ đã có Quyết định số 195/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu và đề xuất của Bộ Giao thông vận tải, ý kiến của Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư và báo cáo kết luận của Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam, ngày 24/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 789/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể Xa lộ Bắc Nam với điểm đầu tại Hoà Lạc (Hà Tây, nay là Hà Nội), điểm cuối tại ngã tư Bình Phước (Thành phố Hồ Chí Minh), tổng chiều dài xấp xỉ 1.800km, cơ bản bám theo hướng tuyến của các quốc lộ 21A, 15A, 15B, 14 và 13. Đồng thời, Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu nhánh phía Tây từ Khe Gát (Quảng Bình) đến Thạnh Mỹ (Quảng Nam).
Ngày 3/12/2004, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38/2004/QH11 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh là công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến là 3.167km (trong đó tuyến chính dài 2.667km, tuyến nhánh phía Tây dài 500km); điểm đầu là Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), điểm cuối là Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, ngày 15/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể đường Hồ Chí Minh.
Ngày 5/4/2000, tại bến phà Xuân Sơn, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Chính phủ đã phát lệnh khởi công xây dựng; đến ngày 21/3/2008, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng đã tiến hành nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 (đoạn từ Thạch Quảng tới Ngọc Hồi).
Không phải đến khi nghiệm thu cấp Nhà nước, đường Hồ Chí Minh mới được đưa vào khai thác, mà ngay từ năm 2003, rất nhiều tuyến trên đường Hồ Chí Minh sau khi nghiệm thu cơ sở đã phát huy hiệu quả, tạo ra diện mạo mới cho nhiều vùng quê từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và từ Bắc chí Nam. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đường Hồ Chí Minh trở thành trục giao thông chính, nối thông phía Bắc Tây Nguyên với các tỉnh miền Trung và liên thông sang nước bạn Lào và Campuchia.
Đường Hồ Chí Minh là một công trình to lớn, mang theo ý nguyện của Đảng, mong ước của Nhân dân, là một công trình có tính chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đến nay, mặc dù chưa hoàn thành 100%, nhưng đường Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả thực tế. Trong những năm tới, nhất là khi hoàn thành nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau), đường Hồ Chí Minh sẽ càng đóng góp to lớn hơn, làm nên những “kỳ tích” mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Phát huy truyền thống Bộ đội Trường Sơn, Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta giành thắng lợi, đầu tháng 7/1975, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Bộ đội Trường Sơn chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế.
Đầu năm 1976, Bộ Quốc phòng quyết định thống nhất Bộ đội Trường Sơn và Bộ Tư lệnh Công binh thành Bộ Tư lệnh Công trình. Đến tháng 3/1976, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Tổng cục Xây dựng kinh tế thay cho Bộ Tư lệnh Công trình.
Tháng 10/1977, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Binh đoàn 12 và Binh đoàn 14 trực thuộc Tổng cục Xây dựng kinh tế trên cơ sở lực lượng chủ yếu của Bộ đội Trường Sơn và được tăng cường thêm lực lượng của các đơn vị trong toàn quân chuyển sang làm kinh tế. Đến năm 1979, Tổng cục Xây dựng kinh tế và Binh đoàn 14 giải thể, Binh đoàn 12 chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng, là đơn vị kế thừa truyền thống của Bộ đội Trường Sơn anh hùng. Nhiệm vụ chủ yếu của Binh đoàn là xây dựng cầu đường chiến lược, chiến dịch phục vụ nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; trước mắt làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở mặt trận Tây Nam và biên giới phía Bắc.
Phát huy truyền thống Bộ đội Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, bước vào mặt trận mới xây dựng kinh tế đất nước kết hợp với quốc phòng, với tinh thần cách mạng tiến công, cán bộ, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng Binh đoàn 12 lại có mặt ở những nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, trải rộng trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trong nước và 5 tỉnh của nước bạn Lào.
Những năm đầu, nhiệm vụ chủ yếu của Binh đoàn là xây dựng cơ bản đường Hồ Chí Minh dọc theo Đông Trường Sơn từ Nghệ An đến Bình Phước với tổng chiều dài 1.920km, góp phần quy hoạch lại dân cư, phát triển kinh tế các địa phương dọc Trường Sơn và Tây Nguyên. Đồng thời, năm 1978, trước yêu cầu phòng thủ đất nước ở phía Bắc, Binh đoàn đưa 5 sư đoàn làm nhiệm vụ xây dựng Quốc lộ 279, đường vành đai chiến lược nối thông các tỉnh biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lai Châu dài hơn 1.000km. Đây là con đường vành đai chiến lược nối liền 7 tỉnh biên giới phía Bắc và nối với các đường trục dọc, góp phần bảo đảm cơ động lực lượng, phương tiện làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cùng với nhiệm vụ xây dựng cầu, đường bộ, Binh đoàn 12 còn xây dựng 6 tuyến đường sắt, tham gia xây dựng hàng loạt công trình trọng điểm của Nhà nước.
Trong hơn 10 năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, một số đơn vị thuộc Binh đoàn 12 đã xây dựng cơ bản 9 tuyến đường của bạn Lào với tổng chiều dài hơn 360km, 36 cầu vĩnh cửu; giúp bạn xây dựng một số công trình kinh tế, văn hóa ở 4 tỉnh; huy động hàng ngàn chuyến xe vận chuyển giúp bạn hàng ngàn tấn lương thực.
Ở trong nước, từ năm 1977 đến năm 1988, Binh đoàn 12 đã mở mới, sửa chữa nâng cấp được trên 5.500 km đường (trên 500km đường nhựa); 5.147m cầu, 31.758m cống bê tông, đào đắp hàng chục triệu mét khối đất đá. Tên của Binh đoàn 12 đã gắn liền với nhiều công trình trọng điểm của Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Đầu năm 1989, thực hiện sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của cả nước, theo quyết định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn được thành lập trên cơ sở tổ chức biên chế và các lực lượng của Binh đoàn 12, là doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, tự hạch toán, tự trang trải và trực thuộc Bộ Quốc phòng. Từ đây đơn vị mang 2 phiên hiệu: Binh đoàn 12 và Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn.
Từ năm 2017 đến năm 2020 thực hiện chủ trương của Chính phủ và Bộ Quốc phòng về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội, trọng tâm là cổ phần hóa doanh nghiệp. Từ năm 2022 đến nay, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn tiếp tục được công nhận lại là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng, sau 35 năm (1989 - 2024) phát triển trưởng thành, với nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, tự hoạch toán kinh doanh, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh chính trị vững vàng đã giúp cho Tổng công ty từng bước vượt qua giai đoạn đầu đầy khó khăn, thử thách, không ngừng phát triển lớn mạnh; giá trị sản xuất hàng năm tăng khá, đặc biệt năm 2023 tăng 87% so với năm 2022 tăng gấp 2,5 lần so với năm 2019; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách nhà với Nhà nước.
Đến nay, Binh đoàn 12 đã trở thành một trong những tổng công ty mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông cầu đường, thủy điện, thủy lợi; có đủ khả năng xây dựng các công trình trọng điểm có quy mô lớn trong nước và quốc tế. Nhiều công trình tầm vóc trọng điểm quốc gia trên khắp mọi miền Tổ quốc được Binh đoàn 12 thi công trong đó có nhiều gói cao tốc Bắc Nam trục dọc như: Mai Sơn - Quốc lộ 45, Quốc lộ 45 - Nghi Sơn, Nghi Sơn - Diễn Châu, Diễn Châu - Bãi Vọt, Bùng - Vạn Ninh, Vạn Ninh - Cam Lộ, Cam Lộ - La Sơn, Hòa Liên - Túy Loan, Hoài Nhơn - Quy Nhơn, Mỹ Thuận - Cần Thơ, Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau… và 03 gói trục ngang Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; các gói thầu thi công đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội; Vành đai 3 - Thành phố Hồ Chí Minh, cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, đường kết nối ven biển tỉnh Quảng Ninh; các dự án sân bay như: Sân bay Long Thành, sân bay Phan Thiết, hệ thống Nhà ga, đường lăn, sân đỗ, đường cất hạ cánh tại Sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất; các dự án thủy điện Hòa Bình, thủy điện Ialy mở rộng; các gói thầu xây dựng Bệnh viện TW Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175 và một số dự án xây dựng đường đô thị, kè đê biển, đảo, đường tuần tra biên giới, rà phá bom mìn trên địa bàn các tỉnh...
Quá trình xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là đơn vị kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng.
Ghi nhận, biểu dương những chiến công và thành tích vẻ vang, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1959 - 1975) Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Huân chương Sao Vàng cho các thế hệ Bộ đội Trường Sơn; 85 tập thể và 52 cá nhân thuộc Bộ đội Trường Sơn được tuyên dương và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và hàng trăm lượt đơn vị, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân chương, huy chương các loại.
Trong thời kỳ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng (1976 - 2024) được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Quân công; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba và 06 năm liền (1981 - 1985) được tặng cờ thi đua của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); 5 công trình được tặng “Huy chương vàng” và Bằng chứng nhận công trình chất lượng cao; 05 tập thể được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 03 tập thể và 03 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn; Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất cho Binh đoàn 12.
Kỷ niệm 65 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn là dịp để chúng ta bày tỏ lòng thành kính tri ân sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”; mãi khắc ghi công lao to lớn của Bộ đội Trường Sơn, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ, đồng bào các dân tộc đã từng tham gia, phục vụ chiến đấu làm nên con đường huyền thoại Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chi Minh. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và phẩm chất cao quý của Bộ đội Trường Sơn, chúng ta nguyện ra sức thi đua học tập, lao động, sản xuất và chiến đấu góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.
ST

MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 04/5

 Ngày 04/5/1945, Lãnh tụ Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình từ Pác Bó về Tân Trào. Cùng hành quân với tiểu đội tự vệ theo Bác còn có hai báo vụ viên Mắc Sin (Mc Shin) và P.Tan (F.Tan) đều gốc Hoa, biên chế của đơn vị tình báo chiến lược Mỹ (OSS) từ Côn Minh theo Bác về Việt Nam. Đoàn bắt đầu từ Khuổi Nậm, dọc theo suối Lê-nin qua các bản thuộc địa phận Cao Bằng rồi về Tân Trào (Tuyên Quang), tức là xa dần vùng biên giới Việt - Trung để mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc.

🌹
Ngày 04/5/1946, Bác viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ thể hiện rõ quan điểm của chế độ mới: “Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học. Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là: 1. Tăng gia sản xuất. 2. Chống nạn mù chữ. Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc.
Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.
🌹
Ngày 04/5/1952, Bác dự Hội nghị của Bộ Chính trị bàn về vấn đề quân sự và ngân sách phục vụ kháng chiến. Sau những thử nghiệm thành công về việc cải tiến loại đại bác không giật DKZ của Công trình sư Trần Đại Nghĩa và các cộng sự, theo yêu cầu của Bác, việc nghiên cứu chế tạo và lắp ráp sẽ thực hiện tại Vân Nam (Trung Quốc) rồi chuyển về nước để bảo đảm an toàn.
🌹
Ngày 04/5/1962, Bác đọc diễn văn khai mạc Đại hội Liên hoan Anh hùng, Chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ III. Sau khi biểu dương kết quả của 14 năm kể từ lần phát động đầu tiên (6-1948), Bác nhấn mạnh: “Anh hùng chiến sỹ thi đua và lao động tiên tiến phải làm đầu tàu lôi cuốn người khác cùng tiến bộ; đồng thời phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng học hỏi thêm để tiến bộ không ngừng... Như vậy thì đội ngũ lao động to lớn của chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, đánh thắng sự bần cùng và lạc hậu, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội..., Nam Bắc mau sum họp một nhà”.
🌹
Ngày 04/5/1965, Bác tiếp tục tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuyển hướng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ đã tấn công ra miền Bắc. Phát biểu tại Hội nghị (theo biên bản của phiên họp), Bác chỉ rõ một mặt phải chuẩn bị những khả năng xấu nhất nhưng cũng phải chuẩn bị khả năng để xây dựng tương lai. Khẩu hiệu trước mắt là tất cả để thắng Mỹ. Chúng ta quyết tâm không sợ tổn thất. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng được Mỹ sẽ làm được tất cả. Bác phê bình tác phong làm việc luộm thuộm, thưởng phạt thiếu nghiêm minh và đề nghị phải chú trọng vấn đề con người, nhất là thanh niên. Phải thấy hết khó khăn và dự báo mùa mưa tới, địch có thể phá đê...
St

 

CƯƠNG LĨNH, ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG VỚI VIỆC  

NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Việc nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị. Cương lĩnh chính trị xác định mục tiêu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng ở một giai đoạn tương đối dài. Nó cũng chỉ ra những động lực, những hình thức, những phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược của cách mạng.

Đường lối chính trị là sự cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng trong những thời kỳ nhất định. Cương lĩnh, đường lối chính trị là cơ sở để hoạch định chính sách, xác định chủ trương, biện pháp tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể thích ứng với điều kiện và tình thế chính trị ở mỗi giai đoạn cách mạng.

Nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính trị, đồng thời có khả năng đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực cụ thể, sát với thực tiễn nhằm quán triệt đúng đắn Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng thì mới có thể kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, mới có cơ sở để nâng cao những tố chất của người cán bộ lãnh đạo chính trị. Bất kỳ một sự dao động, nghiêng ngả hoặc tính toán sai lầm nào trên những vấn đề thuộc về nguyên tắc của Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thoái không chỉ văn hóa chính trị của cá nhân người cán bộ lãnh đạo mà còn gây hại lớn cho Đảng và chế độ.

Việc nhận thức, hiểu biết, nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng trong thời kỳ mới; mức độ kiên định, tinh thần tự giác quán triệt Cương lĩnh, đường lối là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tính đảng và trình độ văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo.

Người cán bộ lãnh đạo không những nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng mà còn phải thông qua thực tiễn, bằng những kinh nghiệm tích lũy được, góp phần bổ sung, cụ thể hóa và phát triển đường lối, chính sách.

 

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ KHOA HỌC LÃNH ĐẠO - NHÂN TỐ QUAN TRONG ĐỐI VỚI QÚA TRÌNH NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO HIỆN NAY


Chính trị là một lĩnh vực khách thể rất phức tạp, nếu không được trang bị những tri thức căn bản để hiểu rõ bản chất và quy luật vận động của đời sống chính trị thì các chủ thể hoạt động chính trị rất dễ trở thành nạn nhân của những ảo tưởng chính trị. Muốn giải quyết đúng đắn những vấn đề chính trị thực tiễn hết sức phức tạp hiện nay, chính trị cần phải dựa chắc chắn trên những luận cứ chính xác của khoa học,... “Các cán bộ lãnh đạo, quản lý cần được trang bị những kiến thức khoa học, có hệ thống về chính trị, chứ không thể bằng lòng với tầm hiểu biết ở trình độ kinh nghiệm... Nhiều khi do thiếu hiểu biết lý luận, thiếu tri thức cơ bản và hệ thống về khoa học chính trị, thiếu văn hóa chính trị, chúng ta có thể phạm những sai lầm đáng tiếc”.

Khoa học chính trị đưa lại cho các chủ thể chính trị sự nhìn nhận tự giác, bao quát, hệ thống với tất cả sự phong phú của đời sống chính trị trong nước và quốc tế từ lịch sử đến hiện đại. Trên cơ sở đó mà có nhận thức sâu sắc về bản chất của chính trị, của các khuynh hướng chính trị, của sự vận động và phát triển xã hội trên phương diện đời sống chính trị, tổ chức và hoạt động chính trị. Khoa học chính trị đem lại cho các chủ thể chính trị ở nước ta mà trước hết là các chủ thể lãnh đạo một hệ thống tri thức cả lý luận và kinh nghiệm chính trị một cách tương đối hoàn chỉnh như là cơ sở trực tiếp cho việc hình thành những quan điểm cơ bản và phương pháp chính yếu cho việc giải quyết các vấn đề chính trị đang đặt ra. Bằng những nhận định có cơ sở khoa học về các xu thế vận động cơ bản, những vấn đề chính trị lớn của quốc gia và quốc tế, Chính trị học cung cấp dữ liệu khoa học cho các chủ thể lãnh đạo chính trị trong việc hoạch định đường lối, chiến lược và sách lược chính trị. Với những kiến thức về Chính trị học của mình, người cán bộ lãnh đạo có thể nhìn nhận được rõ hơn, từ đó giữ vững và kiên định con đường đi lên CNXH của đất nước, có khả năng nhận xét, phê phán và ứng xử thích hợp đối với các quyết sách chính trị hay các phong trào chính trị trong nước và trên thế giới.

Đi đôi với yêu cầu trang bị những kiến thức về Chính trị học đối với người cán bộ lãnh đạo là yêu cầu  trang bị những kiến thức về Khoa học lãnh đạo (chủ yếu là Khoa học lãnh đạo chính trị) với tư cách là một khoa học chính trị đặc thù ở cấp độ ứng dụng liên quan trực tiếp đến quy trình hoạt động của người cán bộ lãnh đạo.

Khoa học lãnh đạo phải trang bị kiến thức và kỹ năng cho người cán bộ nắm bắt và phân tích kịp thời những sự kiện, quá trình và tình huống chính trị cụ thể, khả năng phân tích tâm trạng, thái độ, phản ứng chính trị ở các đối tượng khác nhau trong những thời điểm khác nhau để có những quyết sách phù hợp và kịp thời. Thực tế là, thiếu những kiến thức và kỹ năng hành động chính trị cụ thể do Khoa học lãnh đạo đem lại, người cán bộ chính trị có thể rất lúng túng trước các tình huống phức tạp và tế nhị đòi hỏi phải ứng xử nhanh nhạy, chính xác.

Khoa học lãnh đạo chính trị cần được phát triển vì yêu cầu đi sâu vào nghiên cứu các nội dung: bản chất và mục đích của lãnh đạo; các yếu tố cơ bản và quan hệ qua lại trong hoạt động lãnh đạo; chức năng và tác dụng của hoạt động lãnh đạo; những vấn đề xã hội - tâm lý của công tác lãnh đạo; người lãnh đạo và con đường hình thành các phẩm chất thiết yếu; quá trình và cơ chế của hoạt động lãnh đạo; phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo; chế định và thực thi chiến lược; quyết sách khoa học; chọn người tài và dùng người; giải quyết công tác chính trị tư tưởng; đối thoại chính trị; giao tiếp chính trị; người lãnh đạo tổ chức lao động của mình...

 

 

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI  QUÁ TRÌNH NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một nguyên tắc hoạt động chính trị: “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”[1]. Trình độ văn hóa chính trị của nhân dân là một thước đo về hiệu quả hoạt động chính trị của những người lãnh đạo cộng sản hết lòng vì quyền lợi của quần chúng lao động. Mặt khác, chỉ trên một nền tảng được bảo đảm về văn hóa chính trị của nhân dân lao động thì việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo mới có cơ sở thực tế để tiến hành. Hơn nữa, khi trình độ văn hóa chính trị của nhân dân lao động được nâng cao sẽ tạo ra những thách thức cần thiết đòi hỏi người cán bộ  phải có bước trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ thể lãnh đạo mang tính tiên phong, dẫn đường. Một quốc gia dân tộc có một nền văn hóa chính trị cao biểu hiện trước hết là trình độ văn hóa chính trị phổ quát của nhân dân lao động và chiều cao văn hóa trí tuệ của những đại biểu ưu tú xuất hiện trên cái nền tảng phổ quát ấy.

 Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động là nhằm lôi cuốn mọi công dân vào hoạt động chính trị - xã hội, phát triển ở họ tính tích cực chính trị, sự phản xạ và sự hưởng ứng nhanh chóng với những hiện tượng chính trị, những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đề ra. Theo tinh thần của Lênin thì CNXH phải phát huy được tối đa tính tích cực chính trị công dân, lúc đó “những bà nội trợ cũng tham gia vào công việc nhà nước”, mọi người sẽ quen với việc chấp hành các quy tắc cơ bản, tự nguyện lao động và cống hiến theo khả năng của mình. Sự sáng tạo lịch sử của con người ngày càng mở rộng và sâu thì cái khối quần chúng dân cư vốn là người sáng tạo ra lịch sử một cách có ý thức cũng phải tăng lên.

Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân sẽ khơi dậy được sự sáng tạo của các nguồn lực xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước. Trình độ văn hóa chính trị là điều kiện đảm bảo cho người dân nắm bắt và thực hành dân chủ. Và chỉ như thế, chế độ chính trị - xã hội mới đạt được sự ổn định và bền vững, tạo ra được lợi thế so sánh phát triển. Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”[2].

Điều quan trọng là khi trình độ văn hóa chính trị được nâng cao, quần chúng nhân dân sẽ có khả năng góp phần quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ. Đồng thời cùng với sự lớn mạnh của các thể chế, người dân có thể thường xuyên gây sức ép thay đổi những người nắm vị trí lãnh đạo một khi họ không còn tỏ ra xứng đáng. Khi trình độ văn hóa chính trị được nâng cao, người dân sẽ hoàn thiện khả năng hiểu biết và sử dụng tổng thể các quy phạm pháp luật mang giá trị dân chủ để tự bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân. Biết dùng pháp luật như một công cụ hữu hiệu để đấu tranh không khoan nhượng chống mọi hành vi phạm pháp, trực tiếp là tham nhũng, quan liêu, lộng quyền và lạm quyền trong hoạt động thực thi quyền lực chính trị.

Càng có trình độ văn hóa chính trị cao, con người càng nhận thức sâu hơn về những giá trị xã hội, về quyền và nghĩa vụ của mình cũng như khả năng độc lập đánh giá và suy lý về những tiến trình chính trị đang xảy ra. Với một trình độ văn hóa chính trị cao, những công dân bình thường có thể thường xuyên ở trong sự diễn tiến của những sự kiện quan trọng, nhanh chóng nhận biết những hành vi và tư cách của các chủ thể lãnh đạo. Điều đó như nhà Chính trị học và Luật học Pháp B.Săngtơbu viết: Nó rút ngắn khoảng cách giữa một công dân bình thường với một vị đại diện chính quyền, làm giảm đi những sự nghiêng theo một cách huyễn hoặc trước những nhà lãnh đạo hay những nhà chuyên chế, và trong nhiều trường hợp làm tăng niềm tin của mọi người vào khả năng tác động lên tiến trình của những sự kiện chính trị[3].



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.298.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.592
[3] Nguyễn Xuân Tế: Nhập môn khoa học chính trị,Nxb TP Hồ Chí Minh, 2002, tr.147.
 

 

BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ"  CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TẠI VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý củạ chính quyền các cấp. Đặc biệt nguy hiểm hơn, khi “Bất tuân dân sự” đã có dấu hiệu sự can dự, hướng lái của các thế lực thù địch, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đên sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiểu rõ về vấn đề “Bất tuân dân sự” không chỉ giúp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng, cán bộ, đảng viên, mọi quân nhân, công nhân viên chức, người lao động nhận diện, phân biệt rõ ràng về bản chất các hoạt động chống đối chính quyền của “Bất tuân dân sự”, mà còn giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đối phó hiệu quả, kịp thời là vấn đề cấp thiết hiện nay. Bởi vậy, nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có phương sách đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.

Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Về bản chất, “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là những hoạt động nhằm vô hiệu hóa một hoặc nhiều quyết sách của chính quyền bằng “sức mạnh hòa bình” của quần chúng; vô hiệu hoặc làm giảm khả năng sử dụng công cụ bạo lực của chính quyền; thường được bắt đầu một cách “tự phát”, “vô hại”, nhỏ lẻ, nhưng sau đó lây lan và được tổ chức khá chặt chẽ. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hệ quả của quá trình tác động, thẩm thấu, “chuyển hóa” lâu dài. Trong đó, các thế lực thù địch đã thẩm thấu các giá trị, tư tưởng trái ngược khiến cho quần chúng nhân dân “nhờn luật”, hình thành tư tưởng “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc xung đột về lợi ích và sự nhũng nhiễu của một bộ phận tha hóa trong bộ máy công quyền.

Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “Bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG: TUYỆT ĐỐI HÓA VAI TRÒ CỦA VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO, NGHI NGỜ ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA!

     Phê phán quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao, nghi ngờ đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng, Nhà nước ta.
Gần đây, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, một số người đã nêu quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh và đồng thời coi nhẹ vai trò của con người.
Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, chỉ có các lực lượng trang bị vũ khí công nghệ cao mới có thể chiến thắng trong chiến tranh hiện đại, dẫn tới sự phủ nhận các giá trị của quốc phòng và an ninh truyền thống, bao gồm cả nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Sự thật là, việc sử dụng vũ khí công nghệ cao để chống lại kẻ thù là điều cần thiết, nhưng bất kể công nghệ vũ khí tiên tiến đến đâu thì yếu tố con người vẫn là chìa khóa quyết định.

Hơn nữa, không phải lúc nào các quốc gia cũng có thể sở hữu vũ khí tương đương nhau; nhiều quốc gia vẫn phải chiến đấu với trang bị kém hơn, thậm chí là rất kém để đối mặt với đối thủ có trang bị công nghệ cao. Do đó, cần thiết phải xây dựng đường lối quốc phòng và an ninh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.

Vũ khí công nghệ cao - bước nhảy vọt của trí tuệ con người

Đối với Việt Nam, có thể khẳng định rằng, hiện tại và trong tương lai, nếu tình huống buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta vẫn sẽ phải chiến đấu với vũ khí và trang bị có trình độ thấp hơn đối thủ rất nhiều. Vì vậy, việc xây dựng đường lối quốc phòng và an ninh một cách hợp lý ngay từ thời bình là cần thiết để có thể khai thác triệt để những điểm yếu và giới hạn những điểm mạnh của kẻ địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Chúng ta cần kế thừa và phát huy các giá trị của quốc phòng và an ninh truyền thống, tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế để chiến thắng kẻ địch trang bị công nghệ cao. Chỉ có đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi trong điều kiện chiến tranh sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao mới là phương hướng phù hợp. Đây cần là một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được đổi mới và phát triển phù hợp với các điều kiện tác chiến mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Do đó, nếu có ý kiến cho rằng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong điều kiện tác chiến hiện đại là sai lầm, thì thực sự những người nêu ra quan điểm này mới là những người mắc sai lầm. Bởi lẽ, việc xây dựng một nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh vẫn là đường lối quân sự phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay.

Vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo dựa trên những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Những loại vũ khí này, bao gồm vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí năng lượng định hướng, vũ khí chùm tia, laze, chùm hạt, điện từ và vũ khí mềm, đều có nguồn gốc từ vũ khí thông thường nhưng đã được tích hợp các thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực như vi điện tử, vi xử lý, tin học, vật liệu mới, laze, hồng ngoại, năng lượng mới, sinh học và tự động hóa.

Các vũ khí này nổi bật với độ chính xác cao, uy lực lớn, khả năng hoạt động ở tầm xa và có thể thích nghi với các điều kiện phức tạp, đạt hiệu quả cao gấp nhiều lần so với vũ khí thông thường. Đặc biệt, một số loại vũ khí công nghệ cao còn được gọi là vũ khí thông minh, có khả năng nhận biết địa hình, ghi nhớ tọa độ và tự động tìm kiếm, lựa chọn và tiêu diệt mục tiêu. Xuất hiện từ Chiến tranh thế giới thứ hai và phát triển mạnh trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các loại vũ khí này đã được sử dụng trong nhiều cuộc chiến tranh như ở Việt Nam, vùng Vịnh, Nam Tư và Afghanistan. Giới chuyên gia quân sự đánh giá vũ khí công nghệ cao sẽ là loại vũ khí chủ yếu trong các cuộc chiến tương lai.

Sự ra đời và phát triển của vũ khí công nghệ cao đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong tiến bộ của ngành vũ khí, làm thay đổi căn bản nhiều quan điểm về chiến tranh, tác động sâu rộng đến nghệ thuật quân sự và bản chất của chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện của vũ khí này đã dẫn đến nhiều vấn đề lý luận mới trong chiến tranh như chiến lược tác chiến chiều sâu, chiến tranh bằng tiến công hỏa lực, chiến tranh phi trực tiếp tiếp xúc và phi đối xứng, làm mờ đi ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương, và không gian chiến tranh không còn nơi nào là hoàn toàn an toàn.

Tuy nhiên, vũ khí công nghệ cao không phải không có điểm yếu. Chúng vẫn hoạt động theo quy luật nhất định, chịu ảnh hưởng bởi địa hình và thời tiết và một số loại còn có tốc độ bay thấp.

Với các giải pháp hợp lý, kể cả những giải pháp thô sơ, truyền thống, vẫn có thể hạn chế hiệu quả của chúng. Trên chiến trường rộng lớn, không thể dùng vũ khí công nghệ cao để tấn công mọi mục tiêu, mọi địa điểm. Đối với Việt Nam, việc chỉ phá hoại một số điểm trọng yếu chưa đủ để đánh mất đất nước, và nếu kẻ địch chỉ sử dụng vũ khí công nghệ cao thì chưa đủ sức khuất phục Việt Nam. Nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đó lại là cơ hội để chúng ta tiêu diệt họ. Để làm được điều này, không có con đường nào khác ngoài việc tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, dựa trên nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc từ thời bình.

Vì sao phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta

Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, với sức mạnh tổng hợp cao và khả năng đề kháng mạnh mẽ, được xem là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chiến tranh, dù là sử dụng vũ khí thông thường hay công nghệ cao, đều gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế, chính trị và nhân mạng, ảnh hưởng đến ổn định và hòa bình thế giới. Do đó, mục tiêu ưu tiên là duy trì ổn định và hòa bình cho đất nước mà không cần tiến hành chiến tranh, hay nói cách khác là "đánh thắng chiến tranh ngay khi nó chưa xảy ra". Theo Tôn Tử, hành động không đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục là cách sáng suốt nhất.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là "Giữ nước từ khi nước chưa nguy". Trong thời đại Hồ Chí Minh, qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã phát triển tư duy từ quân sự sang quốc phòng, từ chiến tranh sang giữ nước mà không cần chiến tranh, và đã chỉ rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Để hiện thực hóa tư tưởng và quan điểm này, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, phát triển cao trong các điều kiện mới. Đây là nền quốc phòng của dân, do dân và vì dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ, được xây dựng toàn diện cả về tiềm lực và lực lượng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước và sự làm chủ của nhân dân.

Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại hóa mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nền an ninh nhân dân giúp giữ cho đất nước ổn định và phát triển, kịp thời phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến. Nền quốc phòng này cũng đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hành động phá hoại của thế lực thù địch nước ngoài, giải quyết các tranh chấp và bất đồng bằng các giải pháp hòa bình dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế.

Như vậy, có thể khẳng định: Chỉ có xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình mới tạo điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, kể cả chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao. Đây là lựa chọn tối ưu nhất đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chính là cơ sở chủ yếu để tiến hành và chiến thắng trong chiến tranh nhân dân, ngay cả khi đối mặt với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Có thể khẳng định, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, Việt Nam sẽ theo đường lối chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến toàn diện, dựa trên sức mạnh của toàn bộ đất nước. Mọi người dân đều là chiến sĩ, sử dụng mọi loại vũ khí từ đơn giản, thô sơ đến hiện đại. Các hình thức tác chiến linh hoạt như du kích, chính quy, đánh bên sườn, phía sau, đánh sâu, đánh hiểm... đều phát huy tối đa hiệu quả, có thể chế ngự được ưu thế của vũ khí công nghệ cao. Điều này chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc và không ngừng hiện đại hóa từ thời bình.

Vũ khí công nghệ cao tuy có tính chính xác cao, nhưng chúng hoạt động theo những quy luật nhất định, dựa trên nhận dạng địa hình và mục tiêu. Nhờ chiến tranh nhân dân, chúng ta có thể làm thay đổi quy luật, biến dạng địa hình, dịch chuyển mục tiêu, và thậm chí tạo ra mục tiêu giả. Hệ thống phòng không nhân dân rộng khắp sẽ hạn chế được hiệu quả của vũ khí công nghệ cao, tiêu diệt được các loại máy bay và tên lửa hành trình của địch. Trong trường hợp địch sử dụng tác chiến điện tử mạnh, ta vẫn có khả năng chế áp được hiệu quả trinh sát của chúng; và nếu chỉ huy, hiệp đồng của chúng bị gián đoạn, ta vẫn có thể tiếp tục chiến đấu hiệu quả.

Vũ khí công nghệ cao có uy lực mạnh, nhưng kẻ địch không thể có đủ số lượng để tấn công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước Việt Nam. Với nền quốc phòng hiện đại, chúng ta có thể tiêu diệt được bộ phận lực lượng, phương tiện công nghệ cao của địch, như đã từng bắn rơi máy bay B.52 của Mỹ vào năm 1972. Nhưng quan trọng hơn, nhờ vào thế trận chiến tranh nhân dân, chúng ta có điều kiện để bảo toàn lực lượng, tồn tại sau các đòn tiến công hỏa lực mạnh bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tồn tại sau các đòn tiến công cũng là thắng lợi, bởi nếu Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội vẫn còn, Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu để giành chiến thắng. Và nếu kẻ địch chỉ tiến công bằng vũ khí công nghệ cao mà không có hành động trên bộ, thì cũng chưa thể khuất phục được Việt Nam; trong khi đó, nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc chiến tranh nhân dân phát huy hiệu quả cao nhất.

Với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, đường lối duy nhất đúng đắn chính là tiến hành chiến tranh nhân dân. Một cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa không thể bị đánh bại, kể cả khi đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc chiến đó, cần có sự xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình. Vì thế, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vẫn là đường lối xây dựng quốc phòng, an ninh đúng đắn trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Giải pháp công tác tư tưởng hiện nay

Để giải quyết các vấn đề hiện tại liên quan đến nhận thức về vũ khí công nghệ cao và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, có một số biện pháp cần được thực hiện một cách hệ thống và quyết liệt. Đầu tiên, việc tuyên truyền và giải thích rõ về vũ khí công nghệ cao cùng với cách phòng chống chúng cho lực lượng vũ trang và nhân dân là hết sức cần thiết. Các chương trình đào tạo, hội thảo nên được tổ chức thường xuyên để trang bị kiến thức cập nhật và chính xác, giúp mọi người hiểu rõ hơn về những mối đe dọa và cách đối phó hiệu quả. Ngoài ra, cần sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để truyền đạt các thông điệp này một cách rộng rãi, đồng bộ và thuyết phục.

Tiếp theo, việc giáo dục nhận thức đúng về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là không kém phần quan trọng. Cần phổ biến rộng rãi về các thành tựu và hiệu quả của nền quốc phòng toàn dân trong việc hạn chế hiệu quả của vũ khí công nghệ cao. Bằng cách xây dựng niềm tin vào khả năng này, chúng ta có thể củng cố ý chí và quyết tâm chiến đấu của lực lượng vũ trang cũng như toàn thể nhân dân. Việc tích hợp các chương trình giáo dục quốc phòng vào hệ thống giáo dục quốc gia cũng sẽ góp phần nâng cao nhận thức từ sớm cho các thế hệ tương lai.

Cuối cùng, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các lý luận mới về quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong bối cảnh hiện nay là điều cấp bách. Cần khuyến khích và hỗ trợ các nhà nghiên cứu phát triển các giải pháp mới để đối phó với vũ khí công nghệ cao, đồng thời nghiên cứu các phương pháp tác chiến mới phù hợp với điều kiện chiến đấu hiện đại. Việc đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu khoa học quân sự không chỉ giúp phát triển các biện pháp phòng thủ hiệu quả mà còn góp phần vào việc hiện đại hóa nền quốc phòng, bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi trong mọi tình huống chiến đấu có thể xảy ra. Đầu tư, cải tiến, hiện đại hóa, sản xuất và mua sẵn một số vũ khí hiện đại, nhất là vũ khí chiến lược có tầm bắn xa, uy lực lớn, có khả năng răn đe có hiệu quả ngay từ thời bình, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Trong bối cảnh hiện nay, đầu tư vào việc cải tiến, hiện đại hóa, sản xuất và mua sẵn các loại vũ khí hiện đại, đặc biệt là vũ khí chiến lược có tầm bắn xa và uy lực lớn, là hết sức cần thiết. Đây là bước đi quan trọng không chỉ để tăng cường khả năng răn đe hiệu quả trong thời bình mà còn phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Việc này không chỉ là sự cần thiết mà còn thể hiện sự linh hoạt trong chính sách quốc phòng, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới mà không bị bảo thủ hay lạc hậu.

Tuy nhiên, sự thật về đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân vẫn chưa hề lạc hậu. Đây vẫn là đường lối duy nhất đúng cho tình hình, điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, kể cả khi xảy ra chiến tranh sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao. Nếu từ bỏ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, chúng ta sẽ buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào vũ khí công nghệ cao, điều này trái với truyền thống, không phát huy được sức mạnh tổng hợp, đặc biệt là sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, Việt Nam không thể trang bị hệ thống vũ khí công nghệ cao như của các cường quốc khác, đặc biệt là trong bối cảnh có thể phải tiến hành chiến tranh. Vì vậy, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khẳng định rằng chúng ta cần có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn để bác bỏ quan điểm cho rằng đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong điều kiện tác chiến bằng vũ khí công nghệ cao là sai lầm. Chính sách này không chỉ phản ánh khả năng tự lực và khôn khéo trong chiến lược quốc phòng mà còn là biểu hiện của ý chí và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia./.


Yêu nước ST.

BỘ ĐỘI CỤ HỒ, CƠ ĐỒ TƯƠI ĐẸP, CHẤT THÉP KIÊN TRUNG!

         Vào dịp Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta chào mừng kỷ niệm 49 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4 và 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta!
Cũng như trước đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và tiếp tục sử dụng “trăm mưu, ngàn kế” kể cả những biện pháp hèn hèn nhất, “phi nhân tính” nhất để chống phá Quân đội ta, đòi hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là một trong những chiêu trò hèn mọn, dọn đường cho việc thực hiện “cách mạng màu” và “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta. Vì sao các thế lực thù địch lại tăng cường các hoạt động chống Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân ta vào dịp chiến thắng 30-4 và chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7-5 hằng năm?  
Bởi vì, chiến thắng của quân và dân ta là nỗi đau và sự ô nhục của kẻ thù, làm cho chúng càng thêm run sợ phẩm chất, uy tín, vị thế của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hơn ai hết, các thế lực thù địch hiểu rõ sức mạnh bách chiến, bách thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam; giá trị, ý nghĩa và sự lan tỏa của danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”. Hơn thế, “Bộ đội Cụ Hồ” là tên gọi bình dị, gần gũi, thân thương nhưng vô cùng cao quý, được nhân dân ta khen tặng cán bộ, chiến sĩ, phản ánh đầy đủ, sâu sắc và tập trung nhất những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội ta. Danh xưng ấy đã trở thành sức mạnh và biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân luôn trân trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” như giữ gìn điều thiêng liêng nhất với danh dự, trách nhiệm, tình yêu và lương tâm của mình - sự tôn kính đối với Bác Hồ kính yêu. Nhờ đó, đã làm nên những chiến công hiển hách, những chiến thắng vẻ vang. Chính những điều đó làm cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sôi lên “như đỉa phải vôi”, không thể chấp nhận sự thật ấy; cho nên đã cố tình tìm mọi biện pháp chống phá Quân đội ta.
Rõ ràng là, xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trước đây cũng như hiện nay. Lúc này, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nhiệm vụ cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; góp phần gìn giữ anh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà Nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta - Đây là những giá trị “có một không hai” vì trên thế giới không quân đội nào có được niềm vinh dự, tự hào như Quân đội ta.
Phủ nhận tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - một cấu phần đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, các thế lực thù địch đang thực hiện chiêu trò: Hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu. Từ đó, làm mất đi tình cảm, niềm tin; sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân ta đối với Bác Hồ. Qua đó, làm mất vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.  
Đó là cái đích cuối cùng các thế lực thù địch hướng đến để thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội; biến Quân đội ta thành những người lính nhà nghề, “đánh thuê”, không còn những nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc sự phản động ấy để có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả.
Chúng ta cần ý thức sâu sắc rằng, phẩm chất, hình ảnh, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí đặc biệt quan trọng trong lòng nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Bác Hồ là niềm tin, biểu tượng của lẽ phải, của chân lý, dẫn dắt dân tộc Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Bác Hồ là người sáng lập Đảng ta và Quân đội ta, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong tâm thức và trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình, Bác Hồ là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ cộng sản; còn văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, còn mãi phẩm chất nhân cách người quân nhân cách mạng vì nước, vì dân.
Xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn không mới nhưng tính chất lại rất nguy hiểm. Đây là sự “biến dạng” của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, một chiêu trò thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội được che đậy kín đáo và hết sức tinh vi. Vì vậy, nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vừa là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách hiện nay, vừa là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống.
Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi đen phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, chúng ta cần thực hiện tốt những nội dung sau đây: 1) Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; 2) Tiếp tục giữ gìn, vun đắp, xây dựng và lan tỏa hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; 3) Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; 4). Tuyệt đối không cho phép, không chấp nhận bất kỳ một cá nhân, tổ chức và thế lực nào cố tình vu khống, bôi nhọ giá trị phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; 5). Thường xuyên nêu cao cảnh giác, phát huy vai trò mọi tổ chức, cá nhân trong đấu tranh, ngăn chặn những hành vi bôi nhọ, vu khống làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.
Khẳng định “Bộ đội Cụ Hồ”, một cơ đồ tươi đẹp, một chất thép kiên trung đã, đang và mãi mãi là một giá trị tốt đẹp của văn hóa quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta cần gìn giữ và lan tỏa những giá trị cao quý ấy./.
Yêu nước ST.

GHI NHẬN HAY KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ?

         Đối tượng Phạm Đoan Trang đang thụ án 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ấy vậy mà mới đây, tổ chức Văn Bút Mỹ (PEN America) đã công bố “sẽ trao giải thưởng Tự do Sáng tác Barbey năm nay cho tác giả - blogger - nhà báo tự do Phạm Đoan Trang, ghi nhận những đóng góp quý báu của bà trong lĩnh vực sáng tác và tự do biểu đạt”!
Trao giải thưởng cho đối tượng đang thụ án, thật nực cười. Đằng sau “trò hề trên sân khấu chính trị hải ngoại” này là gì? Để hiểu rõ chúng ta cùng điểm qua “bản thành tích” bất hảo của Phạm Đoan Trang thì sẽ rõ.
Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16-11-2017 đến ngày 5-12-2018, bị cáo Phạm Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân.
Cụ thể, bị cáo Phạm Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam"…
Viện Kiểm sát nhân dân xác định các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền "luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Hội đồng xét xử xác định, hành vi của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân Phạm Đoan Trang là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Với những hành vi phạm tội như đã nêu, bản án 9 năm tù giam dành cho Phạm Đoan Trang là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, hành vi phạm tội của Phạm Đoan Trang là rất rõ ràng. Việc các cơ quan chức năng của Việt Nam khởi tố, bắt giữ, xét xử Phạm Đoan Trang là thể hiện sự tôn nghiêm, công bằng của pháp luật Việt Nam. Việc tổ chức PEN America trao giải thưởng “Tự do Sáng tác Barbey” cho Phạm Đoan Trang - đối tượng có hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam là một hành động bất chấp tất cả những tiêu chuẩn và quy định của pháp luật quốc tế. Đã có thời gian là nhà báo, lẽ ra Phạm Đoan Trang phải hoạt động, tác nghiệp theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Nhưng không, Phạm Đoan Trang đã lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Nhà nước. Điều đó cho thấy, Phạm Đoan Trang không xứng đáng với tư cách, phẩm chất của một nhà báo. Việc tổ chức PEN America trao giải thưởng cho Phạm Đoan Trang nhằm “ghi nhận những đóng góp quý báu của bà trong lĩnh vực sáng tác và tự do biểu đạt” là sự lố bịch, là một ý đồ chính trị nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc tổ chức PEN America lên tiếng bênh vực, tung hô, tô vẽ, trao thưởng cho Phạm Đoan Trang thực chất vẫn là hành vi cơ hội, đánh tráo khái niệm tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam bằng khái niệm “tù nhân lương tâm” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động các đối tượng gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam như một số cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đã sử dụng thời gian qua. Hành động của PEN America là không thể chấp nhận được./.
Yêu nước ST.

KHÔNG MẮC MƯU CỦA ĐỊCH, KHÍ PHÁCH CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG!

1. Trong bối cảnh quốc tế đặc biệt phức tạp hiện nay, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhân dân ta vẫn nhất quán khẳng định lập trường, quan điểm, mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, của đồng chí Tổng Bí thư; phản ánh tính đúng đắn, sáng tạo và sự nhất quán về đường lối đổi mới, đi lên CNXH mà Đảng ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII. Đồng thời, khẳng định rõ tình đoàn kết, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đảng ta đã xác định để xây dựng quốc gia Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thế nhưng, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tổ chức một số hội nghị bất thường để giải quyết các công việc phát sinh nhằm sớm ổn định tình hình, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới; ban hành các quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội; một số người lại nghĩ sai trái về điều ấy, cố tình đồn thổi, đẩy tình hình đi sang hướng khác, gây bất lợi cho Đảng. Họ xuyên tạc rằng, “Việt Nam đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng”, “chính trị rối ren”, “con đường đi lên CNXH chỉ còn lại lời nói”, “Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu”, “không thể thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vì nội bộ Đảng đang đấu đá nhau”... Hơn thế, một số người còn cho rằng, “Việt Nam đã “quay xe”, quyết định đi theo Mỹ và phương Tây”, “đã lựa chọn con đường TBCN”, “sắp gia nhập EU và khối NATO để khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế” và các nguy cơ khác.

Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không”, bởi “Việt Nam đã chọn phe”, “đi theo Mỹ và phương Tây”. Nhiều người còn cho rằng, quyết sách của Việt Nam là hợp lý vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đích thân mời Tổng Mỹ J. Biden đến thăm Việt Nam vào nửa đầu tháng 9 năm 2023. Do đó, “Việt Nam đã quên quá khứ”; “chỉ hướng đến tương lai”, không còn coi Mỹ là “kẻ thù truyền kiếp”.

2. Những câu chuyện nêu trên thật khôi hài và nực cười, là sự bịa đặt xảo trá, mang tính chủ quan, chỉ là ý kiến của một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Nó chỉ dựa vào một vài sự kiện cụ thể có thật để đồn thổi, khuếch đại, biến “con muỗi thành con voi”, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán ngán về CNXH do Đảng ta lãnh đạo. 
Điều nguy hiểm nhất là nó xuất hiện trước ngày Đảng ta tổ chức Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để bàn nhiều vấn đề quan trọng về bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, chuẩn bị các Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây là những quan điểm sai trái nhằm chỉ trích, xuyên tạc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta một cách cực đoan về CNXH, phủ nhận hệ giá trị tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 
Qua đó, tạo ra dư luận xấu về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, làm nhụt ý chí phấn đấu của quân và dân ta. Sự thâm thù, nguy hiểm của các luận điểm sai trái nêu trên là nó được tán phát vào trước và sau lúc Đảng, Nhà nước ta tổ chức các hội nghị thường niên để bàn luận và ban hành quyết sách mới nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm 2024 - năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

3. Lấy cớ và thổi phồng một số hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang chĩa “nòng súng” vào việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của của Đảng và nhân dân ta. Cùng với đó, họ lợi dụng sự kiện có thật là Tổng thống J. Biden đến thăm Việt Nam cũng như nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước để đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta.

Phải nói cho rõ rằng, ở Việt Nam không bao giờ có chuyện “quay xe”, “đổi hướng”, “đổi màu”; các thế lực thù địch đừng hòng lợi dụng sự kiện nêu trên để phá hoại niềm tin của nhân dân ta vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Rõ ràng, việc phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sự thất bại cay đắng của các thế lực thù địch và bọn theo đuôi kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã nhận diện rõ bộ mặt thật của các thế lực phản động. Đằng sau chiêu trò “ném đá giấu tay” là mưu đồ đen tối: chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, bóp méo tính ưu việt của CNXH ở Việt Nam; cản trở nhân dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; lái nước ta đi theo con đường TBCN có lợi cho kẻ xấu.

Cần nói cho rõ rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ có tính lịch sử và nguyên tắc của nó; có lợi cho hai nước, hai dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta đã đổ máu, hy sinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược để bảo vệ vững chăc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nên mới có được thành quả cách mạng ngày nay. Những việc làm của Đảng ta đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân.

4. Ai đó cho rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ… là Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu, đi theo con đường TBCN là vô căn cứ, hoàn toàn không đúng. Đó là mưu toan bóp méo sự thật đầy tính vu khống, cáo buộc cần phải loại bỏ.
Những người tuyên bố “giã từ CNXH” để đi theo CNTB, đi theo con đường của “các nước lớn”, “các nước phát triển” ở phương Tây đã trải qua với hy vọng Việt Nam mau chóng trở thành “con hổ, con rồng châu Á” chỉ là ý muốn chủ quan của họ; nó hoàn toàn sai lầm, xa lạ với Việt Nam. Đối với nhân dân ta, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Ai đó cố tình kiếm cớ, viện dẫn chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ cùng với việc hai nước nâng cấp từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện để xuyên tạc bản chất của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đương nhiên, họ đã đi ngược lại lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Nhận thức rõ bối cảnh hiện thời là rất phức tạp, nhưng trước sau như một, Đảng, Nhà nước ta, Quân đội ta đã và đang làm mọi cách với nhiều biện pháp khả thi, tốt nhất, chắc chắn nhất để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiến lên. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân Việt Nam không bao tin vào sự đồn nhảm, sự xuyên tạc, bôi đen sự thật của các thế lực thù địch và đương nhiên không giờ tha thứ cho “những kẻ chọc gậy bánh xe”, chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH, phát triển đất nước vì hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta.

Tán phát quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật là vi phạm Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam, kẻ xấu nhất định sẽ bị trừng trị đích đáng. Vượt lên trên hết thảy mọi khó khăn, phức tạp, quyền tối cao quyết định vận mệnh quốc gia, sự thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước ta./.
Yêu nước ST.

BÀ PATRICIA GOSSMAN ĐỪNG PHÁT BIỂU HỒ ĐỒ, VÔ CĂN CỨ!

     Tòa án Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Dương Tuấn Ngọc (sinh 1985, thường trú huyện Đức Hòa (Long An), tạm trú tại xã Nam Hà, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) 7 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”!
Sẽ chẳng có gì phải bàn thêm nếu như không có chuyện trên VOA Tiếng Việt và một vài trang mạng ở hải ngoại, bà Patricia Gossman, Phó Giám đốc và Biên tập viên cao cấp, Ban Á châu của cái gọi là tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) phát biểu rằng: “Đây lại là một trường hợp nữa về việc chính phủ Việt Nam trừng phạt một người chỉ trích chính phủ mà ông ấy không hề làm gì hơn ngoài việc thực thi quyền tự do ngôn luận cơ bản của mình”. Giọng điệu trên là hết sức sai trái, xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó, quyền tự do ngôn luận trên báo chí được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác... Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền…
Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam không phải là vô hạn độ mà phải trong khuôn khổ của pháp luật. Điều 9 Luật Báo chí quy định các nhóm hành vi bị Luật Báo chí nghiêm cấm gồm: 
- Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; gây chiến tranh tâm lý. 
- Đăng, phát thông tin có nội dung: Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
- Đăng, phát thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc. 
- Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật. 
- Thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng. 
- Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. 
- Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án. 
- Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em. 
- In, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính. 
- Cản trở việc in, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí hợp pháp tới công chúng. 
- Đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật…
Đối chiếu với các quy định hiện hành của pháp luật thì Dương Tuấn Ngọc đã vi phạm rất nghiêm trọng. Cụ thể theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, từ năm 2012 đến tháng 7-2023, Dương Tuấn Ngọc đã tạo ra 106 bài viết, 37 video clip, biên soạn lời cho 14 bài hát dựa trên nền nhạc các ca khúc nổi tiếng, làm 49 tờ tài liệu, tải về, cất giữ 2 tập tài liệu khác có nội dung sai sự thật, bóp méo tình hình thực tế, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nội dung các tài liệu do Dương Tuấn Ngọc làm ra còn đả kích các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội; xuyên tạc lịch sử; nói xấu, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh hoặc bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng; tung tin không đúng sự thật. Những tài liệu này thường xuyên được Dương Tuấn Ngọc đăng tải, phát tán trên 3 tài khoản Facebook và 3 kênh Youtube do đối tượng quản lý, sử dụng để chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hành vi của Dương Tuấn Ngọc có tính chất, mức độ rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh quốc gia, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trước Hội đồng xét xử Dương Tuấn Ngọc đã thừa nhận mọi hành vi vi phạm pháp luật của mình, đồng thời bày tỏ sự ăn năn, hối cải và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Sự thật về những sai phạm của Dương Tuấn Ngọc rất rõ ràng. Ấy vậy mà bà Patricia Gossman lại cho rằng đó chỉ là “thực thi quyền tự do ngôn luận cơ bản”. Phát biểu của bà Patricia Gossman là hồ đồ, vô căn cứ, bóp méo, xuyên tạc sự thật về quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Thực chất giọng điệu của bà Patricia Gossman không gì khác là xuyên tạc sự thật, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, đi kèm với đó là bênh vực Dương Tuấn Ngọc nhằm kích động các đối tượng trong và ngoài nước tiếp tục lợi dụng quyền tự do ngôn luận tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam. Thế nhưng dù bằng giọng điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa bà Patricia Gossman và một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam cũng không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển và là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã bác bỏ hoàn toàn mọi luận điệu, chiêu trò sai trái đó./.
Yêu nước ST.