ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay chủ
yếu do người học chưa xác định được mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính
trị; chưa nhận thức được tầm quan trọng của lý luận chính trị và học tập lý
luận chính trị. Bên cạnh đó, một số nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng,
tập huấn chậm được đổi mới, bổ sung, cập nhật, còn trùng lặp, thiếu hấp dẫn,
không thiết thực. Hình thức giáo dục, học tập lý luận chính trị một số nơi chưa
phong phú, chưa đa dạng; tổ chức học tập chưa phù hợp. Phương pháp giảng dạy
của giáo viên còn hạn chế, nặng về truyền đạt tri thức, chưa phát huy được tính
tích cực, sáng tạo của học viên. Do đó, khắc phục tình trạng lười học, ngại học
tập lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện
một số giải pháp sau:
Một
là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên.
Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ
cán bộ, đảng viên chưa cao là nguyên nhân của tình trạng lười học tập lý luận
chính trị. Do đó, cần chú trọng hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền để các
cấp ủy, tổ chức đảng và nhất là người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ
việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận là quyền lợi và trách nhiệm
của mình; coi đó là nhu cầu tự thân, việc làm thường xuyên, liên tục, bền bỉ
suốt cuộc đời, không bao giờ là đủ. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên ở các cơ
quan, đơn vị nhận thức rõ vai trò quan trọng của lý luận trong nâng cao năng
lực, trình độ và phương pháp tư duy, năng lực lãnh đạo, để từ đó xây dựng động
cơ, ý thức, trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị. Cần lựa chọn nội dung,
thời gian, hình thức bồi dưỡng phù hợp cho từng cấp, từng đối tượng. Kiên quyết
đấu tranh, khắc phục triệt để cách nhìn nhận học lý luận chính trị vì lý do
thăng tiến, để được đề bạt, bổ nhiệm.
Hai
là, coi trọng hơn nữa việc đào
tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo
viên, tuyên truyền viên các cấp.
Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên là người
trực tiếp tương tác, truyền thụ thông tin, kiến thức, truyền cảm hứng và gợi mở
cho cán bộ, đảng viên, học viên. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công
tác này có phẩm chất đạo đức và tài năng, thực sự là tấm gương “tự học và sáng
tạo”, am tường lý luận sâu sắc, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực sư
phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn, cuốn hút người học sẽ góp phần khắc
phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên.
Ba
là, cấp ủy các cấp duy trì thực hiện nghiêm quy định,
chế độ học tập lý luận chính trị hằng năm cho cán bộ, đảng
viên.
Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng yêu cầu: “Có kế hoạch học tập,
bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên
gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng,
từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Theo đó, cấp ủy các cấp phải duy trì và
thực hiện đúng các quy định, chế độ về học tập lý luận chính trị trong Đảng,
phải coi đó là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định
thành chế độ để mọi người tự giác thực hiện nghiêm túc. Đưa chế độ tự học tập,
nghiên cứu lý luận chính trị thành tiêu chí bắt buộc trong hoạt động của cán
bộ, đảng viên; phòng, chống triệt để tình trạng lười học, ngại học tập lý luận
chính trị. Phát huy vai trò nêu gương học tập lý luận chính trị của người đứng
đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.
Bốn
là, phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cán bộ,
đảng viên trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Học hỏi là một việc
phải tiếp tục suốt đời... Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết
rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng
ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Do đó, mỗi cán
bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy đó của Người, thường xuyên học tập, trau
đồi phẩm chất đạo đức chính trị, gắn việc học lý luận với thực tiễn công việc
hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên cần dành thời gian nghiên cứu, thu hoạch các
tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Gắn những
tri thức thu được vào thực tiễn cuộc sống, vào nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị,
tránh lý luận suông. Mỗi cán bộ, đảng viên cần khiêm tốn học hỏi, chống tự cao,
tự đại, thỏa mãn với những kiến thức đã có. Trong học tập, nghiên cứu lý luận
chính trị cần tránh giáo điều, tiếp thu lý luận một cách máy móc “kinh viện”,
không biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, phải tránh chủ
nghĩa kinh nghiệm, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, coi nhẹ, phủ nhận vai
trò của lý luận. Gắn việc tự học, tự nghiên cứu với tích cực, chủ động đấu
tranh, phê phán với các quan điểm sai trái, thù địch để làm thất bại mọi âm
mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và
bất mãn chính trị hiện nay.
Năm
là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá;
lấy kết quả học tập lý luận chính trị làm thước đo để đánh giá, xếp loại cán
bộ, đảng viên.
Các
cấp ủy, tổ chức đảng ở các cơ quan, đơn vị cần tăng cường kiểm tra và quản lý
chặt chẽ chất lượng học tập lý luận chính trị, quán triệt triển khai các nghị
quyết của Đảng bảo đảm nền nếp, thực chất, hiệu quả thiết thực. Thông qua công
tác kiểm tra, giám sát, kịp thời biểu dương những tổ chức đảng và cán bộ, đảng
viên gương mẫu thực hiện nghiêm, chấp hành tốt việc học tập lý luận chính trị.
Đồng thời, phê bình, nhắc nhở nghiêm khắc đối với các tổ chức đảng, cán bộ,
đảng viên có biểu hiện lơ là, chưa nghiêm túc, vi phạm quy chế, kỷ luật, kỷ
cương trong học tập lý luận chính trị. Căn cứ vào ý thức, thái độ, trách nhiệm
và kết quả học tập lý luận chính trị để đánh giá, xếp loại, phân loại cán bộ,
đảng viên và bình xét thi đua khen thưởng hằng năm thực chất, hiệu quả, không
hình thức.
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được những biểu hiện
của bệnh ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết
vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý
luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm
biện pháp để điều hòa công tác và học tập;… phàn nàn trước những khó khăn của
việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”. Nhận thấy những nguy hại của căn
bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, ngay từ Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, Đảng ta đã chỉ rõ, lười học tập,
lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu
hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường
xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ” đã chỉ ra một trong chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội
ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan
trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng nhấn mạnh, cần “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính
trị trong cán bộ, đảng viên”. Việc nhận diện đúng các biểu hiện của căn bệnh
này là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp khắc phục kịp thời. Có thể
thấy, bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay
tập trung ở những biểu hiện sau:
Thứ
nhất, không ít cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ về sự cần
thiết, tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị mà thường tập trung
cho học tập chuyên môn, nghiệp vụ; thậm chí có người còn cho rằng đó là việc
làm “vô ích” gây lãng phí thời gian, công sức. Đã có không ít người thiếu tự
giác, không chủ động tham gia học tập lý luận chính trị, thậm chí tìm mọi lý do
để trốn tránh không tham gia học tập.
Thứ
hai, một bộ phận cán bộ, đảng viên học tập lý luận chính trị
chưa thực sự nghiêm túc, còn thực hiện qua loa, đại khái, hình thức. Vẫn còn tư tưởng học để có đủ bằng cấp, đủ điều kiện để
được đề bạt, bổ nhiệm, nên chưa thật sự toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu,
học tập. Một số người chấp hành kỷ luật học tập không nghiêm, đi học thì
“đánh trống ghi tên”, gượng ép, đối phó; vi phạm quy chế học tập, như nhờ đi
học, nhờ thi hộ, bỏ học, bỏ thi, sử dụng điện thoại, làm việc riêng trong lớp
học; thiếu tích cực, thiếu chủ động nghiên cứu tài liệu trong học tập; ngại
trao đổi, thảo luận, quay cóp khi thi, sao chép khi làm bài thu hoạch.
Thứ
ba, một bộ phận cán bộ, đảng viên không vận dụng tri thức
đã học để xem xét giải quyết các vấn đề của địa phương, cơ quan, đơn vị mình;
không sử dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn công
việc theo chức trách, nhiệm vụ; học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn với
thực tiễn.
“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công
việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Học tập
lý luận chính trị là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên, tuy nhiên, vẫn có
hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học lý luận chính trị. Vì
thế, nhận diện rõ biểu hiện này và có những giải pháp khắc phục kịp thời là yêu
cầu cấp thiết hiện nay.
Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân thế giới đã chứng
minh rằng, bất kỳ chính đảng nào muốn lãnh đạo phong trào cách mạng thành công
đều phải có một lý luận cách mạng soi đường. Nói cách khác, một chính đảng mạnh
bao giờ cũng phải có chủ nghĩa “làm cốt” và nền tảng lý luận khoa học dẫn
đường. Nếu không, chính đảng ấy sẽ mất phương hướng, “lúng túng như nhắm mắt mà
đi” và tất yếu, cách mạng sẽ khó thành công, thậm chí thất bại.Lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và
thúc đẩy phong trào cách mạng. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin cho rằng:
“Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một
đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến
sĩ tiền phong”. V.I. Lê-nin còn chỉ rõ sự cần thiết phải học tập lý luận chính
trị: “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết,
sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các
cán bộ cốt cán của Đảng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng ta còn có
nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp
kém... vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày
càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không
tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”. Người còn chỉ rõ: “Vì kém lý luận, cho nên
gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo.
Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế
ấy. Kết quả thường thất bại”. Do đó, “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho
cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi
của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm
tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của
mình”.
Như vậy, có thể khẳng định, việc học tập lý luận chính trị có
vai trò rất quan trọng; là công việc cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên
phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài. Lý luận chính trị là hệ thống
tri thức về lĩnh vực chính trị; mang tính đảng, tính giai cấp, đồng thời có
tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Lý luận chính
trị giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc
biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ
chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... phù hợp với quy luật khách
quan. Không có lý luận chính trị thì tinh thần và ý chí kém cương quyết, không
nhìn xa trông rộng, dễ lạc phương hướng và “mù chính trị”, thậm chí xa rời cách
mạng. Với ý nghĩa đó, việc học tập lý luận chính trị không chỉ góp phần để cán
bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm bắt chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận dụng hiệu quả những tri thức lý
luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, mà còn là cẩm nang để giúp
mỗi cán bộ, đảng viên thâm nhập, đi sâu vào quần chúng, gần dân, hiểu dân và
trọng dân, xứng đáng là người lãnh đạo gương mẫu, người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân.
Học tập lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Đây là yêu cầu thường xuyên, hằng
ngày, cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Học tập lý luận chính trị là
nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo
đức, do đó, nếu nhận thức lơ là hoặc sai lệch về tầm quan trọng của lý luận và
việc học tập lý luận chính trị, tất yếu dẫn đến lười học, ngại học, học đối
phó. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên chẳng những không nắm vững và vận dụng được các
nguyên lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà còn không thể
hình thành và phát triển tư duy khoa học khách quan. Thực tế cho thấy, học tập
lý luận chính trị là vấn đề hệ trọng, có ảnh hưởng lớn; nếu không học tập lý
luận có thể kéo theo hàng loạt những vấn đề phức tạp khác, như suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... và từ suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn,
thậm chí rất ngắn, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu,
thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Để
khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và bất cập nêu trên, trong những năm gần
đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy
định, quy chế, quy trình, hướng dẫn... nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm
quyền của tập thể và cá nhân; quy định cụ thể những việc, những vấn đề phải đưa
ra tập thể thảo luận, quyết định và chịu trách nhiệm; những việc cá nhân, trong
đó có người đứng đầu, được đề xuất hoặc quyết định và chịu trách nhiệm về đề
xuất, quyết định của mình, làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát và kiểm soát
quyền lực của tập thể và cá nhân từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Cụ thể
là:
Thứ
nhất,
sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, tại hội nghị trung ương lần thứ hai, Ban Chấp hành
Trung ương đều bổ sung, sửa đổi và ban hành Quy chế làm việc của Trung ương;
trong đó, quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và thẩm quyền, trách nhiệm
của Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương... Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng bổ sung, sửa đổi và ban hành
quy định về chức năng, nhiệm vụ của Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính
phủ, các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương và ban hành quy chế làm việc
mẫu của đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương để thực hiện.
Thứ
hai,
Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, “Về
phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”, nhằm xác định
rõ nguyên tắc, đối tượng, nội dung công tác cán bộ và quy trình thực hiện việc
bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo quy trình 5 bước và quy định rõ thẩm
quyền, trách nhiệm của từng cấp; chỉ rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể
lãnh đạo và của mỗi thành viên trong tập thể lãnh đạo đó, nhất là thẩm quyền
của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân khi
để xảy ra sai phạm. Quy định của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực
trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, quy định rõ thẩm quyền,
trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi thành viên trong tập
thể đó; thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và các cá nhân trong việc
tham mưu, đề xuất về công tác cán bộ; quy định rõ những việc tập thể và cá nhân
có thẩm quyền trong công tác cán bộ phải làm và những việc không được làm; việc
xử lý đối với tập thể và cá nhân khi để xảy ra sai phạm, kể cả khi cán bộ đã
nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác. Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, của
Bộ Chính trị, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của
cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương” đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể
cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh và của mỗi thành viên trong
tập thể đó. Đồng thời, chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định
của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh trên các lĩnh vực: Phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại, công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; những việc thuộc thẩm
quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy; các mối
quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá
nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm...
Thứ
ba,
Ban Bí thư khóa XII đã ban hành Quy định số 202-QĐ/TW, ngày 2-8-2019, về “Chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ,
thường trực cấp ủy cấp huyện”, nhằm quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp
huyện và của mỗi thành viên trong tập thể đó; chỉ rõ những nhiệm vụ thuộc thẩm
quyền quyết định của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện trên
các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, công
tác đối ngoại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở địa
phương; những việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của
người đứng đầu cấp ủy cấp huyện; các mối quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử
lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm...
Đối với cấp cơ sở, Ban Bí thư các khóa gần đây đã ban hành các quy định về chức
năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các loại
hình tổ chức cơ sở đảng để thực hiện, trong đó có 2 quy định đối với tổ chức cơ
sở đảng xã, phường, thị trấn; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng cơ quan; 3
quy định đối với tổ chức cơ sở đảng đơn vị sự nghiệp; 10 quy định đối với tổ
chức cơ sở đảng trong đơn vị quân đội; 6 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng
trong đơn vị công an; 7 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình
doanh nghiệp.
Thứ
tư,
ngoài các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cấp ủy,
tổ chức đảng nêu trên, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa
XI, khóa XII đã ban hành các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp, với phương
châm “cán bộ có chức vụ càng cao, thì càng phải gương mẫu” để thực hiện và đem
lại những kết quả tích cực.
Qua
thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... của Trung ương nêu
trên, các cấp ủy, tổ chức đảng đã có chuyển biến tích cực trong việc thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; từng bước
xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là trách
nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm sự
lãnh đạo của tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân, hạn chế các sai phạm. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân
phụ trách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị vẫn còn một số hạn chế, bất cập và
chưa được như mong muốn; vì thế, cần tiếp tục cụ thể hóa để đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ phát triển mới của
đất nước.
Thực
tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua cho thấy, các
cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong việc thể
chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách; xác định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của cấp ủy, tập
thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của mỗi cá nhân, nhất là đối với người đứng đầu
cấp ủy, chính quyền để thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và kết quả
bước đầu đạt được, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách, nhất là việc xác định trách nhiệm của người đứng đầu
cấp ủy, chính quyền với tập thể cấp ủy, ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị vẫn chưa
thật rõ ràng và còn những hạn chế, bất cập. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi địa phương,
cơ quan, đơn vị; có vai trò “là thủ lĩnh”, là “đầu tàu” để dẫn dắt, truyền cảm
hứng và lôi cuốn đối với tập thể cấp ủy, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, đảng viên,
nhưng người đứng đầu cũng chỉ là một thành viên dự họp và khi biểu quyết cũng
chỉ có một phiếu như các thành viên khác.
Trong
thực tế, cũng có không ít cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị hành chính
chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Một
mặt, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy
tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, nói nhiều làm ít, nói
không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, độc đoán, chuyên quyền, cá nhân chủ
nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, nhưng không
được tập thể theo dõi, giám sát, giúp đỡ kịp thời, dẫn đến vi phạm nguyên tắc
tổ chức và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm suy
giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, cũng
do chưa cụ thể hóa và phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng
đầu nên còn có sự lúng túng giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân
trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều nơi. Cũng có nơi
đã xảy ra sai phạm do nhầm lẫn giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu
cấp ủy (thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định theo
đa số) với người đứng đầu cơ quan, đơn vị (thực hiện nguyên
tắc thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó), nhất
là đối với những đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn
vị. Vì thế, nhiều nơi có biểu hiện là, khi địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị
có ưu điểm, thành tích thì ai cũng thấy có công lao, thành tích của mình đóng
góp ở trong đó; nhưng khi có sai lầm, khuyết điểm, thậm chí để xảy ra sai phạm,
thì không xác định được trách nhiệm của tập thể và cá nhân đến đâu, nhất là của
người đứng đầu; và cuối cùng là đổ cho nguyên nhân khách quan và lỗi chung của
tập thể, mà không có cá nhân nào chịu trách nhiệm.
Cũng
không ít nơi còn biểu hiện dân chủ xuôi chiều, dân chủ hình thức, ý kiến phát
biểu của các thành viên lãnh đạo chủ yếu dựa theo ý kiến của người đứng đầu,
theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”. Đây thực chất là thông qua cơ chế dân
chủ của tập thể để hợp thức hóa ý chí áp đặt và sự chỉ đạo của người đứng đầu
cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong công tác đề bạt, bổ nhiệm
cán bộ, đã xảy ra không ít trường hợp là, mặc dù thực hiện “đúng quy trình”
nhưng vẫn không lựa chọn được đúng người, đúng việc, trong khi đó có một số
trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” lại là con, em, người thân của cán bộ lãnh
đạo, nhất là người đứng đầu, nên đã gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân
dân. Thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có
nguyên nhân chủ quan là việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách và việc phân định chưa thật rõ ràng trách nhiệm của
người đứng đầu trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị;
chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể.
Quán
triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây
dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người
sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, luôn coi trọng nguyên tắc tập trung
dân chủ và coi đó là nguyên tắc số một về tổ chức và hoạt động của một Đảng
Cộng sản. Điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, những
tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều khẳng định và chỉ rõ những
nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Đảng. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng 93 năm qua, Đảng ta luôn xác định tập trung dân chủ là
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản
Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm
2011) nhấn mạnh: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động,
lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách”.
Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ
thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách. Việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
trong Đảng thống nhất với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy
nhà nước và trở thành một phong cách làm việc cần thiết của cán bộ lãnh đạo,
quản lý. Hiện nay, việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và phong
cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có ý nghĩa rất quan trọng đối
với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và năng
lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thực chất, việc cụ thể hóa nguyên tắc này là
xử lý hài hòa mối quan hệ giữa cấp ủy, tập thể lãnh đạo và mỗi thành viên, mà
quan trọng nhất là đối với vị trí, vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền cơ quan, đơn vị đó.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một
người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông
thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy
và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người.
Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông
thấy rõ mặt khác của vấn đề đó... Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã
được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải
giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành.
Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Trong hoạt động lãnh
đạo, một mặt, nếu tập thể lãnh đạo cùng tham gia, đóng góp ý kiến,
thảo luận, bàn bạc thấu đáo, kỹ lưỡng, thì quyết định lãnh đạo, chủ trương,
chính sách mới sẽ bảo đảm được tính khách quan, chính xác hơn, khắc phục được
tình trạng chủ quan, duy ý chí; mặt khác, khi tập thể đã thảo luận
một cách dân chủ, kỹ lưỡng và có quyết định chính xác, đúng đắn về chủ trương,
thì không thể hô hào chung chung, mà tất cả mọi người phải cùng thực hiện, phải
phân công, giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách trong từng lĩnh vực, từng
công việc cụ thể. Chỉ có như vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ vừa phát huy
được dân chủ, tập hợp trí tuệ của các thành viên và nâng cao vai trò lãnh đạo
của tập thể, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, phát huy được năng
lực, sở trường và tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên khi được phân công
phụ trách, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.
“Tập
thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” có mối quan hệ gắn bó mật thiết, biện
chứng với nhau, là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không thể tách rời.
Khi một tập thể lãnh đạo gương mẫu, thực sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành
động, tất cả vì lợi chung của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên
trên hết, trước hết, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước, sẽ tạo được môi trường thuận lợi cho mỗi thành
viên lãnh đạo rèn luyện, phấn đấu, phát huy hết phẩm chất, năng lực, sở trường
để đóng góp cho sự nghiệp chung. Bên cạnh đó, khi mỗi thành viên cấp ủy, lãnh
đạo cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách
mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu, luôn năng động, sáng tạo, dám
đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,
quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, sẽ làm tăng thêm vai trò, sức mạnh
và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong mối
quan hệ giữa “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách”, thì mối quan hệ giữa
cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và vai trò, trách nhiệm
của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Khi
tập thể lãnh đạo thực sự đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, giữ vững nguyên tắc
tổ chức và các quy định của Đảng, tất cả vì lợi ích của nhân dân, các thành
viên ban lãnh đạo đều đề cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn đấu tranh với
quan điểm và hành vi sai trái..., sẽ làm tăng thêm vai trò, trách nhiệm của
người đứng đầu, trở thành chỗ dựa vững chắc để người đứng đầu quyết đoán, quyết
liệt trong chỉ đạo, điều hành công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao;
đồng thời, sẽ ngăn ngừa, hạn chế được những biểu hiện chủ quan, duy ý chí và
hành vi vi phạm nguyên tắc của người đứng đầu. Điều đó là bởi, người đứng đầu
cấp ủy, chính quyền chỉ là một thành viên trong cấp ủy, tập thể lãnh đạo, nhưng
có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò “thủ lĩnh”, định hướng, dẫn dắt cả tập
thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của địa
phương, cơ quan, đơn vị.
Thực
tiễn cũng chỉ ra rằng, nếu người đứng đầu có phẩm chất, năng lực và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ, gương mẫu về mọi mặt, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của
Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, sẽ góp phần xây
dựng tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đưa địa phương, cơ quan, đơn vị vượt qua
mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Ngược lại,
nơi nào và lúc nào người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu,
chấp hành không nghiêm chủ trương, đường lối, các nguyên tắc, quy định của
Đảng, có tư tưởng vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa..., thì sẽ dẫn đến thiếu đoàn kết,
thống nhất trong nội bộ lãnh đạo; nhiệm vụ chính trị không được hoàn thành,
trong cơ quan, đơn vị thường xảy ra tiêu cực, thậm chí tham nhũng, lãng phí, vi
phạm Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không những gây thiệt
hại về kinh tế, mà còn làm tổn thất, mất mát về cán bộ, làm suy giảm niềm tin
của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Như
vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng,
phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
Đảng trên các phương diện chính là: Trong công tác tổ chức; trong hoạt động
lãnh đạo trong sinh hoạt đảng và trong các mặt khác của công tác xây dựng Đảng.
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
là việc phức tạp, phạm vi phải xây dựng các quy định rất rộng, cần sự kiên trì
và sự chỉ đạo tập trung.
Việc
hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ
trong Đảng hiện nay cần tập trung vào xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách
thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sao cho khắc phục được những hạn
chế, bất cập trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như tình trạng dân
chủ hình thức; bóp méo dân chủ để phục vụ ý đồ cá nhân; không quy được trách
nhiệm cá nhân khi có sai phạm xảy ra; nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ
nhưng hành xử gia trưởng, độc đoán... Trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm
thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay, cần lưu
ý một số vấn đề sau:
1-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các
cấp của Đảng, bầu người đứng đầu trong các tổ chức của Đảng.
Cần
hoàn thiện các quy định về chế độ bầu cử theo hướng mở rộng bầu cử trực tiếp
cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh từ nay đến năm 2030.
Để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức và bóp méo dân chủ trong bầu cử ở nơi
này hay nơi khác, theo tinh thần mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, cần giới
thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, quy định bắt buộc có số dư trong
giới thiệu ứng cử và bầu cử cấp ủy và cả các chức danh là người đứng đầu. Sự
không hài lòng trong dư luận, tính hình thức và nguy cơ làm biến dạng dân chủ
do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu ở tình trạng phổ biến là chỉ có một ứng
viên cho một chức danh lãnh đạo trong bầu cử hiện nay.
Bên
cạnh đó, cũng cần tập trung nghiên cứu thực hiện chế độ để những người tham gia
bầu có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.
2-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng.
Cần
hoàn thiện các quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó quy định
rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ, ban
cán sự đảng...) theo hướng chỉ bàn và quyết định những vấn đề lớn, chỉ trực
tiếp quản lý cán bộ là người đứng đầu; đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm
của cá nhân là thành viên tập thể lãnh đạo, người đứng đầu (nhất là bí thư, các
phó bí thư cấp ủy), đi đôi với hoàn thiện các quy định, thiết chế kiểm soát
quyền lực bằng chế độ kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu bất tín nhiệm...
Hoàn
thiện quy định về chế độ tổ chức, làm việc của thường trực cấp ủy, ban cán sự
đảng và đảng đoàn vì đây là những cơ cấu tổ chức đặc biệt, được hình thành
không do bầu cử trực tiếp, nhưng có trách nhiệm, thẩm quyền rất lớn, dễ vi phạm
nguyên tắc tập trung dân chủ nếu thiếu các quy định cụ thể và chế độ kiểm tra,
giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp bí thư cấp ủy đồng thời làm chủ tịch ủy ban
nhân dân, vẫn phải bố trí thường trực cấp ủy đủ ba thành viên lãnh đạo để thực
hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ.
3-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng.
Cần
xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo đảm Đại hội đại biểu toàn quốc thật sự là
cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên là
cơ quan lãnh đạo có vị trí, vai trò cao nhất trong tổ chức đảng, khắc phục biểu
hiện hình thức của đại hội đảng các cấp. Ngay trong chính đảng mác-xít đầu tiên
do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập là Liên đoàn những người cộng sản, Điều lệ
của Liên đoàn năm 1847 đã quy định Ban chấp hành trung ương tham dự Đại
hội, nhưng không có quyền biểu quyết. Với quy định này, cho thấy C. Mác và
Ph. Ăng-ghen đã rất quan tâm đến ngăn chặn ảnh hưởng của ban chấp hành đối với
đại hội đảng và là chỉ dẫn có ý nghĩa đối với vấn đề hạn chế ảnh hưởng quá mức
của ban chấp hành đến đại hội đảng.
Cần
xây dựng quy định về chế độ thảo luận trong đại hội đảng bảo đảm sự thảo luận,
tranh luận thật sự trong đại hội đảng, khắc phục tính hình thức của tham luận
tại đại hội.
4-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ ra nghị
quyết và chấp hành nghị quyết.
Xây
dựng, hoàn thiện quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập
thể. Các quy định phải bảo đảm để mọi cán bộ, đảng viên thực hiện được quyền
tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh
luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết
thì phải nói và làm theo nghị quyết. Quy định rõ chế độ lãnh đạo các cấp phải
lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân, hồi đáp các ý kiến
góp ý, các kiến nghị.
Xây
dựng, hoàn thiện chế độ thảo luận, tranh luận trong xây dựng nghị quyết bảo đảm
khuyến khích mọi đảng viên thảo luận dân chủ tất cả mọi vấn đề trong phạm vi
chức năng tổ chức đảng của mình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo cơ
chế để khơi gợi, khuyến khích được đảng viên dân chủ thảo luận, phát huy cao
nhất tính sáng tạo và giá trị đóng góp của đảng viên. Bảo đảm tất cả ý kiến của
đảng viên phải được tôn trọng, ghi nhận, kể cả có đúng, có sai, dù xuôi chiều
hay trái chiều. Không đưa ra các quy định hạn chế ý kiến góp ý, chất vấn, hay
đồng nhất việc có ý kiến trái chiều với sự mất đoàn kết trong tổ chức đảng.
Chế
độ ra quyết định phải bảo đảm việc ban hành nghị quyết của Đảng đều trên cơ sở
được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và
đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của nhân dân nếu cần, được cân
nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều
trước khi quyết định. Đối với những vấn đề mới, khó, phức tạp thì cần được tổ
chức hội thảo, tọa đàm để tiến hành thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng, xin ý kiến
chuyên gia trước khi quyết định.
5-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và nhiệm vụ
của đảng viên.
Cần
cụ thể hóa các quy định để thực sự thực hiện được các quyền của đảng viên về:
Quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng; quyền ứng
cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban
Chấp hành Trung ương; quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và
đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan
có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời; quyền trình bày ý kiến khi tổ chức đảng
nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
6-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện thẩm quyền của tổ
chức đảng các cấp.
Cần
xây dựng, hoàn thiện các quy định về việc tổ chức đảng quyết định các vấn đề
thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Điều này
sẽ ngăn ngừa được tình trạng vi phạm thẩm quyền khi ban hành các nghị quyết,
dẫn đến việc ban hành các nghị quyết sai trái của một số tổ chức đảng như trong
thời gian vừa qua. Thực hiện có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát các quyết
định của tổ chức đảng các cấp và xử lý các quyết định trái với nguyên tắc,
đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên và chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
7-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo và
thông báo hoạt động của cấp ủy.
Quy
định rõ về chế độ cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của
mình trước đại hội cùng cấp; cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt
động của mình trước cấp dưới, bảo đảm thật sự là một “kênh” kiểm soát quyền lực
trong Đảng; chế độ định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ
chức đảng trực thuộc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất tự phê bình và
phê bình.
8-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.
Hoàn
thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng
và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn phải
bảo đảm phát hiện từ cơ sở để lựa chọn được người có đầy đủ phẩm chất, năng
lực, xứng đáng được bầu vào cấp ủy khóa mới; phát hiện người có tài, đức để
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng.
Thực
hiện nghiêm và hoàn thiện chế độ ràng buộc trách nhiệm cả về chính trị, tinh
thần và kinh tế với người đề cử, tiến cử trong công tác nhân sự nếu việc đề cử,
tiến cử vi phạm các quy định, để chống tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương,
thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; đồng thời, tránh cách làm giản đơn, tùy
tiện, vô nguyên tắc trong công tác cán bộ. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám
sát có nền nếp việc chấp hành quy định của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát
quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Cần tập trung
kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về không bố trí những người có quan hệ
gia đình (vợ, chồng; bố, mẹ của vợ hoặc chồng; con, anh chị em ruột) cùng đảm
nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức,
chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cùng cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân và người đứng
đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng
ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong
cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện,
xử lý nghiêm những trường hợp xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu
chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất,
không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu
thực hiện quy trình công tác cán bộ; để vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi,
con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình
để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Cần thực hiện ráo riết các biện pháp
trọng tâm như trên để đưa việc chấp hành các quy định về kiểm soát quyền lực
trong công tác cán bộ đi vào nền nếp, trở thành văn hóa trong Đảng và hệ thống
chính trị.
Thường
xuyên hoàn thiện cơ chế phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ kém năng lực
và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng, không còn đủ uy tín. Tổ chức
thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành Quy định số
41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ
chức đối với cán bộ”.
9-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tư tưởng.
Xây
dựng và hoàn thiện chế độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác
lý luận theo hướng mở rộng dân chủ trong nghiên cứu lý luận, thu hút và phát
huy trí tuệ của đông đảo các chuyên gia trên các lĩnh vực cùng tham gia; tạo
môi trường cho nghiên cứu dự báo phát triển. Những vấn đề lý luận và thực tiễn
mới, khó phải được tổ chức nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu, bài bản.
Cần
quy chế hóa trách nhiệm và khuyến khích sự cống hiến của đảng viên làm công tác
tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời cụ thể hóa các điều cấm
đối với đảng viên theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành
Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” trong nói, viết, tuyên
truyền, để tạo thành chế độ vừa phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo, vừa bảo
đảm giữ nghiêm kỷ luật trong công tác tư tưởng.
10-
Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ bảo lưu ý
kiến thuộc về thiểu số.
Cần
xây dựng quy định về chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số, gồm: Trường hợp
được bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quy trình và thời gian xử lý bảo lưu ý
kiến thuộc về thiểu số; quyền và trách nhiệm của đảng viên có ý kiến được bảo
lưu; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng bảo lưu mang tính hình
thức; ngăn ngừa sự lợi dụng, lạm dụng quyền dân chủ của một số đảng viên.
Trong
quá trình đổi mới, Đảng ta đã có bước tiến mới về thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong việc chuẩn bị các quyết định của
Đảng, bầu cử cấp ủy và đánh giá, đề bạt cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng
không ít cá nhân lợi dụng chính nguyên tắc tập trung dân chủ để cố tình thực
hiện sai nguyên tắc, lợi dụng yếu tố tập trung để thâu tóm quyền lực; nhiều cán
bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó có
cả đảng viên là cán bộ cấp cao. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập
trung dân chủ có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Một trong những nguyên nhân
là do nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chi phối rất rộng và khá trừu
tượng, khó nắm bắt; hơn nữa, mỗi lĩnh vực, mỗi mặt công tác, hoạt động xây dựng
Đảng lại có những yêu cầu cụ thể riêng. Mặc dù gần đây, Đảng ta đã có nhiều văn
bản quy định, hướng dẫn, trong đó cụ thể hóa cách tiến hành theo nguyên tắc tập
trung dân chủ; nhưng vẫn còn không ít lĩnh vực, mặt công tác chưa có được những
quy định cụ thể như vậy; hoặc, có quy định nhưng vẫn chưa đủ rõ, tức là chưa có
những quy định có tính hệ thống về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ trong Đảng. Thực tế đó cho thấy, để các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán
bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời,
ngăn ngừa, hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung
dân chủ, thì rất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay.
Theo
cách hiểu thông thường, cơ chế là “cách thức theo đó một quá
trình thực hiện”. Khái niệm cơ chế được dùng từ lâu trong khoa
học tự nhiên, kỹ thuật, như cơ chế quang hợp của cây xanh, cơ chế hoạt động của
máy phát điện... Ngày nay, khái niệm cơ chế được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể thấy, cơ chế là
những quy định về cách thức tiến hành hoạt động nào đó trong xã hội, trong tổ
chức. Cơ chế do tổ chức, con người đặt ra nhưng lại quy định về hoạt động của
tổ chức, con người; do vậy, cơ chế có thể đúng và có thể sai, phù hợp hoặc
không phù hợp, tiến bộ hay lạc hậu. Cơ chế có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến
phức tạp. Ở cấp độ cao, cơ chế còn bao gồm cả quan điểm chính trị - xã hội, các
quy phạm pháp luật, các quy định, quy chế, quy tắc, quy trình cụ thể trong từng
tổ chức, từng công việc.
Từ
nhận thức về khái niệm cơ chế như vậy, cho thấy: Cơ chế thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là hệ thống những quy định về cách thức
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Vì cơ chế thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bao gồm những quy định vềcách
thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; do đó, xây dựng cơ chế
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng thực chất là xây dựng hệ
thống các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
Đảng. Xây dựng tốt cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng tức
là xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định chỉ rõ cách thức thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, sẽ vừa hướng dẫn cho
các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng
nguyên tắc này, vừa ngăn ngừa tình trạng tùy tiện, lúng túng, cố tình làm sai,
bóp méo trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ càng được hoàn thiện, rõ ràng, sẽ càng bảo đảm thực hiện
có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.
HAIVAN
14.
Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay
Cơ
chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là
loại cơ chế chính trị cấp độ cao, bao gồm cả quan điểm chính trị, các quy định,
quy chế, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc của Đảng, để bảo
đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng.
Để
xác định nội dung cơ chế thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ
trong Đảng, cần nhận thức rõ phạm vi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong Đảng. Có thể chia ra các lĩnh vực chính trong thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ, như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ
chức của Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo;
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng khác.
Thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng.
Công
tác tổ chức là một trong các mặt công tác xây dựng Đảng, nhưng do nguyên tắc
tập trung dân chủ trước hết là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng và do tính
chất quan trọng của công tác tổ chức, nên cần tách ra thành một lĩnh vực chi
phối chính của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ trong công tác tổ chức của Đảng bao gồm: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ trong thiết kế mô hình tổ chức của Đảng, trong mối quan hệ giữa các tổ chức
trong Đảng, giữa đảng viên với tổ chức; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong xây dựng và tuân thủ quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng; thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thành lập tổ chức mới, kiện toàn, đổi
mới tổ chức...
Thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, gồm
các khâu: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy trình ban hành nghị
quyết, quyết định lãnh đạo; chế độ thảo luận, ra quyết định, bảo lưu ý kiến
thiểu số; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong chấp hành nghị quyết,
như chế độ chấp hành, chế độ trách nhiệm, chế độ kiểm tra, giám sát; thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân
phụ trách...
Thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, gồm
các nội dung: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê
bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng, trong sinh
hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện
quyền và trách nhiệm của đảng viên; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
thực hiện bầu cử trong Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực
hiện chế độ báo cáo, thông báo trong Đảng...
Thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng, gồm
các phương diện:Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công
tác lý luận, như mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết với yêu cầu sáng tạo,
đổi mới trong nghiên cứu lý luận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
công tác tuyên truyền, cổ động; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
công tác văn hóa, văn nghệ, trong xử lý mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết,
phục vụ đường lối, chủ trương của Đảng với đòi hỏi sự sáng tạo của văn hóa, văn
nghệ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các khâu của công tác cán
bộ, như đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, kỷ luật, chính
sách cán bộ...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác đảng
viên, như kết nạp đảng viên, đánh giá đảng viên, kỷ luật đảng viên...; thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật;
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác dân vận; thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ...
Sự
phân chia nêu trên là cần thiết để nhận thức rõ hơn về nguyên tắc tập trung dân
chủ trong Đảng và có cơ sở để xác định nội dung cơ chế cần xây dựng, hoàn thiện
nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Tuy
nhiên, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, vì trong thực hiện các
hoạt động lãnh đạo, sinh hoạt nội bộ và các mặt công tác xây dựng Đảng luôn có
sự đan xen nhau.
TCCS - Đại hội đảng bộ các cấp trong Bộ đội Biên phòng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, khẳng định bản lĩnh chính trị, sự trưởng thành, phát triển của lực lượng Bộ đội Biên phòng qua hơn 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm thực hiện mục tiêu xây dựng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng hiện đại. Thời gian tới, cùng với việc hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ đội Biên phòng lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra, cấp ủy, tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng xác định phương hướng và giải pháp trọng tâm tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần vào thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Tô Lâm với cán bộ, sĩ quan Đồn Biên phòng Cửa khẩu Sóc Giang, huyện Quảng Hà, tỉnh Cao Bằng, ngày 9-6-2024_Ảnh: TTXVN
Phát huy kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2020 - 2025
Hệ thống tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng được tổ chức và hoạt động theo hai loại hình, đó là: 1- Khối cơ quan Bộ Tư lệnh, nhà trường, đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh được tổ chức thành Đảng bộ Bộ đội Biên phòng, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Quân ủy Trung ương. Đảng bộ Bộ đội Biên phòng có 16 tổ chức đảng trực thuộc; 34 đảng bộ cơ sở, 81 chi bộ cơ sở, 19 đảng bộ bộ phận, 249 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng ủy bộ phận; 2- Khối Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố: Ở cơ quan, đơn vị thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố đặt dưới sự lãnh đạo về mọi mặt của tỉnh ủy, thành ủy; đồng thời, chấp hành nghị quyết của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về tổ chức xây dựng lực lượng và công tác biên phòng; chấp hành nghị quyết của đảng ủy quân khu về nhiệm vụ tác chiến trong khu vực phòng thủ. Đảng ủy Bộ đội Biên phòng 44 tỉnh, thành phố là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, bao gồm các đồn, hải đội, đại đội, tiểu đoàn huấn luyện, các phòng, ban trực thuộc bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố.
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”; Chỉ thị số 747-CT/QUTW, ngày 23-9-2019, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”; Hướng dẫn số 2008/HD-CT, ngày 26-10-2019, của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, “Về việc thực hiện chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng” và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức hội nghị triển khai đến 100% đảng ủy Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành phố và trực thuộc nhằm học tập, quán triệt các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức quán triệt đến mọi cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn lực lượng để triển khai thực hiện.
Trong đó, nổi bật là: Công tác chuẩn bị văn kiện được cấp ủy các cấp coi trọng, theo đúng hướng dẫn của cấp trên. Nội dung các văn kiện đại hội được kết cấu phù hợp, cân đối, rõ ràng, mạch lạc, có tính khái quát cao. Báo cáo kiểm điểm của các cấp ủy thể hiện tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, đánh giá nghiêm túc kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ, đúng mức kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy. Công tác chuẩn bị nhân sự đại hội được thực hiện chặt chẽ, dân chủ, công tâm, khách quan, đúng nguyên tắc, đúng quy trình, quy định của Đảng. Phối hợp chặt chẽ với các tỉnh ủy, thành ủy (nơi có Bộ đội Biên phòng) làm tốt công tác lựa chọn và giới thiệu nhân sự để tham gia ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố và cấp ủy ở địa phương bảo đảm đúng, đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định. Công tác bầu cử được tiến hành chặt chẽ, đúng quy trình, nguyên tắc. Sau đại hội, kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm và xây dựng đầy đủ quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo các mặt công tác trọng yếu và chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cấp ủy viên, của các cơ quan chức năng trong công tác chuẩn bị trước, trong và sau đại hội; làm tốt công tác tuyên truyền và bảo đảm phục vụ cho quá trình tổ chức đại hội.
Một số kinh nghiệm
Từ kết quả lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đảng các cấp trong Bộ đội Biên phòng, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, phải quán triệt cho cán bộ, đảng viên nắm vững quan điểm, yêu cầu, nội dung chỉ đạo của Trung ương, Quân ủy Trung ương và Hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp trong Đảng bộ Quân đội.
Hai là, cấp ủy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần chủ động trong công tác chuẩn bị đại hội từ sớm để ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đại hội bảo đảm tính thống nhất, phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị. Tập trung làm chuyển biến sâu sắc hơn về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong tổ chức đại hội đảng. Phân công trách nhiệm cụ thể cho các đồng chí đảng ủy viên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc cấp ủy cấp dưới chuẩn bị nội dung đại hội.
Ba là, chấp hành nghiêm túc quy trình, nguyên tắc trong chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới, bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, có số lượng và cơ cấu hợp lý; đề cao trách nhiệm của cấp ủy đương nhiệm, kịp thời tham mưu, đề xuất tháo gỡ vướng mắc nảy sinh trong thực tế.
Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong công tác nghiên cứu, tham mưu đề xuất, xây dựng các văn kiện đại hội và công tác chuẩn bị nhân sự; nắm vững quy định của Điều lệ Đảng và quy chế bầu cử trong Đảng để hướng dẫn chỉ đạo các đảng bộ tiến hành đại hội.
Năm là, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác của đại biểu (đảng viên) trong nghiên cứu các dự thảo văn kiện; chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, có chất lượng ý kiến tham luận; nắm vững tiêu chuẩn, cơ cấu, nguyên tắc, thủ tục quy định, tránh sai sót, nhầm lẫn trong bầu cử.
Một số giải pháp trọng tâm thời gian tới
Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn trên thế giới. Tuy nhiên, các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, xung đột vũ trang đe đọa nghiêm trọng sự ổn định, phát triển bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong nước, tình hình vi phạm chủ quyền, lãnh thổ và an ninh, trật tự trên các tuyến biên giới, vùng biển xuất hiện phương thức, thủ đoạn mới; vấn đề biên giới, lãnh thổ gắn với vấn đề dân tộc, tôn giáo trở thành trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch; các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, có vũ trang, tội phạm công nghệ cao, xuyên quốc gia, xuyên biên giới có chiều hướng gia tăng; các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị tăng cường hoạt động chống phá để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và nhân sự cấp ủy các cấp. Bên cạnh đó, do tính chất nhiệm vụ, hầu hết tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng đóng quân ở vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo trong điều kiện khó khăn, gian khổ; địa bàn rộng, phân tán trên phạm vi cả nước, xa sự chỉ huy, chỉ đạo; cùng lúc, các tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng vừa phải làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội, vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Tình hình trên có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng và tổ chức đại hội đảng các cấp trong Bộ đội Biên phòng.
Đảng ủy Bộ đội Biên phòng xác định phương hướng trọng tâm để chuẩn bị và tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp trong Bộ đội Biên phòng nhiệm kỳ 2025 - 2030 như sau:
Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp trong Bộ đội Biên phòng phải được các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện theo đúng quy định, nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương; phát huy đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là cán bộ chủ trì, lãnh đạo, chỉ huy các cấp; bảo đảm hiệu quả, an toàn, thiết thực, không phô trương hình thức; kiên quyết chống lãng phí, tiêu cực. Thông qua đại hội đảng bộ các cấp, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; xây dựng Đảng bộ Bộ đội Biên phòng thực sự tiêu biểu, mẫu mực, lãnh đạo toàn lực lượng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo tổ chức chặt chẽ, phát huy tốt trách nhiệm, trí tuệ của cán bộ, đảng viên trong nghiên cứu, quán triệt các đánh giá và quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và văn kiện đại hội đảng bộ cấp trên để tham gia có chất lượng vào các văn kiện trình đại hội. Các văn kiện trình đại hội phải đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ qua, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ tới có tính khả thi, khoa học, thực tiễn, bảo đảm bám sát các nghị quyết.
Công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy các cấp; đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, cán bộ chủ trì theo quy định; bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, tăng cường ở cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ quan trọng, trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu. Cấp ủy khóa mới phải tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín; thật sự là trung tâm đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, có tầm nhìn và tư duy đổi mới, có sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới để thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội phải thường xuyên làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị gắn với đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng. Tập trung giải quyết, xử lý kịp thời, hiệu quả hạn chế, bất cập, yếu kém; vấn đề tồn đọng, kéo dài của cơ quan, đơn vị. Nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống. Chủ động, tích cực, có biện pháp đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá, gây rối nội bộ của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn để bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện thắng lợi phương hướng chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp trong Bộ đội Biên phòng, nhiệm kỳ 2025 - 2030, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Bộ đội Biên phòng tập trung thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân ủy Trung ương và các văn bản hướng dẫn về tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, như: Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18-8-2014, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, “Về việc ban hành quy chế bầu cử trong Đảng”; Quy định số 24-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về thi hành Điều lệ Đảng”; Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 28-9-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng; Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14-6-2024, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” và Chỉ thị số 2960-CT/QUTW, ngày 18-7-2024, của Ban Thường vụ Quân uỷ Trung ương, “Về đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”... Tập trung làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp; thông qua công tác tổ chức đại hội đảng bộ, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng các tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng thực sự tiêu biểu, mẫu mực, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, chủ động triển khai, cụ thể hóa, ban hành hệ thống văn bản, phân công trách nhiệm cho từng cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong công tác chuẩn bị và lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức đại hội đại biểu đảng bộ các cấp.
Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của Trung ương, Hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng của Đảng ủy tham mưu, xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức đại hội Đảng các cấp trong Bộ đội Biên phòng. Chuẩn bị nhân sự và điều kiện cần thiết để thành lập các tiểu ban giúp việc và tổ chức đại hội; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí trong cấp ủy chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, nắm tình hình, giải quyết, tháo gỡ khó khăn đối với đảng bộ cấp dưới. Xác định cơ cấu thành phần tham gia các tiểu ban, tổ giúp việc bảo đảm theo khối, ngành, lĩnh vực để phát huy tốt năng lực, trí tuệ tập thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chuẩn bị báo cáo chính trị, nhân sự và các điều kiện cho đại hội...
Thứ ba, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong việc nâng cao chất lượng chuẩn bị văn kiện trình đại hội.
Quán triệt yêu cầu chuẩn bị văn kiện đại hội theo Chỉ thị số 2960-CT/QUTW, xác định báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm, có vai trò định hướng cho các văn kiện khác, vì vậy ngoài việc phải đánh giá đúng, trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả đạt được, nâng cao chất lượng công tác dự báo; phải dự báo được thời cơ, thuận lợi và thách thức trong nhiệm kỳ tới trên cơ sở khoa học, từ đó xây dựng được mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cho nhiệm kỳ tới sát tình hình thực tế và có tính khả thi cao. Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần đầu tư, xây dựng hết sức công phu, nghiêm túc, khoa học. Báo cáo chính trị phải thể hiện đầy đủ nội dung, đánh giá toàn diện, khách quan, trung thực, sát tình hình thực tế; làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và bài học kinh nghiệm; đồng thời, quán triệt quan điểm, chủ trương, định hướng lớn trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng, của Quân ủy Trung ương, căn cứ điều kiện thực tiễn của cơ quan, đơn vị để xác định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thiết thực, khả thi, hiệu quả trong nhiệm kỳ tới và những năm tiếp theo; chú trọng xác định các giải pháp đột phá vào nhiệm vụ trọng tâm, khắc phục khâu yếu, mặt yếu.
Cùng với báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm của cấp ủy là nội dung quan trọng cấu thành văn kiện trình đại hội. Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải có tính chiến đấu nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, không né tránh; đánh giá đúng, khách quan, trung thực công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành và tổ chức thực hiện trong nhiệm kỳ vừa qua; kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; chỉ rõ nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân; đồng thời, đề ra kế hoạch, lộ trình, biện pháp phù hợp, hiệu quả nhằm sửa chữa, khắc phục trong thời gian tới.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng Trung tướng Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng tham quan các gian trưng bày tại Đại hội thi đua quyết thắng Bộ đội Biên phòng, giai đoạn 2019 - 2024_Ảnh: TTXVN
Thứ tư, chuẩn bị chặt chẽ, kỹ lưỡng công tác nhân sự bảo đảm cho sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp.
Thực hiện nghiêm việc rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy. Theo đó, công tác rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy chú trọng đến cơ cấu về độ tuổi, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Việc bổ sung quy hoạch thực hiện đầy đủ các bước, đúng quy trình, chặt chẽ, dân chủ, chú ý nắm chắc tình hình dư luận về cán bộ. Quan tâm, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, bảo đảm tiêu chuẩn, trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác. Chủ động rà soát cán bộ chỉ huy, quản lý hết tuổi phục vụ tại ngũ hoặc dự kiến không đủ tuổi tái cử để có phương án giải quyết cho chuyển ra, nghỉ công tác, điều chuyển công tác khác và chuẩn bị nhân sự thay thế.
Công tác chuẩn bị nhân sự tiến hành theo phương châm “làm từng bước chặt chẽ, từng việc cụ thể, từng nhóm chức danh từ thấp đến cao, bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, làm đến đâu chắc đến đó”, nhất là khâu kết luận tiêu chuẩn chính trị. Để thuận lợi cho công tác thẩm định tiêu chuẩn chính trị của nhân sự, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng chỉ đạo cơ quan chức năng của Đảng ủy ban hành các hướng dẫn, chỉ đạo cấp ủy các cấp tập trung làm tốt công tác rà soát tiêu chuẩn chính trị nhân sự tham gia cấp ủy các cấp trong Bộ đội Biên phòng, nhiệm kỳ 2025##- 2030 nhằm đánh giá chất lượng chính trị và vấn đề chính trị hiện nay; kịp thời phát hiện trường hợp cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị. Trên cơ sở đó, tổ chức thẩm tra, xác minh, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, bảo đảm nhân sự tham gia cấp ủy các cấp trong Bộ đội Biên phòng nhiệm kỳ 2025 - 2030 thật sự trong sạch, đáng tin cậy. Quá trình tổ chức rà soát phải được tiến hành toàn diện, chặt chẽ, thận trọng, khách quan, chính xác có quy trình và cách làm cụ thể, đúng nguyên tắc, quy định của Đảng. Không gây ra tâm lý hoang mang trong cán bộ, đảng viên; không để kẻ địch, phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động gây chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường kiểm tra, rà soát về công tác cán bộ, tuyệt đối không để xảy ra vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không để xảy ra tình trạng “nâng người này, hạ người kia”, gây nghi ngờ, làm mất đoàn kết nội bộ; kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy người có bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội... Đồng thời, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng không chỉ về tiêu chuẩn, mà còn về kê khai tài sản, thu nhập, thông tin, trách nhiệm của nhân sự; có cơ chế sàng lọc để không bỏ sót người tài, có đức và không để lọt người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện vào cấp ủy các cấp.
Cùng với đó, phối hợp với các tỉnh ủy, thành ủy (nơi có Bộ đội Biên phòng) để rà soát, cơ cấu cán bộ tham gia ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố; cấp ủy cấp huyện, xã biên giới, hải đảo theo Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28-9-2018, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia” và Kết luận số 68-KL/TW, ngày 5-2-2020, của Ban Bí thư, “Về 2 năm thực hiện chủ trương thí điểm tăng thêm cấp ủy viên là các bộ đồn biên phòng vào cấp ủy cấp huyện biên giới ở tỉnh Quảng Ninh” và Hướng dẫn số 31-HD/BTCTW, ngày 1-7-2020, của Ban Tổ chức Trung ương, “Về việc tăng thêm cấp ủy viên là cán bộ biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, cấp xã biên giới”... bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả.
Thứ năm, trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội, phải thường xuyên làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, chính sách, nhất là công tác thông tin, tuyên truyền đại hội đại biểu đảng bộ các cấp, tạo không khí phấn khởi, động viên tinh thần nỗ lực phấn đấu, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao của cán bộ, đảng viên và quần chúng các cơ quan, đơn vị gắn với đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng.
Đại hội đại biểu đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn xã hội, do đó Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng xác định công tác tuyên truyền là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Công tác tuyên truyền phải bảo đảm sâu rộng để cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong toàn lực lượng nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của đại hội đại biểu đảng bộ các cấp; khẳng định kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2020 - 2025... góp phần tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng, để tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp./.