Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về tính tất yếu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

 


Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen, do điều lịch sử quy định nên các ông chưa bàn nhiều đến vấn đề “bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, song các ông đã nêu ra những quan điểm khoa học về tính tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong Các bài phát biểu tại En-bơ-phen-đơ năm 1845, Ph.Ăngghen khẳng định: “Xin quý vị lưu ý rằng, khi xảy ra chiến tranh và đương nhiên chỉ có thể là chiến tranh chống lại các quốc gia chống cộng sản thì mỗi thành viên xã hội phải bảo vệ tổ quốc chân chính, mái nhà chân chính, do đó sẽ chiến đấu với tinh thần hăng hái, tính cương nghị và lòng dũng cảm khiến cho quân đội hiện đại được huấn luyện một cách máy móc phải tan”[1]. Như vậy, tổ quốc mà Ph.Ăngghen đề cập ở đây là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trên tinh thần ấy, V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển thành học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, thành lập nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đặt ra một cách trực tiếp, cấp bách. Bởi vì, chiến tranh, xâm lược, nô dịch là “bạn đường” của chủ nghĩa đế quốc, là trở lực lớn nhất trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị”[2]. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, những cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[3].

V.I.Lênin tuyên bố: “Nước Cộng hòa liên bang xô - viết Nga nhất trí lên án những cuộc chiến tranh ăn cướp, từ nay nhận thấy mình có quyền và có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống lại tất cả các cuộc xâm lược có thể xảy ra do bất kỳ một cường quốc đế quốc chủ nghĩa nào gây ra”[4]. Trong tác phẩm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lâm nguy!”, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định: “1) Tất cả mọi lực lượng, mọi tài nguyên của đất nước đều phải dành cho công cuộc bảo vệ cách mạng. 2) Tất cả các Xôviết và các tổ chức cách mạng có trách nhiệm phải bảo vệ từng vị trí cho đến giọt máu cuối cùng”[5]. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917. Điều này tôi đã nói nhiều lần một cách hoàn toàn dứt khóat, và các anh cũng không dám bác lại. Chính vì lợi ích “củng cố mối liên hệ” với chủ nghĩa xã hội quốc tế nên nhất thiết phải bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[6].

Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là quy luật sinh tồn của dân tộc trong tiến trình lịch sử và là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Người đã chỉ ra “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[7]. Trong Tuyên ngôn độc lập (1945) và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”; “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[8]. Như vậy, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhiệm vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Trong Cương lĩnh (2011), Đảng ta khẳng định: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[9]. Đến Văn kiện Đại hội XIII, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được khẳng định ngay trong chủ đề của Đại hội: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[10].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 2, “Các bài phát biểu tại En-bơ-phen-đơ” (1845), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,1995, tr.725.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 30, “Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản” (1916), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.173.

[3] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Nhiệm vụ chủ yếu của thời đại chúng ta” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.102

[4] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Đại hội IV bất thường các Xôviết toàn Nga” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.153

[5] V.I.Lênin toàn tập, Tập 35, “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lâm nguy” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.435.

[6] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.358.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, “Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong tại đền Hùng (Phú Thọ) (1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.59.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.63.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.65.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.14.

Từ quy luật sinh tồn của mọi quốc gia dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc

 


Mọi sinh vật trong quá trình sinh thành, phát triển luôn phải bảo vệ, tự bảo vệ để chống lại các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chính nó. Đối với xã hội loài người, quy luật ấy là tất yếu, khi xã hội xuất hiện sự phân công lao động, hình thành các giai cấp, tầng lớp có lợi ích khác nhau, nhất là có mâu thuẫn đối kháng thì nhà nước, tổ quốc ra đời, xuất hiện yêu cầu tự vệ - hoạt động bảo vệ tổ quốc xuất hiện.

Khi các tổ quốc đã định hình và phát triển vững chắc trên các phương diện tự nhiên và xã hội, trước nhu cầu phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, mở rộng thị trường, cùng với sự gia tăng các xung đột lợi ích không thể điều hòa giữa các giai cấp, tầng lớp, các tập đoàn kinh tế và sự lớn mạnh của nhà nước thể hiện ở sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự… thì các quốc gia - dân tộc luôn phải đối phó nhiều hơn với các cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô, hình thức lớn hơn.

Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng từ khi tổ quốc ra đời, cùng với đẩy mạnh xây dựng, phát triển đất nước, giai cấp thống trị xã hội còn phải tổ chức, tập hợp lực lượng đấu tranh chống thiên tai, địch họa để bảo vệ thành quả đã đạt được. Nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ diễn ra rất khốc liệt nhằm đánh đuổi các thế lực ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước của mình.

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ra đời và để tồn tại, phát triển cũng không ngoài quy luật chung là xây dựng đi đôi với bảo vệ thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chống lại sự chống phá, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Bởi vì, còn chủ nghĩa đế quốc thì còn nguy cơ chiến tranh xâm lược, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam tất yếu phải bảo vệ tổ quốc.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG THIÊN TAI ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

 

Hiện cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung tay góp sức, vào cuộc quyết liệt để ứng cứu, khắc phục hậu quả của cơn bão số 3 và tình trạng lũ lụt, sạt lở gây thiệt hại nặng nề ở một số địa phương; thì trên không gian mạng, các thế lực thù địch lại lợi dụng tình hình này để đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam và chia rẽ khố đại đoàn kết toàn dân.

 

Lợi dụng tình hình bão, lũ, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại “đục nước béo cò” tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá, tuyên truyền trên không gian mạng theo hướng xuyên tạc, bóp méo sự thật. Đặc biệt, tổ chức khủng bố, phản động lưu vong Việt Tân những ngày qua đã đăng tải, tán phát hàng trăm bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền xuyên tạc. Họ lấy hình ảnh bão, lũ, đời sống thiếu thốn, khổ cực của nhân dân trong cơn hoạn nạn rồi lồng ghép thông tin sai trái, xuyên tạc, cho rằng Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền nhân dân thờ ơ, vô trách nhiệm “bỏ mặc dân”.

 

Họ xuyên tạc “trong cơn bất hạnh của dân, tuyên giáo vẫn giả dối, đưa các hình ảnh, video tập huấn, diễn tập để tuyên truyền”; “nhân dân lâm nguy, chính quyền vẫn ưa bệnh thành tích”; “nhà nước đã phát gạo… trên tivi”; “sau cơn bão lũ, cây rừng thì dành cho lãnh đạo xây biệt phủ, hòm thì tặng cho dân nghèo”…

 

Lợi dụng vào sự cố sập cầu Phong Châu, các đối tượng bỏ qua việc nguyên nhân do tác động mưa lũ, lập tức quy kết cho “chính quyền phải chịu trách nhiệm vì đã ăn hối lộ, làm ngơ, bảo kê, tiếp tay cho tham nhũng nên mới gây ra hậu quả sập cầu”, cho rằng việc cầu sập là hậu quả của… chế độ!

 

Mưa bão đi qua, để lại hậu quả rất nặng nề, rất nhiều người cần được hỗ trợ, giúp đỡ. Trong lúc khó khăn, hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, người dân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, xông pha tuyến đầu giúp người dân. “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, Đảng và Nhà nước đã và tiếp tục dành nguồn lực để khôi phục cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tái sản xuất, từng bước ổn định đời sống của nhân dân vùng thiên tai, bão lũ. Phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, đồng bào và chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã dành sự chia sẻ, giúp đỡ về tinh thần, vật chất. Những chuyến xe đậm nghĩa tình vẫn hối hả chở nhu yếu phẩm từ miền Nam, miền Trung ra vùng bị thiệt hại nặng nề bởi bão lũ ở miền Bắc với những nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sâu sắc “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”.

 

Vậy mà, tổ chức Việt Tân tự xưng tiêu chí hành động là “khát vọng Canh Tân” đã không có bất cứ chia sẻ nào với người dân trong cơn hoạn nạn lại tìm cách xuyên tạc, chống phá. Rõ ràng, việc lợi dụng bão lũ, thiên tai, mất mát đau thương để thông tin sai trái, xuyên tạc với mục đích kích động, chống lại đất nước, nhân dân Việt Nam là hành vi nhẫn tâm, vô đạo đức cần được vạch trần lên án và phản bác./.

Khái niệm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


          thổng thể hoạt động của nhà nước và nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giữ vững, củng cố độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, những thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

          Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa sau khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa toàn diện cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, những thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc, đấu tranh vô hiệu hóa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Phương thức bảo vệ là kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, giữa xây dựng và bảo vệ, giữa bảo vệ và tự bảo vệ, được sử dụng trong từng giai đoạn lịch sử và tình huống cụ thể. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dựa trên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng cách mạng, chế độ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, trong đó lực lượng vũ trang và sức mạnh quân sự làm nòng cốt.

Xây dựng lực lượng nòng cốt phòng, chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay có vai trò tiên phong, xung kích, tập hợp, hướng dẫn các lực lượng khác cùng tham gia đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam. Do đó, xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh phải toàn diện cả về trình độ, kiến thức lý luận và phương pháp, kỹ năng, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt là cán bộ, sĩ quan trẻ với bộ phận cán bộ, sĩ quan có kinh nghiệm trong hoạt động này.

Đòi hỏi, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị có chủ trương, kế hoạch xây dựng, lựa chọn “hạt nhân”, xác định nội dung, hình thức xây dựng, bồi dưỡng lực lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao trình độ kiến thức, kinh nghiệm về dân tộc, tôn giáo. Coi trọng phổ biến, cập nhật những vấn đề mới, phức tạp, nảy sinh trong quan hệ dân tộc, tôn giáo nói chung và tình hình dân tộc, tôn giáo trên từng địa bàn đóng quân của các đơn vị nói riêng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng phương pháp tuyên truyền nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, âm mưu, thủ đoạn mới các thế thế lực thù địch. Đồng thời, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên bồi dưỡng phương pháp tư duy, kỹ năng phân tích xử trí các tình huống nảy sinh, kịp thời tham mưu, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị các biện pháp hữu hiệu. Tích cực bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng mạng xã hội (facebook, Zalo, telegram…) cho lực lượng nòng cốt. Quan tâm, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp đối với lực lượng này.

Nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sỹ trong phòng, chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ không để bị động, bất ngờ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Bởi nhận thức đúng chính là cơ sở để mọi quân nhân có động cơ, thái độ đúng đắn, phát huy ý thức trách nhiệm, có ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Nội dung tuyên truyền, giáo dục, cần tập trung giáo dục, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội. Thông qua đó làm cho mọi quân nhân nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó vận dụng đúng đắn trong quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác giáo dục cho bộ đội quan điểm của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, nhất là các quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức chỉ đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Nội dung trọng tâm hiện nay là giáo dục để cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, qua đó nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy vai trò và trách nhiệm của quân nhân trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo của quân đội ta.

Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, các cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị quân đội phải thường xuyên chăm lo kiện toàn, củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ dân vận ở tất cả các đơn vị trong toàn quân. Cần rà soát lại đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, bổ sung những người có kinh nghiệm, năng lực công tác, am hiểu tình hình, có kiến thức chuyên sâu về vấn đề dân tộc, tôn giáo. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình dân tộc, tôn giáo trên thế giới và trong nước, đòi hỏi cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị phải đổi mới cả về nội dung và hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trên lĩnh vực này. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay; làm cho cán bộ, chiến sĩ thấy được tính chất nham hiểm, tinh vi trong các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Từ đó mọi quân nhân nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời phát hiện, đấu tranh vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của địch, chủ động phòng ngừa, khắc phục triệt để những biểu hiện mơ hồ, xem nhẹ, lơ là, mất cảnh giác trước các luận điệu và hành động “mị dân” của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trước các tình huống chống phá trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo.

Ở ĐÂU DÂN KHÓ, Ở ĐÓ CÓ BỘ ĐỘI!

 

Họ là những chiến sĩ, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ", họ cũng là máu là thịt, là con của một gia đình có cha mẹ đang mong ngóng từng giây từng phút; gia đình, đơn vị họ cũng đang ngập chìm trong biển nước... Họ cũng có những giây phút lặng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ vợ con; thèm một hơi ấm gia đình...

Nhưng vì đồng bào, vì màu áo xanh đã khoác, vì vành mũ cối sáng lấp lánh ngôi sao vàng mà xông pha ra tuyến đầu không màng khó khăn, nguy hiểm. Họ chỉ là những con người bình thường, những cánh tay áo xanh bình dị nhưng lại đang là điểm tựa vững chắc, ôm lấy đồng bào ta trong cơn nguy cấp.

Cảm ơn các anh, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ"!!!

#nguồn sưu tầm Ở ĐÂU DÂN KHÓ, Ở ĐÓ CÓ BỘ ĐỘI!

 

Họ là những chiến sĩ, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ", họ cũng là máu là thịt, là con của một gia đình có cha mẹ đang mong ngóng từng giây từng phút; gia đình, đơn vị họ cũng đang ngập chìm trong biển nước... Họ cũng có những giây phút lặng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ vợ con; thèm một hơi ấm gia đình...

Nhưng vì đồng bào, vì màu áo xanh đã khoác, vì vành mũ cối sáng lấp lánh ngôi sao vàng mà xông pha ra tuyến đầu không màng khó khăn, nguy hiểm. Họ chỉ là những con người bình thường, những cánh tay áo xanh bình dị nhưng lại đang là điểm tựa vững chắc, ôm lấy đồng bào ta trong cơn nguy cấp.

Cảm ơn các anh, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ"!!!

#nguồn sưu tầm

Vai trò, trách nhiệm của quân đội trong đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam

 


Vai trò của quân đội trong tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta: Một là, quân đội là lực lượng quan trọng trong tuyên truyền, giác ngộ và vận động quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào vùng dân tộc, vùng tôn giáo hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Hai là, quân đội là lực lượng quan trọng tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, trực tiếp xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc vùng dân tộc, tôn giáo, góp phần đấu tranh, xử lý, vô hiệu hóa các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Ba là, quân đội là lực lượng quan trọng trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo; thiết thực góp phần chủ động tiến công làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Bốn là, quân đội là lực lượng trực tiếp chủ động đấu tranh ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kiên quyết, kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng, các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo ở trong nước và từ bên ngoài.

Chủ động, kịp thời giải quyết tốt các “điểm nóng” liên quan đến vấn đề dân tộc và tôn giáo.

 


Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, dập tắt mọi âm mưu, hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kích động lôi kéo đồng bào gây rối, bạo loạn. Cần thường xuyên vạch trần bộ mặt phản động của các thế lực thù địch, phản động để nhân dân nhận rõ và không bị lừa bịp. Đồng thời, vận động, bảo vệ đồng bào các dân tộc, tôn giáo để đồng bào tự vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của chúng. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh này.

Khi xuất hiện “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo, cần tìm rõ nguyên nhân, biện pháp giải quyết kịp thời, không để lan rộng, không để kẻ thù lấy cớ can thiệp; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu ngoan cố chống phá cách mạng. Kiên trì thuyết phục, vận động những người nhẹ dạ, cả tin nghe theo kẻ xấu, quay về với buôn làng, đối xử khoan hồng, độ lượng, bình đẳng đối với những người lầm lỗi đã ăn năn hối cải, phục thiện. Khi có xung đột về lợi ích giữa các dân tộc, giữa các bộ phận trong cộng đồng các dân tộc, cần giải quyết theo tinh thần hòa giải; chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Phát hiện kịp thời, đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động truyền bá, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai, tự trị; xử lý nghiêm các phần tử lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ các dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, gây mất trật tự xã hội, xâm phạm lợi ích an ninh quốc gia. Chủ động đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch chỉ đạo, hậu thuẫn số đối tượng bên trong đòi ly khai, tự trị; đấu tranh với các hoạt động quốc tế hóa vấn đề dân tộc và sự can thiệp từ bên ngoài. Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo và truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp chặt chẽ các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, đồng tâm hiệp lực của đồng bào trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên địa bàn.

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh

 


Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đây là giải pháp rất quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo trở thành “điểm nóng” trên các địa bàn. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, gắn thế trận quốc phòng toàn dân, với thế trận an ninh nhân dân, mà nòng cốt là “thế trận lòng dân” vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, chủ động xây dựng và luyện tập các phương án đấu tranh, giải quyết các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo. Chú trọng xây dựng phương án, kế hoạch phòng, chống bạo loạn, khủng bố; tăng cường kiểm tra, bổ sung hoàn chỉnh phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để hình thành “điểm nóng”. Khi có “điểm nóng” xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ, thống nhất với các lực lượng, phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, thực hiện đúng pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, lực lượng.

Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh toàn diện.

 


Tích cực xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý có hiệu quả. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, cả cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ chuyên môn kỹ thuật, giáo viên… là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo. Bởi đây là đội ngũ cán bộ sở tạo có rất nhiều lợi thế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Đổi mới công tác dân vận vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc, từng tôn giáo. Cán bộ công tác vùng dân tộc, tôn giáo phải biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục tập quán, tôn giáo của đồng bào. Thực hiện tốt phong cách công tác dân vận: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; không quan liêu tham nhũng để bị kẻ thù lợi dụng chống phá. Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo.

Kiên quyết xử lý những đối tượng cầm đầu, tuyên truyền tà đạo, có biện pháp theo dõi, khống chế những đối tượng ngoan cố; tạo điều kiện hoạt động cho những cơ sở tín ngưỡng phù hợp với nguyện vọng tâm linh, truyền thống, bản sắc của đồng bào và đúng với quy định xây dựng đời sống văn hóa, chống hủ tục ở cơ sở, địa bàn; lưu giữ chứng cứ pháp lý để đấu tranh chống địch xuyên tạc, vu cáo ta “đàn áp tôn giáo”. Thực hiện nghiêm Luật Dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; không làm trái, làm sai gây dư luận bất bình trong nhân dân để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại.

Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc, đồng bào tôn giáo.

 


Xét đến cùng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa sự lợi dụng của kẻ thù. Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của công dân thì kẻ thù, dù nham hiểm đến đâu cũng không chia rẽ dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam được. Đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án an sinh xã hội; ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, vùng tôn giáo, tạo mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo nhanh chóng xóa đói giảm nghèo, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhất là đối tượng người cao tuổi, trẻ em và phụ nữ vùng sâu, vùng xa.

Tích cực phổ cập giáo dục phổ thông, nâng cao dân trí, không để “tái mù” và xảy ra tình trạng “bản trắng” ở vùng sâu, vùng xa. Giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp. Đẩy mạnh cuộc vận động định canh, định cư, tăng cường cán bộ khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn đồng bào dân tộc, tôn giáo áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, trồng trọt, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống để đồng bào yên tâm xây dựng cuộc sống lâu dài, nhất là ở các huyện miền núi, biên giới. Chăm lo đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc, tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc, tôn giáo tổ chức các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa - thể thao, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho toàn dân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch.

 


Đây là giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức của cả hệ thống chính trị và nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc, tôn giáo, để các chủ thể, lực lượng đấu tranh có hiệu quả. Bởi lẽ, có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo thì đồng bào các dân tộc, tôn giáo và nhân dân mới đủ năng lực để nhận diện, vạch trần, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; đồng thời “bịt kín” những kẽ hở, không để cho kẻ thù lợi dụng sự thiếu hiểu biết để kích động, chống phá.

Trong giai đoạn hiện nay, công tác tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân và đồng bào các dân tộc, tôn giáo cần tập trung vào những nội dung: quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, trong đó trọng tâm là quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, bảo đảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; tăng cường đoàn kết lương giáo, khuyến khích nhân dân sống “tốt đời đẹp đạo” để cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội, về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, cần tuyên truyền, giáo dục để đồng bào các dân tộc, tôn giáo nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hiểm độc của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ; đồng thời, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mỗi tổ chức, lực lượng, mỗi cá nhân trong tham gia đấu tranh.

Để đạt hiệu quả, cán bộ, đảng viên cần sát dân, tìm hiểu và nắm tâm tư, nguyện vọng của dân; kết hợp giữa tuyên truyền vận động tập trung với phân tán; tăng thời lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc với nội dung đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu phù hợp với trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, các nhân sĩ trí thức là người dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo tiến bộ cùng vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc, tôn giáo nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Đồng thời, cần phát huy tốt vai trò của các tổ chức, đoàn thể nhân dân; thiết chế xã hội truyền thống vùng dân tộc thiểu số. Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, giáo dục.

Phương châm, yêu cầu trong phòng, chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Chủ động ngăn ngừa, lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thận trọng, khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt, kiên quyết trong giải quyết các tình huống. Đảng ta đã chỉ rõ: “...chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm m­ưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Đồng thời, “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”[1]. Trong giải quyết các vấn đề nảy sinh, nhất là các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo, phải Kiên quyết, khôn khéo, thận trọng, êm, gọn đúng pháp luật, không để lây lan, hình thành các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch mượn cớ can thiệp. Kết hợp chặt chẽ giữa luật đạo và luật đời; giải quyết thấu lý, đạt tình, phù hợp với nhận thức, truyền thống, tâm lý của đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Yêu cầu trong đấu tranh phòng, chống.Trước hết, phải hạn chế sự lan tỏa sang nơi khác và làm cho điểm nóng nguội dần. Phong tỏa ngăn sự “lây lan”. Khi điểm nóng bùng phát, phải nhanh chóng và kịp thời lập “rào chắn”, không để phát sinh thêm vấn đề mới làm phức tạp thêm tình hình; đặc biệt, phải chặn đứng ngay sự lợi dụng của kẻ địch. Làm cho điểm nóng nguội dần bằng những biện pháp nghiệp vụ, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, sự tiếp xúc nhanh của những người có thẩm quyền làm dịu sự “hưng phấn” của đám đông, từng bước giải tán từng nhóm quần chúng, cô lập bọn quá khích, vô hiệu hóa những kẻ cầm đầu.

Phải bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và tăng cường hiệu lực của hệ thống chính trị sở tại. Phát huy vai trò của quần chúng tích cực. Trên cơ sở đáp ứng những yêu cầu chính đáng của nhân dân mà động viên và bảo vệ quần chúng tốt, nhất là những người có uy tín trong cộng đồng, vạch mặt những kẻ xấu, chỉ ra những điều sai trái trong việc làm của đám đông cũng như của mỗi người, hướng họ từ người tham gia tạo nên yêu sách thành người cùng trách nhiệm giải quyết vấn đề yêu sách đặt ra. Phát huy vai trò của hệ thống chính trị sở tại. Khi tình huống bùng phát, phải củng cố nhanh hệ thống chính trị ở cơ sở. Thực hiện sự lãnh đạo tập trung của tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung vận động thuyết phục quần chúng. Chính quyền sở tại năng động, mềm dẻo và khéo léo thực hiện các biện pháp giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính cưỡng chế, các biện pháp tư tưởng với kinh tế, đạo đức với pháp luật, khuyến cáo răn đe, trừng trị thích đáng các phần tử phản động, ngoan cố quậy phá.

Tạo ra sự bình ổn bền vững trong đời sống xã hội. Lập lại sự bình ổn xã hội. Nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết tình huống. Biện pháp không chỉ trực tiếp giải quyết vấn đề chính trị đó. Không “đao to búa lớn”, không phô trương hay lợi dụng quyền lực và bạo lực; không để thiệt hại nhân mạng hay tổn thương về tinh thần, tránh đến mức thấp nhất thiệt hại của cải của quần chúng. Tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Giải pháp được lựa chọn không nhằm chỉ để dập tắt điểm nóng mà còn phải chữa trị, ngăn ngừa nguyên nhân sinh ra điểm nóng và kết hợp với tổng thể các giải pháp khác để cho đời sống xã hội phát triển tốt hơn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQG, H.2021, tr. 117.

Đối với đội ngũ cán bộ chính trị trong xây dựng mối đoàn kết toàn dân

 

Phát huy tinh thần, trách nhiệm, gương mẫu trong học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ hiểu biết lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, nhất là lý luận về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Qua đó quán triệt sâu sắc và vận dụng vào lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức cho đơn vị thực hiện thắng lợi mọi đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của quân đội của đơn vị nhất là tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Thường xuyên rèn luyện kỹ, phương pháp tư duy, nghiên cứu khoa học, phương pháp quán triệt, vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ ở đơn vị. Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tiến hành tốt công tác tuyên truyền giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, Nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc phối kết hợp với cấp ủy, chính quyền các ban, ngành, đoàn thể địa phương để làm tốt công tác dân vận, xây dựng mối đoàn kết gắn bó chặt chẽ giữa quân đội với nhân dân.


Chú trọng bồi dưỡng toàn diện phẩm chất, năng lực cho mọi quân nhân đáp ứng yêu cầu tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 


Thường xuyên bồi dưỡng các phẩm chất, chính trị, đạo đức, nâng cao trình độ học vấn, tri thức toàn diện, nhất là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, có năng lực hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tham mưu, tư vấn, đề xuất, tổ chức các hoạt động thực tiễn, nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Chú trọng bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho các lực lượng chuyên trách như: Lực lượng làm công tác tuyên huấn, dân vận, vận động quần chúng, bảo vệ…Tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch công tác có nội dung liên quan. Thường xuyên chủ động liên hệ, trao đổi, bàn bạc với cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân địa phương về tình hình, nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nắm vững địa bàn, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, đời sống, tâm trạng, các vấn đề bức xúc, nổi cộm trong nhân dân, để kịp thời tham mưu, đề xuất và phối hợp với địa phương xây dựng cơ chế phối hợp công tác đúng đắn, hiệu quả. Tham gia bồi dưỡng nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở về công tác xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể; về quản lý nhà nước, về pháp luật, về quốc phòng, an ninh, về công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Cần phải tiến hành sơ kết, tổng kết đánh giá nghiêm túc kết quả đạt được, những thành tựu, hạn chế, chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn cần phải giải quyết đối với Quân đội, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài quân đội. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với từng nhiệm vụ, chỉ ra trách nhiệm của các lực lượng, xây dựng biện pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc, góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt quân - dân trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc


Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng dựa trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Giữ vững nguyên tắc này là cơ sở bảo đảm bản chất chính trị của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò nòng cốt của khối liên minh công, nông, trí thức và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ở nước ta, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức bao gồm các giai tầng cơ bản, đông đảo, chủ yếu nhất trong xã hội. Đây là lực lượng xã hội có vai trò to lớn nhất, tích cực nhất trong sản xuất vật chất và sáng tạo tinh thần, trong đấu tranh giai cấp và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh viết: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất”[1]. Người chỉ rõ, sở dĩ phải lấy liên minh công - nông làm nền tảng “Vì họ là người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết, mà cũng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn, bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác”[2]. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở bảo đảm cho tính ổn định, bền vững và cách mạng.

Công nhân, nông dân và trí thức có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau và thống nhất với các tầng lớp nhân dân lao động khác. Vì vậy, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức càng vững chắc bao nhiêu thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố, tăng cường bấy nhiêu. Hiện nay, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng, của Nhà nước ta, đồng thời là nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua khối liên minh này, Đảng ta có thể tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân lao động khác tham gia quản lý nhà nước, làm chủ xã hội, làm cho lợi ích giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc, tạo đồng thuận cao trong xã hội.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định bảo đảm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vững định hướng chính trị, kiên định mục tiêu và lý tưởng cách mạng, gắn kết ý Đảng, lòng dân, thực sự là một khối tập hợp các tổ chức, các lực lượng cách mạng. Bởi vì, chỉ có chính đảng của giai cấp công nhân được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mới đánh giá đúng được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, mới vạch ra được đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn để lôi kéo, tập hợp quần chúng vào khối đại đoàn kết trong mặt trận, biến tiến trình cách mạng trở thành những ngày hội của quần chúng. Sự lãnh đạo của Đảng đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn bảo đảm cho sự kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa lợi ích giai cấp với lợi ích nhân dân và lợi ích dân tộc, đồng thời làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường và phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12, “Ba mươi năm hoạt động của Đảng” (1960), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.417.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, “Bài nói chuyên tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 1 - trường Đại học Nhân dân Việt Nam” (1956), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.376. 

Đại đoàn kết toàn dân tộc làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch

 


Trong suốt tiến trình đấu tranh cách mạng, Đảng và dân tộc ta đã phải đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Nhận thức rõ tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã luôn tìm mọi cách chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; chia rẽ nội bộ Đảng; chia rẽ nội bộ các tầng lớp nhân dân, qua đó hòng làm suy yếu và rệu rã khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khiến cho cách mạng Việt Nam thất bại. Song nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, sự đồng lòng, nhất trí của nhân dân, chúng ta đã từng bước đập tan những mưu đồ thâm độc đó, tập hợp, gắn kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng mọi kẻ thù.

Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu, thủ đoạn phá hoại, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng đang ra sức đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp gây bạo loạn lật đổ, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, chúng ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ nhân quyền... để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; lợi dụng những yếu kém, sự thóai hóa biến chất của một bộ phn cán bộ, đảng viên để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho nhân dân mất lòng tin vào Đảng và chế độ, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân tạo ra mâu thuẫn, xung đột trong xã hội, để làm suy yếu và lật đổ chế độ ta.

Vì vậy, cần tăng cường hơn bao giờ hết khối đại đoàn kết dân tộc, đề cao cảnh giác đập tan mọi âm mưu, thù đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, xét lại, làm cho nhân dân các dân tộc, tôn giáo gắn bó với cộng đồng dân tộc, với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan tâm giải quyết đúng đắn lợi ích của nhân dân, tạo nên sự đồng thuận cao, sự ổn định chính trị - xã hội, để phát triển mạnh mẽ, bền vững đất nước, qua đó tạo ra chất miễn dịch chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Thực chất, của việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là giải quyết vấn đề lực lượng cho thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng.