Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

NHỮNG BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC TỪ CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, có thể rút ra những bài học trong công tác xây dựng đảng về đạo đức giai đoạn hiện nay!

Đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân là hai cặp phạm trù đối lập nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Đạo đức cách mạng cần phải xây dựng và củng cố, chủ nghĩa cá nhân cần phải đấu tranh để loại bỏ. Đạo đức cách mạng là sức mạnh chống chủ nghĩa cá nhân, chống chủ nghĩa cá nhân là để bảo vệ và củng cố đạo đức cách mạng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà mỗi cán bộ, đảng viên phải phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, tạo nên phẩm chất, nhân cách của người cộng sản. Đạo đức cách mạng được xây dựng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại. Đạo đức cách mạng là “đạo đức mới”, mang bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn. Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người; phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa cá nhân là đề cao, tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân, luôn nghĩ đến lợi ích của mình tr­ước hết, trên hết; không muốn vì lợi ích của mọi người, của tập thể. Chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối hóa “cái tôi”, coi nhẹ cái “chúng ta” trong khi cái chúng ta mới là cơ sở tồn tại của đời sống xã hội loài người. Chủ nghĩa cá nhân là: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(1). Chủ nghĩa cá nhân gây ra những hậu quả xấu về mọi mặt, làm hại đến lợi ích của Đảng, của cách mạng và của nhân dân; gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và nhân dân, đe dọa đến vai trò cầm quyền của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích, chủ nghĩa cá nhân sẽ “Che lấp đạo đức cách mạng, để ngǎn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(2); chủ nghĩa cá nhân “khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”… Do đó, người đảng viên ngoài việc phải tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng còn phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác và không chịu khuất phục trước chủ nghĩa cá nhân - hiện thân của cái xấu, cái ác, cái phản tiến bộ.

Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với những nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng, củng cố và hoàn thiện nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng là sự đấu tranh triệt để, kiên quyết, không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân. Những chỉ dẫn của Người để lại những bài học lớn cho chúng ta trong xây dựng Đảng về đạo đức giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, xây dựng Đảng về đạo đức phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ.
Đạo đức của xã hội nói chung, đạo đức của Đảng nói riêng và của mỗi con người cụ thể không tự nhiên có được mà phải trải qua quá trình rèn luyện, đấu tranh không ngừng mới hình thành, củng cố và hoàn thiện. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(3). Mặt khác, Người phân tích, “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Hơn nữa, đạo đức thuộc về hình thái ý thức xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi, ý thức xã hội thay đổi theo. Điều đó có nghĩa, vào mỗi giai đoạn, đặc biệt là khi trải qua những bước ngoặt quan trọng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải kế thừa và bổ sung, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức mới để thích ứng với tình hình mới. Những điều đó cho thấy rằng, xây dựng Đảng về đạo đức không phải là công việc có giới hạn về thời gian mà là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ.

Nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề đạo đức trong Đảng, Đảng đã quan tâm chỉ đạo rất sát sao công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Đó cũng chính là sự trở lại với những chỉ dẫn quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong rất nhiều tác phẩm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc về chủ nghĩa cá nhân, Người đưa ra định nghĩa chủ nghĩa cá nhân, nhận diện những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, hậu quả của chủ nghĩa cá nhân và những biên pháp để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân và Hồ Chí Minh chính là tấm gương về sự bền bỉ, kiên trì và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Trên cơ sở những chỉ dẫn của Người về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây đi đôi với chống, một mặt xây dựng đạo đức, mặt khác chống những biểu hiện phi đạo đức, phản đạo đức. Nghị quyết số 04-NQ/TW của Đảng đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ... Đây là sự phát triển lý luận về xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền hiện nay, là điểm nhấn quan trọng, định hướng công tác xây dựng Đảng, thể hiện rõ nét dấu ấn việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong thời gian tới và trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng cần phải tiếp tục nhận thức sâu sắc và toàn diện, quán triệt và nghiêm túc trong tổ chức thực hiện tinh thần nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự sao nhãng, lơ là hoặc thiếu thực chất trong xây dựng Đảng về đạo đức đều là mảnh đất mẫu mỡ cho sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái của Đảng cầm quyền.

Thứ hai, nêu gương là một giải pháp đặc biệt quan trọng và hiệu quả.
Nêu gương là một giải pháp quan trọng trong xây dựng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân vì nêu gương có ưu thế vượt trội so với các phương pháp khác ở sự sinh động, thực tế, bằng người thật, việc thật, bằng những tấm gương sống, do đó có sức thuyết phục cao, hiệu quả, tạo nên sức mạnh to lớn để lôi cuốn quần chúng nhận thức và hành động theo. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu gương trong thực hành đạo đức và chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, không chỉ tác động đến tư tưởng, nhận thức mà còn tác động đến tình cảm, niềm tin của cấp dưới và của nhân dân, qua đó tạo được uy tín của của họ trong tổ chức và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5).

Trong Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu tác phẩm bằng hai mệnh đề: “Nhân dân ta thường nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”(6). Thực chất, đây chính là sự nhìn nhận, đánh giá của nhân dân đối với sự hy sinh, tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người viết, “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta đã tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang”(7). Người tự hào, “Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác”(8). Đó chính là “những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.

Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước là biểu hiện thực tế, sinh động và thuyết phục nhất đối với nhân dân về tính chân chính và đạo đức của Đảng. Thực tế thời gian qua cho thấy, ở cấp ủy, tổ chức Đảng nào có người đứng đầu luôn gương mẫu, chí công vô tư, trong sáng về đạo đức thì cấp ủy, tổ chức Đảng đó luôn đoàn kết, thống nhất, phát huy tốt vai trò lãnh đạo và ở đó cũng không có hoặc có rất ít hiện tượng đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống. Do đó, nêu gương về đạo đức ngày càng trở nên quan trọng trước những bước ngoặt của cách mạng, khi những biến cố chính trị đang làm thay đổi tình hình một cách nhanh chóng, mau lẹ và khó dự báo.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, để xây dựng đạo đức của Đảng, chống lại chủ nghĩa cá nhân, trước hết, cần phải đề cao tính tiên phong, gương mẫu, tự tu dưỡng, rèn luyện của người đứng đầu các tổ chức đảng. Cụ thể, Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng phải gương mẫu về đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên noi theo; đảng viên đi trước phải làm gương cho đảng viên đi sau; đảng viên giữ cương vị, chức vụ càng cao thì phải càng gương mẫu, trong sáng về đạo đức; đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý; những đảng viên có vị trí, địa vị quan trọng; những đảng viên có uy tín và những đảng viên có thâm niên công tác cũng có những tác động rất lớn đến xây dựng Đảng về đạo đức. Nếu những đảng viên này thực sự nêu gương về đạo đức thì trong lãnh đạo sẽ mang lại hiệu quả to lớn.

Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc”(9). Có như vậy, công tác xây dựng Đảng về đạo đức mới đạt hiệu quả, thiết thực.

Thứ ba, mỗi cá nhân phải có ý thức không ngừng tu dưỡng đạo đức và có bản lĩnh chống chủ nghĩa cá nhân.
Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải tu dưỡng những phẩm chất đạo đức sau: Phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết và trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ(10). Để thực hiện được những chữ “phải” đó, cán bộ, đảng viên phải thực sự nghiêm khắc khép mình vào sự tự tu dưỡng, rèn luyện không ngừng về đạo đức và có bản lĩnh chống chủ nghĩa cá nhân.

Trong thời gian vừa qua, đa số đảng viên giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh, giữ gìn được nhân cách trong những hoàn cảnh khó khăn. Nhiều cán bộ, đảng viên luôn giản dị, khiêm tốn, mẫu mực trong cơ quan, đơn vị, gia đình, dòng họ và nơi cư trú, gần gũi với nhân dân, hiểu và lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến. Nhiều tấm gương sáng về đạo đức cách mạng luôn đi đầu trong các phong trào, mẫu mực trong ứng xử; kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống và những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức.

Tuy nhiên, bên cạnh đó là một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, dẫn đến vi phạm điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chuẩn mực đạo đức, biểu hiện cụ thể đó là, số lượng đảng viên vi phạm đạo đức ngày càng tăng; hành vi suy thoái đạo đức ngày càng đa dạng, tinh vi, phức tạp và ngày càng nghiêm trọng; suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng diễn ra từ Trung ương đến địa phương... Suy thoái đó diễn ra trước hết trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý bị suy thoái đạo đức do không giữ vững được bản lĩnh chính trị và phẩm chất cách mạng, bị các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc, bị cám dỗ trước những lợi ích vật chất tầm thường, thiếu gương mẫu trong thực hiện các nghĩa vụ công dân, trách nhiệm của người đảng viên...

Để xây dựng đạo đức của Đảng, xây dựng “sức đề kháng” tốt nhất chống chủ nghĩa cá nhân, điều kiện tiên quyết là ý thức tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân. Đây không chỉ được coi là một nguyên tắc mà còn là một trình độ, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đạt tới. Tu dưỡng về mặt đạo đức phải trở thành một hành động tự giác, có hệ thống mà mỗi cá nhân thực hiện đối với bản thân mình nhằm khắc phục những hành vi trái đạo đức và bồi dưỡng, củng cố những hành vi đạo đức của mình, thúc đẩy sự phát triển nhân cách.

Cần thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phận sự của đảng viên và cán bộ là “cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình”. Thường xuyên tu dưỡng đạo đức, đòi hỏi phải kiểm điểm, tự phê bình những lời đã nói, những việc đã làm, phải thường xuyên xem xét, đánh giá những điều hay - dở, đúng - sai để phát triển điều hay, sửa chữa khuyết điểm. Hồ Chí Minh chỉ rõ, sau mỗi công việc, cần rút kinh nghiệm để tìm ra ưu điểm để phát huy, nhân rộng; đồng thời chỉ rõ khuyết điểm, nguyên nhân để sửa chữa, khắc phục kịp thời, không để sai lầm từ một người thành sai lầm của nhiều người, sai lầm của một tổ chức thành của nhiều tổ chức.

Thứ tư, nhân dân phải thực sự là một chủ thể xây dựng Đảng về đạo đức.
Nhân dân là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng, bổ sung và phát triển những chuẩn mực đạo đức để Đảng thích ứng với những thay đổi của thực tiễn trong quá trình lãnh đạo. Đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng đạo đức Mác - Lênin. Người đã kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, nguồn gốc, nội dung của đạo đức cộng sản, đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng đạo đức tiến bộ của nhân loại để xây dựng những quan điểm về một nền đạo đức mới trong Đảng, trong nhân dân. Tuy nhiên, yếu tố tiên quyết hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong Đảng chính là những giá trị đạo đức truyền thống đã được nhân dân Việt Nam hun đúc và xây dựng lên qua nhiều thế hệ.

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, giúp Đảng nắm rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình. Đảng là của dân tộc, của nhân dân, ở một khía cạnh nào đó, nhân dân với tư cách là một khách thể, ngoài Đảng, sự phê bình, góp ý của nhân dân về đạo đức của Đảng bao giờ cũng khách quan hơn so với việc nội bộ Đảng tự phê bình, góp ý cho nhau. Không những thế, nhân dân còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý những vi phạm đạo đức của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với việc xây dựng Đảng về đạo đức, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát trực tiếp của người dân.

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta bài học quan trọng về phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong xây dựng Đảng về đạo đức. Để thực hiện được vai trò đó của nhân dân trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tiếp tục phát huy dân chủ trong nhân dân, phát huy vai trò tích cực của dư luận xã hội, của thông tin đại chúng, tạo cơ chế để nhân dân tham gia giám sát và kiểm soát những hoạt động của cán bộ, đảng viên.

Đặc biệt, để nâng cao vai trò giám sát của nhân dân đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp quyết liệt để nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thực sự có hiệu quả bằng cả dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp; không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, pháp luật, quản lý cho nhân dân, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, cung cấp thông tin đầy đủ, tạo mọi điều kiện để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trước thực trạng đạo đức trong xã hội nói chung và đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng nói riêng hiện nay, chúng ta càng thầm nhuần hơn nữa những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân./.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN QUY ĐỊNH 144-QĐ/TW VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN GIAI ĐOẠN MỚI!

     Ngày 9/5 thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số: 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới!
Trân trọng giới thiệu toàn văn "Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới" của Trung ương:

- Căn cứ Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII;

- Căn cứ Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa,"

Bộ Chính trị quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới như sau:

Điều 1. Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc

1. Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

2. Tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; tạo điều kiện để Nhân dân phát huy quyền làm chủ, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh.

3. Đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân.

Điều 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập

1. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.

3. Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân.

4. Chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác, làm việc trong môi trường quốc tế. Tích cực tham gia quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng theo đường lối đối ngoại của Đảng phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng vì hòa bình, ổn định, tiến bộ và phát triển.

Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới- Ảnh 2.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí (đoàn Hà Nội) cho rằng tham nhũng vặt diễn ra đa dạng và ngày càng tinh vi.

Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

1. Tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, có ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

2. Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân.

3. Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

4. Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh.

5. Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín.

Điều 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm

1. Luôn luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

2. Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn. Nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành các quy định của cơ quan, đơn vị; phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức.

3. Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ.

4. Nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm. Làm tốt trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Điều 5. Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời

1. Gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng.

2. Tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm.

Điều 6. Tổ chức thực hiện

1. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, thực hiện nghiêm Quy định này.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt Quy định; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định (qua Ban Tuyên giáo Trung ương).

Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và phổ biến đến chi bộ để thực hiện./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI LÃNH TỤ RẤT ĐỖI LỚN LAO, HẾT MỰC KHIÊM NHƯỜNG!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người có tầm vóc phổ quát, nhà cách mạng vĩ đại đấu tranh không biết mệt mỏi vì sự nghiệp tốt đẹp nhất của Việt Nam và nhân loại, một con người rất đỗi lớn lao nhưng cũng rất đỗi khiêm nhường. Đây là nhận định của Tiến sĩ Ruvislei González Sáez, chuyên gia hàng đầu về Việt Nam ở khu vực Mỹ Latinh!

Tiến sĩ González Sáez, đồng thời là Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba - Việt Nam, khẳng định tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một trong những nhân vật quan trọng nhất của Thế kỷ XX - vẫn sống mãi trong trái tim của muôn triệu người Việt Nam và tất cả các nhà cách mạng trên thế giới. Ông chia sẻ: “Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, là rất nhiều tên gọi của Nhà tư tưởng vĩ đại Hồ Chi Minh. Những tư tưởng nhân văn và tiến bộ vượt bậc của Người đã vượt ra ngoài biên giới Việt Nam và có tầm ảnh hưởng lớn lao đối với toàn nhân loại”.

Nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam, học giả người Cuba hết sức ngưỡng mộ Bác Hồ, Người đã vượt lên hoàn cảnh bằng tư tưởng và hành động, dành cả cuộc đời đấu tranh không biết mệt mỏi và trở thành nhân vật của mọi thời đại.

Theo ông González Sáez, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vừa mơ mộng vừa thực tế, Người mơ một tương lai tốt đẹp hơn cho dân tộc mình và những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, và Người đã trở thành kiến trúc sư của một nước Việt Nam mới, Người dẫn đường đưa dân tộc thoát khỏi bóng tối của chủ nghĩa thực dân, xóa nạn mù chữ, trở thành đất nước xã hội chủ nghĩa tươi đẹp mười lần hơn xưa.

Ngày nay, dải đất hình chữ S ở Đông Nam Á đang vươn mình trở thành 1 trong 15 nền kinh tế năng động nhất thế giới. Từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Bác Hồ đã nói đến khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam độc lập. Người đã soi đường đưa dân tộc từ ách nô lệ đến bến bờ độc lập, tự do và phát triển.

Ngay từ năm 1954, Người đã sáng suốt khuyến nghị nên phân biệt rõ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ và lợi ích chung. Phân tích các hiện tượng theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng, bối cảnh khi ấy rất phức tạp và đang trong quá trình phát triển toàn diện; do đó, Người kêu gọi có sự chuẩn bị cần thiết và chỉ đạo kịp thời, tránh nhầm lẫn để dẫn đến những sai sót trong suy nghĩ và hành động. Những lời dạy của Bác đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị.

Nhà nghiên cứu González Sáez đặc biệt ấn tượng với phong thái giản dị, khiêm nhường và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những lời dạy của Người vừa thấm đẫm giá trị lý luận và thực tiễn, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, vừa giản dị, dễ truyền tải, dễ ghi nhớ.

Trong cuộc gặp với Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại La Habana năm 1974, nhà lãnh đạo lịch sử của Cách mạng Cuba Fidel Castro đã nhấn mạnh: “Hồ Chí Minh hiểu rằng chỉ có giai cấp công nhân mới có thể tiến hành đấu tranh đến cùng, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị áp bức trong nhân dân vì độc lập dân tộc và giải phóng xã hội. Đó là đóng góp phi thường cho tư tưởng cách mạng toàn cầu”.

Chuyên gia Cuba khẳng định, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ đáng ngưỡng mộ của Đảng và Nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Người đã để lại nhiều di sản quý giá, tư tưởng của Người là kim chỉ nam cho Đảng và Cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận, chính trị, toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam nhưng có phạm vi toàn cầu, nêu bật những vấn đề ảnh hưởng đến nhân loại ở các châu lục. Vì lẽ đó, Hội Hữu nghị Cuba - Việt Nam, Viện Cuba Hữu nghị với các dân tộc (ICAP) và Đại học La Habana mong muốn nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng của Người và phát huy các giá trị của di sản Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

Tiến sĩ González Sáez nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu và tiếp nối di sản Hồ Chí Minh để trao truyền cho các thế hệ mai sau. Tư tưởng và nền tảng đạo đức của Bác Hồ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc gìn giữ và vun đắp mối quan hệ anh em truyền thống đặc biệt Việt Nam - Cuba, hai dân tộc tuy cách xa về mặt địa lý nhưng trái tim vô cùng gần gũi và tương đồng./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: QUÁ COI THƯỜNG KHÁN GIẢ(!)

         Nhiều người không khỏi ngạc nhiên và đặt câu hỏi khi chương trình "Khách sạn 5 sao" phát sóng trên kênh VTV3 hôm qua lại chọn ca sĩ Thanh Lam cùng người chồng thứ 3 để nói về tình yêu và hạnh phúc gia đình phát sóng toàn quốc?

Theo rất nhiều ý kiến của khán giả chương trình này, thì những người, những đôi vợ chồng được mời đến tham gia chương trình phải là những người khá thành công trong cuộc sống, có ảnh hưởng và sức lan tỏa đẹp cho xã hội, có cuộc sống gia đình hạnh phúc, là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp, lối sống để người khác noi theo…
 
Ai cũng biết cô ca sĩ này có 3 đời chồng, nhiều con và vị bác sĩ đi cùng là người chồng thứ 3. Vậy thì không thể nói cô ca sĩ này có cuộc sống viên mãn và hạnh phúc được. Chưa kể cô ca sĩ này có nhiều tai tiếng trong cuộc sống, từng bị phê phán về lối sống buông thả, thể hiện ca khúc tuỳ tiện làm mất đi tính chân thực, nghệ thuật của tác giả sáng tác ca khúc… Một người như thế không thể là mẫu mực, không thể là tấm gương sáng về hạnh phúc để cả nước học tập…

Xã hội chúng ta có nhiều người thành đạt, có ảnh hưởng và đóng góp cho xã hội, có gia đình hạnh phúc và con cái ngoan ngoãn. Cảm thấy rất thú vị và ngưỡng mộ khi chương trình này phát sóng về vợ chồng HLV đội tuyển bóng đá nữ Mai Đức Chung hay ca sĩ Đăng Dương….Vậy, xã hội thiếu người có những phẩm chất đạo đức tốt, sự nghiệp thành công cùng gia đình hạnh phúc hay sao mà Đài THVN phải chọn cô ca sĩ 3 đời chồng và nhiều tai tiếng này? Xin được một câu trả lời thỏa đáng từ nhà đài VTV!
P/s: Chương trình "Khách sạn 5 sao" có thực sự mang tới không gian thư giãn thú vị, văn hóa, nhân văn, mang tính giáo dục cho người xem không (?!) Nếu không muốn nói là quá coi thường khán giả./.
Nguồn ảnh: Theo Chương trình phát sóng của VTV3./.
Yêu nước ST.

PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ CHÍN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

         Sau ba ngày (16 đến 18-5) làm việc khẩn trương, nghiêm túc, đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc sáng 18-5. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị!
Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII:

“Kính thưa Trung ương,
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau gần 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng của chúng ta đã hoàn thành vượt mức toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Trung ương đã xem xét, cho ý kiến và quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhất trí cao thông qua Nghị quyết của Hội nghị.

Để bế mạc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu khái quát lại những kết quả chủ yếu của Hội nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.

1. Hội nghị đã thống nhất cao về tư tưởng chỉ đạo, định hướng hoàn thiện Đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Đánh giá cao sự chuẩn bị của các Tiểu ban, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí về cơ bản với dự thảo Đề cương các báo cáo và cho nhiều ý kiến chỉ đạo quan trọng đối với các đề xuất, kiến nghị của các Tiểu ban. Trung ương yêu cầu các Tiểu ban cần khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Hội nghị, sớm hoàn thiện các Đề cương, bảo đảm sự thống nhất giữa các báo cáo, nhất là về chủ đề, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu tổng quát; trên cơ sở đó sớm bắt tay xây dựng dự thảo các văn kiện theo kế hoạch đã đề ra; trình bày ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra.

Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Dự thảo các văn kiện phải thực sự xứng tầm trình Đại hội, thể hiện được ý chí và sức mạnh vươn lên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, động lực mới, cũng như những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; xác định đúng đắn những chủ trương, định hướng và các quyết sách lớn bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong 5 năm tới, đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 (100 năm thành lập nước).

Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện, cần phải căn cứ vào kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, các nghị quyết của Trung ương, tổng kết 40 năm đổi mới, 15 năm thực hiện Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011); đồng thời bám sát vào Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội XIII, các Nghị quyết Trung ương khóa XIII và thực tiễn của đất nước để đánh giá một cách khách quan, khoa học toàn diện các vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp mới phát sinh; phân tích sâu sắc các nguyên nhân; dự báo có cơ sở khoa học tình hình đất nước, khu vực và thế giới, để từ đó xác định đúng đắn các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược cho nhiệm kỳ tới.

Ví dụ như, phải chăng sau 40 năm đổi mới, chúng ta đã thực sự hình thành được Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam; trong nhiệm kỳ này, cần phải tập trung ưu tiên thực hiện thật tốt 12 định hướng phát triển đất nước và 6 nhiệm vụ trọng tâm như trong Đề cương Báo cáo chính trị đã nêu? Và đặc biệt là, nên chăng, trong giai đoạn phát triển mới vẫn cần tiếp tục triển khai thực hiện ba đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII đề ra; tuy nhiên cần tập trung vào những nội dung rất then chốt, cụ thể hơn, hiện thực hơn như: Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá phát triển; đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, thu hút, bồi dưỡng, phát triển, trọng dụng nhân tài; và xây dựng kết cấu hạ tầng cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, để thực sự tạo ra đột phá phát triển.

Đồng thời, cần đi sâu phân tích, đánh giá việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2021 - 2025, khẳng định những kết quả, thành tựu đã đạt được; chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; làm rõ những nội dung đổi mới, những nhân tố mới tốt hơn, tích cực hơn của nhiệm kỳ khóa XIII so với các nhiệm kỳ trước; dự báo khả năng thực hiện Cương lĩnh, mục tiêu Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chú trọng làm rõ những vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh và bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

2. Hội nghị đã thảo luận dân chủ, cho ý kiến chỉ đạo đối với việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Trung ương đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, xác đáng vào Tờ trình và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị; tập trung thảo luận, phân tích, tạo sự đồng thuận cao những nội dung Bộ Chính trị xin ý kiến, bao gồm: Những nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW còn phù hợp; những nội dung cần kế thừa nhưng phải có điều chỉnh, bổ sung; những nội dung cụ thể hóa các nghị quyết, quy chế, quy định của Trung ương khóa XIII; những nội dung không kế thừa Chỉ thị số 35-CT/TW, cần được lược bỏ cho phù hợp với thực tiễn.

Đồng thời, Hội nghị nhấn mạnh, đây là công việc hệ trọng, cần sớm được triển khai thực hiện với tinh thần tiếp tục đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; bảo đảm tăng cường đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên. Các cấp uỷ đảng cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thảo luận, góp ý vào các dự thảo văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và đại hội đảng bộ cấp trên; đồng thời chuẩn bị thật tốt các báo cáo của cấp uỷ cấp mình. Báo cáo của ban chấp hành đảng bộ cần quán triệt định hướng chuẩn bị Văn kiện trình Đại hội XIV; bám sát tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; đánh giá đúng tình hình thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ qua; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp có tính khả thi cao cho nhiệm kỳ tới và tầm nhìn xa hơn. Việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp phải gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, bảo đảm hiệu quả cao. Chú ý phát hiện, giải quyết những vấn đề thực tế đang đặt ra, nhất là những vấn đề gây bức xúc trong nhân dân.

Công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp uỷ phải thực hiện theo đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng; rà soát thật kỹ để lựa chọn, giới thiệu và bầu được những đồng chí thật sự xứng đáng, đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chú ý phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có triển vọng, bảo đảm tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao cho Bộ Chính trị, sau Hội nghị này, khẩn trương chỉ đạo sớm hoàn chỉnh và ban hành Chỉ thị để định hướng cho toàn Đảng chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội các cấp, góp phần cho thành công Đại hội XIV của Đảng.

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã xem xét, quyết định một số vấn đề quan trọng về công tác cán bộ
Một là, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dân chủ thảo luận, kỹ lưỡng xem xét và thống nhất cao về phương án kiện toàn chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội để Đảng đoàn Quốc hội giới thiệu với Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV, dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 20-5-2024; và với tỷ lệ số phiếu tín nhiệm cao bầu bổ sung vào Bộ Chính trị các đồng chí: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Hai là, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để nghỉ công tác vì đã có vi phạm về các điều đảng viên không được làm.

Ba là, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với các đồng chí: Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Mai Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; và cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban cán sự Đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vì đã vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Thưa các đồng chí,
Ngay sau Hội nghị này, chúng ta cần phải nghiêm túc, khẩn trương nghiên cứu, hoàn chỉnh các Đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện Đại hội trình Hội nghị Trung ương 10 xem xét, quyết định vào cuối năm nay để gửi xin ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp; chỉ đạo thật tốt việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đồng thời, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch đã đề ra cho các năm 2024 - 2025 với kết quả cao nhất, phấn đấu hoàn thành thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn"./.
Yêu nước ST.

BÀI VIẾT RẤT HAY VÀ SÂU SẮC CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THANH TUẤN - NGUYÊN CỤC TRƯỞNG CỤC TUYÊN HUẤN, TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ QĐNDVN!

     Mới đây trên chương trình truyền hình của đài Truyền hình Hà Nội, khi nói về việc Đàm Vĩnh Hưng ăn mặc phản cảm gây dư luận bất bình trong xã hội, và khi nhắc đến việc Mỹ đưa quân xâm lược Viêt Nam đã nói là “Mỹ tham chiến ở Việt Nam …” đây là cách nhìn sai lầm, xóa tội xâm lược của Đế quốc Mỹ, bởi vậy tôi đăng lại bài viết cách đây bốn năm để bạn đọc có cách nhìn đúng đắn, không thể đảo ngược lịch sử và cũng để lãnh đạo đài Truyền hình Hà Nội nhận rõ vấn đề tránh phạm sai lầm khi nói về cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta!

Gần đây trên một số báo chí của ta đã có những cách nhìn về cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta một cách sai lệch theo kiểu: “...từ 1955-1975 Hoa Kỳ đã tham gia vào cuộc chiến tranh tại Việt Nam...” ; “hai nước (Mỹ và Việt Nam) có thể cùng nhau học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ...”; “Chính quyền Việt Nam Cộng hoà là một quốc gia độc lập” hoặc là không nên dùng cụm từ ngụy quân, ngụy quyền vì họ có tên ta cần trả lại tên cho họ…
Với cách nhìn này tôi thật xót xa, phải chăng những quan điểm của CN xét lại lịch sử đã tác động vào báo chí và một bộ phận cán bộ Đảng viên làm chuyển hoá nhận thức (không xem chế độ tay sai bán nước Sài Gòn là ngụy, mà là một chính quyền, một quốc gia độc lập...), và với nhận thức như vậy thì cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ là cuộc nội chiến giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa với Việt Nam cộng hoà, còn Mỹ chỉ là bên tham gia không phải là kẻ chủ mưu gây ra cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam...; và cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta là sai lầm (vì đã gây ra cuộc nội chiến) và cũng như Mỹ tham gia vào cuộc chiến ở Việt Nam là sai lầm vì đã đem quân sang một đất nước xa xôi để cuối cùng nhận lấy thất bại?
Trước hết nói từ 1955 Mỹ mới bắt đầu tham gia vào cuộc chiến tranh tại VN là hoàn toàn sai, ngay từ năm 1950 người Sinh viên Trần Văn Ơn đã ngã xuống trên đường phố Sài Gòn trong cuộc biểu tình đấu tranh chống Thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, như vậy là Mỹ đã bắt đầu dính líu đến cuộc chiến tranh VN trước năm 1950 và như chúng ta biết đến năm 1954 gần 78% chỉ phí cho cuộc chiến tranh xâm lược VN của TD Pháp là tiền viện trợ của Mỹ từ khẩu súng tiểu liên Thomxon, súng trường Cabin, Garan M1, cho đến khẩu pháo 105 ly, máy bay Đa Cô ta, khu trục Ad6... đều do Mỹ cung cấp viện trợ. Còn từ 1955-1975 Mỹ chỉ tham gia hay trực tiếp xâm lược? Nếu nói Mỹ tham gia vậy ai nuôi dưỡng, đào tạo đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về nước, ai hất cẳng Pháp nắm lấy toàn bộ miền Nam VN để trực tiếp chỉ huy bộ máy vốn tay sai của Pháp trở thành tay sai của Mỹ, dựng nên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm với danh xưng Việt Nam cộng hoà (song khi tuyên truyền họ vẫn không thể bỏ danh xưng Quốc gia Việt Nam), tổ chức lại quân ngụy Pháp thành cái gọi là quân lực Việt Nam cộng hoà (song khi tuyên truyền họ không thể bỏ danh xưng Quân đội quốc gia), để trở mặt công khai xoá bỏ Hiệp định Giơ ne vơ mà chính Mỹ cũng là một bên tham gia, với dã tâm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, nhằm biến đồng bào ta ở nữa nước từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam thành dân nô lệ, thành một Bang của Mỹ và bọn tay sai của Mỹ đã đàn áp dã man đồng bào yêu nước…; Toàn bộ ngân sách hoạt động của ngụy quyền SG do Mỹ cung cấp, toàn bộ vũ khí cho quân ngụy do Mỹ trang bị, toàn bộ công việc Huấn luyện, đào tạo, chỉ huy do Mỹ chỉ đạo, Mỹ nắm lấy toàn bộ việc điều hành ở miền Nam, còn ngụy VNCH chỉ là con rối do Mỹ dật dây (điều này ngay cả các tướng lĩnh trong quân ngụy cũng đã thừa nhận, ngay các đời Tổng thống của Mỹ cũng đã khẳng định) và phải chăng không có việc khi Mỹ giảm viện trợ thì Tổng thống ngụy quyền SG là Nguyễn Văn Thiệu đã kêu gào “nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập”. Vậy Mỹ tham gia cuộc chiến hay là kẻ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử thế giới này? 

Và khi nguy cơ chế độ tay sai sẽ sụp đổ , Chiến lược Chiên tranh đặc biệt đứng trước sự phá sản không thế ngăn chặn Mỹ vội vã thay đổi CL sang Chiến tranh cục bộ, hơn nữa triệu quân Mỹ và gần một chục vạn quân Chư hầu của nhiều nước trực tiếp nhảy vào miền Nam VN, và mỡ rộng chiến tranh ra miền Bắc gây ra tội ác tày trời vời hàng triệu lít chất độc hủy diệt sự sống mà đến hôm nay vẫn còn hàng triệu nạn nhân, trên 7,5 triệu tấn bom đạn (gấp nhiều lần số lượng bom đạn của toàn bộ Thế chiến hai, bằng 375 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống hai thành phố của nước Nhật) rãi xuống đất nước ta, nhiều cuộc thảm sát dân thường, giết hại hàng loạt đồng bào ta từ Vĩnh Trinh, Chợ Được, Ngân Sơn - Chí Thạnh, Bình Thành, Phú Lợi, và rất nhiều vụ khác do quân ngụy gây ra đến hàng loạt vụ do quân Mỹ và chư hầu: Hoà Mỹ, Thái Bình, Tây Vinh, Sơn Mỹ, Thạnh Phong, khu phố Khâm Thiên... mà bút mực không thể nào liệt kê hết các vụ giết hại dã man từ vài chục cho đến hàng ngàn người, vậy phải chăng tội ác có thể khẳng định “trời không dung, đất không tha ấy” đế quốc Mỹ chẳng liên can? 

Còn bảo VN và Mỹ đều có sai lầm trong quá khứ, mà quá khứ ở đây là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, vậy ta đánh Mỹ là sai lầm hay sao? Đây chỉ là quan điểm sai trái, phản động của bọn cơ hội trở cờ còn không ai được phép cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sai lầm. Thế nhưng cũng có một số nhà sử gia cho rằng trong chống Mỹ có những thời điểm chúng ta phạm sai lầm, họ đưa ra hai sự kiện: Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và Chiến dịch giải phóng Quảng Trị 1972. Họ so sánh sự tổn thất của hai bên địch - ta để từ đó cho rằng sự hy sinh quá lớn không cần thiết đây là những sai lầm, vậy có đúng như họ nói hay không? Chúng ta có thể khẳng định một điều không có thắng lợi nào trong chiến tranh mà không có tổn thất hy sinh và chẳng có thành công nào mà không có những mặt cần phải rút ra kinh nghiệm, và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sự đụng đầu lịch sử giữa một bên là sức mạnh vũ khí lớn nhất thế giới với một bên là sức mạnh tinh thần vĩ đại, với lòng yêu nước thiết tha, ý chí kiên cường vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, sự đối đầu bất tương xứng như vậy thử hỏi làm sao không tổn thất hy sinh, và cái giá của sự hy sinh đó mới có một cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho ta, nếu không có Mậu thân 1968 thì sẽ không có việc buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn Hội nghi Pa Ri và buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, không có một mùa hè đỏ lửa 1972 Quảng Trị thì làm sao có việc buộc Mỹ phải chuẩn bị ký Hiệp đinh Pa Ri công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một nước Việt Nam thống nhất dự kiến vào tháng 10/1972 (tất nhiên sau đó Mỹ lật lọng vì sự cố đấm ăn xôi và sự phản bội của bạn bè để buộc ta phải làm nên một Điện Biên Phủ trên không đánh bại Chiến dịch “Cứu bóng trước khung thành 2” của Mỹ) và không có các chiến thắng như trên làm sao chúng ta có thể “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” làm sao có thể thu non sông về một mối, để đất nước hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do, đang vững bước tiến lên như ngày hôm nay?

Từ những vấn đề nêu trên xin hỏi những ai có cách nhìn như vậy: Đã là cơ quan ngôn luận của Đảng, của Nhà nước thì phải nói và làm theo Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vậy Đảng ta có lúc nào trong Nghị quyết nói từ 1955-1975 Mỹ chỉ tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam hay là nói Cuộc kháng chiến chống Mỹ là sai lầm, nói cuộc Tổng tấn công mùa Xuân 1968 và Chiến dịch Bảo vệ Thành cổ Quảng trị là sai lầm; nói trên lãnh thổ Việt Nam sau 1954 đến 1975 có hai quốc gia song song tồn tại không? Đã là cán bộ, đảng viên của Đảng thì phải học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vậy trong tư tưởng của Bác Hồ có lúc nào Người khẳng định Mỹ chỉ tham gia vào cuộc chiến tranh tại Việt Nam từ 1955-1975 không? Có lúc nào Người thay đổi ý chí Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một hay không? Chắc chắn là không có, vậy báo chí và đảng viên, cán bộ nói trái Nghị quyết, nói trái tư tưởng của Bác Hồ thì có làm đúng mục đích tôn chỉ của báo chí và có xứng đáng là người cán bộ đảng viên của Đảng hay không? Chúng tôi đòi hỏi các Cơ quan có trách nhiệm của Đảng phải xử lý nghiêm túc những sai phạm nghiêm trọng nêu trên để lịch sử dân tộc mãi mãi ngời sáng; để những ai cố tình xuyên tạc bóp méo lịch sử sẽ không còn chỗ để nói càng, viết ẩu!
Ảnh: Đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn QĐNDVN.
Yêu nước ST.

Phải chăng Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ?

Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện với hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động chặt chẽ, khoa học; trong đó, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản, cốt lõi. Kiên trì tuân thủ nguyên tắc ấy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn phát huy dân chủ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo toàn dân ta tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại luôn hậm hực với những thắng lợi ấy. Chúng tìm mọi “ngón đòn” tinh vi, xảo quyệt hòng xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn phổ biến là các đối tượng triệt để lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí,  “núp bóng dân chủ”, “đội lốt nhân quyền” tung các chiêu bài “thư ngỏ”, “góp ý”, “hội thảo khoa học” để rêu rao: việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân dẫn đến mất dân chủ; là một thứ chế độ tập quyền, độc đoán, bảo thủ nhằm “bảo vệ vị trí độc tài” của Đảng. Không những thế, họ còn lập luận, tập trung và dân chủ trong nguyên tắc này là hai mặt trái ngược, không thể thống nhất với nhau, rằng: “đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung”, “tập trung với dân chủ như lửa với nước”, hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ. Với kiểu lập luận “máy móc”, “siêu hình” như vậy, các đối tượng cố ý tách rời tập trung với dân chủ, cuối cùng đi đến phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và xuyên tạc cho rằng: Đảng ta xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ trở thành kẻ độc tài, chuyên chế và vi phạm dân chủ. Theo họ, muốn thoát khỏi tình trạng đó, Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ không giới hạn. Đặc biệt, thời gian gần đây, lợi dụng việc một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn tới độc đoán, quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất bị xử lý kỷ luật, họ càng ra sức thổi phồng, bôi đen, bóp méo, suy diễn, đánh lận và quy chụp cho rằng, những khuyết điểm, hạn chế đó đều có nguyên nhân từ nguyên tắc tập trung dân chủ, từ đó đòi hỏi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc này “cho phù hợp tình hình mới”(!). Vậy, phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ; là độc đoán, toàn trị...? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và lý giải cặn kẽ vấn đề trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn. 

Về lý luận, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi tập trung dân chủ là cái “vốn có”, là thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân; nguyên tắc tổ chức “xương sống” của Đảng Cộng sản và là nguyên tắc để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng phái khác. Đặc biệt, khi bàn về vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ, V.I.Lênin đã khẳng định: “Các Đảng gia nhập quốc tế cộng sản phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ... Đảng Cộng sản chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu Đảng được tổ chức một cách tập trung nhất, nếu trong Đảng có một kỷ luật sắt, gần giống như kỷ luật quân sự, và nếu Trung ương đảng là một cơ quan có uy tín mạnh mẽ, có quyền lực rộng rãi, được toàn thể đảng viên tin cậy”.

Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”. Theo Người, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là phương thuốc hữu hiệu ngăn ngừa những căn bệnh nguy hiểm của một đảng cầm quyền, như: quan liêu, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, v.v. Như vậy, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, đảm bảo cho Đảng là một chỉnh thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, tập trung được trí tuệ, sức mạnh vật chất, “tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”; tránh tình trạng lỏng lẻo, lộn xộn, vô chính phủ, bè phái; tạo môi trường bình đẳng để phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo của mỗi thành viên, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong tổ chức, hoạt động của Đảng Cộng sản; xem nhẹ và thực hiện không đúng nguyên tắc này sẽ làm tổn hại đến uy tín, sức mạnh của Đảng, là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, v.v.

Sở dĩ như vậy bởi nội hàm cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; hai thành tố này vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, có quan hệ biện chứng lẫn nhau chứ không phải là sự gán ghép đơn thuần giữa nguyên tắc tập trung với nguyên tắc dân chủ như lý luận “số học” của một số đối tượng. Bàn về mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”; “Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn, nước nào càng tập trung lại càng dân chủ, càng dân chủ thì càng phải tập trung”. Tập trung trên nền tảng dân chủ là sự tập trung trên cơ sở thực hiện và mở rộng dân chủ trong sinh hoạt của Đảng. Sự tập trung trong Đảng là do toàn thể đảng viên xây dựng nên, không phải do một cá nhân nào quyết định; đó là sự tập trung trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của đa số, được hình thành một cách tự giác, chứ không phải là một thứ tập trung được thiết lập chỉ để phục vụ một nhóm người, một cá nhân. Dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung là dân chủ có mục đích, có định hướng, có lãnh đạo, có tổ chức, v.v. Qua đó thấy rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ là sự liên hệ thống nhất, tác động biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; đó là thể hiện mối liên hệ bản chất của một nguyên tắc thống nhất, trong một chỉnh thể thống nhất. Tập trung là sự thể hiện trình độ dân chủ, là điều kiện, tiền đề chi phối khuynh hướng phát triển của dân chủ; dân chủ trong Đảng là dân chủ mang tính chất tập trung, là tiền đề, điều kiện quy định tính chất, khuynh hướng phát triển của tập trung. Từ trong bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ đã loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng độc đoán, quan liêu và mất dân chủ.

Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam.
                                                     Ảnh TTXVN
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay đã chứng minh, nhờ kiên định và thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã giữ vững được sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, có đủ sức mạnh và uy tín lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ở tuổi 15, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đó, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, gần 40 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo - sản phẩm của ý Đảng, lòng dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Điều đáng nói là, việc tuân thủ và vận dụng sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng đã, đang trở thành vấn đề cốt yếu, nguyên nhân hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Các nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương đã được các cấp ủy, tổ chức đảng tuân thủ và thực hiện nghiêm túc”. Trong đó, thực hiện tốt việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền của đảng viên, như: quyền được thảo luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến, phản biện… Vì vậy, các hiện tượng “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, “nói một đằng nhưng làm một nẻo”… ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng về cơ bản được khắc phục. Cùng với đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã gương mẫu, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) của Đảng; đồng thời, phát huy cao độ trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, phân cấp, ủy quyền, thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên mà trước hết là cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt. Với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm xuyên suốt “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, mọi chủ trương, chính sách trước khi ban hành đều được công bố rộng rãi, công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân góp ý. Sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở; các hình thức tọa đàm, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên, nhân dân được tăng cường. Công tác tổ chức và cán bộ được tiến hành công khai, dân chủ; tình trạng cục bộ, mất đoàn kết trong cán bộ được chấn chỉnh. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày nêu rõ: để chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, các Tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, các bộ, ban, ngành ở Trung ương và các cấp uỷ, chính quyền địa phương tổ chức gần 60 cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm và thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế. Sau khi các dự thảo Báo cáo được chỉnh lý, sửa chữa và được gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định cho công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân7. Gần đây nhất, để hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Quốc hội đã tiến hành xin ý kiến rộng rãi của nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (Số liệu thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 27/3, đã có hơn 9 triệu lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý dự thảo Luật này), v.v. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng được tiến hành chặt chẽ, đúng nguyên tắc, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng. Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 600 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên vi phạm kỷ luật (trong đó có không ít trường hợp do chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm dẫn đến vi phạm kỷ luật). Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã đem lại những hiệu quả tích cực, đã và đang góp phần xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, liêm chính, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. v.v. Những tiến bộ trên không chỉ góp phần khắc phục sự áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền…, mà còn góp phần mở rộng, phát huy dân chủ, nhất là khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua đó, khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng được giữ vững, tạo được sự đồng thuận của nhân dân, ít phát sinh những vấn đề bức xúc, bất đồng, chia rẽ; phát hiện, ngăn chặn tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, không phải là mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt. Ngược lại, chính do giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ đã bảo đảm cho Đảng ta luôn có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn dân để xây dựng Đảng. Mọi chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đất nước đều là sự hội tụ của ý Đảng, lòng dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mới đây, nhân dịp kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), nhiều quốc gia, các đảng chính trị, học giả trên thế giới gửi điện mừng và có những bài viết đánh giá rất cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Việt Nam. Theo đó, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, ông Jesús Faría, Phó Chủ tịch Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất cầm quyền Venezuela (PSUV) đã khẳng định: Những giá trị cốt lõi trong phương thức lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh được các thế hệ tiếp theo gìn giữ và tiếp tục phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn và bối cảnh lịch sử. Sự kế thừa đó thể hiện qua phương thức lãnh đạo coi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhằm quy tụ sức mạnh, trí tuệ của tập thể, đồng thời giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Đây tiếp tục là một cơ sở khách quan bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, có ý nghĩa sống còn trong xây dựng và hoạt động của Đảng. Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc là bảo đảm quan trọng để Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện tốt nguyên tắc này; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc quan trọng này, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

ST.

ST.

Phải chăng “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”?*

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, thượng sách giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta kế thừa, phát triển cả trong hiện tại và tương lai xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của nó đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải “nỗi lo hão huyền” như luận điệu các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng nhiều biện pháp. Hiện nay, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành quan điểm lớn của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã khẳng định quan điểm này. Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Thế nhưng, đâu đó lại có luận điệu cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”, không có cơ sở thực tế, không có thật (?!). Để làm rõ vấn đề này, cần làm sáng tỏ những cơ sở khoa học và thực tiễn để khẳng định tính chân lý trong quan điểm của Đảng ta.



Chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh.
Ảnh: dangcongsan.vn

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự kế thừa sâu sắc kinh nghiệm quý trong truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam

Đây là vấn đề có tính quy luật phổ biến của nhiều quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” luôn là vấn đề thường trực của đất nước. Thật vậy, kể từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay, trong khoảng gần 23 thế kỷ, với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang của dân tộc ta đã chiếm tới 12 thế kỷ. Hầu như mọi triều đại phong kiến Việt Nam đều phải lo trước việc phòng bị và chăm lo bảo vệ đất nước; đều phải tổ chức chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra còn những cuộc trấn áp đối với các thế lực phản loạn, tiếm quyền, các cuộc nổi dậy ly khai, đòi tự trị, v.v. Như vậy, bảo vệ Tổ quốc bao hàm ứng phó với cả “thù trong, giặc ngoài”.

Trong lịch sử, ông cha ta luôn coi trọng công việc giữ nước, thực hiện phương châm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, “nội yên, ngoại tĩnh”. Những tư tưởng và hành động biểu thị sự nghĩ trước, biết trước, lo xa, luôn cảnh giác, đề phòng bất trắc từ trước, từ sớm, từ xa đều nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu ấy. Thực tiễn lịch sử chỉ ra, triều đại nào biết chăm lo sức dân, yên dân, chuẩn bị tốt phòng bị đất nước thì nước yên, kẻ thù không dám nhòm ngó, xâm phạm; còn nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán thì nguy cơ bị thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. Có những bài học đau xót từ việc coi nhẹ việc giữ nước, tách rời dựng nước với giữ nước, chủ quan khinh địch, lơ là mất cảnh giác, để khi giặc đến đánh thì trở tay không kịp, chuốc lấy thất bại, đẩy dân tộc vào vòng nô lệ ngoại bang. Như vậy, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự đúc kết thực tiễn qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Kế thừa tư tưởng của ông cha ta về chăm lo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngay từ khi nước chưa nguy có một căn cứ lịch sử quan trọng không thể phủ nhận trong tư tưởng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta. Đó là sự thật chứ không phải hão huyền như luận điệu thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát và đúc kết từ thực tiễn cách mạng Việt Nam

Sự hình thành, phát triển nhận thức và hệ thống quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã phản ánh trung thành học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn coi trọng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, coi đó là một nội dung lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Khi chưa giành được chính quyền cũng như khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn phân tích khoa học tình hình thế giới, khu vực, trong nước và căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, xác định đúng đắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bên cạnh giặc ngoài, các thế lực thù địch, phản động trong nước tăng cường chống phá chính quyền cách mạng. Cùng với đó là nạn đói, nạn dốt, tài chính kiệt quệ,… đã đặt vận mệnh quốc gia - dân tộc vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để chủ động ứng phó với những thách thức trên, ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, nêu rõ nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Bên cạnh lực lượng Quân đội được thành lập từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng Công an nhân dân được thành lập ngay sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội. Đây là những lực lượng nòng cốt bảo đảm thắng lợi cho nhiệm vụ chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa ngay từ những ngày đầu mới xác lập chính quyền cách mạng.

Sau khi cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô năm 1946 tan vỡ, Đảng ta đã nhận định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp. Theo đó, tinh thần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy lúc này được thể hiện ở sự tích cực, chủ động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ gây mất an ninh cho đất nước, cho chế độ ngay từ những ngày đầu mới giành chính quyền; đồng thời, mở rộng phạm vi không gian, nội dung, nhiệm vụ, lực lượng, phương tiện bảo vệ; gắn bảo vệ trực tiếp với bảo vệ gián tiếp, bảo vệ bằng phương thức vũ trang kết hợp với các phương thức phi vũ trang, giữa bảo vệ bên trong với bảo vệ bên ngoài đất nước.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sử dụng tổng hợp các biện pháp, cả kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, chú trọng các biện pháp đối ngoại, đấu tranh chính trị, pháp lý để ta có được thế chủ động, sẵn sàng ứng phó với các diễn biến của chiến tranh. Từ thực tiễn lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng ta đã rút ra kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến giải phóng dân tộc, một trong những kinh nghiệm đó là: “Vừa chiến đấu, vừa phát triển lực lượng và xây dựng hậu phương kháng chiến”.

Đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta đã một mặt vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ động nắm bắt đúng tình hình thực tiễn cách mạng xác định nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa kịp thời, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống. Mặt khác, tích cực chủ động vừa đánh vừa đàm, phát huy đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Với dự đoán chính xác việc Mỹ sẽ đưa máy bay B-52 đánh phá Hà Nội và chỉ chịu thua khi bị thua trên bầu trời Hà Nội là một biểu hiện sinh động về tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó, sớm chỉ đạo quân và dân ta, làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lịch sử, buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch

Thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, hành động chống phá cách mạng nước ta; các thế lực hiếu chiến ngoại bang cũng chưa khi nào ngừng dã tâm xâm chiếm, thôn tính Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn âm mưu, tìm mọi cách thức, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế những “điểm nóng” ở Thái Bình (năm 1997); vụ gây rối ở Tây Nguyên (năm 2001, năm 2004); Mường Nhé (năm 2011); bạo động ở Bình Thuận (năm 2018); vụ gây rối trật tự ở xã Đồng Tâm, Hà Nội (năm 2020); vụ khủng bố xảy ra tại huyện Cư Kurin, Đắk Lắk gần đây (ngày 11/6/2023) đã cho thấy các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường chống phá toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, tư tưởng, văn hóa,… lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”; tuyên truyền kích động, khoét sâu vào những bất đồng, mâu thuẫn để chống phá cách mạng nước ta, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nội bộ đất nước. Đảng ta đã nhận định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Đây là nguy cơ và cũng là thách thức lớn đối với đất nước ta trong thời gian sắp tới. Hóa giải nguy cơ này chính là phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ có trong nhận thức, tư duy mà còn thể hiển cả trong hành động thực tế. Tư duy không ảo tưởng, thì hành động sẽ không hão huyền.

Từ những cơ sở trên có thể thấy, thực chất luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” là luận điệu ru ngủ người tiếp nhận thông tin và truyền tải một tinh thần lơ là, mất cảnh giác đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc để thực hiện âm mưu thâm độc: bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Do không có bản lĩnh và không nhận thức được bản chất và tính quy luật của vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nên một số người đã ngộ nhận trước luận điệu này, rơi vào chủ quan, thậm chí ảo tưởng, không thấy được những nguy cơ, thách thức đã, đang đe doạ đến vận mệnh của Tổ quốc. Từ không nhận thức được bản chất vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nên họ cũng không thấy, không biết trách nhiệm của mình phải làm gì và ở đâu?

Đến đây, có thể khẳng định rằng, chính luận điệu phủ nhận “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” mới là không có sơ sở thực tế, là “hão huyền”. Bởi, quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của Đảng ta được dựa trên những căn cứ khoa học và cơ sở lý luận, thực tiễn xác đáng./.

ST.

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam

Đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ góp phần bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn trực tiếp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ tư tưởng của Người. Đó là hệ thống các luận điểm về: tính tất yếu phải có đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam; quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam; đảng cầm quyền; xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Đây là cơ sở lý luận trực tiếp, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, lãnh đạo, trưởng thành của Đảng ta gần 95 năm qua - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã, đang dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc nội dung, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc này là vấn đề cấp thiết, quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.

Trước hết, về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lâu nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc và nhân dân”; chúng “chụp mũ”, cho rằng “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh cơ cực, đói khổ, nghèo nàn, cùng quẫn”, v.v. Đây là sự vu khống, bịa đặt vô cùng trắng trợn, nhằm bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Thực vậy, với lòng yêu nước nồng nàn và ước muốn tột cùng là cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, Hồ Chí Minh đã bôn ba tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin “như một cuộc hẹn hò lịch sử” và đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917” mới có thể giành được độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn; nhân dân ta mới được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Để thực hiện con đường cứu nước đúng đắn đó, Người đã đặt câu hỏi và tự trả lời: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Nghĩa là, Người đã nhận thấy rõ tính tất yếu cũng như vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đồng thời, đảng đó phải là đảng cách mạng, chân chính, phải được thiết lập trên cơ sở gắn bó máu thịt giữa đảng với các tầng lớp nhân dân, đảng không có lợi ích nào khác ngoài đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, được quần chúng nhân dân thừa nhận và vì sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai. Từ tư duy khoa học, cách mạng đó, Người đã chủ động tiến hành chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng, chính trị, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng. Và thực tế đã cho thấy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo; dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những luận cứ khoa học trên và thực tiễn cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái của các thế lực thù địch đã quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc, với nhân dân”!

Hai là, về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức bịa đặt và xuyên tạc rằng “Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa yêu nước vào quy luật hình thành Đảng là trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản”. Chúng còn ra điều hiểu biết khi viện dẫn: “chủ nghĩa yêu nước chỉ làm mất bản chất giai cấp công nhân của Đảng”, v.v. Thực chất, đây là những luận điệu nhằm đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thành tố “chủ nghĩa yêu nước” đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận điệu đó hoàn toàn vô lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Thực vậy, trên cơ sở nắm vững nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là một thành tố quan trọng quyết định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Đồng thời, Người đã phân tích sâu sắc điều kiện, hoàn cảnh nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam mới ra đời, số lượng còn ít, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu gắn chặt với phong trào yêu nước. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân mới là điều kiện “cần” để Đảng ra đời; nhưng để Đảng ta tồn tại, phát triển và giữ vững vai trò đội tiền phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì phải có điều kiện “đủ” - đó chính là phong trào yêu nước Việt Nam. Bởi vì, phong trào yêu nước Việt Nam được dẫn dắt bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; ra đời trước phong trào công nhân, đã đồng hành cùng dân tộc và là phong trào rộng lớn nhất, quy tụ các giai cấp, tầng lớp đấu tranh chống thực dân, đế quốc. Trong bối cảnh ấy, nếu phong trào công nhân không gắn bó với phong trào yêu nước, trở thành nòng cốt trong phong trào yêu nước thì cũng không lãnh đạo và tập hợp được lực lượng đông đảo. Hồ Chí Minh đánh giá đúng vị trí, vai trò và đưa phong trào yêu nước là một thành tố hợp thành không thể thiếu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta. Không chỉ vậy, Người còn khẳng định “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”. Có nghĩa là, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đại diện cho lợi ích giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích dân tộc và Đảng không có lợi ích riêng nào khác. Như vậy, tư tưởng trên của Hồ Chí Minh không hề “trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin”; đồng thời, cũng không “làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta”. Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật hình thành đảng cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến của Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo và huy động toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó đã bác bỏ mọi luận điệu mà các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.

Ba là, về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ luận điểm hết sức sáng tạo của Người: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, các thế lực thù địch cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà là người dân tộc chủ nghĩa”, “là cộng sản nửa vời”, v.v. Sự thật là, cách tiếp cận về Đảng của Hồ Chí Minh không những không làm mất đi bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà còn bổ sung, phát triển quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản ở một nước thuộc địa, khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu như ở Việt Nam, thì đảng đó không chỉ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn là của cả dân tộc. Trước hết, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh thần cách mạng và phương pháp khoa học, giải quyết đúng đắn, thành công mối quan hệ mật thiết giữa Đảng - giai cấp - dân tộc. Quá trình sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh luôn khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Bởi vì, chỉ có giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, Người  thấy rõ sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng không chỉ một hai người, mà của toàn thể dân chúng, Đảng không có lợi ích riêng, mà thống nhất với lợi ích của giai cấp, lợi ích của toàn thể nhân dân và của cả dân tộc. Do đó, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc là luận điểm rất sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Luận điểm ấy không làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà trái lại nó làm cho bản chất giai cấp công nhân được củng cố và tăng cường; càng làm cho giai cấp công nhân gắn bó máu thịt với nhân dân và cả dân tộc, làm cho Đảng ta luôn mang trong mình sự thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc. Chính điều đó đã làm cho Đảng ta có sức cuốn hút mạnh mẽ các giai cấp, tầng lớp nhân dân, toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; tin theo Đảng, bảo vệ Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Nhiều học giả phương Tây cũng khẳng định “Hồ Chí Minh là người cộng sản, rất mác - xít, đồng thời rất thấm đượm tinh thần dân tộc chân chính; là một hình mẫu giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc và giai cấp một cách nhuần nhuyễn, kỳ tài”. Và thực tiễn đó đã khiến luận điệu xuyên tạc “Hồ Chí Minh là người “dân tộc chủ nghĩa” hay “cộng sản nửa vời” chỉ là hàm hồ, lố bịch.

Phủ nhận, xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận dẫn đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Đó là những hành động hết sức nguy hiểm và phản động, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận rõ mưu đồ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

ST.