Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sử dụng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành và giữ chính quyền

 

 

Bạo lực cách mạng là sức mạnh của quần chúng lao động được giác ngộ, được tổ chức, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản nhằm đập tan bạo lực phản cách mạng. Sử dụng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành và giữ chính quyền là tất yếu khách quan, xuất phát từ chính bản chất, âm mưu, thủ đoạn của giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản không bao giờ tự nguyện từ bỏ lợi ích, nhất là quyền thống trị cho giai cấp vô sản. Đồng thời, chúng sử dụng bạo lực phản cách mạng để đàn áp các lực lượng cách mạng. Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị xã hội, đã không từ bỏ một thủ đoạn thâm độc nào để đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động nhằm bảo vệ địa vị thống trị của nó: “Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ xã hội hiện hành. Mặc cho giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng ấy những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”[1]. Trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã phân tích đặc điểm của nhà nước tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và rút ra kết luận về tính tất yếu phổ biến của cách mạng bạo lực: “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được”[2].

Bạo lực cách mạng có vị trí, vai trò rất quan trọng. Đây là quy luật phổ biến trong đấu tranh giành và giữ chính quyền của cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Bạo lực là bà đỡ của một xã hội cũ đang thai nghén một chế độ mới. Bản thân bạo lực là một tiềm lực kinh tế[3]. Bạo lực cách mạng là điều kiện, phương tiện để đập tan nhà nước tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản; là công cụ để giai cấp vô sản trấn áp và đánh bại kẻ thù trong và ngoài nước, bảo vệ thành quả cách mạng. Đồng thời, bạo lực cách mạng là tiền đề tiến hành cách mạng bằng phương pháp hòa bình.

Sử dụng bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến trong đấu tranh giành, giữ chính quyền của giai cấp vô sản. Bạo lực cách mạng thể hiện sức mạnh thông qua hai lực lượng - lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng hỗ trợ cho nhau tạo thành cao trào cách mạng lật đổ giai cấp thống trị. Bạo lực cách mạng thường được sử dụng với hai hình thức cơ bản - đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị của quần chúng, đồng thời còn là sự kết hợp của hai hình thức đó. Trong đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động sử dụng bạo lực cách mạng lật đổ giai cấp thống trị, giành quyền lãnh đạo. Trong bảo vệ chính quyền, giai cấp vô sản dùng bạo lực cách mạng để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng xã hội mới, chống lại âm mưu phá hoại của kẻ thù: “Mục đích của Liên đoàn những người cộng sản là dùng mọi biện pháp tuyên truyền và đấu tranh chính trị để thực hiện việc đập tan chế độ xã hội cũ, lật đổ giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp vô sản về mặt tinh thần, chính trị và kinh tế, thực hiện cuộc cách mạng cộng sản… và không thể giải tán chừng nào mà cách mạng vô sản chưa đạt được mục đích cuối cùng của nó”[4]. Tuy nhiên, giai cấp công nhân sử dụng bạo lực cách mạng chỉ là điều kiện, không phải là mục đích của cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải là ý thích chủ quan và càng không phải là nguyên nhân sản sinh ra xã hội mới.

Mặc dù nhấn mạnh sử dụng bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa, song các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng, cần phải sử dụng một cách linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng bằng bạo lực và phương pháp hòa bình. Phương pháp hòa bình trong giành và giữ chính quyền là phương pháp không dùng bạo lực và chiến tranh cách mạng, mà thông qua cao trào cách mạng của quần chúng tạo sức ép chính trị buộc giai cấp thống trị phải bàn giao chính quyền cho lực lượng cách mạng. Việc sử dụng phương pháp nào không phải do ý muốn chủ quan mà xuất phát từ thực tiễn tương quan lực lượng. Ở trong những tình hình cụ thể, so sánh lực lượng cách mạng đang có ưu thế hơn lực lượng phản cách mạng thì cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng có thể được thực hiện bằng phương thức hoà bình. Thực tiễn cách mạng vô sản chỉ ra khả năng giành chính quyền bằng phương pháp hòa bình là rất quý và hiếm.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 646.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 28.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 1043.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 732.

Chức năng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới một thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản hoàn toàn đối lập với thế giới quan duy tâm, phương pháp luận siêu hình và một nhân sinh quan thụ động, bi quan của các học thuyết chính trị - xã hội tư sản. Trên cơ sở tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải sâu sắc, toàn diện về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh của Đảng công sản bằng con đường đấu tranh cách mạng để giải phóng mình và cả xã hội. Chức năng giáo dục: Chủ nghĩa xã hội khoa học xây dựng niềm tin và lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở khoa học. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng, bồi đắp lý tưởng xã hội chủ nghĩa; củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân, hình thành những phẩm chất nhân cách xã hội chủ nghĩa cho mỗi con người.

Lý tưởng xã hội chủ nghĩa được tiếp thu, chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, niềm tin và thái độ, hành vi tích cực của con người không phải bằng uy quyền, mà chính bằng trí tuệ, khoa học, cách mạng của bản thân chủ nghĩa xã hội khoa học và sự chủ động, tích cực truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học vào quần chúng nhân dân lao động. Chức năng dự báo khoa học: Dựa trên cơ sở các quy luật và tính quy luật xã hội - chính trị, kết hợp với sự luận giải khoa học những điều kiện khách quan và vai trò nhân tố chủ quan, Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường, biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật khách quan từ đó định hướng cho mọi hoạt động chính trị tư tưởng và hoạt động thực tiễn nhằm đạt được những mục tiêu chính trị đề ra, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử, cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người.

Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng để thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

Tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra là tất yếu khách quan do những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa quy định, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn về kinh tế và xã hội. Về kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển có tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Đây là mâu thuẫn khách quan hình thành ngay từ khi ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, được tích tụ trở thành mâu thuẫn cơ bản, biểu hiện ngày càng gay gắt và tạo ra tiền đề phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa: “Tư liệu sản xuất và sản xuất, về thực chất, đã biến thành có tính chất xã hội; nhưng chúng vẫn phải lệ thuộc vào một hình thức chiếm hữu lấy sản xuất riêng rẽ của người sản xuất cá thể làm tiền đề... Cái mâu thuẫn ấy, cái mâu thuẫn đã mang lại tính chất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất mới, đã chứa đựng sẵn những mầm mống của mọi xung đột hiện nay[1]. Sự phù hợp thực sự với tính chất xã hội hóa ngày càng ở trình độ cao của lực lượng sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”[2].

Về xã hội, đó là mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Đây chính là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn về kinh tế trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa: “Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa biểu hiện thành sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản[3]. Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản về cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Sự đối lập về lợi ích cơ bản giữa hai cấp này không thể dung hòa và giải quyết triệt để trong khuôn khổ chật hẹp của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ có thể giải quyết thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Giai cấp vô sản đoạt quyền lực xã hội và nhờ quyền lực ấy, biến những tư liệu sản xuất xã hội đã thoát khỏi tay giai cấp tư sản, thành sở hữu của toàn xã hội. Bằng hành vi ấy, giai cấp vô sản làm cho những tư liệu sản xuất thoát khỏi tính chất là tư bản trước kia của chúng, làm cho tính chất xã hội của tư liệu sản xuất được hoàn toàn tự do phát triển[4].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 311.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 1059.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 312.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 333.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng chính nghĩa

 


Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, là con đường cách mạng, khoa học để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đồng nghĩa với phạm trù cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin còn sử dụng một số thuật ngữ khác có thể thay thế nó như cách mạng vô sản, cách mạng cộng sản chủ nghĩa,… Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cách mạng xã hội chủ nghĩa theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cao trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân lao động mà lực lượng tiền phong là giai cấp vô sản thông qua sự lãnh đạo của chính đảng nhằm lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nghĩa hẹp thường gắn với giai đoạn đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân, lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản và kết thúc khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản. Cũng như những cuộc cách mạng xã hội khác, vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng. Giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả”[1]. Ngoài ra, những nội dung cách mạng trên các lĩnh vực cụ thể như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở từng giai đoạn tiếp theo kể từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, tiến hành cải tạo xã hội cũ, từng bước xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa cũng được quan niệm đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến cách mạng toàn diện, triệt để, lâu dài do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của mình nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, từng bước cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, theo nghĩa rộng, để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng chuyển biến chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa lên chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân phải lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, từng bước cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Quá trình này chỉ kết thúc khi giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân lao động tạo lập được đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên những cơ sở của chính nó.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 268.

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật và những vấn đề có tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cả phương diện khách quan và phương diện chủ quan của quá trình phát triển xã hội từ chủ nghĩa tư bản lên của nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Phương diện khách quan, Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Quy luật chính trị - xã hội là những quy luật phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực chính trị - xã hội, thông qua các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ quốc gia, quan hệ quốc tế. Quy luật chính trị - xã hội, bao gồm quy luật, tính quy luật trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân; trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; quá trình cách mạng thế giới trong thời đại hiện nay. Phương diện chủ quan, dựa trên cơ sở quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những điều kiện, con đường, biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để hiện thực hoá những quy luật khách quan của sự phát triển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Phạm vi đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình phát sinh hình thành phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, bao gồm các nhóm quy luật: Quy luật, tính quy luật (biểu hiện của quy luật trong trường hợp cụ thể)  trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân; Quy luật, tính quy luật trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; Quy luật, tính quy luật của quá trình cách mạng thế giới hiện nay; Những điều kiện, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng để thực hiện quy luật, tính quy luật trong cả ba quá trình trên.

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học có sự khác biệt với đối tượng nghiên cứu của một số khoa học liên ngành. Song, sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối vì xã hội là một chỉnh thể thống nhất, các lĩnh vực của đời sống xã hội có quan hệ biện chứng với nhau. Cùng với các môn khoa học xã hội chuyên ngành đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực tương đối hẹp của đời sống xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu dưới góc độ xã hội - chính trị mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cùng với các bộ phận hợp thành Chủ nghĩa Mác - Lênin chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học cho các môn khoa học xã hội chuyên ngành. Đồng thời, các môn khoa học xã hội đó trong quá trình phát triển cũng đặt ra yêu cầu, cung cấp những dự liệu cho quá trình nghiên cứu, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học

Nắm vững chủ nghĩa xã hội khoa học để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học là một khoa học độc lập thuộc nhóm khoa học xã hội - nhân văn, ra đời vào nửa đầu thế kỷ XIX trên cơ sở chín muồi của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác - Lê nin, với tư cách là một học thuyết chính trị - xã hội hoàn chỉnh, cân đối, triệt để cách mạng, luận chứng một cách toàn diện dưới góc độ triết học, kinh tế chính trị và xã hội - chính trị về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời, chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đều tất yếu như nhau. Theo nghĩa hẹp: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin, là biểu hiện lý luận của phong trào cộng sản, trực tiếp luận chứng khoa học dưới góc độ chính trị - xã hội quá trình đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Là một khoa học độc lập, chủ nghĩa xã hội khoa học có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp, nghiên cứu riêng; có hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính độc lập tương đối; có sự kế thừa và phát triển tư tưởng trong lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa xã hội khoa học có vị trí, vai trò quan trọng: Đối với sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa: Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời, phát triển dựa trên cơ sở hiện thực khách quan và khoa học vững chắc, có kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng, khắc phục và loại trừ những hạn chế, những yếu tố không hợp lý của các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng trong lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một giá trị văn hoá, văn minh nhân loại, đã tìm ra những quy luật, tính quy luật của tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đối với chủ nghĩa Mác- Lênin: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin thật sự là học thuyết khoa học, cách mạng, cân đối, hoàn bị. Chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ quả tất yếu rút ra từ triết học và kinh tế chính trị học Mác - Lênin; là lý luận về đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, là lý luận chính trị - xã hội trực tiếp chỉ đạo hoạt động thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ nhằm nhận thức thế giới một cách đúng đắn, không dừng lại ở việc chỉ ra tính tất yếu khách quan, các nguyên nhân của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà còn vạch rõ mục tiêu, con đường, lực lượng, các phương pháp cách mạng đúng đắn để hiện thực hoá mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ tư tưởng chính trị, cơ sở lý luận chính trị trực tiếp để giai cấp công nhân và các Đảng Cộng sản đề ra cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược cách mạng. Đồng thời, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là cốt vật chất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Do vậy, chủ nghĩa xã hội khoa học luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa tính khoa học và tính giai cấp, tính đảng; giữa lý luận và thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thực tiễn xã hội... Từ khi ra đời đến nay, Chủ nghĩa xã hội khoa học luôn luôn bị các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận và tìm cách loại bỏ. Do đó, luôn kiên định và phát triển, trung thành và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa xã hội khoa học là điều kiện cơ bản bảo đảm để giai cấp công nhân, các đảng cộng sản thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận sắc bén của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận chống lại chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Đối với cách mạng Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[1]



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 563

TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM: NHẬN THỨC ĐẦY ĐỦ, SÂU SẮC VỀ NGHỊ QUYẾT SỐ 57 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

 

Ngày 1.4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghe báo cáo cập nhật kiến thức và cho ý kiến hoàn thiện Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có các đồng chí: Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; cùng các đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư.
Sau khi nghe báo cáo Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, cập nhật kiến thức Chuyên đề nằm trong kế hoạch, chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đây là hoạt động cụ thể, khẳng định quyết tâm cao nhất của lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22.12.2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết này, chính các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư tiên phong trong cập nhật kiến thức với lĩnh vực mới, khó và thay đổi liên tục này.
Theo Tổng Bí thư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lựa chọn bắt buộc, là con đường duy nhất để đưa đất nước phát triển và nâng cao đời sống cho nhân dân. Và tới đây phải triển khai thật mạnh để đạt hai mục tiêu cao nhất: Quản trị xã hội tốt hơn và phải đi vào sản xuất, tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, từ trước tới nay, chủ yếu ứng dụng vào việc quản trị xã hội, chưa quan tâm đúng mức tới việc đưa vào quá trình sản xuất để tăng năng suất lao động. Trong thực tế, các doanh nghiệp tư nhân rất nhanh nhạy trong việc tiếp cận những vấn đề này và tổ chức triển khai rất linh hoạt, hiệu quả, góp phần nâng cao khả năng quản trị doanh nghiệp, quản lý dữ liệu và tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; do vậy, cần phải bám sát thực tiễn để mở rộng cách tiếp cận.
Tại cuộc họp, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư đã đóng góp thêm ý kiến để hoàn thiện Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Phát biểu kết luận cuộc họp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, báo cáo Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là rất quan trọng, góp phần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.
Tổng Bí thư đề nghị Đảng ủy Chính phủ tiếp thu các ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư để tiếp tục hoàn thiện báo cáo phục vụ Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII theo đúng kế hoạch. Trong đó, báo cáo cần chú trọng cập nhật những xu hướng mới trên thế giới về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; đồng thời chỉ ra những vấn đề cụ thể, những giải pháp để triển khai thực hiện nhằm khắc phục hạn chế, tránh việc nêu chung chung, nhằm thống nhất trong nhận thức và hành động để tạo sức mạnh của cả hệ thống chính trị.
Tổng Bí thư giao Văn phòng Trung ương, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp thu ý kiến tại cuộc họp, bổ sung, hoàn thiện các chương trình, kế hoạch để tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị./.
Báo Đại biểu Nhân dân

⭐3 TẤN HÀNG CỨU TRỢ GỬI ĐẾN MYANMAR, MONG MUỐN NƯỚC BẠN VƯỢT QUA GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN NÀY

 ⭐3 TẤN HÀNG CỨU TRỢ GỬI ĐẾN MYANMAR, MONG MUỐN NƯỚC BẠN VƯỢT QUA GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN NÀY🇻🇳🤝🇲🇲


 Sáng nay, Đoàn công tác của Bộ Công an Việt Nam đã trao gần 3 tấn thuốc và thiết bị y tế cho nước bạn Myanmar.


Số thuốc và trang thiết bị này bao gồm: thuốc kháng sinh, thuốc tiêu hóa, cảm cúm...các thiết bị y tế chăm sóc sức khỏe cơ bản: máy đo huyết áp, máy đo đường huyết, các cặp SpO2, cáng, băng, gạc, sát khuẩn...vật tư hỗ trợ phòng chống dịch như bình phun thuốc phòng chống mũi, hóa chất diệt côn trùng...


Đại tá Nguyễn Minh Khương - Trưởng đoàn công tác đã trao số thuốc và vật tư này cho ông Sa Weli Frag - Vụ trưởng Vụ quản lý thiên tai, Bộ Phúc lợi xã hôi, Cứu trợ và Tái định cư Myanmar với mong muốn hỗ trợ y tế cho nước bạn vượt qua giai đoạn khó khăn này.


Cảm ơn chân thành sự quan tâm hỗ trợ của Đoàn cứu trợ Bộ Công an Việt Nam, ông Sa Weli Frag cho biết sẽ chuyển ngay số thuốc và thiết bị y tế này cho Bộ Y tế Myanmar để trao tận tay đến nhưng địa bàn khó khăn đang khan hiếm thuốc và vật tư y tế.


Trước đó, tối qua trong quá trình cứu nạn cứu hộ tại thị trấn Zabuthiri, Đoàn công tác cũng đã trao tặng thuốc men và nhu yếu phẩm thiết yếu cho chính quyền địa phương tại đây.

NHỮNG ĐÒN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - BÀI 1: BUÔN MA THUỘT - “ĐÒN ĐIỂM HUYỆT CHIẾN LƯỢC”

 NHỮNG ĐÒN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - BÀI 1: BUÔN MA THUỘT - “ĐÒN ĐIỂM HUYỆT CHIẾN LƯỢC”


Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta để tiến tới Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh đổ hoàn toàn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, nhờ nhận định đúng tình hình, chọn hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu phù hợp, chuẩn bị thế trận và sử dụng lực lượng khoa học, chỉ huy tác chiến linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả... quân ta đã giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược, khiến địch không thể cứu vãn tình hình.


Thất bại ở Buôn Ma Thuột (11-3-1975) là một cú sốc lớn dẫn đến quyết định triệt thoái khỏi Tây Nguyên của ngụy quyền Sài Gòn. Đó không chỉ là thất bại chiến lược về phương diện quân sự, mà còn tạo nên chấn động dữ dội về tâm lý của hệ thống ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn.


Đánh giá sát tình hình


Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) cho biết: Tháng 4-1973, Bộ Tổng Tham mưu thành lập Tổ trung tâm nhằm nghiên cứu kế hoạch giải phóng miền Nam, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng làm Tổ trưởng. Đầu năm 1975, bản kế hoạch qua 8 lần chỉnh sửa đã hoàn tất sau khi được Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị cho ý kiến chỉ đạo. Theo đó, địa bàn Tây Nguyên là chiến dịch mở màn với trận then chốt là Buôn Ma Thuột.


Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, từ thực tiễn so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường Tây Nguyên; từ vị thế của địa bàn chiến lược Tây Nguyên nói chung và của Buôn Ma Thuột nói riêng; đặc biệt là kết quả hoạt động quân sự của chúng ta trên chiến trường này từ xuân hè 1972, tạo thế thường xuyên vây ép Kon Tum và Pleiku... khiến ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn luôn cho rằng nếu đánh Tây Nguyên, chắc chắn Quân giải phóng sẽ tiến công khu vực Bắc Tây Nguyên, đánh vào Kon Tum và Pleiku. Chúng không nghĩ rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột. Nhận định này của đối phương càng được củng cố khi chúng ta thực hiện xuất sắc hoạt động nghi binh chiến dịch trước khi trận Buôn Ma Thuột diễn ra. Có thể nói, đây là lựa chọn rất sáng suốt.


Phân tích việc lựa chọn Buôn Ma Thuột để đánh trận then chốt quyết định, đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, cho rằng: Đập tan Buôn Ma Thuột sẽ làm rung chuyển toàn bộ Tây Nguyên, từ đó có thể phát triển xuống đồng bằng Khu 5 và vào Nam Bộ. Tuy nhiên, trước khi cuộc tiến công chiến lược năm 1975 mở ra, quân chủ lực địch ở miền Nam còn rất mạnh, chúng bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu chiến tuyến. Xét tổng thể, địch tuy có lực lượng quân sự khá lớn nhưng lại bị dàn mỏng ra trên 4 quân khu khắp miền Nam, nên lực lượng bị phân tán, đặc biệt là bố trí quân theo chiều dài, dọc ven biển miền Trung, bộc lộ nhiều chỗ yếu và sơ hở, nhất là Tây Nguyên. Nếu tiến công Pleiku-đầu não của Quân khu 2 địch, nằm án ngữ trục Đường 19 quan trọng, ta chưa đủ khả năng, nên địch phán đoán ta sẽ tiến công Kon Tum. Các nơi khác như Gia Nghĩa, Đức Lập chỉ là thị trấn nhỏ, không đáng quan tâm. Với Buôn Ma Thuột thì việc bảo đảm vật chất và cơ động lực lượng ta vào sâu sẽ gặp khó khăn, nên chúng ít phòng bị.


Dàn trận hoàn hảo


Để tạo được ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược, nhất là về lực lượng trong trận then chốt quyết định, đầu năm 1975, Bộ Tổng Tham mưu điều Sư đoàn 968 từ chiến trường Nam Lào sang thay thế cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 ở Bắc Kon Tum và Pleiku; Sư đoàn 316 từ miền Bắc vào tham gia tiến công mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột. Lúc này, Sư đoàn 3 và các trung đoàn đang chiến đấu ở Tây Nguyên cùng LLVT các địa phương, nên ta đã tạo được ưu thế áp đảo lực lượng đối với địch. Mặt khác, theo phương án tác chiến, ta đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên các chiến trường Trị Thiên, miền Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long để kìm giữ lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, tạo thế trận lợi hại nhằm phân tán địch, giảm áp lực về lực lượng cho Tây Nguyên.


Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Khuất Duy Tiến (1931-2024) nhiều lần chia sẻ với chúng tôi: Để địch tin rằng ta chuẩn bị tiến công vào hướng Bắc của Tây Nguyên, ta điều động Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vào Đắk Lắk, để lại toàn bộ cụm điện đài, tổ báo vụ, các trang bị thông tin quan trọng khác và đường dây hữu tuyến, tiếp tục phát các báo cáo, mệnh lệnh giả như đang hoạt động bình thường cùng hoạt động của tổ đài 15W. Để hoàn thành kế nghi binh hoàn hảo, ta bí mật cơ động lực lượng theo kiểu “đèn cù” qua các cánh rừng cao su, cà phê và hai con sông Pô Kô, Sêrêpôk, điều mà địch không ngờ tới. Ta thực hiện cơ động nhiều lần rồi mới di chuyển chính thức.


Phối hợp với các hoạt động cơ động lực lượng, ta sử dụng lực lượng nhỏ liên tiếp đánh vào phía Đông và Tây Đường 19, phía Bắc của thị xã Kon Tum, sử dụng lực lượng đặc công đánh phá kho xăng Pleiku và tung tin ta sẽ tiến công Pleiku, địch buộc phải điều phần lớn lực lượng của Sư đoàn 23 (lúc này đang sục sạo để tìm dấu vết hoạt động của Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 ở Nam Tây Nguyên) về giữ Thanh An và Pleiku. Bên cạnh các hoạt động cơ động lực lượng, ta cho mở các tuyến đường ở Bắc Tây Nguyên. Những hoạt động này của ta đã làm cho địch phán đoán ta sẽ tiến công Kon Tum, địch sử dụng các liên đoàn biệt động để đối phó với ta ở khu vực này. Vì thế, ở Buôn Ma Thuột lúc này, địch chỉ còn Trung đoàn 53 (Sư đoàn 23), Bộ chỉ huy Tiểu khu Đắk Lắk, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh với lực lượng khoảng 8.000 tên.


Sau khi dàn trận hoàn hảo, rạng sáng 10-3-1975, quân ta mở màn trận Buôn Ma Thuột. Bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, Quân giải phóng liên tiếp đập tan hành động chống cự và phản kích của địch. Trưa 11-3-1975, cờ giải phóng bay trên nóc hầm chỉ huy của Sư đoàn 23 ngụy, thị xã Buôn Ma Thuột cơ bản được giải phóng.


Ý nghĩa của "đòn điểm huyệt chiến lược"


Chia sẻ với chúng tôi về ý nghĩa của Chiến thắng Buôn Ma Thuột cách đây tròn nửa thế kỷ, Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự, cho hay: Chiến thắng của trận then chốt Buôn Ma Thuột không chỉ ở tầm chiến dịch mà đã mang tầm chiến lược, buộc địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên. Chiến thắng Buôn Ma Thuột không chỉ khẳng định tư duy chiến lược đúng đắn, sắc sảo của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, khẳng định tài năng quân sự của Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, mà còn chứng minh thế và lực của ta đã có bước phát triển vượt bậc. Ở Tây Nguyên lúc đó, trên thực tế đã hình thành khối chủ lực mạnh, gồm lực lượng binh chủng hợp thành, xe tăng, pháo binh, đặc công, kết hợp chặt chẽ với LLVT và nhân dân địa phương. Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã trực tiếp dẫn đến ta giải phóng và làm chủ Pleiku, Kon Tum, truy đuổi địch rút chạy, làm tan rã tinh thần quân địch, cổ vũ ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của bộ đội và nhân dân ta.


Sau trận đánh ở Buôn Ma Thuột, tướng Mỹ Charles Timmes, cố vấn ngụy quyền Sài Gòn, thừa nhận: “Bằng nghi binh qua làn sóng điện, Việt Nam đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của quân đội Sài Gòn thuộc Quân khu 2 ở Pleiku và Kon Tum”. Còn Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng ngụy quân Sài Gòn, chua chát: “Kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng bị thất bại và quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kon Tum và Pleiku không tốn một viên đạn". Ngay sau Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định thành lập Quân đoàn 3-Binh đoàn Tây Nguyên, trực tiếp nâng sức mạnh tiến công, chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn sau đó.


Chiến thắng Buôn Ma Thuột chứng minh bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự, trong đó đặc biệt xuất sắc là ta đã giải quyết đúng, có hiệu quả toàn bộ hoạt động nghi binh cả ở tầm chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Đó là nghệ thuật tổ chức và xây dựng LLVT 3 thứ quân ngay trên chiến trường trọng điểm Tây Nguyên; là nghệ thuật sử dụng lực lượng chủ lực của Tây Nguyên đúng sở trường, phát huy tốt khả năng bám sát thực tiễn, am hiểu địa hình, địa vật chiến trường của các đơn vị đã đứng chân trên Tây Nguyên; là tổ chức làm công tác chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo và thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng hết sức hiệu quả giữa đặc công, bộ binh, xe tăng và pháo binh, hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với LLVT địa phương cùng nhân dân... Trong trận tiến công Buôn Ma Thuột, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Đắk Lắk, trực tiếp là Thị ủy Buôn Ma Thuột, nhân dân và LLVT địa phương không chỉ góp công sức chuẩn bị chiến trường, kéo căng lực lượng địch ngay tại khu vực, mà còn là "tai mắt" giúp bộ đội chủ lực nắm chắc địch, là nhân tố cùng với đại ngàn Tây Nguyên bảo vệ và giữ bí mật tuyệt đối cho trận then chốt này. Đó thật sự là nghệ thuật quân sự thiên biến vạn hóa, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân.


“Chiến thắng Buôn Ma Thuột chứng minh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của địa bàn chiến lược Tây Nguyên nói chung và Buôn Ma Thuột nói riêng. Vị trí đó, vai trò đó không chỉ là yếu tố mang tính khách quan mà còn mang đậm dấu ấn chủ quan. Chính con người kết hợp với vùng đất này đã làm nên lịch sử. Đối với ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn lúc đó, trận thua ở Buôn Ma Thuột đã in đậm dấu ấn thất bại mang tầm chiến lược bởi sai lầm chiến lược của cả Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Đối với nhân dân ta, dân tộc ta, Chiến thắng Buôn Ma Thuột khẳng định sức mạnh của con người trên vùng đất lịch sử”, Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo nhấn mạnh./.

Việt Nam sẵn sàng cử lực lượng tham gia cứu trợ thảm họa động đất tại Myanmar

 Việt Nam sẵn sàng cử lực lượng tham gia cứu trợ thảm họa động đất tại Myanmar


Chiều 29/3, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam đã tổ chức Hội nghị về việc cử lực lượng sẵn sàng tham gia cứu trợ, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar. Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và đại biểu các cơ quan chức năng Bộ Tổng Tham mưu.


Báo cáo tại hội nghị, lãnh đạo Cục Cứu hộ - Cứu nạn cho biết, trưa ngày 28/3/2025, một trận động đất kinh hoàng đã xảy ra tại thành phố Mandalay, Myanmar, gây ra thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Theo thống kê sơ bộ, hàng nghìn người đã thiệt mạng và con số này được dự báo có thể lên đến 10.000 người, thậm chí còn lớn hơn nữa. Hiện tại, đã có 04 quốc gia (Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Ma-lai-xi-a) cử lực lượng hỗ trợ Myanmar.


Trước tình hình khẩn cấp này, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu tổ chức lực lượng, sau khi được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng, sẽ sẵn sàng sang hỗ trợ Myanmar khắc phục hậu quả. Dự kiến, lực lượng tham gia cứu trợ bao gồm 79 cán bộ, chiến sĩ, bao thuộc các bộ phận: Cứu hộ (gồm lực lượng công binh và chó nghiệp vụ), quân y và bảo đảm. Trang thiết bị được tính toán kỹ lưỡng, phù hợp, gọn nhẹ và hiệu quả, rút kinh nghiệm từ nhiệm vụ cứu hộ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Dự kiến, đoàn sẽ xuất phát vào chiều 30/3.


Tại hội nghị, Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng yêu cầu Cục Cứu hộ - Cứu nạn phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ, khẩn trương, đề xuất các nội dung công việc cần triển khai, giải quyết ngay các vấn đề thủ tục và công tác chuẩn bị, gồm: vận chuyển hàng không, hàng hóa cứu trợ, đảm bảo hậu cần, thông tin liên lạc, vấn đề an toàn, thông tin báo chí...


Với kinh nghiệm từ các hoạt động cứu trợ tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2023, các đơn vị của QĐND Việt Nam đã xác định rõ tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng lên đường thực hiện nhiệm vụ ngay khi có lệnh. Các cơ quan, đơn vị chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện, trang bị kỹ thuật, ưu tiên các phương tiện có tính lưỡng dụng, dễ cơ động, mang vác; bảo đảm tốt hậu cần, vật tư, hàng hóa, hàng viện trợ… Đặc biệt, lực lượng làm nhiệm vụ chú trọng giải quyết mối quan hệ, phối hợp với các lực lượng quốc tế, chính quyền và người dân bản địa; phát huy truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và người dân

Tình Đoàn Kết Dân Tộc – Sức Mạnh Vượt Qua Gian Khó!

 Tình Đoàn Kết Dân Tộc – Sức Mạnh Vượt Qua Gian Khó!


Dân tộc Việt Nam từ bao đời nay luôn được hun đúc bởi tinh thần đoàn kết bền bỉ, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh. Đoàn kết không chỉ là truyền thống mà còn là sức mạnh giúp đất nước vượt qua những thời khắc khó khăn nhất trong lịch sử.


Trong kháng chiến, tình đoàn kết ấy thể hiện qua hình ảnh những đoàn dân công gồng gánh lương thực, đẩy xe thồ chở hàng tiếp tế cho tiền tuyến. Họ không phải là người lính trực tiếp cầm súng, nhưng chính sự kiên trì, bền bỉ ấy đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại. Từng người, từng gia đình, từng bản làng, tất cả cùng chung một ý chí, một lòng hướng về độc lập, tự do.


Không chỉ trong chiến tranh, mà ngay cả trong thời bình, tinh thần đoàn kết vẫn luôn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Những lúc thiên tai, dịch bệnh hay khó khăn, người dân trên khắp đất nước lại cùng nhau góp sức, chia sẻ từng bát cơm, từng manh áo, cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng, không thể bị khuất phục trước bất cứ thử thách nào.


Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập và phát triển, đoàn kết dân tộc vẫn là nền tảng quan trọng để xây dựng một đất nước vững mạnh. Khi mỗi người đều ý thức được trách nhiệm của mình với cộng đồng, cùng nhau dựng xây, sẻ chia, chúng ta sẽ tạo nên một Việt Nam phồn thịnh, giàu mạnh.


Tình đoàn kết dân tộc không chỉ là lịch sử, mà còn là tương lai. Chỉ khi biết nắm tay nhau, chúng ta mới có thể bước qua mọi thử thách và vươn tới những chân trời mới. Hãy giữ gìn và phát huy giá trị quý báu này, để mỗi người Việt Nam dù ở đâu cũng luôn cảm nhận được hơi ấm của đồng bào, tình thương của đất nước.

QUỐC HỘI HỌP SỚM TỪ 5.5 ĐỂ SỬA HIẾN PHÁP, SÁP NHẬP TỈNH

 QUỐC HỘI HỌP SỚM TỪ 5.5 ĐỂ SỬA HIẾN PHÁP, SÁP NHẬP TỈNH


Chiều 31.3, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV.


Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, theo dự kiến, kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV sẽ diễn ra từ ngày 5.5 đến 30.6, thông qua 11 dự án luật và cho ý kiến lần đầu đối với 16 dự án luật khác.


Đây là kỳ họp có rất nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của đất nước. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội cũng sẽ xem xét sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi các luật liên quan đến sửa đổi Hiến pháp, nhằm phục vụ việc tinh gọn bộ máy.


Nhấn mạnh kỳ họp thứ 9 có khối lượng công việc rất lớn, có ý nghĩa quan trọng, mang tính lịch sử, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan hữu quan tích cực chuẩn bị các nội dung kỳ họp, nhất là các dự án luật được trình Quốc hội thông qua, các nghị quyết có liên quan.


Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội khẩn trương triển khai công việc trên tinh thần "vừa chạy, vừa xếp hàng" nhằm bảo đảm chất lượng và thành công của kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV.


Báo cáo tại phiên họp, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Tùng cho biết, dự kiến tại kỳ họp thứ 9, ngoài nội dung sửa Hiến pháp, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định 44 nội dung thuộc công tác lập pháp; 12 nhóm nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác; đồng thời, có 8 nhóm nội dung các cơ quan gửi báo cáo để đại biểu Quốc hội nghiên cứu.


Về thời gian diễn ra kỳ họp, dự kiến tổng thời gian làm việc của Quốc hội là 35,5 ngày, khai mạc vào 5.5 và bế mạc vào sáng 1.7. Quốc hội sẽ họp tập trung tại Nhà Quốc hội, chia làm 2 đợt: đợt một 20 ngày (từ thứ 5.5 đến hết 28.5); đợt hai 15,5 ngày (từ 11.6 đến sáng 1.7); thời gian Quốc hội nghỉ giữa 2 đợt là 13 ngày.


Tổng Thư ký Quốc hội cũng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội cho phép tiếp tục rút ngắn tối đa thời gian trình bày tờ trình, báo cáo như đã thực hiện tại kỳ họp thứ 8 để dành thời gian cho Quốc hội thảo luận, các cơ quan phát biểu, giải trình. Cùng đó, không bố trí trình bày các báo cáo về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2024, chỉ bố trí thảo luận lồng ghép với phiên thảo luận về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước đối với 2 nội dung trên.


Tổng Thư ký Quốc hội đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc khai mạc kỳ họp sớm hơn thông lệ, vào ngày 5.5. Đồng thời, để bảo đảm sự đồng thuận cao, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc xin ý kiến đại biểu Quốc hội về việc tổ chức kỳ họp sớm hơn quy định trước khi tiến hành triệu tập kỳ họp (sau khi có kết luận của cấp có thẩm quyền về việc tổ chức kỳ họp).

NGOẠI GIAO VIỆT NAM ĐANG TỎA SÁNG THỂ HIỆN QUA TỪNG MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ

 NGOẠI GIAO VIỆT NAM ĐANG TỎA SÁNG THỂ HIỆN QUA TỪNG MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ


Giữa những biến động chính trị lớn của thế giới và tác động của chiến tranh thương mại, Việt Nam vẫn nồng hậu đón tiếp các nguyên thủ quốc gia của nhiều nước trong một thời gian ngắn: Brazil, Singapore, New zealand, Kyrgyzstan... và đang chuẩn bị đón vua và hoàng hậu Bỉ thời gian tới đây.


Nghệ thuật ngoại giao của Việt Nam đang thực sự tỏa sáng, khẳng định vị thế và uy tín của chúng ta trên trường quốc tế. Hình ảnh đón tiếp trang trọng của TBT, Thủ tướng Chính phủ được lan tỏa rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội, đã gửi gắm thông điệp về một Việt Nam yên bình, ổn định và là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.


Ở cả chính trị lẫn thương mại, Việt Nam không chọn con đường đối đầu hay né tránh mà đã khôn ngoan thâm nhập, xây dựng và điều chỉnh qua từng mối quan hệ quốc tế. Điển hình như mở cửa cho các dự án công nghệ cao Singapore, tạo thuận lợi cho dòng vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ, giúp Việt Nam hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Brazil thì đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, tạo tiền đề vững chắc cho đàm phán thương mại quốc tế... Nhận được sự công nhận của hơn 70 quốc gia về mô hình kinh tế thị trường, Việt Nam không chỉ khẳng định vai trò là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và khả năng ứng phó hiệu quả trước những thách thức toàn cầu.


Không biết tận dụng thời cơ, lợi thế, không khôn khéo trong ngoại giao thì không thể có chuyện các nước bất kể lớn bé đều muốn nâng tầm quan hệ với chúng ta như vậy.

50 NĂM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC - NGÀY 31/3/1975: GIẢI PHÓNG BÌNH ĐỊNH VÀ ĐẢO LÝ SƠN Ở ĐÀ NẴNG

 50 NĂM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC - NGÀY 31/3/1975: GIẢI PHÓNG BÌNH ĐỊNH VÀ ĐẢO LÝ SƠN Ở ĐÀ NẴNG 


Rạng sáng 31/3/1975, tại Bình Ðịnh diễn ra trận công kích toàn diện của ta vào toàn bộ tuyến phòng thủ của địch; tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Ban khởi nghĩa Lý Sơn phát lệnh toàn dân nổi dậy.


Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng,” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Sáng ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp mở rộng. Đây là cuộc họp lịch sử bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy."


Hội nghị đã nhận định: Cả về thế chiến lược và lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo quân địch, còn địch thì đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong.


Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu văn được nguy cơ sụp đổ đến nơi của ngụy.


Cuộc tổng tiến công chiến lược đã giành được thắng lợi cực kỳ to lớn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hai quân đoàn địch, giải phóng 12 tỉnh, đưa số dân vùng giải phóng lên gần tám triệu.


Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa đã chín muồi.


Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.


Với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975, không thể để chậm.


Phải gấp rút tăng lực lượng vào phía Tây Sài Gòn, thực hiện bao vây và chia cắt chiến lược, triệt hẳn đường 4, áp sát Sài Gòn; đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng ở hướng đông và đông nam, đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây cô lập Sài Gòn từ hướng Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu…


Từ cuộc họp ngày 31/3/1975, số phận của chế độ Sài Gòn đã được định đoạt. Quyết tâm của Bộ Chính trị cổ vũ mạnh mẽ nhiệt tình cách mạng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Tất cả cho ngày toàn thắng.


Cũng trong ngày 31/3/1975, tại Bình Ðịnh, vào lúc 5h15, diễn ra trận công kích toàn diện của ta vào toàn bộ tuyến phòng thủ của địch ở đây. Trung đoàn 12 và Trung đoàn 141, Sư đoàn 3 đánh cụm quân địch.


Trung đoàn 95A đánh vào Phú Phong. Sư đoàn 968 tiếp tục tiến công địch ở núi Trà Lam Sơn. Một mũi của Sư đoàn 968 thọc sâu đánh chiếm và giải phóng thị xã Ðập Ðá, cắt đường số 1.


Vốn đã hoang mang dao động, quân địch tháo chạy hỗn độn. 20h ngày 31/3, các cánh quân của ta tiến vào thị xã Quy Nhơn.


Số quân địch trấn giữ các căn cứ trong nội ô tổ chức kháng cự không thành công, tìm đường tháo chạy. Tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng.


Tại Phú Yên, ngày 31/3, được dân quân du kích dẫn dường, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 tiến công cứ điểm Hòn Một; Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân.


Cùng lúc đó ở Bắc Phú Yên, dân quân du kích và bộ đội địa phương đánh chiếm cầu Ngân Sơn, cắt Quốc lộ 1 ở phía Nam Tuy An, không cho địch dồn rút về thị xã, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tiến công Tuy Hòa.


Cùng ngày, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 9 khẩn trương triển khai lực lượng tiến công địch ở thị xã Tuy Hòa.


Tại Khánh Hòa, để nhanh chóng đập tan "lá chắn" đèo Phượng Hoàng, sáng sớm ngày 31/3, Sư đoàn 10 tập trung sức mạnh của các đơn vị xe tăng, pháo binh, cao xạ tiến công Lữ đoàn dù ở cầu 24, cách trung tâm huấn luyện Lam Sơn 3km, tiêu diệt và làm tan rã 600 tên.


Số sống sót phần bị du kích và đồng bào địa phương uy hiếp, số còn lại chạy dạt qua quốc lộ 1 về Hòn Khói. Ngay trong đêm 31/3, lữ đoàn dù số 3 của địch hoàn toàn bị tan rã.


Trong khi đó, tại Ninh Hòa, chiều 31/3, đội vũ trang công tác xã Ninh Diêm đã huy động quần chúng nổi dậy giải phóng xã tiếp đó phát triển cùng với lực lượng quần chúng chiếm lĩnh và giải phóng toàn bộ khu vực Hòn Khói.


Trong đêm 31/3, biết không thể giữ nổi Nha Trang, công chức và sĩ quan tại đây tự động di tản, lính ở trường hạ sỹ quan Ðồng Ðế cũng tháo chạy trong đêm.


Tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đúng 4h sáng ngày 31/3/1975, Ban khởi nghĩa Lý Sơn phát lệnh cho các xã, các tổ tuyên truyền, cổ động đi khắp đảo vận động toàn dân nổi dậy giành chính quyền và được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng.


Đến 7h15 cùng ngày, bốn quả mìn của ta bố trí trên các đỉnh núi nổ vang uy hiếp tàu thuyền của địch bao vây trên Đảo.


Cờ giải phóng phất phới bay trên năm đỉnh núi và các ngả đường, truyền đơn, áp phích cách mạng được rải và dán khắp nơi.


Toàn dân xuống đường hô vang khẩu hiệu chống Mỹ-Ngụy, ủng hộ cách mạng và xông vào chiếm lĩnh các cơ quan, đồn bốt của ngụy quân, ngụy quyền, tịch thu tài liệu, vũ khí, tàn quân hốt hoảng kéo nhau tháo chạy ra khỏi đảo và Lý Sơn được hoàn toàn giải phóng.

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ TUẦN VĂN HOÁ - DU LỊCH ĐẤT TỔ NĂM ẤT TỴ

 GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ TUẦN VĂN HOÁ - DU LỊCH ĐẤT TỔ NĂM ẤT TỴ 

 

Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm Ất Tỵ 2025 diễn ra từ ngày 29-3 đến 7-4-2025 (tức từ mùng 1 đến mùng 10 tháng Ba năm Ất Tỵ) tại thành phố Việt Trì, Khu di tích lịch sử Đền Hùng và các địa phương với quy mô cấp tỉnh.


Việc tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa - Du lịch đất Tổ năm Ất Tỵ nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, biết ơn sâu sắc các Vua Hùng và bậc tiền nhân đã có công dựng nước, giữ nước; giáo dục truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.


Sự kiện năm nay hứa hẹn sẽ mang đến những hoạt động phong phú, từ các nghi lễ truyền thống tại Đền Hùng, các chương trình văn hóa đặc sắc cho đến những hoạt động du lịch hấp dẫn.


Đây là dịp để người dân cả nước và du khách quốc tế hiểu thêm về nguồn cội dân tộc, đồng thời thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa địa phương, quảng bá vẻ đẹp và tiềm năng du lịch của Phú Thọ.

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


Thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định tính cách mạng, khoa học, hiện đại, bản sắc dân tộc của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam hết sức độc đáo. 


Cách đây 50 năm, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng chiến dịch mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, đưa dân tộc bước sang kỷ nguyên mới, cả nước độc lập, thống nhất, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định tính cách mạng, khoa học, hiện đại, bản sắc dân tộc của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam hết sức độc đáo. Điều đó được thể hiện trên những vấn đề sau đây:


Một là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi: Kế thừa kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã tiếp tục phát huy sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân, huy động sức mạnh của cả dân tộc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất non sông, chiến đấu cho chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đây cũng là yếu tố khẳng định tính chính nghĩa cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta. Và cũng chính là yếu tố để nhận được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, giành chiến thắng.


Đó là quá trình phát huy cao độ thế trận chiến tranh nhân dân, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự đánh thắng từng bước, vừa chiến đấu, vừa xây dựng phát triển lực lượng, giành thắng lợi trước các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, tạo nên niềm tin giành thắng lợi cuối cùng, là yếu tố quan trọng để huy động sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thành công bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975.


Hai là, tiến hành chiến tranh nhân dân, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, thực hiện tiến công địch toàn diện trên tất cả các mặt: Để giành thắng lợi trước đối tượng tác chiến là quân Mỹ và đồng minh có vũ khí, trang bị hiện đại, Đảng ta đã thành công trong tổ chức cho toàn dân đánh giặc, huy động đến mức cao nhất toàn thể nhân dân đứng lên đấu tranh, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, triển khai thế trận chiến lược, căng kéo địch trên các chiến trường, tạo thế trận xen kẽ, cài răng lược với địch, buộc chúng phải đối phó với thế trận chiến tranh nhân dân của ta, làm cho địch không phát huy được sức mạnh của vũ khí trang bị.

Trên chiến trường miền nam, từ phong trào Đồng Khởi 1960, chiến tranh du kích được phát triển rộng khắp trên cả 3 vùng chiến lược, xây dựng làng xã chiến đấu, hình thành vành đai diệt Mỹ, tạo nên bàn đạp, thế trận bao vây quân thù, đánh địch từ căn cứ, từ nơi xuất phát, hạn chế khả năng sức mạnh trang bị, vũ khí của địch.


Cùng với phát triển lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng chủ lực ngày càng được củng cố, phát triển, đóng vai trò chủ đạo trong tiến hành tác chiến chiến lược và chiến dịch, tiêu diệt lực lượng quân sự chủ yếu của địch. Sự kết hợp tác chiến “2 chân, 3 mũi, 3 vùng” đã tạo ra thế trận chiến lược chiến tranh nhân dân, đánh bại từng chiến lược chiến tranh và các biện pháp tác chiến của địch, giành thắng lợi quyết định, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Ba là, kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng, tiến lên Tổng tiến công và nổi dậy giành toàn thắng: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh chính trị có vai trò ưu thế tuyệt đối và là thế mạnh của ta, là mặt yếu của địch. Phong trào đấu tranh chính trị tiến hành rộng khắp trên cả 3 vùng chiến lược từ khi bắt đầu đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ cho đến ngày toàn thắng. Lực lượng đấu tranh chính trị đi từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ với nhiều hình thức, nội dung phong phú. Đấu tranh chính trị phát triển trở thành cao trào cách mạng kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự, binh-địch vận và trở thành bộ phận khăng khít của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong đó, khởi nghĩa vũ trang kết hợp tiến công và nổi dậy của quần chúng là hình thức phát triển cao nhất, đặc biệt nhất và đã trở thành quy luật giành thắng lợi, là nền tảng chiến tranh nhân dân phát triển cao, là phương thức tiến công chiến lược hiệu lực, hiệu quả để phát huy thắng lợi quân sự trên các chiến trường.


Đấu tranh quân sự của các binh đoàn chủ lực và của lực lượng vũ trang địa phương ở nhiều quy mô đã tạo ra thế vững, lực mạnh, hợp thành sức mạnh tổng hợp to lớn đánh thắng địch. Nghệ thuật quân sự tập trung nghiên cứu, phát triển nghệ thuật tổ chức chỉ huy, điều hành tiến hành các chiến dịch, trận đánh lớn, thực hiện yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, đánh thắng địch từng bước, chuyển hóa so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta… Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng trong đấu tranh cách mạng đã làm thất bại chiến lược chiến tranh của địch, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ.


Những yếu tố nêu trên đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vượt qua khó khăn của thời kỳ giữ gìn lực lượng, tiến lên đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, bằng những thắng lợi có tính quyết định như: Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Pa-ri; là thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 trên chiến trường miền nam và đập tan cuộc tiến công chiến lược bằng đường không, lập nên Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không; buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước, tạo tiền đề quan trọng để quân và dân ta tiếp tục đẩy mạnh tiến công, phản công địch trên các chiến trường, giành thế chủ động chiến lược. Xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, chuẩn bị đầy đủ mọi mặt cho quân và dân cả nước tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Mùa Xuân 1975, quân và dân ta giành thắng lợi trong đòn đột phá mở đầu ở Tây Nguyên; kế tiếp là đòn Trị Thiên-Huế và Đà Nẵng, tạo thế chia cắt chiến lược, làm thay đổi cục diện có lợi cho cách mạng. Trước những thắng lợi to lớn đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung quyết tâm chiến lược, giải phóng miền nam ngay trong năm 1975, thực hiện: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” giành thắng lợi hoàn toàn, thúc đẩy nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển đến đỉnh cao.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kế thừa truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc, tri thức quân sự thời đại trong giành độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là biểu thị của tư duy chiến lược quân sự sáng tạo mà độc đáo, tiêu biểu cho nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển dần từng bước từ thấp đến cao, tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn, đóng góp vào sự phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, những bài học kinh nghiệm đó vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Song, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học-công nghệ, những kinh nghiệm đó cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo, phù hợp trong điều kiện tác chiến chiến tranh hiện đại, khả năng của đất nước và bối cảnh quốc tế mới nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra về đường lối chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trên cơ sở phát triển ở trình độ cao hơn so với cuộc chiến tranh trước đây, làm cho nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển không ngừng, đủ khả năng làm tròn sứ mệnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

LÀM TRONG SẠCH MẠNG XÃ HỘI ĐỂ KHÔNG CÒN “TIN RÁC, TIN GIẢ”

 LÀM TRONG SẠCH MẠNG XÃ HỘI ĐỂ KHÔNG CÒN “TIN RÁC, TIN GIẢ”


Ngoài những đóng góp tích cực, mạng xã hội cũng có nhiều mặt trái gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Đặc biệt là vấn nạn tin giả, tin sai sự thật đang tác động trực tiếp đến nhiều người và dẫn tới nhiều vụ việc có hậu quả nghiêm trọng.


Mối nguy hại từ thông tin sai sự thật


Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các ứng dụng mạng xã hội như: Zalo, Facebook, Viber, Whatsapp, Signal… đã trở thành công cụ thiết yếu, kết nối, giao tiếp các chủ thể, tác động sâu sắc đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, ngoài mặt tích cực đem lại, nhiều mặt trái của mạng xã hội cũng nảy sinh.


Trong đó, các vấn đề tiêu cực phổ biến gần đây là xu hướng lan truyền thông tin sai lệch, bịa đặt gây ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của nhiều cá nhân cũng như tổ chức.


Đơn cử gần đây, nhiều phụ huynh có con em mắc bệnh tim bẩm sinh mong muốn được tiếp cận Quỹ mổ tim Hằng Hữu. Tuy nhiên, nhiều thông tin lan truyền trên mạng cho rằng Quỹ này đã dừng hoạt động, khiến nhiều người gặp khó khăn mong muốn nhận được sự tương trợ bị hoang mang.


Nhưng trên thực tế, các thông tin nói trên đều sai sự thật. Bởi Quỹ mổ tim Hằng Hữu vẫn hoạt động bình thường tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Nhiều bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn đã được tiếp cận Quỹ và mổ miễn phí trong thời gian qua.


Là một trong những phụ huynh được sự hỗ trợ từ Quỹ mổ tim Hằng Hữu, chị Ngô Thị Hồng Sương (ngụ Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết, con trai chị là cháu T.V.P (4 tuổi) mắc bệnh tim bẩm sinh, nhưng gia đình quá khó khăn không có đủ tiền phẫu thuật.


Đến khi tuyệt vọng khi không tìm được giải pháp cứu con, thì qua các đơn vị thiện nguyên, chị Sương đã được kết nối với Bệnh viện Chợ Rẫy. Tại đây, cả gia đình như vỡ òa khi Phòng công tác xã hội của bệnh viện thông báo bé P. sẽ được mổ tim miễn phí nhờ kinh phí từ Quỹ từ thiện Hằng Hữu. Sau hơn 3 tháng mổ tim, hiện sức khỏe bé P. đã ổn định.


Trường hợp gần đây nhất, đó là bé H.M.H (7 tháng tuổi, quê Long An), bị mắc bệnh tim bẩm sinh và buộc phải phẫu thuật, chi phí cho ca mổ lên tới trên 100 triệu đồng. Tuy nhiên, do số tiền này nằm ngoài khả năng của gia đình nên chị Đặng Thị Kim Tuyền, mẹ bé H. đã phải ôm con đi khắp nơi để tìm cơ hội cứu chữa.


May mắn thay, thông qua một đầu mối thiện nguyện, chị Tuyền cũng được kết nối sang Bệnh viện Chợ Rẫy. Tại đây, bé H. đã được sự hỗ trợ của Quỹ từ thiện Hằng Hữu để thực hiện ca mổ tim thành công mà không phải trả bất kì một chi phí nào.


Chia sẻ về Quỹ từ thiện Hằng Hữu, chị Tuyền cho biết: “Tôi cũng từng nghe tin đồn Quỹ mổ tim Hằng Hữu dừng hoạt động. Nhưng đến hiện tại con tôi lại được cứu sống bởi chính quỹ thiện nguyện này. Các tin đồn ác ý, sai sự thật lan truyền trên mạng sẽ vô tình tước mất cơ hội được sống của nhiều đứa trẻ kém may mắn”.


Những thông tin sai sự thật như trên không phải là hiếm trong thời điểm hiện tại, bởi nó đã trở thành trào lưu của những đối tượng thiếu hiểu biết. Cũng vì thế mà cơ quan chức năng đã liên tục nhận được nhiều đơn thư tố cáo từ nạn nhân của nạn “tin giả, tin sai sự thật” trên mạng xã hội.


Sự tàn nhẫn của hội chứng đám đông


Mặc dù pháp luật có quy định cụ thể về chế tài xử lý cho người sử dụng thông tin trên không gian mạng, nhưng một số lượng không nhỏ vẫn coi thường hoặc vô tư khi đưa thông tin không kiểm chứng hoặc có dụng ý để đạt được mục đích riêng.


Ông Võ Đỗ Thắng - Giám đốc Trung tâm An ninh mạng Athena nhận định, nhiều người cho rằng, không gian mạng là ảo nên có thể tự do làm bất cứ việc gì mình cho là có “lý”. Người ta dễ dàng đưa hình ảnh, phát ngôn, bình luận không kiểm chứng, sai lệch… tạo ra xu hướng dư luận. Nguy hiểm hơn những luồng dư luận ấy thành trào lưu ủng hộ hoặc bài xích, ban đầu trên không gian mạng, sau đó là tác động tới hành vi ngoài đời thực, gây tiêu cực cho xã hội.


Theo ông Thắng, để kiểm soát thông tin người sử dụng mạng xã hội, Nghị định 147/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định biện pháp thi hành việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, người dùng mạng xã hội phải cung cấp thông tin cá nhân cơ bản gồm họ tên, ngày sinh, số điện thoại di động tại Việt Nam. Mạng xã hội phải thực hiện xác thực người dùng qua số điện thoại hoặc số định danh cá nhân đã đăng ký.


Chỉ các tài khoản mạng xã hội đã được xác thực mới được cung cấp thông tin, viết bài, bình luận, livestream và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội. Nghị định quy định người sử dụng được bảo vệ thông tin theo quy định của pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm về nội dung do mình cung cấp, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ trên mạng.


Bên cạnh đó, có trách nhiệm tạm khóa, gỡ bỏ thông tin vi phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi của tổ chức, cá nhân khác chậm nhất 48 giờ khi có yêu cầu từ người sử dụng mạng xã hội hoặc chậm nhất không quá 24 giờ khi nhận được yêu cầu từ cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.


Đồng quan điểm, luật sư Nguyễn Thanh Biên (Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết, Nghị định 147 đã có hiệu lực hơn 3 tháng nay, kì vọng sẽ làm trong sạch không gian mạng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những trường hợp tài khoản mạng xã hội được tạo lập ở nước ngoài.


Do đó, cần có thêm cơ chế hợp tác quốc tế giữa các chính phủ và các nhà mạng xã hội để triển khai các biện pháp kỹ thuật trong phạm vi pháp luật cho phép nhằm xử lý vi phạm những tài khoản mạng xã hội được tạp lập bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời cần tuyên truyền hướng dẫn những cá nhân bị thiệt hại do những tài khoản tạo lập bên ngoài Việt Nam cách xử lý phù hợp với luật pháp của nước mà chủ tài khoản có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật.


“Song song với sự phát triển như vũ bão của công nghệ là các công cụ truyền thông trên môi trường mạng. Số lượng, quy mô người dùng mạng điện tử ngày càng lớn, lượng thông tin trên môi trường này khổng lồ. Pháp luật đã quy định cụ thể các chế tài xử lý hành vi sai phạm trên không gian mạng. Do đó người sử dụng nền tảng không gian mạng cần có trách nhiệm đối với hành vi của mình. Hành vi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín… sẽ bị xử lý nghiêm khắc trước pháp luật”, Luật sư Nguyễn Thanh Biên cho biết./.

 QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM – LÁ CHẮN VỮNG CHẮC BẢO VỆ TỔ QUỐC

I. MỞ ĐẦU

Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nòng cốt của đất nước, được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành từ thực tiễn đấu tranh cách mạng. Với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, là lực lượng chủ lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, tìm cách làm suy yếu sức mạnh quân đội, đòi hỏi lực lượng vũ trang nước ta phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố sức mạnh chiến đấu để đảm bảo vững chắc nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

II. LỊCH SỬ VẺ VANG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1. Quá trình hình thành và phát triển

Quân đội Nhân dân Việt Nam ra đời ngày 22/12/1944 theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, quân đội ta đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Từ chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954 đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, quân đội ta luôn chứng tỏ là lực lượng trung thành, dũng cảm, không quản ngại hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới, quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

2. Những chiến công tiêu biểu

  • Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954): Đánh bại thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt chế độ thực dân tại Việt Nam.

  • Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975): Kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

  • Cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc (1979-1989): Đánh bại sự xâm lược từ bên ngoài, giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

III. QUÂN ĐỘI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

1. Vai trò bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu”, chiến tranh mạng... ngày càng tinh vi, quân đội phải luôn sẵn sàng chiến đấu, chủ động ngăn chặn mọi nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia.

Bên cạnh đó, quân đội còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông ngày càng phức tạp. Việc hiện đại hóa quân đội, nâng cao khả năng tác chiến, xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước tiến lên hiện đại là yêu cầu cấp thiết.

2. Tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Không chỉ là lực lượng bảo vệ đất nước, quân đội còn tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội. Các doanh nghiệp quân đội đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghệ cao, phát triển hạ tầng và các dự án lớn của đất nước.

Bên cạnh đó, quân đội còn đi đầu trong các hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, hỗ trợ người dân trong những hoàn cảnh khó khăn, thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn vì dân phục vụ.

IV. XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, HIỆN ĐẠI

1. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quân đội là giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về âm mưu của các thế lực thù địch, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng.

2. Hiện đại hóa quân đội

Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, quân đội cần được đầu tư mạnh mẽ về trang bị, công nghệ, nâng cao năng lực tác chiến điện tử, chiến tranh mạng, và các lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Cần tiếp tục xây dựng lực lượng hải quân, không quân, lục quân hiện đại, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo và lãnh thổ quốc gia.

3. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân

Thế trận quốc phòng toàn dân là chiến lược quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa quân đội với các lực lượng khác như công an, dân quân tự vệ, và sự đồng lòng của nhân dân.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, đoàn thể trong tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia.

V. KẾT LUẬN

Quân đội Nhân dân Việt Nam với truyền thống anh hùng, trung thành, dũng cảm, luôn là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trước những thách thức của thời đại mới, quân đội cần tiếp tục phát huy truyền thống, nâng cao bản lĩnh chính trị, hiện đại hóa lực lượng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Mỗi người dân Việt Nam cần đồng lòng, chung sức với quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường.

 ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

I. MỞ ĐẦU

Nền tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là kim chỉ nam cho mọi hành động, là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, những thế lực thù địch ngày càng gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng và Nhà nước ta. Do đó, việc đấu tranh bảo vệ nền tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng mà còn là trách nhiệm của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân.

II. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

1. Sự xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng của Đảng

Các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng lợi dụng các vấn đề kinh tế, xã hội để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Sự xâm nhập của tư tưởng sai trái, phản động

Trong thời đại công nghệ số, thông tin xấu, độc lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng. Một số cá nhân thiếu bản lĩnh chính trị, không đủ nhận thức sâu sắc đã bị lôi kéo vào những luận điệu sai trái, gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

3. Tác động của hội nhập quốc tế

Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Các giá trị phương Tây, tư tưởng tự do cực đoan có thể làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội nếu không có sự đấu tranh, phản bác kịp thời.

III. GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

1. Nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân

Cần tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương sáng trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân.

2. Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Các cơ quan chức năng, báo chí, truyền thông cần đẩy mạnh tuyên truyền, phản bác các luận điệu xuyên tạc bằng các lập luận khoa học, sắc bén. Đồng thời, cần phát huy vai trò của mạng xã hội trong việc lan tỏa thông tin chính thống, nâng cao nhận thức cho cộng đồng.

3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

Cần có cơ chế kiểm soát, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước. Đấu tranh kiên quyết với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ.

4. Phát huy vai trò của nhân dân trong bảo vệ nền tư tưởng của Đảng

Nhân dân là lực lượng đông đảo, là tai mắt của Đảng. Do đó, cần phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát, phát hiện và phản ánh những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Mỗi công dân yêu nước cần tỉnh táo, sáng suốt trước các thông tin xấu độc, không tiếp tay cho các thế lực thù địch.

5. Xây dựng nền báo chí cách mạng vững mạnh

Báo chí, truyền thông cần giữ vững tôn chỉ, mục đích, cung cấp thông tin chính xác, khách quan, định hướng dư luận xã hội. Đồng thời, cần đổi mới phương thức tuyên truyền, tận dụng hiệu quả công nghệ số để nâng cao chất lượng nội dung truyền tải.

IV. KẾT LUẬN

Đấu tranh bảo vệ nền tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân. Trong bối cảnh mới, mỗi người cần nâng cao nhận thức, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ sự ổn định chính trị, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.