Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG “MỘT TẤM GƯƠNG SỐNG” TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Trong toàn bộ di sản tư tưởng và hoạt động thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Một trong những quan điểm nổi bật, xuyên suốt và có giá trị phương pháp luận sâu sắc của Người là: lấy “một tấm gương sống” để tuyên truyền, giáo dục.

Luận điểm nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” không chỉ là một nhận định giản dị mà hàm chứa triết lý giáo dục sâu sắc, thể hiện sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa tuyên truyền bằng lý luận với giáo dục bằng thực tiễn sinh động. Quan điểm này đã và đang trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng trong đường lối công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo của Đảng ta.

* Cơ sở hình thành quan điểm “một tấm gương sống” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Quan điểm của Hồ Chí Minh về nêu gương trong tuyên truyền, giáo dục được hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống đạo đức phương Đông, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò của hành động thực tiễn trong giáo dục con người. Theo Người, tuyên truyền không chỉ là nói cho hay, viết cho đúng, mà quan trọng hơn là làm cho quần chúng “tin” và “làm theo”. Muốn vậy, người làm công tác tuyên truyền, giáo dục trước hết phải gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong cách công tác.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: cán bộ, đảng viên là người trực tiếp tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì tuyên truyền sẽ mất tác dụng, thậm chí phản tác dụng. Chính vì vậy, Người coi nêu gương là phương pháp tuyên truyền, giáo dục có hiệu quả nhất, bền vững nhất.

* Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong tuyên truyền, giáo dục

Nêu gương là phương pháp tuyên truyền, giáo dục trực quan, sinh động

Theo Hồ Chí Minh, con người tiếp thu giáo dục không chỉ bằng lý trí mà còn bằng cảm xúc và niềm tin. Những tấm gương người thật, việc thật có sức thuyết phục tự nhiên, dễ đi vào lòng người, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội. Do đó, tuyên truyền bằng gương tốt, việc tốt giúp quần chúng “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo”.

Người khẳng định, việc biểu dương gương người tốt, việc tốt không phải để ca ngợi cá nhân, mà nhằm nhân rộng những giá trị tốt đẹp, cổ vũ tinh thần cách mạng, xây dựng môi trường đạo đức lành mạnh trong xã hội.

Cán bộ, đảng viên phải là tấm gương sáng trong tuyên truyền, giáo dục

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nêu gương. Người yêu cầu: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây vừa là yêu cầu về trách nhiệm, vừa là phương thức tuyên truyền hiệu quả.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện trong những việc lớn mà trước hết là trong sinh hoạt hằng ngày, trong phong cách làm việc, trong mối quan hệ với nhân dân. Chính sự giản dị, trong sạch, tận tụy và trách nhiệm của cán bộ là “bài học sống” có sức giáo dục mạnh mẽ hơn bất kỳ lời tuyên truyền nào.

* Gắn nêu gương với giáo dục đạo đức cách mạng và xây dựng con người mới

Một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sử dụng nêu gương để giáo dục đạo đức cách mạng. Người cho rằng, đạo đức không phải là những chuẩn mực trừu tượng mà được thể hiện cụ thể qua hành vi, việc làm của mỗi con người trong thực tiễn.

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Người nhiều lần khẳng định vai trò của những tấm gương hy sinh, tận tụy, liêm khiết, chí công vô tư trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Việc nêu gương tốt không chỉ để cổ vũ cái đúng, cái tốt mà còn để đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, thói hư, tật xấu trong xã hội.

Quan điểm này được Đảng ta kế thừa và phát triển trong nhiều văn kiện quan trọng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

* Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong công tác tuyên truyền, giáo dục hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác tuyên truyền, giáo dục đứng trước nhiều thách thức do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của thông tin đa chiều, tư tưởng Hồ Chí Minh về “một tấm gương sống” càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Các văn kiện của Đảng những năm gần đây đều nhấn mạnh yêu cầu đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; coi đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt ở cơ sở, trong từng ngành, từng địa phương cần được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tránh hình thức, chạy theo phong trào.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “một tấm gương sống” trong công tác tuyên truyền, giáo dục là một quan điểm mang tính khoa học, nhân văn và thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng đó khẳng định vai trò quyết định của hành động gương mẫu trong việc thuyết phục, cảm hóa và giáo dục con người, đồng thời đặt ra yêu cầu cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền, giáo dục.

Việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong công tác tuyên truyền, giáo dục không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
Yêu nước ST.

BẠN CÓ BIẾT: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM “VÌ VIỆC MÀ BỐ TRÍ NGƯỜI” TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phương cách “dụng nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ “đúng chỗ, đúng việc”, “tùy tài mà dùng người”... Có thể nhận thấy cốt lõi của phương cách này chính là nguyên tắc “vì việc mà bố trí người”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, xác định công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là “then chốt của then chốt”, từ đó có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định... để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực. Công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.

Tại các Hội nghị Trung ương lần thứ 11, 12, 13, 14, 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, tinh gọn bộ máy và chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng khi nhấn mạnh “phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác”.

Mới đây, ngày 25/5/2025, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 157-KL/TW về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Kết luận nêu rõ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực...; nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự...

Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như nạn “chạy chức, chạy quyền”, “chia phần” trong công tác cán bộ, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm được điều này, trước hết, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng cấp ủy đảng phải là “chốt chặn” đầu tiên.

Bởi thực tế cho thấy, nếu người đứng đầu thực sự gương mẫu, công tâm, không tham nhũng, tiêu cực, không dao động, nể nang trước sức ép, sự “gửi gắm” từ cấp trên; sức chiến đấu của các tổ chức đảng thực sự được phát huy thì tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại.

Bên cạnh đó, cần rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, gắn với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp, rõ ràng, tránh tình trạng lấy tập thể làm bình phong cho những quyết định mang tính cá nhân.

Mặt khác, cũng rất cần có cơ chế gắn trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu với việc thực hiện công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các biểu hiện vi phạm.

Cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức là nền tảng vững chắc để công tác cán bộ không bị tha hóa bởi những biểu hiện tiêu cực nói chung, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” nói riêng.

Mơ ước, khát vọng phát triển sự nghiệp của mỗi người là hoàn toàn chính đáng, song phải bằng tài năng, phẩm chất chứ không phải thông qua “chạy chức, chạy quyền”. Đây mới là con đường bền vững, đúng đắn mà mỗi cán bộ, công chức cần lựa chọn, góp phần thúc đẩy sự phát triển, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THI ĐUA KHÔNG CÔNG TÂM LÀ NUÔI DƯỠNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!

     Thi đua, khen thưởng (TĐKT) là động lực tinh thần to lớn, góp phần khơi dậy ý chí cống hiến, khát vọng vươn lên trong mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Tuy nhiên, nếu thiếu công tâm, thiếu dân chủ, thi đua rất dễ bị méo mó, trở thành mảnh đất dung dưỡng chủ nghĩa cá nhân, làm xói mòn niềm tin và triệt tiêu động lực phấn đấu; những biểu hiện lệch chuẩn trong lĩnh vực này là dấu hiệu đáng lo ngại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần được nhận diện và kiên quyết khắc phục.

Những “phiên bản” lệch bản chất thi đua

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định thi đua yêu nước là động lực tinh thần to lớn, là cách thức tổ chức con người hành động vì mục tiêu chung của cách mạng. Người nhấn mạnh: Thi đua là yêu nước; yêu nước thì phải thi đua; thi đua phải thiết thực, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bởi vậy, bất kỳ biểu hiện nào làm sai lệch bản chất của thi đua đều không thể xem nhẹ, bởi nó liên quan trực tiếp đến lập trường tư tưởng, đạo đức công vụ và trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn cho thấy, ở nhiều cơ quan, đơn vị, công tác TĐKT được tổ chức nghiêm túc, bài bản, tạo khí thế phấn khởi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện những “phiên bản” bị bóp méo, làm phai nhạt ý nghĩa cao đẹp của phong trào thi đua yêu nước, dung dưỡng cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

Cách đây không lâu, trong cuộc trao đổi với một cán bộ đang công tác tại địa phương, khi được hỏi về kết quả thi đua năm 2025, anh tỏ ra trăn trở, suy tư. Tập thể nơi anh công tác và bản thân anh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ đột xuất hoàn thành xuất sắc, được đồng nghiệp và nhân dân ghi nhận; song khi bước vào khâu bình xét, kết quả lại không tương xứng. Anh từ chối nói rõ nguyên nhân. Dù vậy, từ thực tế không hiếm gặp, có thể thấy đằng sau những trường hợp như vậy rất dễ là sự chi phối của những “cân nhắc nội bộ” thiếu minh bạch, nơi “quyền lực” bình xét bị sử dụng không đúng mục đích. Nếu đúng như vậy, đây không chỉ là thiếu sót thông thường, mà là sự tổn hại trực tiếp đến niềm tin và tinh thần đoàn kết trong tập thể.

Qua nghiên cứu tài liệu, theo dõi các phương tiện thông tin đại chúng, dự hội nghị tổng kết thi đua ở một số ngành, địa phương và tiếp thu ý kiến của cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, nhân dân, có thể nhận diện một số biểu hiện đáng lưu ý.

Ở một số nơi, thi đua bị kéo lệch khỏi nhiệm vụ chính trị trung tâm, bị thu hẹp vào những tiêu chí mang tính thủ tục, thậm chí là những lỗi nhỏ không phản ánh bản chất cống hiến. Có trường hợp đảm nhận việc khó, việc mới, mang lại hiệu quả rõ rệt, nhưng chỉ vì một sơ suất không mang tính quyết định mà bị hạ mức đánh giá. Cách làm này đi ngược tinh thần thi đua mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Phải nhìn vào kết quả thực chất, vào hiệu quả đối với nhiệm vụ chung. Việc soi xét tiểu tiết để phủ nhận đóng góp lớn không chỉ thiếu công bằng mà còn thể hiện tư duy hẹp hòi, cần được uốn nắn, giáo dục, giáo dục lại thật nghiêm túc.

Một biểu hiện khác là sự chi phối của tâm lý ganh ghét, đố kỵ trong công tác bình xét. Khi người làm công tác thi đua không vượt qua được cái tôi cá nhân, không đủ bản lĩnh đặt lợi ích tập thể lên trên, thì thành tích của người khác rất dễ trở thành vật cản trong nhận thức và hành động. Thay vì cổ vũ, nhân rộng điển hình, lại tìm cách kìm hãm hoặc phủ nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”; để tâm lý đố kỵ len lỏi vào thi đua chính là tạo điều kiện cho “giặc nội xâm” xâm nhập vào một lĩnh vực hết sức quan trọng.

Không ít nơi còn vin vào lý do “hết chỉ tiêu”, “đúng quy định” để không đề xuất khen thưởng những thành tích thực sự nổi trội. Sâu xa hơn, đó là biểu hiện của sự né tránh trách nhiệm, thiếu dũng khí chính trị. Quy định là khuôn khổ để thực hiện, chứ không phải cái cớ để hợp thức hóa sự thờ ơ.

Thậm chí, có ý kiến phản ánh rằng, chỉ những thành tích “an toàn”, những gương mặt quen thuộc mới dễ được khen thưởng, trong khi các nhân tố mới, cách làm đột phá lại bị dè dặt, né tránh. Thi đua như vậy không khuyến khích sáng tạo, mà vô hình trung nuôi dưỡng tâm lý làm cầm chừng.

Xét đến cùng, những biểu hiện trên đều bắt nguồn từ sự suy giảm bản lĩnh chính trị, sự buông lỏng nguyên tắc dân chủ và là mảnh đất thuận lợi để chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và phát triển. Nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời, TĐKT sẽ từ động lực trở thành lực cản đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Bản lĩnh người đứng đầu

Bên cạnh những tồn tại cần phê phán, thực tiễn cũng cho thấy ở nhiều nơi, cấp ủy, người đứng đầu và hội đồng TĐKT vẫn giữ được sự công tâm, khách quan, thực sự trân trọng nỗ lực của tập thể và từng cá nhân. Ở đó, người đứng đầu không né tránh trách nhiệm, chủ động phát hiện nhân tố mới, cách làm hay, những đóng góp thầm lặng nhưng hiệu quả; mạnh dạn đề xuất khen thưởng kịp thời, đúng mức.

Từ những điểm sáng ấy có thể khẳng định: Chất lượng công tác TĐKT phụ thuộc trực tiếp vào bản lĩnh, trách nhiệm của người đứng đầu. Thi đua không chỉ là hoạt động nghiệp vụ mang tính tổng kết, mà là quá trình lựa chọn và khẳng định các giá trị đúng đắn trong tổ chức. Mỗi quyết định khen thưởng đều gửi đi một thông điệp lãnh đạo rõ ràng về điều gì được trân trọng, được cổ vũ và cần nhân rộng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Cán bộ là gốc của mọi công việc. Trong công tác TĐKT, lời dạy ấy càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc. Người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ dám nhìn thẳng vào sự thật, dám bảo vệ thành tích thực chất, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên. Chính sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ấy tạo nên niềm tin và khơi dậy tinh thần cống hiến trong toàn cơ quan. Ngược lại, khi người đứng đầu thỏa hiệp với những biểu hiện “lệch chuẩn”, công tác thi đua dễ bị chi phối bởi tâm lý né tránh, chuộng sự “an toàn”. Khen thưởng theo quán tính, theo tiền lệ bề ngoài có thể giữ được yên ổn nhất thời, nhưng lại làm suy giảm động lực phấn đấu, tích tụ những bức xúc âm thầm và lâu dài.

TĐKT cũng là phép thử đối với tinh thần dân chủ của người đứng đầu. Dân chủ không phải là hình thức lấy ý kiến cho đủ thủ tục, mà là quá trình lắng nghe, đối thoại, tôn trọng sự thật khách quan và tiếng nói của tập thể dựa trên cơ sở mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm. Khi hội đồng TĐKT bị biến thành công cụ hợp thức hóa quyết định cá nhân, thì thi đua bị bóp méo ngay từ khâu lãnh đạo.

Từ góc độ xây dựng Đảng, có thể thấy rõ mối liên hệ giữa chất lượng TĐKT với phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Ở những nơi thi đua được tổ chức nghiêm túc, công tâm, minh bạch, thường gắn liền với đội ngũ cán bộ liêm chính, có uy tín; ngược lại, nơi nào thi đua gây bức xúc, nơi đó sớm hay muộn cũng nảy sinh vấn đề về đoàn kết nội bộ và suy giảm niềm tin đối với cấp ủy.

Để TĐKT thực sự trở thành động lực phát triển, các cấp, các ngành cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước về TĐKT. Thi đua phải hướng vào nhiệm vụ chính trị trung tâm, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo cao nhất. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo, coi việc chấn chỉnh công tác TĐKT là nhiệm vụ thường xuyên. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, quy trình đánh giá, bình xét theo hướng khoa học, minh bạch, có kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kịp thời phát hiện, điều chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng thi đua để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Thi đua yêu nước là phong trào lớn, xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta. Phong trào thi đua chỉ thực sự có sức sống khi được đặt trên nền tảng dân chủ, công tâm, tính kỷ luật nghiêm minh và cao hơn nữa là phẩm chất đạo đức cách mạng. Đó chính là điều kiện căn bản để TĐKT trở về đúng bản chất cao đẹp, là động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị được giao./.
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với sự bùng nổ của không gian mạng và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm hiện nay là xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam; lợi dụng các khái niệm như “nhà nước pháp quyền”, “cải cách thể chế”, “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ súy cho mô hình “đa nguyên, đa đảng”, hạ thấp vị thế, uy tín và những thành tựu đối ngoại đa phương của đất nước.

Việc nhận diện đúng bản chất, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các quan điểm sai trái; đồng thời khẳng định tính nhất quán, đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và sự tất yếu lịch sử của vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển bền vững ở Việt Nam. Trước hết chúng ta cần nhận diện một số luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam:

Một là, hạ thấp và phủ nhận các thành tựu đối ngoại đa phương của Việt Nam. Một số luận điệu cho rằng Việt Nam “chỉ tham gia hình thức”, “vai trò mờ nhạt” trong các cơ chế khu vực và quốc tế, hoặc cho rằng các thành tựu đối ngoại chỉ là “ăn theo” bối cảnh chung. Đây là cách nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng thực tế vị thế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hai là, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam theo hướng phủ nhận tính độc lập, tự chủ. Các thế lực thù địch thường rêu rao rằng Việt Nam “lệ thuộc”, “theo phe”, “đánh đổi chủ quyền để hội nhập”, từ đó quy kết đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước là thiếu bản lĩnh, không nhất quán. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình không thừa nhận nguyên tắc xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.

Ba là, lợi dụng xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách thể chế để công kích vai trò lãnh đạo của Đảng. Dưới danh nghĩa “nhà nước pháp quyền đúng nghĩa”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự độc lập”, các đối tượng chống phá cố tình tách rời hoặc đối lập giữa Đảng với Nhà nước, cho rằng Đảng đứng ngoài hoặc đứng trên Hiến pháp và pháp luật, từ đó kêu gọi “phi chính trị hóa”, “đa nguyên, đa đảng”.

Thực tiễn cho thấy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một chủ trương đúng đắn, xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới và hội nhập. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã cố tình bóp méo bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nó với mô hình nhà nước pháp quyền tư sản, coi đó là “chuẩn mực phổ quát” duy nhất. Âm mưu cốt lõi của chúng là từng bước làm suy giảm, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thông qua việc gieo rắc nghi ngờ, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, họ tìm cách làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từ đó gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề cho sự can thiệp từ bên ngoài. Lịch sử và thực tiễn thế giới đã chỉ rõ: không có mô hình chính trị nào là khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia. Việc áp đặt mô hình đa đảng một cách máy móc, bất chấp điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và đặc thù chính trị của từng nước, đã và đang dẫn tới xung đột, chia rẽ, thậm chí là nội chiến ở nhiều quốc gia.

Đường lối đối ngoại của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, được Đảng ta kiên định và nhất quán qua các kỳ Đại hội. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập; ngược lại, đó là nền tảng để Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế giúp Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu nổi bật trong đối ngoại đa phương – từ việc tham gia, đóng góp tích cực trong ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, đến việc đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế - đã khẳng định vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Thực tiễn đó là minh chứng sinh động, thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò và thành tựu đối ngoại của Việt Nam.

Quan điểm đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam là phi khoa học, phản lịch sử và đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là sự “áp đặt”, mà là kết quả của lịch sử, được nhân dân thừa nhận, kiểm nghiệm và khẳng định qua thực tiễn cách mạng. Đảng lãnh đạo nhưng không đứng ngoài hay đứng trên Nhà nước và pháp luật; Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối đúng đắn; bằng nêu gương, bằng tổ chức và cán bộ; đồng thời chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đó chính là bản chất ưu việt của chế độ chính trị Việt Nam. Việc kiên định một đảng cầm quyền không phải là lực cản của dân chủ, mà là điều kiện quan trọng để bảo đảm ổn định chính trị, thống nhất ý chí và hành động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tóm lại, Cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và hết sức cấp thiết. Việc vạch trần các luận điệu xuyên tạc, làm rõ âm mưu lợi dụng xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách thể chế để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; kiên quyết bác bỏ quan điểm “đa nguyên, đa đảng”; giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng chính là cơ sở để củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm ổn định chính trị, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

TIN MỚI NHẬN: TÍN HIỆU VUI!

     Về vụ vinh danh rác phẩm dị tật "Nỗi buồn chiến tranh" của tay ấu "d.âm" Bảo Ninh, nguồn tin cho biết Ban chỉ đạo 35 của Trung ương về "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng ngừa đấu tranh phản bác, ngăn chặn xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái thù địch" đang vào cuộc.

Sau phẫn nộ của nhân dân cả nước về cuốn sách "Nỗi buồn chiến tranh" của tay ấu Bảo Ninh. Trung ương vào cuộc chỉ đạo, trong cuộc họp với ban TGTW, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc đặt câu hỏi với ban TGDVTW đã xem xét trách nhiệm thế nào với cá nhân, tổ chức?

Động thái này cho thấy Trung ương, cơ quan tham mưu giúp việc của Đảng, của Tổng bí thư, Ban chỉ đạo 35 sẽ bám sát Ban Tuyên giáo - Dân vận TW việc xử sai phạm, đó là nhiệm vụ phải làm chứ không thể nửa vời.

Mong Cục Điều tra Hình sự bộ QP sớm khởi tố dưới góc độ vai trò Quân pháp để điều tra và mở rộng vụ án, cần làm triệt để từ gốc để lập lại kỷ cương đất nước, và trả lại danh dự cho người lính, sự tổn thương tâm lý của những CCB đã chiến đấu cho tổ quốc, để người dân Việt biết trân trọng lịch sử hào hùng của dân tộc để giữ gìn cống hiến xây đắp!
Môi trường ST.

“KHÔNG MƠ HỒ” GIỮA TỰ DO DÂN CHỦ HỢP PHÁP VỚI LỢI DỤNG TỰ DO DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ!

     Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì mà thế lực thù địch bịa đặt, mà là tấm khiên cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.

Thời gian qua, lợi dụng các vụ án liên quan đến đối tượng có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), những phần tử cơ hội chính trị, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã quy chụp, xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Họ cho rằng quy định đó là công cụ để “đàn áp tiếng nói phản biện”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”.

Các luận điệu này được ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ tự do ngôn luận” nhằm phủ nhận tính chính danh, tính hợp hiến, hợp pháp và sự cần thiết của quy định pháp luật quan trọng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và thể chế chính trị. Những thủ đoạn, chiêu trò “đánh lận con đen” này vẫn thường được các đối tượng sử dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất lợi cho Việt Nam trong đối ngoại.

Bản chất pháp lý ưu việt của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). 

Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này một mặt nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con người, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, trong đó mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam là thành viên từ năm 1982) quy định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “có thể bị giới hạn bởi pháp luật” vì các lý do như tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Chính vì thế, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế và hợp hiến, hợp pháp ở Việt Nam.

Tội danh này quy định người phạm tội cố ý thực hiện các hành vi thể hiện dưới các phương thức, thủ đoạn lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền khác với mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, như: Viết, biên tập, đăng tải các bài đả kích, lăng mạ, bôi nhọ, nói xấu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet và các phương tiện truyền thông khác làm ảnh hưởng, thiệt hại đến uy tín của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thanh danh của Đảng, Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong xã hội.

Các chế tài đối với người phạm tội này (bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm) là các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm này đối với xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thực tế pháp luật hầu hết các quốc gia dân chủ đều có quy định hình sự tương tự để xử lý các hành vi lạm dụng tự do ngôn luận gây hại nghiêm trọng, như: Tội phỉ báng, vu khống (Anh, Mỹ, Australia...); tội kích động thù hận (nhiều nước châu Âu); tội tán phát thông tin sai lệch gây hoang mang dân chúng (Pháp, Đức...); tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy (Mỹ, Ấn Độ...). Do vậy, Nhà nước quy định “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành là phù hợp thông lệ pháp luật thế giới và thực tiễn đất nước.

Việc quy định “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam nhằm: 1) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bao gồm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Những lợi ích này là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của quốc gia, dân tộc; 2) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, gồm uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật kinh doanh, tài sản... của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gồm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư, bí mật cá nhân, gia đình, tài sản... của mỗi công dân; 4) Bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, gồm chống lại sự lan truyền thông tin giả mạo, độc hại, gây hoang mang, chia rẽ xã hội, phá hoại niềm tin.

Như vậy, việc quy định tội danh này không nhằm hạn chế tự do phát biểu chính kiến hay phản biện xã hội, mà nhằm ngăn chặn sự lạm dụng, sử dụng các quyền tự do đó như một công cụ để gây hại một cách có chủ đích và nghiêm trọng đến các giá trị được pháp luật bảo vệ.

Thực tế, không phải mọi phát biểu trái chiều của cá nhân đều bị coi là phạm tội. Những hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi nó thực sự xâm phạm đến một trong các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ (lợi ích Nhà nước, quyền lợi tổ chức, cá nhân) do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện.

Vạch trần các luận điệu xuyên tạc Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành

Thứ nhất, luận điệu cho rằng “Điều 331 dùng để đàn áp tiếng nói phản biện, chỉ trích chính quyền” là sự suy diễn ác ý và sai lầm của thế lực thù địch.

Phản biện xã hội đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung, lành mạnh, xây dựng, dựa trên sự thật và động cơ trong sáng luôn được khuyến khích và bảo vệ tại Việt Nam. Hàng nghìn ý kiến phản biện trên báo chí, diễn đàn Quốc hội, hội thảo khoa học, qua các kênh tiếp công dân... là minh chứng rõ ràng cho điều này. Vừa qua, kết quả góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tham gia tích cực của người dân với hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước, trong đó có gần 36,6 triệu ý kiến từ cá nhân, và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% cho thấy sự đồng thuận cao của xã hội đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Thực tiễn đó cho thấy, Việt Nam không hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền trưng cầu ý dân, phản biện xã hội. Ngược lại, việc thực hiện các quyền này đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung luôn được tôn trọng, bảo đảm và khuyến khích thực hiện đầy đủ trong thực tế. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ áp dụng đối với hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xuyên tạc, phỉ báng, tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, luận điệu cho rằng “Điều 331 được sử dụng để bịt miệng blogger, nhà báo độc lập” là sự đánh tráo khái niệm và ngụy biện của thế lực thù địch.

Nhà báo, blogger hoạt động hợp pháp, tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, cung cấp thông tin chính xác, chính thống, có trách nhiệm luôn được tôn trọng. Hệ thống báo chí chính thống và nhiều blogger tuân thủ pháp luật vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam.

Việc một số cá nhân tự nhận là “nhà báo”, “blogger” nhưng lợi dụng danh nghĩa này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (như cố ý đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tán phát thông tin chống phá Nhà nước) thì có thể bị xử lý theo Điều 331 hoặc các điều luật khác (như "Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông"-Điều 288 của Bộ luật Hình sự).

Việc xử lý họ là vì hành vi phạm tội, không phải vì danh nghĩa hay nghề nghiệp của họ. Luật Báo chí năm 2016 phân biệt rõ nhà báo hoạt động trong cơ quan báo chí được cấp phép với người hoạt động thông tin trên mạng (không phải là nhà báo theo luật định). Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, nhưng đều phải tuân thủ pháp luật.

Thứ ba, luận điệu cho rằng “Việt Nam vi phạm cam kết quốc tế về tự do ngôn luận khi có Điều 331” là sự vu khống của thế lực thù địch.

Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành phù hợp với giới hạn quyền được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Quy định này cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp giới hạn quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, quyền hoặc uy tín của người khác. Việc thực thi Điều 331 chính là để bảo vệ các giá trị đó. Các báo cáo quốc gia định kỳ của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều giải trình rõ quan điểm và thực tiễn này.

Tựu trung lại, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì thế lực thù địch bịa đặt, mà là “tấm khiên” cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất, có trật tự và an toàn. Quy định đó nhằm bảo vệ xã hội khỏi những hành vi lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích chung, quyền lợi chính đáng của người khác. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng./.
Môi trường ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRONG BÀI “QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT BÁO CHÍ LÀ MỘT BƯỚC MỚI MỞ RỘNG QUYỀN LỰC CỦA BỘ CÔNG AN TRONG CÔNG CUỘC ĐÀN ÁP BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN VÀ TỰ DO BÁO CHÍ” CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ “VIỆT TÂN”!

     Lợi dụng vấn đề “Quốc hội sửa Luật Báo chí, công an được phép yêu cầu báo chí tiết lộ nguồn tin”. Ngày 11/12/2025, trên trang mạng phản động của tổ chức khủng bố “Việt Tân” đăng bài xuyên tạc quyền tự do báo chí ở Việt Nam; vu cáo Việt Nam “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”; đồng thời, cho rằng “Việc Quốc hội thông qua Luật Báo chí (sửa đổi) là một bước mới mở rộng quyền lực của Bộ Công an trong công cuộc đàn áp bất đồng chính kiến và tự do báo chí, khiến Việt Nam trở thành một nơi gần như không thể để các nhà báo tự do đưa tin”. Đây là quan điểm phản động, xuất phát từ động cơ không trong sáng, nhằm kích động dư luận gây bất ổn chính trị. Do đó, việc phân tích và phản bác là cần thiết để làm rõ bản chất sai trái, đồng thời khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cấp thiết của việc sửa đổi Luật Báo chí mà Quốc hội vừa thông qua.

Bóc tách và phản bác các luận điểm xuyên tạc quyền tự do báo chí ở Việt Nam; tổ chức khủng bố “Việt Tân” vu cáo Việt Nam “Bóp nghẹt tự do ngôn luận”, “đàn áp bất đồng chính kiến và tự do báo chí”. Nhưng thực tế đối với quyền tự do báo chí ở Việt Nam: Hiến pháp Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Quyền này được thể chế hóa thông qua các đạo luật cụ thể như Luật Báo chí, Luật Tiếp cận Thông tin. Tự do báo chí luôn đi đôi với trách nhiệm xã hội và tuân thủ pháp luật. Báo chí có quyền và nghĩa vụ thông tin chân thực, lành mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ lợi ích chung. Trong những năm gần đây với sự bùng nổ của internet và các thiết bị thông minh. Các trang tin tức là mảnh đất màu mỡ để những kẻ mạo danh nhà báo kiếm tiền, tình trạng tin giả tràn lan với những tiêu đề câu like, giật tít giật gân, gây sốc nhằm thu hút lượt xem của người dùng và nhận tiền quảng cáo từ các nhãn hàng, các trang cá cược phi pháp hay của các đối tượng lưu vong phản động nước ngoài. Thậm chí có những bài báo, thông tin tuy là giả nhưng đã gây ra hậu quả thật, ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, thậm chỉ cả tính mạng của người dân. Vì vậy có thể khẳng định việc thông qua Luật Báo chí của Quốc hội là hết sức đúng đắn và cấp bách để làm trong sạch thông tin trên môi trường số hiện nay, để bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trước sự xâm hại của những kẻ xấu nhân danh nhà báo.

Về trách nhiệm của cơ quan thực thi pháp luật: Các cơ quan như Bộ Công an có trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm. Trong khuôn khổ pháp luật cho phép, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể (như phòng, chống tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia) là cần thiết và phổ biến ở nhiều quốc gia. Các quy định này luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục pháp lý. Thông tin trên không gian mạng rất đa dạng. Khi tiếp nhận thông tin, đặc biệt là từ các nguồn không rõ ràng hoặc có ngôn từ cực đoan, cần đối chiếu với các nguồn chính thống (như Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí được cấp phép) để có cái nhìn đầy đủ, cân bằng và chính xác hơn.

Rất nhiều nước trên thế giới đều có quy định hoặc thực tiễn pháp lý quy định những giới hạn hoặc ngoại lệ nhất định đối với nguồn tin của nhà báo. Đối với Vương quốc Anh có Đạo luật Quyền lực Điều tra (Investigatory Powers Act 2016): Thường được gọi là "Luật Gián điệp", cho phép các cơ quan an ninh và thực thi pháp luật có quyền truy cập vào dữ liệu truyền thông của công dân (metadata) với sự cho phép của tư pháp. Trong một số trường hợp nghiêm trọng liên quan đến an ninh quốc gia hoặc tội phạm nghiêm trọng, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ nguồn tin bí mật của nhà báo. Đối với Hoa Kỳ không có "đặc quyền phóng viên" tuyệt đối ở cấp liên bang: Tòa án Tối cao Hoa Kỳ (trong vụ Branzburg v. Hayes, 1972) đã phán quyết rằng Điều Tu chính án thứ Nhất (về tự do ngôn luận) không trao cho nhà báo quyền miễn trừ khỏi nghĩa vụ cung cấp bằng chứng trước đại bồi thẩm đoàn. Trong các vụ án hình sự, công tố viên có thể yêu cầu nhà báo tiết lộ nguồn tin nếu thông tin đó là cần thiết và không thể thu thập bằng cách khác. Hay như ở Pháp: Sau các vụ tấn công khủng bố, Pháp đã thông qua nhiều đạo luật mở rộng quyền hạn của cơ quan điều tra. Trong khuôn khổ các cuộc điều tra về khủng bố hoặc tội phạm có tổ chức nghiêm trọng, thẩm phán có thể ra lệnh cho nhà báo cung cấp thông tin hoặc hình ảnh chưa công bố, và việc từ chối có thể bị phạt.

Từ những ví dụ trên có thể thấy Các quốc gia này đều công nhận nguyên tắc bảo vệ nguồn tin là nền tảng cho tự do báo chí. Tuy nhiên, họ cũng thừa nhận rằng nguyên tắc này không phải là tuyệt đối và có thể bị giới hạn vì các lợi ích cấp bách khác như an ninh quốc gia, phòng chống tội phạm nghiêm trọng, hoặc để bảo vệ công lý.

Tóm lại, bài viết trên trang của tổ chức khủng bố “Việt Tân” về “Việc Quốc hội thông qua Luật Báo chí (sửa đổi) là một bước mới mở rộng quyền lực của Bộ Công an trong công cuộc đàn áp bất đồng chính kiến và tự do báo chí, khiến Việt Nam trở thành một nơi gần như không thể để các nhà báo tự do đưa tin” là sản phẩm xuyên tạc, cố tình bóp méo tính đúng đắn và cần thiết phải sửa đổi Luật Báo chí để phù hợp với điều kiện khách quan hiện nay. Các luận điểm không có cơ sở khoa học, sai lệch bản chất của tự do ngôn luận, tự do báo chí được pháp luật Việt Nam bảo hộ và cho phép. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin vào con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới “Kỷ Nguyên Vươn Mình” của dân tộc./.
Môi trường ST.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC GIAI ĐOẠN 2026-2030!

     Sáng 27/12, tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã phát động phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2026-2030. Xin trọng giới thiệu bài phát biểu phát động phong trào thi đua của Thủ tướng Chính phủ.

Kính thưa đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng!

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí lão thành cách mạng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động!

Thưa quý vị đại biểu, khách quý và toàn thể Đại hội!

1. Thi đua yêu nước chính là một nhịp điệu hòa chung sức mạnh của toàn dân tộc, một bản hòa ca của tinh thần cống hiến, một điểm hội tụ của ý chí và lòng yêu nước – nơi những gương người tốt, việc tốt được lan tỏa, những mô hình hay được nhân rộng, những giá trị tích cực được bồi đắp.

2. Thay mặt Đại hội, tôi xin tiếp thu phát biểu chỉ đạo quan trọng, sâu sắc, toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm với 9 nhiệm vụ trọng tâm và những yêu cầu, định hướng trọng tâm rất cụ thể, mang tính hành động cao để công tác thi đua, khen thưởng và các phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn mới phải luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý chặt chẽ, sáng tạo của Nhà nước để đi vào thực chất, hiệu quả, thi đua không phải là "chạy theo thành tích", mà là "cơm ăn, nước uống hàng ngày", "công khai, minh bạch, kịp thời, hiệu quả".

Đại hội thống nhất nhận định, thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, đặt ra nhiều vấn đề mới, khó khăn, thử thách hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục thi đua, chung sức, đồng lòng, đoàn kết, sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Tại Đại hội hôm nay, thay mặt Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, tôi phát động phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2026 - 2030 với chủ đề: "Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc, bứt phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc" với "1 mục tiêu xuyên suốt - 3 đột phá - 05 trọng tâm":

*1 mục tiêu xuyên suốt: vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc; vì sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước; vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

*3 đột phá gồm:

(1) Thứ nhất, thi đua thực chất: Thi đua phải gắn với tiêu chí "3 thật" - "người thật – việc thật – hiệu quả thật"; trong đó, sự hài lòng và sự hưởng ứng của người dân chính là thước đo giá trị của phong trào thi đua; khắc phục triệt để căn bệnh "hình thức – qua loa - đại khái – kém hiệu quả - nói nhiều, làm ít – nói không đi đôi với làm" trong phong trào thi đua.

(2) Thứ hai, thi đua tích cực: Thi đua phải thực hiện theo quy trình "Công khai tiêu chí - Minh bạch kết quả - Thực chất tôn vinh". Khen thưởng phải đúng người, đúng việc, đúng thành tích, đúng thời điểm; để "thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch": gieo trồng thì phải đúng, trúng, kịp thời, phù hợp, thu hoạch thì phải nhanh, gọn, hiệu quả, lan tỏa, đúng tầm. Không để thi đua, khen thưởng trở thành "vỏ bọc" của tiêu cực; không để "bệnh thành tích" "trú ẩn" trong thi đua.

(3) Thi đua lan tỏa: Thực hiện chuyển đổi trạng thái từ "bị động" sang "chủ động" phát hiện, xây dựng, lan tỏa, tôn vinh các điển hình tiên tiến, mô hình hay, cách làm hiệu quả, gương người tốt, việc tốt trong toàn xã hội; "lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực", "lấy cái đẹp dẹp cái xấu"; biến "sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

* 5 nhiệm vụ trọng tâm gồm:

(1) Thứ nhất, thi đua xây dựng Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh; xây dựng Nhà nước pháp quyền liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân; xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền nhiều hơn cho cơ sở.

(2) Thứ hai, thi đua phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy vai trò chủ đạo, dẫn dắt của khu vực kinh tế Nhà nước; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới theo hướng xanh, số, tuần hoàn, dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

(3) Thứ ba, thi đua tạo đột phá trong phát triển đất nước nhanh và bền vững, với 03 đột phá chiến lược về: (i) Hoàn thiện thể chế phát triển, hiện đại, hội nhập, minh bạch; (ii) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các ngành công nghệ chiến lược; (iii) Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, hiện đại, phục vụ phát triển KTXH của đất nước và nâng cao đời sống nhân dân.

(4) Thứ tư, thi đua phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, hội nhập, ngang tầm khu vực và thế giới. Thi đua bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội; không hy sinh an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.

(5) Thứ năm, thi đua củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập và hoạt động đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước.

Thưa toàn thể Đại hội,

3. Với quyết tâm "biến khẩu hiệu thành hành động thiết thực, hiệu quả; biến thi đua thành phong trào rộng khắp, lan tỏa; biến thành tích hôm nay thành động lực, nền tảng cống hiến dựng xây tương lai", phát huy tinh thần "Người người thi đua/Ngành ngành thi đua/Ngày ngày thi đua", tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài - mỗi người dân Việt Nam, dù ở cương vị nào, ngành nghề nào, ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ công việc gì tiếp tục ra sức phấn đấu, tích cực thi đua, đề cao khát vọng, tận tâm cống hiến, chung sức, đồng lòng, quyết tâm đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên "Độc lập – Tự do - Ấm no – Hạnh phúc và Chủ nghĩa xã hội".

Thưa toàn thể Đại hội!

Nhân dịp đón chào năm mới 2026 và Xuân Bính Ngọ, xin kính chúc đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc, cùng toàn thể quý vị đại biểu, khách quý mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.

Chúc phong trào thi đua yêu nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thành tựu mới, thắng lợi mới như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu "Năm mới ra sức thi đua ái quốc, để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ".
Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI ĐẠI HỘI THI ĐUA YÊU NƯỚC TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI

     Sáng 27/12, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI đã long trọng khai mạc tại Hà Nội. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng tại Đại hội. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, các chiến sĩ thi đua toàn quốc, các đại biểu điển hình tiên tiến.

Thưa toàn thể đại biểu dự Đại hội!

Hôm nay, chúng ta long trọng tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI trong không khí cả nước thi đua lập thành tích hướng tới hoàn thành những mục tiêu lớn của đất nước, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là dịp tổng kết phong trào thi đua và công tác khen thưởng giai đoạn 2021–2025; tôn vinh, biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu; đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn tới.

Trong giờ phút trang trọng, thiêng liêng này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; tri ân các thế hệ tiền bối cách mạng, các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công; ghi nhận và biểu dương những hy sinh, cống hiến thầm lặng của hàng triệu triệu người lao động, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng, trân trọng cảm ơn và chúc mừng các đồng chí, các đại biểu về dự Đại hội. Tôi gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời thăm hỏi thân tình, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Thưa các đồng chí và các đại biểu,

Thi đua yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy, tổ chức và dẫn dắt truyền thống thi đua thành phong trào hành động của toàn dân tộc bằng "Lời kêu gọi Thi đua ái quốc" ngày 11/6/1948. Người đã nhấn mạnh thi đua là "làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều". Người khẳng định: "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất".

Thi đua là phong trào; Thi đua là kỷ luật, trách nhiệm, sáng tạo trong từng việc cụ thể; Thi đua là nỗ lực vượt lên chính mình để đóng góp nhiều hơn; là cạnh tranh lành mạnh để làm tốt hơn; Thi đua là công việc hằng ngày của mỗi cá nhân, mỗi tập thể; mục tiêu của thi đua là mang lại lợi ích cho đất nước, cho nhân dân và cho từng cá nhân để tạo ra những "sản phẩm cụ thể mà người dân được thụ hưởng thật".

Đại hội hôm nay là dịp để chúng ta tôn vinh những bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa thi đua yêu nước. Trong hơn hai nghìn đại biểu có mặt tại đây, nhiều đồng chí là anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc; nhiều đồng chí là điển hình tiên tiến được lựa chọn, tiến cử từ cơ sở. Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở các vùng, miền, đô thị và nông thôn, biên giới và hải đảo, thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo... những con người bình dị nhưng làm nên những thành tích cao quý. Có người lặng thầm đổi mới một quy trình để tiết kiệm từng giờ công, từng đồng chi phí; có người bền bỉ bảo vệ sức khỏe cộng đồng; có người "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng"; có người kiên trì nâng cao chất lượng giáo dục; có người nơi "đầu sóng, ngọn gió", "biên cương, hải đảo" để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ bình yên cho đất nước; có doanh nhân dám đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, tạo việc làm, chăm lo đời sống người lao động... như những ong thợ chăm chỉ tạo mật ngọt cho đời.

Điều đáng trân trọng ở các điển hình tiên tiến không chỉ là thành tích, ý chí vượt khó mà là phẩm chất tạo nên thành tích: Trung thực, tận tụy, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, ý thức cộng đồng; đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; coi danh dự là thiêng liêng, cao quý; lấy hiệu quả công việc là thước đo phẩm chất lao động. Các điển hình tiên tiến là "nguồn năng lượng gốc" cho phát triển: Năng lượng của trí tuệ và lao động; của niềm tin và khát vọng; của nghĩa vụ và lòng nhân ái; là người noi gương của Bác"nâng niu tất cả chỉ quên mình". Khi gương sáng được nhân lên, đời sống tinh thần tốt lên từng ngày, cuộc sống càng có ý nghĩa hơn, nhân văn hơn, ấm áp tình người hơn.

Chúng ta tôn vinh để lan tỏa. Tôn vinh là để "nhân" những gương sáng thành động lực cho mọi người noi theo, để phong trào thi đua, tinh thần cống hiến được hội tụ và lan tỏa sâu rộng. Tôi đề nghị các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương, từng gia đình, mỗi cá nhân hãy làm tốt hơn nữa việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình; tuyên truyền đúng, kể chuyện "người thật, việc thật"; kịp thời động viên những gương tốt, sáng kiến hay, cách làm hiệu quả; đồng thời kiên quyết chống hình thức, chống "chạy" thành tích, "bệnh" thành tích.

Cùng với tôn vinh, điều quan trọng là phải "định vị đúng tọa độ" công tác thi đua - khen thưởng: Lấy chất lượng và hiệu quả làm chuẩn; lấy đóng góp thực tiễn làm căn cứ; hướng về người lao động trực tiếp và cơ sở. Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 đã nhấn mạnh nguyên tắc công khai, minh bạch, kịp thời. Vì vậy, mọi nơi phải làm cho công tác thi đua, khen thưởng trở thành động lực, niềm tin, công bằng để ai cũng thấy mọi cố gắng, mọi cống hiến đều được ghi nhận, được trân trọng và tôn vinh.

Thưa các đồng chí và các đại biểu,

Chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ và thách thức đan xen. Bối cảnh quốc tế, khu vực biến động nhanh; cạnh tranh chiến lược, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống, đứt gãy chuỗi cung ứng, rủi ro công nghệ… đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, sức chống chịu và khả năng bứt phá của đất nước.

Chặng đường phía trước đặt ra yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; tiếp tục hoàn thiện thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; tập trung ưu tiên phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thúc đẩy xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ…, tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải có một phong trào thi đua yêu nước mạnh mẽ, thực chất, rộng khắp và bền bỉ.

Trong giai đoạn cách mạng mới, thi đua yêu nước phải trở thành một hệ sinh thái năng động để mọi chủ trương đúng đắn được chuyển hóa thành hành động thiết thực; các nhiệm vụ chính trị được chuyển hóa thành tinh thần trách nhiệm, công việc cụ thể, đích đến rõ ràng để mọi người dân đều thấy mình là chủ thể của phát triển, là người kiến tạo tương lai và thụ hưởng các thành quả của lao động, sáng tạo.

Tôi đề nghị phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn mới tập trung vào 9 định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, thi đua bám sát nhiệm vụ chính trị, gắn với mục tiêu cụ thể; lấy kết quả phục vụ nhân dân làm thước đo. Mỗi phong trào phải có việc làm rõ ràng, tiêu chí đo lường được, sản phẩm kiểm chứng được; làm đến đâu chắc đến đó, kết quả rõ ràng. Cấp nào cũng phải coi việc hoàn thành nhiệm vụ và phục vụ nhân dân tốt hơn là trách nhiệm và danh dự.

Thứ hai, thi đua đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị yêu cầu tạo động lực mới mang tính chiến lược và cách mạng để đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Thi đua phải hướng vào nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng quản trị, phát triển kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số. Thực hiện tốt các nghị quyết Trung ương mới ban hành trong năm 2025 sẽ là "nguồn tài nguyên và cảm hứng" vô tận để chúng ta gặt hái những thành tích trong thi đua yêu nước.

Thứ ba, thi đua xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại; đề cao kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm nêu gương. Thi đua cải cách thủ tục hành chính, nâng chất lượng phục vụ, giảm chi phí tuân thủ; khắc phục né tránh, đùn đẩy; "nói đi đôi với làm". Mỗi cơ quan phải coi thời gian, chi phí và sự thuận tiện của người dân, doanh nghiệp là thước đo của chất lượng công vụ.

Thứ tư, thi đua phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới. Thi đua phải làm cho xã hội nhân văn hơn, nghĩa tình hơn; chăm lo tốt hơn người có công và người yếu thế. Mỗi địa phương, mỗi ngành, cơ quan, đơn vị phải có phong trào cụ thể về trường học an toàn - chất lượng, bệnh viện thân thiện - hiệu quả, cộng đồng kỷ cương - nhân ái.

Thứ năm, thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia. Thi đua trong doanh nghiệp gắn với đổi mới công nghệ, quản trị hiện đại, trách nhiệm xã hội; tạo việc làm, bảo đảm phúc lợi cho người lao động; xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính.

Đồng thời, thi đua phải gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững: Tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, bảo vệ môi trường sống; phát triển kinh tế tuần hoàn và lối sống văn minh, trách nhiệm. Thi đua trong lĩnh vực này vừa là mục tiêu dài hạn, vừa là yêu cầu trước mắt để bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh môi trường và chất lượng cuộc sống của nhân dân; để phát triển nhanh nhưng bền vững, bảo vệ và kiến tạo tương lai.

Thứ sáu, thi đua hướng về cơ sở; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; coi trọng người lao động trực tiếp và lực lượng tuyến đầu. Thi đua phải đến từng cá nhân, gia đình, thôn bản, tổ dân phố, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, để mọi người đều có mục tiêu phấn đấu, khát khao cống hiến và đạt thành quả trong thi đua.

Thứ bảy, thi đua củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; chủ động ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Mỗi địa bàn, mỗi lực lượng, mỗi ngành phải thi đua xây dựng thế trận vững chắc từ cơ sở, giữ bình yên cho nhân dân để phát triển.

Thứ tám, năm 1948, Bác của chúng ta ra lời kêu gọi thi đua yêu nước để diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Nay chúng ta tiếp tục tinh thần của Bác để diệt tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, diệt giặc nội xâm. Và chúng ta tổ chức thi đua yêu nước để làm cho mỗi cá nhân, mỗi tập thể, tất cả mọi người sống tốt lên, sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn, nhân văn hơn vì "người với người sống để yêu nhau". Để thi đua yêu nước thật sự làm cho chúng ta nhân ái hơn, trách nhiệm hơn, biết chia sẻ với người yếu thế, biết nâng đỡ nhau khi khó khăn, biết ứng xử văn minh, nhã nhặn, bao dung, để người tử tế được tiếp sức, việc tử tế được nhân rộng; để mỗi tập thể coi phục vụ cộng đồng là trách nhiệm, là danh dự; mỗi cá nhân coi làm việc tốt là lẽ tự nhiên; để phong trào thi đua trở thành dòng chảy nhân văn nuôi dưỡng niềm tin, nhân lên tình thương, tạo dựng cuộc sống không chỉ đủ đầy hơn mà còn ấm áp hơn, đẹp trong tâm hồn và đẹp trong cách cư xử, hành xử vì mọi người.

Thứ chín, đổi mới công tác thi đua - khen thưởng theo hướng thực chất, công khai, minh bạch, kịp thời. Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa tiêu chí, quy trình, bảo đảm khen thưởng công bằng. Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 15/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và tổ chức thi đua thiết thực, hiệu quả. Khen thưởng phải đúng người, đúng việc, đúng thời điểm; ưu tiên cơ sở, người lao động trực tiếp; kiên quyết chống hình thức.

Thưa các đồng chí và các đại biểu.

Phong trào thi đua yêu nước chỉ bền vững khi được tổ chức tốt, giám sát tốt và lan tỏa tốt. Tôi đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp quán triệt tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đổi mới cách phát động và đánh giá; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh; tạo môi trường để người tốt, việc tốt được ghi nhận kịp thời. Các cơ quan báo chí, truyền thông tăng cường tuyên truyền, làm nổi bật giá trị của phong trào thi đua, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng cống hiến, tạo động lực cho phát triển trong những năm tiếp theo.

Tôi mong rằng các đại biểu điển hình tiên tiến được tôn vinh hôm nay tiếp tục giữ vững ngọn lửa nhiệt huyết, tiếp tục là hạt nhân lan tỏa. Đồng thời, mỗi chúng ta hãy đặt cho mình một mục tiêu thi đua: Học tốt hơn, làm việc tốt hơn, kỷ luật hơn, sáng tạo hơn, nhiệt tình hơn, trách nhiệm hơn... Khi mỗi người tốt lên, mỗi tổ chức mạnh lên, cả đất nước, dân tộc sẽ tiến lên.

Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vào truyền thống thi đua yêu nước, vào trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của con người Việt Nam, tôi tin tưởng phong trào thi đua yêu nước sẽ mở ra một giai đoạn mới: Mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, sáng tạo hơn, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, để nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Chúc Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI thành công tốt đẹp.

Chúc các đồng chí lãnh đạo, các vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN - PHÁT BIỂU BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 15, KHÓA XIII CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Sáng 23/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng diễn ra Lễ bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị.

Sau 2 ngày làm việc khẩn trương, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự đoàn kết, thống nhất cao, chất lượng tốt. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư tôi xin cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương đã thể hiện sự tâm huyết, dân chủ, thẳng thắn, trung thực, cách mạng, khoa học với tinh thần trách nhiệm của người Đảng viên trước Đảng, Nhân dân và Đất nước.

Ban chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá: Lịch sử gần 100 năm Đảng cộng sản Việt Nam Lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. 40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc với Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Qua đó chúng ta đã đúc kết được những bài học quý báu mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp Cách mạng của Dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng cảm ơn sự đồng hành, đồng thuận và đóng góp ý kiến của Đảng viên, Cán bộ, Chiến sỹ và Nhân dân về những chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương nhận thấy: Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực liên tục chuyển động với tốc độ cao, có nhiều yếu tố bất định, tạo ra nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu cùng một số khó khăn về địa chính trị, địa kinh tế và một số vấn đề kinh tế- xã hội khác dồn dập xảy ra. Nhưng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đoàn kết một lòng, kiên định, tự chủ, sáng tạo với quyết tâm và nỗ lực đặc biệt lớn, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quyết sách chiến lược mang tầm đương đại, đột phá để lãnh đạo Nhân dân cả nước hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, chương trình, kế hoạch mà Đại hội XIII đã đề ra. Tạo ra tiềm năng mới, động năng mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững tinh thần tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận sôi nổi, kỹ lưỡng và nhất trí thông qua Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV, đặc biệt là Báo cáo Chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương xác định trong giai đoạn cách mạng mới, chúng ta cần tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, đó là (1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới. (2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi chung. (3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng. Đồng thời nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu với 6 trọng tâm: (1) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. (2) Xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách. (3) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, phát triển khu vực kinh tế tư nhân; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới hiện đại, phương thức sản xuất mới hiệu quả. (5) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước (6) Tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.

Ban chấp hành Trung ương đã thống nhất thông qua báo cáo về công tác nhân sự của Đảng để báo cáo Đại hội lần thứ XIV của Đảng và biểu quyết thông qua với số phiếu tập trung cao nhân sự giới thiệu tham gia Ban chấp hành Trung ương khóa XIV, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ lần thứ XIV của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo điều lệ và quy định của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương đã thảo luận kỹ nội dung các công việc chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng: Quy chế làm việc của Đại hội, Quy chế bầu cử trong Đảng; Báo cáo về công tác kiểm tra giám sát của Đảng trong nhiệm kỳ XIII và đã thông qua dự kiến danh sách Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban thẩm tra tư cách Đại biểu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban kiểm phiếu Đại hội XIV; Nhất trí với các tờ trình, các báo cáo mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư trình ra Hội nghị Trung ương 15. Ban Chấp hành Trung ương đã giao Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện các công việc chuẩn bị tốt nhất phục vụ tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương hoan nghênh và biểu dương thành viên các Tiểu ban Đại hội XIV của Đảng đã rất nỗ lực, cố gắng, khắc phục khó khăn, hoàn thành các nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng. Đề nghị các đồng chí tiếp tục nỗ lực hơn nữa hoàn thành các công việc từ nay tới khi tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Thưa các đồng chí,

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội. Tôi đề nghị các đồng chí Trung ương và toàn thể Đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15; Tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội đại biểu Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra.

Thay mặt các đồng chí được tín nhiệm giới thiệu đề cử Ban Chấp hành Trung ương và các chức danh lãnh đạo khóa tới để Đại hội XIV xem xét quyết định, Chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tin tưởng giao nhiệm vụ. Chúng tôi tiếp tục đoàn kết, thống nhất làm việc với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả cao, đáp ứng sự tin cậy của Đảng và Nhân dân.

Với tinh thần đó tôi tuyên bố Bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới 2026, tôi xin chúc các đồng chí và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và mọi điều tốt đẹp. Đồng thời yêu cầu các đồng chí Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổng kết năm 2025 với hướng gọn nhẹ, thực chất, tiết kiệm, hiệu quả, không tạo áp lực cho các cấp cơ sở; triển khai các mặt công tác thiết thực để nhân dân đón năm mới 2026 thật vui tươi, an toàn, lành mạnh, hạnh phúc; bắt tay ngay vào những công việc của năm 2026 và nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ 2026-2031 của đơn vị, địa phương các đồng chí.

Xin trân trọng cảm ơn.





Yêu nước ST.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

CÔNG GIÁO LUÔN TIN TƯỞNG VÀO SỰ NHIỆM MÀU, YÊN BÌNH TỪ THIÊN CHÚA TRONG ĐÊM GIÁNG SINH!

     À thì sự nhiệm màu hay yên bình đó, ở đâu thì tôi không biết.  Tôi chỉ biết, đêm giáng sinh 24/12/1972, phi công Mỹ tựa như những Ác Quỷ , bay kín trời miền bắc Việt Nam.

Chúng cố gắng rải thật nhiều "quả dân chủ", "trái tự do" vào những người dân Việt Nam vô tội, với mong muốn bẻ gãy ý chí, ép buộc dân tộc Việt Nam phải quỳ gối.

Những phi công ác quỷ Mỹ đó, trước khi bay rải dân chủ và tự do đêm đó, chúng đã thành kính làm lễ nguyện cầu trước những cha xứ , mượn danh thiên chúa xin được bình yên quay về với gia đình sau những chuyến rải thảm đó.

Vào đúng đêm Noel 1972 đó, 60 thanh niên xung phong Đại đội 915 đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ sửa đường tại Thái Nguyên. Đa số nhưng người trong số họ,còn chưa tới 18. 

Từ sáng 24/12/1972, lực lượng Thanh niên xung phong khẩn trương bốc xếp, giải tỏa hàng hóa tồn đọng. Tầm 7h tối 24/12/1972, khi hầu hết số hàng đã được đưa đến điểm tập kết an toàn, các anh chị đang chuẩn bị ăn cơm tối thì có báo động. 

Máy bay địch ồ ạt đánh phá thành phố Thái Nguyên và một loạt bom đã rơi trúng hầm trú ẩn của đại đội, khiến 60 anh chị Thanh niên xung phong và 3 cán bộ, nhân viên ga Lưu Xá hy sinh; một số người bị thương. 

Trong số các liệt sỹ, có 2 người trẻ nhất mới 16 tuổi là chị Tô Thị Phùng và chị Nông Thị Hoà, cùng quê ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Đây là sự hy sinh lớn nhất của lực lượng Thanh niên xung phong ở cùng một thời điểm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ…

Họ có cơ hội di tản, nhưng tinh thần bảo vệ Tổ quốc không cho phép họ làm điều đó, họ tình nguyện ở lại để hoàn thành nhiệm vụ.

Các chị, các anh ấy mãi mãi ra đi khi tuổi đời đang tươi trẻ, với bao ước mơ và khát vọng còn dang dở. Có anh chị trước đó còn phải giấu thêm đá vào người cho đủ ký khi tình nguyện ghi danh xung phong lực lượng. Có chị mong rằng sau khi kết thúc chiến tranh, sẽ vào miền Nam khi nước nhà thống nhất. Có chị mong muốn là cô giáo dạy sử, dạy cho con trẻ sự hào hùng cha anh, và dạy con trẻ hiểu rằng, cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược là cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc và nó chắc chắn không phải cuộc nội chiến.

Sau này, Nhân dân địa phương đã xây dựng Nhà Tưởng niệm, lập bia để lưu danh truyền thống. Di tích địa điểm hy sinh của các liệt sĩ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia.
---------
Kính cẩn viết cho anh linh cha anh, chú bác, cô dì chúng ta, những người đã nằm xuống đêm Noel 1972, bởi quả dân chủ, trái tự do của Mỹ./.


Môi trường ST.