Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024
NHỮNG BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC TỪ CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!
Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN QUY ĐỊNH 144-QĐ/TW VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN GIAI ĐOẠN MỚI!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI LÃNH TỤ RẤT ĐỖI LỚN LAO, HẾT MỰC KHIÊM NHƯỜNG!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: QUÁ COI THƯỜNG KHÁN GIẢ(!)
PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ CHÍN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!
BÀI VIẾT RẤT HAY VÀ SÂU SẮC CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THANH TUẤN - NGUYÊN CỤC TRƯỞNG CỤC TUYÊN HUẤN, TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ QĐNDVN!
Phải chăng Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ?
Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện với hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động chặt chẽ, khoa học; trong đó, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản, cốt lõi. Kiên trì tuân thủ nguyên tắc ấy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn phát huy dân chủ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo toàn dân ta tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại luôn hậm hực với những thắng lợi ấy. Chúng tìm mọi “ngón đòn” tinh vi, xảo quyệt hòng xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Một trong những thủ đoạn phổ biến là các đối tượng triệt để lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, “núp bóng dân chủ”, “đội lốt nhân quyền” tung các chiêu bài “thư ngỏ”, “góp ý”, “hội thảo khoa học” để rêu rao: việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân dẫn đến mất dân chủ; là một thứ chế độ tập quyền, độc đoán, bảo thủ nhằm “bảo vệ vị trí độc tài” của Đảng. Không những thế, họ còn lập luận, tập trung và dân chủ trong nguyên tắc này là hai mặt trái ngược, không thể thống nhất với nhau, rằng: “đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung”, “tập trung với dân chủ như lửa với nước”, hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ. Với kiểu lập luận “máy móc”, “siêu hình” như vậy, các đối tượng cố ý tách rời tập trung với dân chủ, cuối cùng đi đến phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và xuyên tạc cho rằng: Đảng ta xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ trở thành kẻ độc tài, chuyên chế và vi phạm dân chủ. Theo họ, muốn thoát khỏi tình trạng đó, Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ không giới hạn. Đặc biệt, thời gian gần đây, lợi dụng việc một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn tới độc đoán, quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất bị xử lý kỷ luật, họ càng ra sức thổi phồng, bôi đen, bóp méo, suy diễn, đánh lận và quy chụp cho rằng, những khuyết điểm, hạn chế đó đều có nguyên nhân từ nguyên tắc tập trung dân chủ, từ đó đòi hỏi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc này “cho phù hợp tình hình mới”(!). Vậy, phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ; là độc đoán, toàn trị...? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và lý giải cặn kẽ vấn đề trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
Về lý luận, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi tập trung dân chủ là cái “vốn có”, là thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân; nguyên tắc tổ chức “xương sống” của Đảng Cộng sản và là nguyên tắc để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng phái khác. Đặc biệt, khi bàn về vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ, V.I.Lênin đã khẳng định: “Các Đảng gia nhập quốc tế cộng sản phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ... Đảng Cộng sản chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu Đảng được tổ chức một cách tập trung nhất, nếu trong Đảng có một kỷ luật sắt, gần giống như kỷ luật quân sự, và nếu Trung ương đảng là một cơ quan có uy tín mạnh mẽ, có quyền lực rộng rãi, được toàn thể đảng viên tin cậy”.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”. Theo Người, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là phương thuốc hữu hiệu ngăn ngừa những căn bệnh nguy hiểm của một đảng cầm quyền, như: quan liêu, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, v.v. Như vậy, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, đảm bảo cho Đảng là một chỉnh thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, tập trung được trí tuệ, sức mạnh vật chất, “tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”; tránh tình trạng lỏng lẻo, lộn xộn, vô chính phủ, bè phái; tạo môi trường bình đẳng để phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo của mỗi thành viên, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong tổ chức, hoạt động của Đảng Cộng sản; xem nhẹ và thực hiện không đúng nguyên tắc này sẽ làm tổn hại đến uy tín, sức mạnh của Đảng, là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, v.v.
Sở dĩ như vậy bởi nội hàm cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; hai thành tố này vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, có quan hệ biện chứng lẫn nhau chứ không phải là sự gán ghép đơn thuần giữa nguyên tắc tập trung với nguyên tắc dân chủ như lý luận “số học” của một số đối tượng. Bàn về mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”; “Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn, nước nào càng tập trung lại càng dân chủ, càng dân chủ thì càng phải tập trung”. Tập trung trên nền tảng dân chủ là sự tập trung trên cơ sở thực hiện và mở rộng dân chủ trong sinh hoạt của Đảng. Sự tập trung trong Đảng là do toàn thể đảng viên xây dựng nên, không phải do một cá nhân nào quyết định; đó là sự tập trung trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của đa số, được hình thành một cách tự giác, chứ không phải là một thứ tập trung được thiết lập chỉ để phục vụ một nhóm người, một cá nhân. Dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung là dân chủ có mục đích, có định hướng, có lãnh đạo, có tổ chức, v.v. Qua đó thấy rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ là sự liên hệ thống nhất, tác động biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; đó là thể hiện mối liên hệ bản chất của một nguyên tắc thống nhất, trong một chỉnh thể thống nhất. Tập trung là sự thể hiện trình độ dân chủ, là điều kiện, tiền đề chi phối khuynh hướng phát triển của dân chủ; dân chủ trong Đảng là dân chủ mang tính chất tập trung, là tiền đề, điều kiện quy định tính chất, khuynh hướng phát triển của tập trung. Từ trong bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ đã loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng độc đoán, quan liêu và mất dân chủ.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay đã chứng minh, nhờ kiên định và thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã giữ vững được sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, có đủ sức mạnh và uy tín lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ở tuổi 15, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đó, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, gần 40 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo - sản phẩm của ý Đảng, lòng dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Điều đáng nói là, việc tuân thủ và vận dụng sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng đã, đang trở thành vấn đề cốt yếu, nguyên nhân hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Các nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương đã được các cấp ủy, tổ chức đảng tuân thủ và thực hiện nghiêm túc”. Trong đó, thực hiện tốt việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền của đảng viên, như: quyền được thảo luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến, phản biện… Vì vậy, các hiện tượng “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, “nói một đằng nhưng làm một nẻo”… ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng về cơ bản được khắc phục. Cùng với đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã gương mẫu, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) của Đảng; đồng thời, phát huy cao độ trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, phân cấp, ủy quyền, thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên mà trước hết là cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt. Với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm xuyên suốt “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, mọi chủ trương, chính sách trước khi ban hành đều được công bố rộng rãi, công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân góp ý. Sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở; các hình thức tọa đàm, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên, nhân dân được tăng cường. Công tác tổ chức và cán bộ được tiến hành công khai, dân chủ; tình trạng cục bộ, mất đoàn kết trong cán bộ được chấn chỉnh. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày nêu rõ: để chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, các Tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, các bộ, ban, ngành ở Trung ương và các cấp uỷ, chính quyền địa phương tổ chức gần 60 cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm và thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế. Sau khi các dự thảo Báo cáo được chỉnh lý, sửa chữa và được gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định cho công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân7. Gần đây nhất, để hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Quốc hội đã tiến hành xin ý kiến rộng rãi của nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (Số liệu thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 27/3, đã có hơn 9 triệu lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý dự thảo Luật này), v.v. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng được tiến hành chặt chẽ, đúng nguyên tắc, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng. Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 600 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên vi phạm kỷ luật (trong đó có không ít trường hợp do chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm dẫn đến vi phạm kỷ luật). Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã đem lại những hiệu quả tích cực, đã và đang góp phần xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, liêm chính, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. v.v. Những tiến bộ trên không chỉ góp phần khắc phục sự áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền…, mà còn góp phần mở rộng, phát huy dân chủ, nhất là khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua đó, khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng được giữ vững, tạo được sự đồng thuận của nhân dân, ít phát sinh những vấn đề bức xúc, bất đồng, chia rẽ; phát hiện, ngăn chặn tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, không phải là mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt. Ngược lại, chính do giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ đã bảo đảm cho Đảng ta luôn có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn dân để xây dựng Đảng. Mọi chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đất nước đều là sự hội tụ của ý Đảng, lòng dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mới đây, nhân dịp kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), nhiều quốc gia, các đảng chính trị, học giả trên thế giới gửi điện mừng và có những bài viết đánh giá rất cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Việt Nam. Theo đó, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, ông Jesús Faría, Phó Chủ tịch Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất cầm quyền Venezuela (PSUV) đã khẳng định: Những giá trị cốt lõi trong phương thức lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh được các thế hệ tiếp theo gìn giữ và tiếp tục phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn và bối cảnh lịch sử. Sự kế thừa đó thể hiện qua phương thức lãnh đạo coi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhằm quy tụ sức mạnh, trí tuệ của tập thể, đồng thời giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Đây tiếp tục là một cơ sở khách quan bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, có ý nghĩa sống còn trong xây dựng và hoạt động của Đảng. Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc là bảo đảm quan trọng để Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện tốt nguyên tắc này; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc quan trọng này, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.
ST.
ST.
Phải chăng “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”?*
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, thượng sách giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta kế thừa, phát triển cả trong hiện tại và tương lai xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của nó đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải “nỗi lo hão huyền” như luận điệu các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng nhiều biện pháp. Hiện nay, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành quan điểm lớn của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã khẳng định quan điểm này. Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Thế nhưng, đâu đó lại có luận điệu cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”, không có cơ sở thực tế, không có thật (?!). Để làm rõ vấn đề này, cần làm sáng tỏ những cơ sở khoa học và thực tiễn để khẳng định tính chân lý trong quan điểm của Đảng ta.
| Chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh. Ảnh: dangcongsan.vn |
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự kế thừa sâu sắc kinh nghiệm quý trong truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam
Đây là vấn đề có tính quy luật phổ biến của nhiều quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” luôn là vấn đề thường trực của đất nước. Thật vậy, kể từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay, trong khoảng gần 23 thế kỷ, với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang của dân tộc ta đã chiếm tới 12 thế kỷ. Hầu như mọi triều đại phong kiến Việt Nam đều phải lo trước việc phòng bị và chăm lo bảo vệ đất nước; đều phải tổ chức chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra còn những cuộc trấn áp đối với các thế lực phản loạn, tiếm quyền, các cuộc nổi dậy ly khai, đòi tự trị, v.v. Như vậy, bảo vệ Tổ quốc bao hàm ứng phó với cả “thù trong, giặc ngoài”.
Trong lịch sử, ông cha ta luôn coi trọng công việc giữ nước, thực hiện phương châm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, “nội yên, ngoại tĩnh”. Những tư tưởng và hành động biểu thị sự nghĩ trước, biết trước, lo xa, luôn cảnh giác, đề phòng bất trắc từ trước, từ sớm, từ xa đều nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu ấy. Thực tiễn lịch sử chỉ ra, triều đại nào biết chăm lo sức dân, yên dân, chuẩn bị tốt phòng bị đất nước thì nước yên, kẻ thù không dám nhòm ngó, xâm phạm; còn nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán thì nguy cơ bị thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. Có những bài học đau xót từ việc coi nhẹ việc giữ nước, tách rời dựng nước với giữ nước, chủ quan khinh địch, lơ là mất cảnh giác, để khi giặc đến đánh thì trở tay không kịp, chuốc lấy thất bại, đẩy dân tộc vào vòng nô lệ ngoại bang. Như vậy, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự đúc kết thực tiễn qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Kế thừa tư tưởng của ông cha ta về chăm lo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngay từ khi nước chưa nguy có một căn cứ lịch sử quan trọng không thể phủ nhận trong tư tưởng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta. Đó là sự thật chứ không phải hão huyền như luận điệu thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát và đúc kết từ thực tiễn cách mạng Việt Nam
Sự hình thành, phát triển nhận thức và hệ thống quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã phản ánh trung thành học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn coi trọng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, coi đó là một nội dung lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Khi chưa giành được chính quyền cũng như khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn phân tích khoa học tình hình thế giới, khu vực, trong nước và căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, xác định đúng đắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bên cạnh giặc ngoài, các thế lực thù địch, phản động trong nước tăng cường chống phá chính quyền cách mạng. Cùng với đó là nạn đói, nạn dốt, tài chính kiệt quệ,… đã đặt vận mệnh quốc gia - dân tộc vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để chủ động ứng phó với những thách thức trên, ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, nêu rõ nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Bên cạnh lực lượng Quân đội được thành lập từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng Công an nhân dân được thành lập ngay sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội. Đây là những lực lượng nòng cốt bảo đảm thắng lợi cho nhiệm vụ chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa ngay từ những ngày đầu mới xác lập chính quyền cách mạng.
Sau khi cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô năm 1946 tan vỡ, Đảng ta đã nhận định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp. Theo đó, tinh thần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy lúc này được thể hiện ở sự tích cực, chủ động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ gây mất an ninh cho đất nước, cho chế độ ngay từ những ngày đầu mới giành chính quyền; đồng thời, mở rộng phạm vi không gian, nội dung, nhiệm vụ, lực lượng, phương tiện bảo vệ; gắn bảo vệ trực tiếp với bảo vệ gián tiếp, bảo vệ bằng phương thức vũ trang kết hợp với các phương thức phi vũ trang, giữa bảo vệ bên trong với bảo vệ bên ngoài đất nước.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sử dụng tổng hợp các biện pháp, cả kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, chú trọng các biện pháp đối ngoại, đấu tranh chính trị, pháp lý để ta có được thế chủ động, sẵn sàng ứng phó với các diễn biến của chiến tranh. Từ thực tiễn lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng ta đã rút ra kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến giải phóng dân tộc, một trong những kinh nghiệm đó là: “Vừa chiến đấu, vừa phát triển lực lượng và xây dựng hậu phương kháng chiến”.
Đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta đã một mặt vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ động nắm bắt đúng tình hình thực tiễn cách mạng xác định nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa kịp thời, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống. Mặt khác, tích cực chủ động vừa đánh vừa đàm, phát huy đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Với dự đoán chính xác việc Mỹ sẽ đưa máy bay B-52 đánh phá Hà Nội và chỉ chịu thua khi bị thua trên bầu trời Hà Nội là một biểu hiện sinh động về tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó, sớm chỉ đạo quân và dân ta, làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lịch sử, buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
Thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, hành động chống phá cách mạng nước ta; các thế lực hiếu chiến ngoại bang cũng chưa khi nào ngừng dã tâm xâm chiếm, thôn tính Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn âm mưu, tìm mọi cách thức, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế những “điểm nóng” ở Thái Bình (năm 1997); vụ gây rối ở Tây Nguyên (năm 2001, năm 2004); Mường Nhé (năm 2011); bạo động ở Bình Thuận (năm 2018); vụ gây rối trật tự ở xã Đồng Tâm, Hà Nội (năm 2020); vụ khủng bố xảy ra tại huyện Cư Kurin, Đắk Lắk gần đây (ngày 11/6/2023) đã cho thấy các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường chống phá toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, tư tưởng, văn hóa,… lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”; tuyên truyền kích động, khoét sâu vào những bất đồng, mâu thuẫn để chống phá cách mạng nước ta, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nội bộ đất nước. Đảng ta đã nhận định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Đây là nguy cơ và cũng là thách thức lớn đối với đất nước ta trong thời gian sắp tới. Hóa giải nguy cơ này chính là phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ có trong nhận thức, tư duy mà còn thể hiển cả trong hành động thực tế. Tư duy không ảo tưởng, thì hành động sẽ không hão huyền.
Từ những cơ sở trên có thể thấy, thực chất luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” là luận điệu ru ngủ người tiếp nhận thông tin và truyền tải một tinh thần lơ là, mất cảnh giác đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc để thực hiện âm mưu thâm độc: bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Do không có bản lĩnh và không nhận thức được bản chất và tính quy luật của vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nên một số người đã ngộ nhận trước luận điệu này, rơi vào chủ quan, thậm chí ảo tưởng, không thấy được những nguy cơ, thách thức đã, đang đe doạ đến vận mệnh của Tổ quốc. Từ không nhận thức được bản chất vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nên họ cũng không thấy, không biết trách nhiệm của mình phải làm gì và ở đâu?
Đến đây, có thể khẳng định rằng, chính luận điệu phủ nhận “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” mới là không có sơ sở thực tế, là “hão huyền”. Bởi, quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của Đảng ta được dựa trên những căn cứ khoa học và cơ sở lý luận, thực tiễn xác đáng./.
ST.
Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam
Đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ góp phần bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn trực tiếp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ tư tưởng của Người. Đó là hệ thống các luận điểm về: tính tất yếu phải có đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam; quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam; đảng cầm quyền; xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Đây là cơ sở lý luận trực tiếp, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, lãnh đạo, trưởng thành của Đảng ta gần 95 năm qua - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã, đang dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc nội dung, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc này là vấn đề cấp thiết, quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.
Trước hết, về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lâu nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc và nhân dân”; chúng “chụp mũ”, cho rằng “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh cơ cực, đói khổ, nghèo nàn, cùng quẫn”, v.v. Đây là sự vu khống, bịa đặt vô cùng trắng trợn, nhằm bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Thực vậy, với lòng yêu nước nồng nàn và ước muốn tột cùng là cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, Hồ Chí Minh đã bôn ba tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin “như một cuộc hẹn hò lịch sử” và đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917” mới có thể giành được độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn; nhân dân ta mới được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Để thực hiện con đường cứu nước đúng đắn đó, Người đã đặt câu hỏi và tự trả lời: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Nghĩa là, Người đã nhận thấy rõ tính tất yếu cũng như vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đồng thời, đảng đó phải là đảng cách mạng, chân chính, phải được thiết lập trên cơ sở gắn bó máu thịt giữa đảng với các tầng lớp nhân dân, đảng không có lợi ích nào khác ngoài đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, được quần chúng nhân dân thừa nhận và vì sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai. Từ tư duy khoa học, cách mạng đó, Người đã chủ động tiến hành chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng, chính trị, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng. Và thực tế đã cho thấy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo; dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những luận cứ khoa học trên và thực tiễn cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái của các thế lực thù địch đã quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc, với nhân dân”!
Hai là, về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức bịa đặt và xuyên tạc rằng “Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa yêu nước vào quy luật hình thành Đảng là trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản”. Chúng còn ra điều hiểu biết khi viện dẫn: “chủ nghĩa yêu nước chỉ làm mất bản chất giai cấp công nhân của Đảng”, v.v. Thực chất, đây là những luận điệu nhằm đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thành tố “chủ nghĩa yêu nước” đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận điệu đó hoàn toàn vô lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Thực vậy, trên cơ sở nắm vững nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là một thành tố quan trọng quyết định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Đồng thời, Người đã phân tích sâu sắc điều kiện, hoàn cảnh nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam mới ra đời, số lượng còn ít, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu gắn chặt với phong trào yêu nước. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân mới là điều kiện “cần” để Đảng ra đời; nhưng để Đảng ta tồn tại, phát triển và giữ vững vai trò đội tiền phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì phải có điều kiện “đủ” - đó chính là phong trào yêu nước Việt Nam. Bởi vì, phong trào yêu nước Việt Nam được dẫn dắt bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; ra đời trước phong trào công nhân, đã đồng hành cùng dân tộc và là phong trào rộng lớn nhất, quy tụ các giai cấp, tầng lớp đấu tranh chống thực dân, đế quốc. Trong bối cảnh ấy, nếu phong trào công nhân không gắn bó với phong trào yêu nước, trở thành nòng cốt trong phong trào yêu nước thì cũng không lãnh đạo và tập hợp được lực lượng đông đảo. Hồ Chí Minh đánh giá đúng vị trí, vai trò và đưa phong trào yêu nước là một thành tố hợp thành không thể thiếu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta. Không chỉ vậy, Người còn khẳng định “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”. Có nghĩa là, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đại diện cho lợi ích giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích dân tộc và Đảng không có lợi ích riêng nào khác. Như vậy, tư tưởng trên của Hồ Chí Minh không hề “trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin”; đồng thời, cũng không “làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta”. Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật hình thành đảng cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến của Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo và huy động toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó đã bác bỏ mọi luận điệu mà các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.
Ba là, về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ luận điểm hết sức sáng tạo của Người: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, các thế lực thù địch cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà là người dân tộc chủ nghĩa”, “là cộng sản nửa vời”, v.v. Sự thật là, cách tiếp cận về Đảng của Hồ Chí Minh không những không làm mất đi bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà còn bổ sung, phát triển quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản ở một nước thuộc địa, khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu như ở Việt Nam, thì đảng đó không chỉ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn là của cả dân tộc. Trước hết, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh thần cách mạng và phương pháp khoa học, giải quyết đúng đắn, thành công mối quan hệ mật thiết giữa Đảng - giai cấp - dân tộc. Quá trình sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh luôn khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Bởi vì, chỉ có giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, Người thấy rõ sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng không chỉ một hai người, mà của toàn thể dân chúng, Đảng không có lợi ích riêng, mà thống nhất với lợi ích của giai cấp, lợi ích của toàn thể nhân dân và của cả dân tộc. Do đó, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc là luận điểm rất sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Luận điểm ấy không làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà trái lại nó làm cho bản chất giai cấp công nhân được củng cố và tăng cường; càng làm cho giai cấp công nhân gắn bó máu thịt với nhân dân và cả dân tộc, làm cho Đảng ta luôn mang trong mình sự thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc. Chính điều đó đã làm cho Đảng ta có sức cuốn hút mạnh mẽ các giai cấp, tầng lớp nhân dân, toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; tin theo Đảng, bảo vệ Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Nhiều học giả phương Tây cũng khẳng định “Hồ Chí Minh là người cộng sản, rất mác - xít, đồng thời rất thấm đượm tinh thần dân tộc chân chính; là một hình mẫu giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc và giai cấp một cách nhuần nhuyễn, kỳ tài”. Và thực tiễn đó đã khiến luận điệu xuyên tạc “Hồ Chí Minh là người “dân tộc chủ nghĩa” hay “cộng sản nửa vời” chỉ là hàm hồ, lố bịch.
Phủ nhận, xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận dẫn đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Đó là những hành động hết sức nguy hiểm và phản động, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận rõ mưu đồ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.
ST.







