Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

“BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA” LÀ QUAN ĐIỂM KHOA HỌC CỦA ĐẢNG!

     Quan điểm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đã trở thành tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, là thượng sách giữ nước trong mọi thời đại. Tuy nhiên, có ý kiến bình luận rằng, đây chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế". Phía sau cách lập luận này là âm mưu xuyên tạc, chống phá Đảng nên cần phải vạch trần, bác bỏ bằng các luận cứ khoa học và thực tiễn.

Với tư duy lý luận nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách giữ nước của ông cha ta thành quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Quan điểm, phương châm này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân và các nhà nghiên cứu chiến lược trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, trang mạng hải ngoại, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế; làm lãng phí tài nguyên quốc gia, khi mà các nguồn lực này có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo”. Mục đích sâu xa của họ nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước nói chung và sức mạnh quốc phòng của Việt Nam nói riêng, từ đó lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực.

Để làm sáng tỏ tính chân lý trong quan điểm chỉ đạo, phương châm chỉ đạo của Đảng và phản bác những luận điệu sai trái này, cần dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa kinh nghiệm quý báu trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trước hiểm họa ngoại xâm, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm khẳng định “chủ quyền bất khả xâm phạm”, hình thành tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước”, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Chân lý đó đã trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong mọi điều kiện hoàn cảnh, các triều đại tiến bộ luôn hướng đến mục tiêu “Quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”, xây dựng đất nước giàu về kinh tế, mạnh về quân sự, giữ mối quan hệ bang giao hòa hảo và bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc. Để thực hiện được mục tiêu đó, các vương triều đã ban hành nhiều chính sách hợp lòng dân như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “tận dân vi binh”, “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”, “bách tính giai vi binh”... kết hợp các đối sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, không chấp nhận những điều kiện bất lợi cho quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn lịch sử dân tộc đã chứng minh, thời đại, triều đại nào biết chăm lo cho dân, yên dân, vua tôi đồng lòng, luôn chủ động phòng bị giữ nước thì quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, kẻ thù ngoại bang không dám nhòm ngó, xâm phạm; ngược lại, nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán, chủ quan, lơ là việc giữ nước từ lúc chưa nguy, thì giang sơn xã tắc sẽ rơi vào loạn lạc, dân chúng nghèo đói, nguy cơ bị ngoại bang thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu.

Thứ hai, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta.

Các nhà kinh điển mác xít, đặc biệt là V.I.Lênin-lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, đã đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi, Lênin nhấn mạnh: Giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, vì giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; chúng sẽ tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã bị mất. Vì vậy, Lênin yêu cầu cấp thiết: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”.

Thấm nhuần quan điểm của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”, “sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”; đồng thời, Người khẳng định quyết tâm: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.

Quán triệt, vận dụng sáng tạo truyền thống giữ nước của dân tộc và quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước hình thành, bổ sung, phát triển lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa phù hợp với tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử.

Thứ ba, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ vị trí địa chính trị của nước ta và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Việt Nam là quốc gia nằm ở vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương; là cầu nối trên đất liền giữa phần lớn nhất của lục địa Á-Âu với khu vực Đông Nam Á. Điều kiện địa lý tự nhiên đã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có vị trí địa chính trị quan trọng bậc nhất trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng chính là một trong những đáp án để lý giải vì sao lịch sử dân tộc Việt Nam được ví như những "trang binh sử", luôn phải đối đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của nhiều nước sừng sỏ trên thế giới; lý giải vì sao Việt Nam luôn là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc và các tổ chức liên minh lớn trên thế giới.

Trong khi đó, nhiều thập kỷ qua và hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược. Âm mưu, thủ đoạn của chúng đối với Việt Nam là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo khác.

Để kịp thời đối phó với sự thay đổi trong chiến lược, phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” phù hợp với từng giai đoạn và phải được thực hiện một cách chủ động, tích cực nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.

Thứ tư, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ thực tiễn cách mạng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, ngay trong Chánh cương vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu của cách mạng: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; chủ động đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”. Đúng như dự báo, tiếp sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị để chiến đấu và giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và sau đó là bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng luôn xác định phải nâng cao cảnh giác. Trong Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” chính thức được sử dụng. Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới tiếp tục xác định: “Bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; chủ động phòng ngừa; ngăn chặn nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Từ những cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn nêu trên, có thể thấy luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” thực chất là sự hướng lái những người hiểu biết hạn chế, thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin nên đã ngộ nhận, ảo tưởng, chủ quan, không thấy được những nguy cơ, thách thức đe dọa đến vận mệnh của Tổ quốc, sự tồn vong của chế độ; không nhận diện rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong kỷ nguyên mới, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó cần tập trung nâng cao chất lượng công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao; triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh tổng hợp cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt và thực hiện hiệu quả quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta sẽ trực tiếp góp phần tạo thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước để ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải nguy cơ, xử lý thắng lợi các tình huống, luôn bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
QV-ST!

XUNG ĐỘT GIÁ TRỊ VÀ BẢN LĨNH NHÀ VĂN!

     Xung đột giá trị trong văn hóa là chuyện không mới nhưng chưa bao giờ cũ. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam (gọi tắt là Nghị quyết 80) tiếp tục nhấn mạnh vấn đề này, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới rất cao về vai trò, vị thế, bản lĩnh của văn nghệ sĩ trong tư duy, định hướng sáng tạo...

Linh hồn văn hóa và những rung chấn xung đột

Nhận định về những xung đột giá trị văn hóa trong thời đại số, Nghị quyết 80 chỉ rõ: “Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới...”.

Xung đột giá trị trong văn hóa là sự va chạm, mâu thuẫn giữa các quan điểm tư tưởng, tư duy, chuẩn mực, phong tục và quan niệm sống, khuynh hướng sáng tạo... Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới và sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, phản cảm. Từ sự tác động của môi trường xã hội dẫn đến những xung khắc, khác biệt về tư tưởng, tư duy trong tiếp nhận, xử lý thông tin cũng như mục tiêu, thái độ ứng xử của các chủ thể văn hóa.

Văn học là linh hồn của văn hóa. Khi những xung đột giá trị xảy ra (có thể dẫn đến bùng phát) trong lĩnh vực này sẽ tạo ra những rung chấn, để lại dư âm, hệ lụy dai dẳng cho môi trường văn hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Những tranh cãi gay gắt trên không gian mạng xung quanh một số tác phẩm văn học thời gian gần đây là những dẫn chứng điển hình. Trong sự xung đột giá trị ấy, chúng ta thấy dư luận phân rõ hai khuynh hướng. Một bộ phận nhà văn và công chúng văn học ra sức cổ xúy, tôn vinh, đề cao các giá trị theo hướng sính ngoại. Họ vin vào cớ đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, cần căn cứ vào những đánh giá của dư luận quốc tế từ bên ngoài để định giá trị tác phẩm. Sự sính ngoại này vô hình trung coi nhẹ yếu tố văn hóa nền tảng, bản sắc dân tộc. Đặc biệt, không ít giải thưởng mang danh “quốc tế”, nhưng thực chất là của các tổ chức có tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam. Ở đó, họ chỉ lợi dụng văn học để thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, chống phá đất nước. Ở chiều ngược lại, một bộ phận lại phê phán tác phẩm văn học theo kiểu phủ nhận sạch trơn, coi sự ảnh hưởng từ bên ngoài là “rác” văn hóa, cần loại bỏ.

Xét một cách công bằng, khách quan, cả hai khuynh hướng trên đều mang tính cực đoan. Trong một số trường hợp, nó đẩy xung đột giá trị lên mức phản kháng, đối đầu, gây hệ lụy cho môi trường văn hóa và nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong thời đại các nền tảng số bùng nổ mạnh mẽ, sự xung đột giá trị trong văn học nếu không được hóa giải kịp thời tất yếu sẽ dẫn đến những rung chấn văn hóa. Và đây chính là mảnh đất cho những mầm mống tư tưởng lệch lạc nảy sinh, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tạo môi trường để các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhìn lại một cách hệ thống, bằng phương pháp tư duy biện chứng, chúng ta thấy, Nghị quyết 80 là sự kế thừa, phát triển, cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng trong tình hình mới. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 và nay là Nghị quyết 80, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là chiến lược cốt lõi, lâu dài. Đất nước càng hội nhập quốc tế sâu rộng càng phải coi trọng yếu tố nền tảng. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” trong môi trường hội nhập. Mọi hành vi coi nhẹ, chối bỏ, phủ nhận bản sắc dân tộc đều là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần được nhận diện và đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. 

Như vậy, để giải quyết xung đột giá trị thì mọi tranh luận đều phải dựa vào, bám vào chính hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Đây chính là vị “trọng tài” công minh, công bằng nhất. Quy luật của văn hóa là vận động, giao thoa, tiếp biến. Trong tiến trình ấy, văn hóa có cơ chế tự đào thải những thứ phi văn hóa, phản văn hóa và sàng lọc, chưng cất những giá trị tiến bộ, đậm đà bản sắc. Lịch sử văn học cho thấy, những tác phẩm đỉnh cao, có sức sống vượt thời gian, xuyên biên giới, đều được xây dựng từ chính nền tảng văn hóa dân tộc.

Kỳ vọng của Đảng và bản lĩnh nhà văn

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá, trong đó có sứ mệnh vẻ vang của văn học. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định những mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2031) và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Mục tiêu này gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và vị thế thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Nghị quyết 80 đề ra các mục tiêu, giải pháp và định hướng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó Đảng ta đặt niềm tin và kỳ vọng lớn vào nền văn học và đội ngũ nhà văn. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó là tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá...

Cụ thể hóa định hướng của Đảng về phát triển văn học Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, quy định về khuyến khích phát triển văn học. Những chuyển động mạnh mẽ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn học cho thấy sự kỳ vọng rất lớn của đất nước đối với đội ngũ nhà văn Việt Nam đương đại.

Nhất quán tinh thần lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, yêu cầu đặt ra rất cao đối với nền văn học đương đại và đội ngũ nhà văn Việt Nam không chỉ là lao động sáng tạo mà còn ở ý thức chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp. Trong môi trường hội nhập, xung đột giá trị là hiện tượng bình thường của đời sống xã hội. Tuy nhiên, khi xung đột giá trị trong văn học khởi nguồn từ lập trường tư tưởng, ý thức chính trị của nhà văn thì hiện tượng bình thường rất dễ biến thành bất thường và diễn biến phức tạp.

Tại cuộc tọa đàm về văn học ở TP Hồ Chí Minh vừa qua, có một nhà văn nêu ý kiến: Con đường của văn học là xuyên biên giới. Muốn có tác phẩm đỉnh cao thì nhà văn phải được tự do sáng tạo, hoàn toàn không chịu bất cứ sự định hướng nào. Chỉ khi thoát khỏi mọi rào cản tư tưởng, nhà văn mới có thể tạo ra tác phẩm mang tầm thời đại... Thực ra, những quan điểm này không mới. Trong 40 năm đất nước đổi mới, trên các diễn đàn văn học, đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp những ý kiến tương tự. Thậm chí, không ít tác giả đã công khai đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đòi được thành lập hội nọ, nhóm kia hoạt động độc lập, đứng ngoài khuôn khổ pháp luật và hệ sinh thái văn học cách mạng. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo thì đó chỉ là một kiểu ngụy biện. Chính vì vậy, sau khi nhà văn nọ nêu ý kiến, đã có ngay một số nhà văn phản biện, khẳng định rõ thực tế không thể có một nền văn học nào tồn tại và phát triển tự do kiểu vô khuynh hướng, vô lập trường, vô tổ chức. Điều đáng bàn là nếu những quan điểm lệch lạc ấy không được góp ý phê bình và người nêu quan điểm không có thái độ cầu thị, tiếp thu thì chính ở đó sẽ tạo ra sự xung đột giá trị. Xung đột ngay từ trong tư duy và ý đồ sáng tạo của nhà văn.

Trong bối cảnh mới, Đảng ta coi trọng phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, "sức đề kháng" trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước. Bản lĩnh nhà văn thể hiện trước hết ở tư duy, mục đích lao động sáng tạo. Tác phẩm văn học, dù theo phong cách nào, trường phái nào, trào lưu nào, khuynh hướng nào... cũng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mọi khám phá, đổi mới, đột phá trong ý tưởng và hành trình sáng tạo đều phải đi từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có được điều đó, chính nhà văn là chủ thể tự do trong hệ sinh thái sáng tạo, cống hiến. Và trong hệ sinh thái ấy, những xung Xung đột giá trị trong văn hóa là chuyện không mới nhưng chưa bao giờ cũ. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam (gọi tắt là Nghị quyết 80) tiếp tục nhấn mạnh vấn đề này, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới rất cao về vai trò, vị thế, bản lĩnh của văn nghệ sĩ trong tư duy, định hướng sáng tạo...

Linh hồn văn hóa và những rung chấn xung đột

Nhận định về những xung đột giá trị văn hóa trong thời đại số, Nghị quyết 80 chỉ rõ: “Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới...”.

Xung đột giá trị trong văn hóa là sự va chạm, mâu thuẫn giữa các quan điểm tư tưởng, tư duy, chuẩn mực, phong tục và quan niệm sống, khuynh hướng sáng tạo... Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới và sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, phản cảm. Từ sự tác động của môi trường xã hội dẫn đến những xung khắc, khác biệt về tư tưởng, tư duy trong tiếp nhận, xử lý thông tin cũng như mục tiêu, thái độ ứng xử của các chủ thể văn hóa.

Văn học là linh hồn của văn hóa. Khi những xung đột giá trị xảy ra (có thể dẫn đến bùng phát) trong lĩnh vực này sẽ tạo ra những rung chấn, để lại dư âm, hệ lụy dai dẳng cho môi trường văn hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Những tranh cãi gay gắt trên không gian mạng xung quanh một số tác phẩm văn học thời gian gần đây là những dẫn chứng điển hình. Trong sự xung đột giá trị ấy, chúng ta thấy dư luận phân rõ hai khuynh hướng. Một bộ phận nhà văn và công chúng văn học ra sức cổ xúy, tôn vinh, đề cao các giá trị theo hướng sính ngoại. Họ vin vào cớ đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, cần căn cứ vào những đánh giá của dư luận quốc tế từ bên ngoài để định giá trị tác phẩm. Sự sính ngoại này vô hình trung coi nhẹ yếu tố văn hóa nền tảng, bản sắc dân tộc. Đặc biệt, không ít giải thưởng mang danh “quốc tế”, nhưng thực chất là của các tổ chức có tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam. Ở đó, họ chỉ lợi dụng văn học để thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, chống phá đất nước. Ở chiều ngược lại, một bộ phận lại phê phán tác phẩm văn học theo kiểu phủ nhận sạch trơn, coi sự ảnh hưởng từ bên ngoài là “rác” văn hóa, cần loại bỏ.

Xét một cách công bằng, khách quan, cả hai khuynh hướng trên đều mang tính cực đoan. Trong một số trường hợp, nó đẩy xung đột giá trị lên mức phản kháng, đối đầu, gây hệ lụy cho môi trường văn hóa và nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong thời đại các nền tảng số bùng nổ mạnh mẽ, sự xung đột giá trị trong văn học nếu không được hóa giải kịp thời tất yếu sẽ dẫn đến những rung chấn văn hóa. Và đây chính là mảnh đất cho những mầm mống tư tưởng lệch lạc nảy sinh, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tạo môi trường để các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhìn lại một cách hệ thống, bằng phương pháp tư duy biện chứng, chúng ta thấy, Nghị quyết 80 là sự kế thừa, phát triển, cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng trong tình hình mới. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 và nay là Nghị quyết 80, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là chiến lược cốt lõi, lâu dài. Đất nước càng hội nhập quốc tế sâu rộng càng phải coi trọng yếu tố nền tảng. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” trong môi trường hội nhập. Mọi hành vi coi nhẹ, chối bỏ, phủ nhận bản sắc dân tộc đều là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần được nhận diện và đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. 

Như vậy, để giải quyết xung đột giá trị thì mọi tranh luận đều phải dựa vào, bám vào chính hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Đây chính là vị “trọng tài” công minh, công bằng nhất. Quy luật của văn hóa là vận động, giao thoa, tiếp biến. Trong tiến trình ấy, văn hóa có cơ chế tự đào thải những thứ phi văn hóa, phản văn hóa và sàng lọc, chưng cất những giá trị tiến bộ, đậm đà bản sắc. Lịch sử văn học cho thấy, những tác phẩm đỉnh cao, có sức sống vượt thời gian, xuyên biên giới, đều được xây dựng từ chính nền tảng văn hóa dân tộc.

Kỳ vọng của Đảng và bản lĩnh nhà văn

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá, trong đó có sứ mệnh vẻ vang của văn học. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định những mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2031) và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Mục tiêu này gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và vị thế thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Nghị quyết 80 đề ra các mục tiêu, giải pháp và định hướng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó Đảng ta đặt niềm tin và kỳ vọng lớn vào nền văn học và đội ngũ nhà văn. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó là tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá...

Cụ thể hóa định hướng của Đảng về phát triển văn học Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, quy định về khuyến khích phát triển văn học. Những chuyển động mạnh mẽ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn học cho thấy sự kỳ vọng rất lớn của đất nước đối với đội ngũ nhà văn Việt Nam đương đại.

Nhất quán tinh thần lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, yêu cầu đặt ra rất cao đối với nền văn học đương đại và đội ngũ nhà văn Việt Nam không chỉ là lao động sáng tạo mà còn ở ý thức chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp. Trong môi trường hội nhập, xung đột giá trị là hiện tượng bình thường của đời sống xã hội. Tuy nhiên, khi xung đột giá trị trong văn học khởi nguồn từ lập trường tư tưởng, ý thức chính trị của nhà văn thì hiện tượng bình thường rất dễ biến thành bất thường và diễn biến phức tạp.

Tại cuộc tọa đàm về văn học ở TP Hồ Chí Minh vừa qua, có một nhà văn nêu ý kiến: Con đường của văn học là xuyên biên giới. Muốn có tác phẩm đỉnh cao thì nhà văn phải được tự do sáng tạo, hoàn toàn không chịu bất cứ sự định hướng nào. Chỉ khi thoát khỏi mọi rào cản tư tưởng, nhà văn mới có thể tạo ra tác phẩm mang tầm thời đại... Thực ra, những quan điểm này không mới. Trong 40 năm đất nước đổi mới, trên các diễn đàn văn học, đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp những ý kiến  tương tự. Thậm chí, không ít tác giả đã công khai đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đòi được thành lập hội nọ, nhóm kia hoạt động độc lập, đứng ngoài khuôn khổ pháp luật và hệ sinh thái văn học cách mạng. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo thì đó chỉ là một kiểu ngụy biện. Chính vì vậy, sau khi nhà văn nọ nêu ý kiến, đã có ngay một số nhà văn phản biện, khẳng định rõ thực tế không thể có một nền văn học nào tồn tại và phát triển tự do kiểu vô khuynh hướng, vô lập trường, vô tổ chức. Điều đáng bàn là nếu những quan điểm lệch lạc ấy không được góp ý phê bình và người nêu quan điểm không có thái độ cầu thị, tiếp thu thì chính ở đó sẽ tạo ra sự xung đột giá trị. Xung đột ngay từ trong tư duy và ý đồ sáng tạo của nhà văn.

Trong bối cảnh mới, Đảng ta coi trọng phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, "sức đề kháng" trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước. Bản lĩnh nhà văn thể hiện trước hết ở tư duy, mục đích lao động sáng tạo. Tác phẩm văn học, dù theo phong cách nào, trường phái nào, trào lưu nào, khuynh hướng nào... cũng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mọi khám phá, đổi mới, đột phá trong ý tưởng và hành trình sáng tạo đều phải đi từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có được điều đó, chính nhà văn là chủ thể tự do trong hệ sinh thái sáng tạo, cống hiến. Và trong hệ sinh thái ấy, những xung đột giá trị (nếu có) sẽ được hóa giải một cách văn hóa, văn minh và rất văn học......
QV-ST!

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ BẢN CHẤT CỦA “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” ĐỂ KHÔNG “MẮC BẪY” SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

     Nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị.

Bản chất của “tam quyền phân lập” và vấn đề chân lý khoa học xã hội

Trong dòng chảy của tư tưởng chính trị, học thuyết “tam quyền phân lập” gắn liền với tên tuổi các nhà khai sáng, nổi lên như một nguyên tắc tổ chức quyền lực được nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa áp dụng.

Lịch sử tư tưởng chính trị đã ghi nhận người có công đầu tiên trong việc hệ thống hóa và phát triển học thuyết phân chia quyền lực thành mô hình “tam quyền phân lập” một cách đầy đủ nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (năm 1748). Trong đó, điểm cốt yếu của học thuyết “tam quyền phân lập” không chỉ là sự phân chia về mặt chức năng mà còn là sự độc lập tương đối của 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp; cùng với sự cần thiết của cơ chế kiểm soát và cân bằng. Mỗi nhánh có những quyền hạn nhất định để giám sát, kiềm chế hoặc tác động lẫn nhau, ngăn không cho bất kỳ nhánh nào có thể lấn át các nhánh còn lại. Nghiên cứu trên được coi là một trong những nền tảng lý luận về nhà nước pháp quyền gắn liền với việc bảo vệ chế độ dân chủ và các quyền tự do cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản.

Tuy nhiên, trong các xã hội tư sản, việc áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” cũng có nhiều biến thể và không hoàn toàn giống với mô hình lý tưởng của Montesquieu. Ví dụ, mô hình nghị viện phổ biến ở nhiều nước châu Âu và khối thịnh vượng chung lại thể hiện sự dung hợp giữa lập pháp và hành pháp, khi người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) và nội các thường là thành viên của cơ quan lập pháp và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Điều này cho thấy, ngay trong khuôn khổ nhà nước tư sản, “tam quyền phân lập” cũng không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, bất biến mà có sự điều chỉnh, thích nghi với điều kiện lịch sử và cấu trúc chính trị cụ thể của từng quốc gia.

Trước khi khẳng định “tam quyền phân lập” có phải là “chân lý khoa học xã hội” hay không, chúng ta cần có sự so sánh giữa chân lý trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Đối với khoa học tự nhiên (toán học, vật lý, hóa học, sinh học...), “chân lý” thường được hiểu là những quy luật khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người, có tính phổ quát (đúng trong mọi không gian và thời gian xác định), có tính lặp lại và có thể kiểm chứng một cách chính xác bằng thực nghiệm (ví dụ: Định luật hấp dẫn, định luật bảo toàn năng lượng).

Còn đối với lĩnh vực khoa học xã hội là một tập hợp các ngành khoa học nghiên cứu về con người trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội, hành vi con người, cấu trúc xã hội, các thể chế và sự phát triển của xã hội. Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội vô cùng phức tạp, đa dạng, mang tính lịch sử cụ thể và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm lý...).

Như vậy, trong khoa học xã hội, việc đạt đến chân lý theo nghĩa tuyệt đối như khoa học tự nhiên là cực kỳ khó khăn, thậm chí là không thể đối với nhiều vấn đề. Hay nói cách khác, khoa học xã hội thường đưa ra các lý thuyết và mô hình để giải thích và đôi khi dự báo về xã hội, chứ ít khi tìm kiếm các định luật phổ quát, bất biến như khoa học tự nhiên.

Tính đúng đắn của một học thuyết khoa học xã hội thường được đánh giá dựa trên khả năng giải thích, tính nhất quán nội tại, khả năng dự báo (nếu có) và sự phù hợp với bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh nghiên cứu của nó, chứ không phải là tính tuyệt đối phổ quát. Ngay cả trong các lý thuyết khoa học xã hội không thuộc hệ thống lý luận Mác-Lênin, “tam quyền phân lập” cũng không được coi là một “chân lý” theo nghĩa một quy luật khách quan, bất biến.

“Tam quyền phân lập” không phải chân lý khoa học xã hội

Xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản. Trong khuôn khổ phân tích này, “tam quyền phân lập” được nhìn nhận không phải là một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mang tính phổ quát, mà là một hình thức tổ chức quyền lực đặc thù của nhà nước tư sản. Trong đó, “tam quyền phân lập” là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, là cơ chế để điều hòa mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp thống trị, nó tạo ra ảo tưởng về một nhà nước trung lập, dân chủ, đứng trên giai cấp. 

Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, sự phát triển của nhà nước gắn liền với sự thay thế các hình thái kinh tế-xã hội và sự thay đổi về bản chất giai cấp của quyền lực nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất là chuyên chính vô sản (nhà nước của đại đa số nhân dân lao động), có nguyên tắc tổ chức khác về căn bản so với nhà nước tư sản. Do đó, “tam quyền phân lập” không thể là một quy luật phổ quát cho mọi kiểu nhà nước trong lịch sử.

Như vậy, “tam quyền phân lập” không phải là chân lý khoa học xã hội mà là một sản phẩm lịch sử cụ thể của chế độ tư bản chủ nghĩa, là một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Phân tích “tam quyền phân lập” là một phần của việc phân tích bản chất nhà nước trong xã hội có giai cấp, chứ không phải là việc thừa nhận nó là một nguyên lý tổ chức nhà nước chung cho mọi thời đại và mọi xã hội.

Nhận thức thấu đáo về sự vận dụng quan điểm “tam quyền phân lập” ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức và vận hành dựa trên những nguyên tắc căn bản khác biệt so với mô hình “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, khẳng định: “Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của nhân dân”.

Nguyên tắc tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quyền lực nhà nước thống nhất, thuộc về nhân dân. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quyền lực nhà nước thống nhất đó có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động nhưng đồng thời chịu sự kiểm soát của nhân dân (thông qua các cơ chế giám sát, phản biện xã hội) và đặc biệt là chịu sự giám sát của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân).  

Cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang tính khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mô hình này thể hiện bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là sự cụ thể hóa lý luận Mác-Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản trong điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Theo lý luận Mác-Lênin, giai đoạn quá độ là giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với nhiều khó khăn, phức tạp. Cần có một nhà nước mạnh mẽ, thống nhất để tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Mô hình tổ chức quyền lực thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế-xã hội một cách đồng bộ, hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có việc tấn công vào nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ chính trị. Việc khẳng định và kiên trì nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, chống lại quan điểm đòi “tam quyền phân lập” theo kiểu tư sản, là sự tự bảo vệ cần thiết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc khẳng định tính đúng đắn và phù hợp không có nghĩa là mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã hoàn thiện. Đảng ta chỉ rõ, trong những năm tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị.

Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước đi đôi với nâng cao năng lực thực thi; xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ðẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Như vậy, có thể khẳng định rằng học thuyết “tam quyền phân lập” không phải là một chân lý khoa học xã hội mang tính phổ quát, bất biến cho mọi thời đại và mọi xã hội. Nó là một sản phẩm lịch sử cụ thể, một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản ra đời trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Dù có vai trò nhất định trong việc kiểm soát quyền lực trong khuôn khổ chế độ tư bản và là một đối tượng nghiên cứu quan trọng, bản chất giai cấp của nó khiến nó không thể là quy luật chung cho sự phát triển của mọi kiểu nhà nước.

Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức dựa trên nguyên tắc khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Vì vậy, nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị./.
Ảnh: Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng, sáng 20-1-2026.
QV-ST!

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: AI LÀ NGƯỜI ĐỀ XUẤT ĐẶT TÊN CHO CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ?

     Giữa thời khắc sục sôi của mùa Xuân 1975, khi bánh xe lịch sử đang chuẩn bị lăn qua những mét đường cuối cùng để tiến vào trung tâm Sài Gòn - Gia Định, có một quyết định đặc biệt đã ra đời, trở thành biểu tượng không thể tách rời của Đại thắng 30/4. Đó là việc đặt tên Chiến dịch Hồ Chí Minh như một lời hẹn ước thiêng liêng với vị lãnh tụ đã dành trọn đời mình cho độc lập, thống nhất.

Nhiều năm sau, trong buổi gặp mặt các nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975 được phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam (2002), Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ người đầu tiên đề xuất ý tưởng mang tính biểu tượng ấy là đồng chí Vũ Lăng, Tư lệnh Quân đoàn 3.

Ngày 12/4/1975, giữa bộn bề chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược, ý tưởng của Vũ Lăng được Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhất trí cao. Phải đặt tên chiến dịch quyết định bằng chính tên của Bác - người mà toàn dân tộc đang hướng về trong khát vọng độc lập trọn vẹn. Hai ngày sau, ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn đề xuất. 

Trong hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại không khí khẩn trương và trang trọng của thời điểm đó. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch đồng lòng điện ra Trung ương, tha thiết đề nghị lấy tên Bác Hồ cho trận đánh quyết định. Và rồi, trong bức điện số 37 TK, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, thay mặt Bộ Chính trị, đã đáp lời bằng một câu ngắn gọn nhưng đầy sức nặng lịch sử: “Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Khoảnh khắc ấy là sự thống nhất về quân sự, sự hòa quyện giữa ý chí của Bộ Chính trị, khát vọng của quân dân cả nước và lòng tôn kính vô hạn dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên gọi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” từ đó trở thành lời thề danh dự, là động lực tinh thần để các quân đoàn thần tốc tiến vào Sài Gòn, mở ra thời khắc lịch sử 11 giờ 30 phút ngày 30/4.

Và người đã gieo mầm cho biểu tượng bất tử ấy, không ai khác, chính là Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng sắc sảo, quyết đoán, để lại dấu ấn sâu đậm trong một trong những quyết định thiêng liêng nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIA ĐÌNH DUY NHẤT Ở VIỆT NAM CÓ BA ANH EM RUỘT ĐƯỢC TRAO TẶNG HUÂN CHƯƠNG SAO VÀNG!

     Giữa dòng chảy hào hùng của lịch sử Việt Nam hiện đại, có một gia đình đặc biệt mà tên tuổi của họ đã trở thành biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và sự tận hiến trọn đời cho Tổ quốc. Đó là gia đình ba anh em ruột Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện và Mai Chí Thọ, quê ở thôn Dịch Lễ, xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình). Đây cũng là gia đình duy nhất trên cả nước mà cả ba anh em đều được trao tặng Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước.

Ba anh em không chỉ là những nhân vật quan trọng của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX mà còn là những huyền thoại sống, mỗi người một chiến trường, một trọng trách nhưng cùng hội tụ ở điểm chung là tuyệt đối trung thành với cách mạng và kiên định đưa đất nước đến độc lập, thống nhất.

Người anh cả Lê Đức Thọ (tên thật Phan Đình Khải) là nhà lãnh đạo kiệt xuất, từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Nhưng dấu ấn khiến tên ông vang xa toàn thế giới chính là vai trò cố vấn đặc biệt đàm phán tại Hội nghị Paris. Trí tuệ sắc bén, bản lĩnh thép và sự kiên trì đến mức phi thường đã giúp ông buộc đối phương phải ký vào Hiệp định Paris 1973 buộc Mỹ rút quân, tạo thời cơ để dân tộc đi đến đại thắng 1975. Ông cũng là người châu Á đầu tiên được trao Nobel Hòa bình nhưng đã thẳng thắn từ chối vì “hòa bình chưa thực sự trọn vẹn khi miền Nam chưa hoàn toàn giải phóng”. Đó là khí phách của một nhà cách mạng thực sự vì dân vì nước.

Người em thứ hai, Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đinh Đức Thiện (tên thật Phan Đình Dinh), lại để lại dấu ấn trên mặt trận hậu cần chiến lược. Ông được coi là “kiến trúc sư trưởng” của hệ thống đường ống xăng dầu Trường Sơn, kỳ tích hậu cần độc nhất vô nhị, góp phần quyết định vào khả năng cơ động và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ vùng rừng núi hiểm trở, giữa mưa bom bão đạn, ông và lực lượng hậu cần đã tạo nên tuyến vận tải chiến lược mà ngay cả chuyên gia quân sự nước ngoài cũng thừa nhận là kỳ tích hiếm có trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Người em út, Mai Chí Thọ (tên thật Phan Đình Đống) là Đại tướng đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông là người đặt nền móng cho nhiều chiến lược an ninh - trật tự thời kỳ đầu đổi mới; đồng thời là một trong những người góp công lớn trong việc giữ vững an ninh chính trị ở miền Nam ngay sau ngày đất nước thống nhất. Sự quyết đoán, gần dân và dám chịu trách nhiệm khiến ông trở thành một trong những vị tướng công an được nhân dân đặc biệt kính trọng.
Ba con người, ba tính cách,ba chiến trường nhưng tựu trung lại, họ chính là ba ngọn đuốc rực sáng trong cùng một gia đình, góp phần giúp dân tộc ta vượt qua những thời khắc cam go nhất. Việc cả ba anh em đều được trao tặng Huân chương Sao Vàng không chỉ là vinh dự của riêng dòng họ Phan Đình mà còn là niềm tự hào của cả đất nước./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐẠN CỦA TA ĐỦ BẮN ĐỂ NÓ SỢ ĐẾN BA ĐỜI!

     Đầu tháng 4 năm 1975, việc liên lạc bằng điện thoại giữa cơ quan tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh, của Bộ chỉ huy chiến dịch với Bộ Tổng tham mưu ngoài Hà Nội đã được thông suốt. Đến lúc này, hệ thống thông tin và cơ yếu ở đây ngày càng làm việc đều hơn, tốt hơn với Hà Nội. 

Cán bộ hậu cần luôn đi trước một bước đến lúc này có thể vui vẻ báo cáo: “Mọi việc chuẩn bị của hậu cần đã xong”. Đồng chí Phạm Hùng - Chính uỷ Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn - Gia Định (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh) hỏi về tình hình đạn dược của ta chuẩn bị đến đâu rồi? Đồng chí Đinh Đức Thiện - Phó Tư lệnh phụ trách hậu cần của chiến dịch đưa ra một bản thống kê với câu nói: “Xin báo cáo là đạn của ta đủ bắn để nó sợ đến ba đời!”.

Nhưng cũng thật may mắn, số đạn “để nó sợ đến ba đời” đó, chúng ta không phải dùng đến, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi nhanh chóng, hạn chế tối đa thương vong./.
Trích “Trận đánh ba mươi năm”, Nxb Quân đội nhân dân.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGƯỜI BÍ MẬT GIÚP BỘ CHÍNH TRỊ XÁC ĐỊNH MỸ KHÔNG CAN THIỆP KHI TA GIẢI PHÓNG SÀI GÒN!

     Để Bộ Chính trị đưa ra quyết định tối quan trọng về Tổng tiến công giải phóng miền Nam, nhiều nguồn tin chiến lược đã được phân tích, kiểm chứng. Song giữa muôn ngả thông tin ấy, có một “mũi sáng” đặc biệt đến từ một cán bộ tình báo âm thầm nằm sâu trong trung tâm đầu não của địch. Đó là Nguyễn Văn Minh, mật danh H3, nhân viên văn thư tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Hơn 10 năm làm thư ký đánh máy, nhiều công văn được đóng dấu “chỉ 5 người biết” và trong số ấy, ông là người duy nhất không thuộc hàng tướng tá nhưng vẫn được đặt lên bàn. Riêng một đặc quyền đã nói lên tất cả: H3 là thượng sĩ duy nhất được phép vào thẳng phòng Tổng tham mưu trưởng mà không cần xin phép.

Chính người thượng sĩ “vô danh” ấy đã đọc được bức điện tuyệt mật của Tổng thống Gerald Ford gửi Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời sao gửi Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Và cũng chính ông là người nhanh chóng chuyển nội dung ấy về Tổng hành dinh miền Nam.

Bức điện ấy chứa đựng hai thông điệp then chốt, hai chiếc chìa khóa quyết định thời khắc lịch sử: “Mỹ coi chiến tranh là đã kết thúc”; “Mỹ sẽ không đưa quân trở lại, cũng không chi viện bằng lực lượng chiến đấu khi Sài Gòn bị tấn công”. Với Bộ Chính trị, đó là mảnh ghép cuối cùng để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Ít ai biết rằng điệp viên mang bí số H3 thực chất là một thanh niên Hưng Yên, sinh năm 1933, lớn lên trong gia đình thợ thủ công. Vào Sài Gòn mưu sinh, lòng yêu nước đưa ông đến với phong trào cách mạng từ khi mới 20 tuổi. Năm 1959, ông nhận nhiệm vụ thâm nhập quân đội Sài Gòn. Đến biến động 1963, giữa cuộc tranh giành quyền lực hỗn loạn, ông khéo léo chui sâu vào Bộ Tổng tham mưu với vỏ bọc nhân viên văn thư.

Từ thời Nguyễn Hữu Có đến Nguyễn Cao Kỳ rồi Cao Văn Viên, H3 đều được tin dùng. Uy tín nghề nghiệp khiến không ai ngờ rằng đằng sau vẻ ngoài mẫn cán ấy là một “máy chụp tài liệu sống”. Không được phép sao chụp, ông rèn luyện trí nhớ siêu việt: đọc, ghi, thuộc, chép lại, rồi bí mật chuyển qua lưới tình báo của Hai Kim. Các báo cáo của ông, theo đánh giá của cơ quan đầu não, đạt độ chính xác gần như tuyệt đối.

Năm 2006, tại một hội thảo quốc tế của CIA, một cựu nhân viên tình báo Mỹ phải thừa nhận: “Đúng là có một điệp viên Cộng sản trong Bộ Tổng tham mưu ngụy. Người này không cao cấp, nhưng đã gửi ra Bắc những tin tình báo chiến lược nhất”. Khi hồ sơ được giải mật, giới nghiên cứu phương Tây gọi H3 là “bí ẩn lớn nhất của tình báo Việt Nam trong thế kỷ XX”.

Ngày 30/4/1975, khi Quân giải phóng tiến vào Bộ Tổng tham mưu, H3 đã đứng ra yêu cầu nhân viên trong văn phòng niêm phong tài liệu, bảo toàn hồ sơ để bàn giao nguyên vẹn cho cách mạng.

Với nhiều chiến công và thành tích, H3 - Nguyễn Văn Minh đã được phong quân hàm Đại tá tình báo và năm 1999 được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẮT ĐẦU NGỪNG SỬ DỤNG CĂN CƯỚC CÔNG DÂN TỪ NĂM 2026, BUỘC PHẢI ĐỔI SANG CĂN CƯỚC, CÓ ĐÚNG KHÔNG?

     Hiện nay nhiều người còn dùng căn cước công dân, nhiều người đã đổi sang căn cước, vậy có phải từ 2026 sẽ không còn dùng căn cước công dân không?

Luật Căn cước đã có hiệu lực từ 7/2024 nhưng trên thực tế nhiều người còn dùng căn cước công dân. Vậy khi nào CCCD sẽ bị khai tử như Chứng minh nhân dân?

Quy định về thời gian dùng Căn cước công dân trong Luật Căn cước thế nào?

Khi luật mới ra đời thường sẽ có giai đoạn chuyển tiếp. Trong Luật Căn cước quy định về giai đoạn chuyển tiếp như sau:

1. Thẻ căn cước công dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được in trên thẻ, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Công dân khi có nhu cầu thì được cấp đổi sang thẻ căn cước.

2. Chứng minh nhân dân còn hạn sử dụng đến sau ngày 31 tháng 12 năm 2024 thì có giá trị sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2024. Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ chứng minh nhân dân, căn cước công dân được giữ nguyên giá trị sử dụng; cơ quan nhà nước không được yêu cầu công dân thay đổi, điều chỉnh thông tin về chứng minh nhân dân, căn cước công dân trong giấy tờ đã cấp.

Căn cước công dân được dùng tới khi hết hạn

3. Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ ngày 15 tháng 01 năm 2024 đến trước ngày 30 tháng 6 năm 2024 thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2024.

Như vậy căn cước công dân còn hiệu lực sẽ được dùng tới khi hết hạn không có giới hạn thời gian như Chứng minh nhân dân.

Hiện nay chưa có văn bản mới nào thay đổi điều này.

Gần đây có thêm thông tin sau sáp nhập đơn vị hành chính nên thay đổi lại Căn cước công dân vì địa chỉ thay đổi. Theo Luật điều này là không bắt buộc. Do đó thông tin đến năm 2026, bắt đầu ngừng sử dụng Căn cước công dân, buộc phải đổi sang Căn cước là không chính xác.

Những trường hợp buộc phải cấp đổi, cấp lại thẻ Căn cước

Điều 24 Luật Căn cước quy định các trường hợp cấp đổi thẻ căn cước bao gồm:

- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này (Công dân Việt Nam đã được cấp thẻ căn cước phải thực hiện thủ tục cấp đổi thẻ căn cước khi đủ 14 tuổi, 25 tuổi, 40 tuổi và 60 tuổi. Thẻ căn cước đã được cấp, cấp đổi, cấp lại trong thời hạn 02 năm trước độ tuổi cấp đổi thẻ căn cước quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị sử dụng đến tuổi cấp đổi thẻ căn cước tiếp theo)

- Thay đổi, cải chính thông tin về họ, chữ đệm, tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh;

- Thay đổi nhân dạng; bổ sung thông tin về ảnh khuôn mặt, vân tay; xác định lại giới tính hoặc chuyển đổi giới tính theo quy định của pháp luật;

- Có sai sót về thông tin in trên thẻ căn cước;

- Theo yêu cầu của người được cấp thẻ căn cước khi thông tin trên thẻ căn cước thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính;

- Xác lập lại số định danh cá nhân;

- Khi người được cấp thẻ căn cước có yêu cầu.

Các trường hợp cấp lại thẻ căn cước bao gồm:

- Bị mất thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước bị hư hỏng không sử dụng được, trừ trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này;

- Được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam.

Theo quy định tại Thông tư 73 của Bộ tài chính về lệ phí cấp, cấp đổi cấp lại Căn cước từ 2026 lệ phí tính như nộp hồ sơ trực tiếp./.
QV-ST!

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI KHÓA XVI PHẢI TRỞ THÀNH "ĐIỂM TỰA THỂ CHẾ" CỦA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

     Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI khai mạc ngày 6/4 tới sẽ tạo ra khí thế mới cho cả nhiệm kỳ: khí thế của một Quốc hội chủ động hơn trong lập pháp, sắc sảo hơn trong giám sát, bản lĩnh hơn trong quyết định các vấn đề hệ trọng của quốc gia, và gần dân hơn trong từng lựa chọn chính sách. Đó cũng chính là con đường để Quốc hội khóa XVI thực sự trở thành "điểm tựa thể chế" của khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đưa các quyết sách lớn đi vào đời sống bằng công cụ pháp lý, chính sách

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra ngay sau thành công của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang đứng trước một đòi hỏi rất rõ: phải chuyển thật nhanh từ tinh thần của các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Kết luận Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV sang năng lực tổ chức thực hiện, từ khát vọng phát triển sang thiết kế thể chế, từ quyết tâm chính trị sang hiệu quả quản trị quốc gia.

Vì thế, đây không chỉ là kỳ họp để “khởi động” nhiệm kỳ mới, mà là kỳ họp đặt nền móng cho việc thể chế hóa những mục tiêu lớn mà Đại hội XIV đã xác lập.

Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng bền vững, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực, tạo đột phá trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đổi số, xây dựng nền hành chính hiện đại, đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân. Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết 41/NQ-CP của Chính phủ đều cho thấy tinh thần rất rõ: trọng tâm của giai đoạn mới là tổ chức thực hiện, là đưa các quyết sách lớn đi vào đời sống bằng những công cụ pháp lý, chính sách và quản trị cụ thể.

Trong cấu trúc đó, vai trò của Quốc hội khóa XVI trở nên đặc biệt quan trọng. Một nghị quyết lớn của Đảng chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu lực khi được thể chế hóa đúng, kịp thời, đồng bộ và khả thi. Một khát vọng phát triển chỉ có thể đi tới đích khi được nâng đỡ bởi một hệ thống pháp luật ổn định nhưng không trì trệ, đổi mới nhưng không tùy tiện, mở đường cho phát triển nhưng đồng thời kiểm soát được rủi ro và bảo đảm công bằng. Theo nghĩa đó, Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI chính là nơi bắt đầu câu trả lời cho một câu hỏi lớn: Quốc hội sẽ đồng hành với đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới bằng phương thức nào, bằng tầm nhìn nào, và bằng chất lượng hành động ra sao?

Theo dự kiến nội dung kỳ họp, Quốc hội sẽ quyết định hàng loạt vấn đề về tổ chức, nhân sự cấp cao của bộ máy nhà nước: bầu Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ; bầu hoặc phê chuẩn nhiều chức danh quan trọng khác của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiểm toán và quốc phòng - an ninh.

Nhân sự luôn là vấn đề hệ trọng của kỳ họp đầu nhiệm kỳ. Trong bối cảnh hiện nay, bộ máy nhà nước không chỉ cần sự ổn định, mà cần năng lực kiến tạo; không chỉ cần sự kế thừa, mà cần khả năng thích ứng với những thay đổi rất nhanh của thực tiễn; không chỉ cần người đúng vị trí, mà cần những con người đủ phẩm chất, bản lĩnh, tư duy cải cách và tinh thần trách nhiệm để dẫn dắt hệ thống vượt qua những điểm nghẽn cũ, mở ra không gian phát triển mới, củng cố niềm tin xã hội. Với Quốc hội, điều đó càng rõ hơn, bởi chất lượng của bộ máy nhà nước không chỉ thể hiện ở tốc độ điều hành, mà còn ở tính minh bạch, khả năng giải trình, năng lực phối hợp quyền lực và hiệu quả phục vụ Nhân dân.

Một điểm rất đáng chú ý là ngay tại kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 8 dự án luật và 1 nghị quyết. Trong đó có những đạo luật liên quan trực tiếp đến tổ chức đời sống pháp lý và quản trị quốc gia như Luật Hộ tịch (sửa đổi), Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), cùng một số luật sửa đổi, bổ sung trong các lĩnh vực công chứng, trợ giúp pháp lý, thi đua, khen thưởng, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, việc Luật Thủ đô (sửa đổi) được đưa vào chương trình thông qua theo trình tự, thủ tục rút gọn cho thấy rất rõ yêu cầu khơi thông thể chế cho những không gian phát triển có tính đầu tàu.

Việc đặt công tác lập pháp vào trung tâm ngay từ kỳ họp thứ đầu tiên của nhiệm kỳ mới là một tín hiệu rất đáng chú ý. Điều đó cho thấy nhận thức ngày càng rõ rằng, muốn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn, thì không thể chậm trễ trong hoàn thiện luật và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Trên thực tế, nhiều hạn chế của phát triển không bắt nguồn từ việc thiếu quyết tâm, mà bắt nguồn từ sự chậm cập nhật của pháp luật, từ tính chồng chéo giữa các văn bản, từ khoảng cách giữa luật và thực tiễn, từ sự thiếu đồng bộ giữa phân cấp, phân quyền với cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực. Vì vậy, một Quốc hội mạnh trước hết phải là một Quốc hội đủ năng lực nhìn thấy sớm những bất cập thể chế, đủ dũng khí sửa những chỗ cần sửa, và đủ bản lĩnh để đặt lợi ích dài hạn của quốc gia lên trên sự an toàn của lối mòn pháp lý.

Cần nhấn mạnh thêm rằng, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra trong bối cảnh đất nước đang triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là một chuyển động lớn về tổ chức bộ máy và phương thức quản trị. Khi cấu trúc chính quyền địa phương thay đổi, thì yêu cầu đối với Quốc hội cũng thay đổi theo. Quốc hội không chỉ làm luật cho một bộ máy mới, mà còn phải giám sát việc vận hành của bộ máy đó; không chỉ quyết định phân cấp, phân quyền, mà còn phải theo dõi xem việc phân cấp có đi kèm với phân định trách nhiệm rõ ràng, với nguồn lực đủ mạnh và với cơ chế kiểm soát phù hợp hay không. Điều này đòi hỏi Quốc hội khóa XVI phải đổi mới không chỉ ở nội dung nghị sự, mà cả ở phương thức giám sát và chất lượng phản ứng chính sách.

Lựa chọn mô hình phát triển, xác lập trật tự ưu tiên của quốc gia

Bên cạnh công tác nhân sự và lập pháp, kỳ họp này còn có một nhóm nội dung có ý nghĩa chiến lược rất lớn: Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030; kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; cùng với đó là các báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nhiều nội dung giám sát khác.

Đây là phần việc có tính định hình cho cả nhiệm kỳ, thậm chí cho một chặng phát triển dài hơn. Bởi các nghị quyết 5 năm của Quốc hội thực chất là sự lựa chọn mô hình phát triển. Đó là nơi Quốc hội xác lập trật tự ưu tiên của quốc gia: nguồn lực sẽ dồn vào đâu, đầu tư công sẽ dẫn dắt sự chuyển dịch nào, tăng trưởng sẽ gắn với chất lượng sống ra sao, tài khóa và nợ công sẽ được điều hành thế nào để vừa giữ được ổn định vĩ mô, vừa tạo dư địa cho phát triển, công bằng xã hội và an sinh sẽ được đặt ở vị trí nào trong tổng thể các mục tiêu phát triển. Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước không chỉ được thể hiện qua những nội dung “lớn” về danh nghĩa, mà được thể hiện rất cụ thể ở việc Quốc hội lựa chọn tương lai phát triển của đất nước theo hướng nào.

Một Quốc hội mạnh không thể dừng ở việc thông qua các kế hoạch. Quốc hội còn phải bảo đảm rằng, mỗi kế hoạch ấy có căn cứ thực tiễn, có tính khả thi, có cơ chế giám sát thực hiện và có khả năng điều chỉnh khi bối cảnh thay đổi. Trong một thế giới còn nhiều biến động, yêu cầu này càng trở nên rõ ràng. Sức mạnh của nghị trường ngày nay không chỉ nằm ở khả năng lập pháp, mà còn ở khả năng buộc bộ máy hành động trong khuôn khổ trách nhiệm giải trình. Chính vì vậy, việc Quốc hội xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; xem xét kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri; thông qua chương trình giám sát của Quốc hội năm 2027... tại Kỳ họp thứ Nhất nhắc lại bản chất dân cử của Quốc hội: mỗi quyết định lớn tại nghị trường cuối cùng đều phải quay trở lại câu hỏi: người dân được thụ hưởng gì, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo đảm ra sao, khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn đã được rút ngắn hay chưa? Đây cũng là thước đo căn bản đối với uy tín và hiệu lực của Quốc hội khóa XVI.

Từ góc nhìn của một đại biểu Quốc hội, tôi cho rằng, điều quan trọng nhất của Kỳ họp thứ Nhất không chỉ là khởi động một nhiệm kỳ mới, mà là khởi động một tinh thần nghị trường mới. Tinh thần ấy phải là tinh thần của hành động thay cho trì hoãn; của chất lượng thay cho hình thức; của tranh luận chính sách đi vào thực chất; của giám sát đến cùng; của thể chế hóa kịp thời, đồng bộ và nhân văn. Một Quốc hội xứng đáng với niềm tin của cử tri là Quốc hội biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi chính đáng của Nhân dân vào trung tâm của mọi quyết định.

Ngày 6/4/2026, khi Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI khai mạc, đó là thời khắc mở đầu cho một nhiệm kỳ mà Quốc hội phải chứng minh vai trò kiến tạo, điều tiết và giám sát của mình trong một bối cảnh phát triển mới. Kỳ họp này sẽ tạo ra khí thế mới cho cả nhiệm kỳ: khí thế của một Quốc hội chủ động hơn trong lập pháp, sắc sảo hơn trong giám sát, bản lĩnh hơn trong quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia, và gần dân hơn trong từng lựa chọn chính sách. Đó cũng chính là con đường để Quốc hội khóa XVI thực sự trở thành điểm tựa thể chế của khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.


QV-ST!

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: TỔNG THỐNG MỸ DONALD TRUMP THỪA NHẬN MỸ XÂM LƯỢC VIỆT NAM 19 NĂM, 5 THÁNG, 29 NGÀY!

🇺🇸Tổng thống Donal Trump thừa nhận Mỹ đã tham gia cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam trong 19 năm, 5 tháng, 29 ngày.

Trong bài phát biểu về cuộc xung đột với Iran sáng nay, ông Trump có nhắc đến các cuộc chiến tranh mà Mỹ gây ra trước đó, trong đó có Việt Nam 🇻🇳

Donald Trump:
"Sự tham gia của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất kéo dài 1 năm, 7 tháng và 5 ngày.
🚨Chiến tranh thế giới thứ hai  kéo dài 3 năm, 8 tháng và 25 ngày.
🚨Chiến tranh Triều Tiên kéo dài 3 năm, 1 tháng và 2 ngày.
🚨Chiến tranh với Việt Nam kéo dài 19 năm, 5 tháng và 29 ngày.
🚨Cuộc chiến ở Iraq kéo dài 8 năm, 8 tháng và 28 ngày.
🚨Chúng ta đã tham gia chiến dịch quân sự này được 32 ngày".

Quãng thời gian 19 năm, 5 tháng, 29 ngày là trùng khớp với thời điểm Hoa Kỳ chính thức thành lập MAAG - Việt Nam vào ngày 01/11/1955 (hay còn gọi là nhóm cố vấn quân sự Hoa Kỳ ở Việt Nam), xác nhận mốc thời gian chính thức đầu tiên Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Và ngày kết thúc là ngày 30/04/1975, khi lính Hoa Kỳ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn. 

Thông thường, các đời Tổng thống Mỹ khá né tránh việc thừa nhận sự tham gia trực tiếp đầy đủ 19 năm, 5 tháng, 29 ngày trong Chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Họ thường sử dụng mốc bắt đầu đổ lục quân (08/03/1965) đến ngày lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam theo Hiệp định Paris 1973 (29/03/1973) để giảm nhẹ đi sự thất bại, cũng như để bao biện. 

🚨Với phát ngôn của Tổng thống Trump là lời xác nhận Hoa Kỳ tham gia đầy đủ từ ngày bắt đầu đến khi kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Đó có thể cho là một phát ngôn ”dũng cảm”./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CUỘC CHIẾN CỦA MỸ, ISRAEL CHỐNG IRAN KHÔNG PHẢI LÀ ĐƠN GIẢN!

     Khi mọi di biến động của quân đoàn Mẽo đều bị phơi bày dưới Mắt Thần công nghệ cao, giấc mơ thống trị đơn cực của Đầm Lầy chính thức tan vỡ.

Đại tá Douglas Macgregor vừa bóc tách một sự thật gây sốc: Ba Tư không còn là một quốc gia mù thông tin, mà đã sở hữu năng lực thị sát xuyên thấu khiến mọi kế hoạch của Lão Don trở nên phi logic và mang tính tự sát.

1. Khả năng "Nhìn xuyên thấu" biên giới 1.600 km
Bá Tư đã đạt tới trình độ giám sát Persistent Surveillance (thị sát không ngừng) mà rất ít quốc gia trên hành tinh có được.

Phạm vi bao phủ của họ không chỉ dừng lại trong nội địa mà còn quét chi tiết mọi hoạt động quân sự trong bán kính ít nhất 1.600 km bên ngoài biên giới.

Mọi hoạt động điều quân của Mẽo tại các căn cứ UAE, Qatar, Bahrain hay các nhóm tàu sân bay đang tiến vào Vịnh Oman đều nằm gọn trong lòng bàn tay của Tê-ran trước khi quân Mẽo kịp khai hỏa.

2. Liên minh vệ tinh: Mắt thần từ Nga và Trung Quốc
Mấu chốt của sự thông thái này nằm ở quyền truy cập đặc biệt của Bá Tư vào mạng lưới vệ tinh quân sự khổng lồ từ Nga và Trung Quốc.

Đây là hệ thống Intelligence Collection (thu thập tình báo tín hiệu) siêu cấp, có khả năng nghe lén các cuộc hội thoại tác chiến ngay trên mặt đất từ không gian.

Bất kỳ mệnh lệnh nào từ một cấp chỉ huy Mẽo bên bờ vịnh Ba Tư gửi cho cấp dưới đều có thể bị vệ tinh đối phương thu lại và tất toán thông tin ngay lập tức.

3. Hệ thống "Tấn công dựa trên Trinh sát" (Reconnaissance-Strike Complex)
Ba Tư đã thiết lập một mạng lưới tích hợp hoàn hảo: dữ liệu thị sát thời gian thực được kết nối trực tiếp với các hệ thống hỏa lực tên lửa đạn đạo và UAV.

Với hệ thống ISR (tình báo, giám sát, trinh sát) phủ khắp phía trên, mọi nỗ lực đổ bộ hay triển khai đặc nhiệm của Mẽo đều bị vô hiệu hóa hoàn toàn.

Bất kỳ sự di chuyển nào của lính Thủy quân lục chiến trên mặt nước hay trên không đều bị phát hiện và tiêu diệt bởi các đòn đánh chính xác tuyệt đối từ các đơn vị phân tán bên dưới.

4. Chấm tọa độ thực thời và đòn đánh tâm lý chí mạng
Năng lực này giải thích lý do tại sao các căn cứ Mẽo bị giã nát một cách chính xác đến vậy; Bá Tư biết rõ giờ nào quân Mẽo tập trung đông nhất để khai hỏa.

Ngay cả các khí tài tàng hình đắt đỏ của Lão Don cũng khó lòng che giấu vị trí trước hệ thống vệ tinh và radar đa tầng của khối liên minh đa cực.

Việc binh lính Mẽo nhận thức được đối phương đang nghe thấy mình nói đã tạo ra một áp lực tâm lý kinh khủng, dẫn đến tình trạng phản chiến và morale (nhuệ khí) chạm đáy.

Với năng lực trinh sát của Ba Tư được bảo kê bởi Nga và Trung Quốc, mọi nỗ lực xoay chuyển cục diện của Lão Don chỉ càng làm lộ rõ sự yếu thế của một đế chế đang ở buổi hoàng hôn./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: PHI PETRODOLLAR CÁC NƯỚC EU CÓ THỂ ĐI QUA EO BIỂN HORMUZ!

💥🇮🇷Iran vừa đề nghị châu Âu một thỏa thuận qua eo biển Hormuz. Chúng ta không thể tưởng tượng được là IRAN vừa gây ra điều khủng khiếp gì.

Thoạt nhìn: Iran đề nghị EU quyền quá cảnh qua eo biển Hormuz. Nghe có vẻ như một động thái ngoại giao nhỏ. Nhưng không phải vậy. Đây là một quả bom hạt nhân tài chính chết người.

🔘Eo biển Hormuz vận chuyển 20% tổng lượng dầu mỏ của thế giới
🔘Hóa đơn năng lượng của châu Âu đã tăng vọt 16,2 tỷ đô la chỉ trong 30 ngày.
🔘Khí đốt tự nhiên ở châu Âu tăng 100%. Dầu mỏ tăng 60%. Dầu diesel ở mức 200 đô la/thùng.
🔘Dự trữ đô la đã giảm từ 70% xuống còn 56,9% trong 25 năm.

 ⚠️Nếu châu Âu chấp nhận thỏa thuận này, họ sẽ thanh toán bằng euro chứ không phải đô la.
 ⚠️Chỉ cần một thỏa thuận dầu mỏ lớn không dùng đô la là đủ để chứng minh cho thế giới thấy điều đó CÓ THỂ thực hiện được.

💥Hệ thống petrodollar là hệ thống tài chính mạnh mẽ nhất từng được tạo ra. Ra đời năm 1974. Nó buộc mọi quốc gia trên Trái đất phải nắm giữ đô la chỉ để mua dầu.

‼️Đó là toàn bộ cơ sở cho sự thống trị tài chính của Mỹ. Nếu hệ thống đó sụp đổ — BRICS tăng tốc, các quốc gia vùng Vịnh xem xét lại, nhu cầu đô la sụp đổ, và Mỹ không còn có thể dễ dàng tài trợ cho khoản nợ 34 nghìn tỷ đô la của mình.

❌Thành viên hội đồng quản trị ECB Panetta đã nói điều đó vào ngày 2 tháng 4: "Ngay cả khi chiến tranh Iran kết thúc, thiệt hại đã xảy ra rồi." Họ đang cho bạn thấy một cuộc chiến về vũ khí hạt nhân và an ninh khu vực. Họ KHÔNG cho bạn thấy rằng cuộc chiến THỰC SỰ là về việc ai được in tiền tệ dự trữ của thế giới.

 → Iran phong tỏa eo biển Hormuz cho Mỹ. Mở cửa cho EU với một thỏa thuận.
 → EU, tuyệt vọng và đang bị tổn thất nặng nề, nghiêm túc xem xét chấp nhận thỏa thuận.
 → Thỏa thuận được thực hiện bằng euro hoặc nhân dân tệ. Không phải đô la.
 → Mọi quốc gia đang theo dõi — BRICS, các nước đang phát triển, các quốc gia vùng Vịnh — đều thấy điều đó xảy ra.
 → "Nếu EU có thể bỏ qua đô la, thì chúng ta cũng có thể."
 → Nhu cầu đô la giảm. Tỷ lệ dự trữ sụp đổ. Lạm phát của Mỹ tăng cao. 

🤣Nếu Mỹ mạnh mẽ đến vậy, tại sao EU lại xem xét một thỏa thuận với quốc gia mà Mỹ đang ném bom? Hoàn toàn im lặng. Đây không còn chỉ là một cuộc chiến ở Trung Đông nữa. Đây là một cuộc tấn công trực tiếp vào đồng đô la dầu mỏ. Hãy chuẩn bị sẵn sàng./.
QV-ST!

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: KHI NỮ BỘ TRƯỞNG KHIÊU VŨ CÙNG TỔNG THỐNG!

     Tiếp nối câu chuyện về sự linh hoạt của "Madam Bình", hôm nay chúng ta sẽ quay ngược thời gian về năm 1964, với một tình huống ngoại giao rất thú vị.

Lúc bấy giờ, bà Nguyễn Thị Bình nhận một nhiệm vụ rất quan trọng: Phải gặp bằng được Tổng thống Indonesia, Sukarno để vận động chính phủ nước này cho phép Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt cơ quan đại diện. Nhưng làm sao để một đại diện chưa được công nhận chính thức có thể tiếp cận vị nguyên thủ quốc gia?

Cơ hội đã đến khi bà được những người bạn quốc tế sắp xếp tham gia một buổi dạ hội có sự góp mặt của Tổng thống Sukarno. Và rồi điều bất ngờ nhất đã xảy ra: Tổng thống đích thân tiến đến vị trí của bà và nhã ý mời bà khiêu vũ để mở màn buổi tiệc!

Tình huống lúc đó quả thực ngoài dự đoán. Bà Bình hoàn toàn... không biết khiêu vũ! Từ chối thì mất cơ hội tiếp cận, mà bước ra thì nguy cơ trở thành trò cười giữa hàng trăm quan khách.

Với bản lĩnh của một người làm cách mạng, bà quyết định "đánh cược". Trong hồi ký, bà nhớ lại: "Tôi rất lo vì tôi có biết khiêu vũ đâu, nhưng nghĩ mình phải gặp cho được Tổng thống để nói lên yêu cầu của Mặt trận nên tôi lấy hết can đảm..."

Bà mỉm cười, đặt tay lên vai vị Tổng thống và bước ra sàn nhảy lộng lẫy. Trong những phút lóng ngóng bước đi đầu tiên, thay vì tập trung vào nhịp điệu, bà dồn toàn bộ trí lực để... đàm phán! Giữa những bước nhảy chuệch choạc, bà tranh thủ tự giới thiệu và trình bày trọn vẹn nguyện vọng xin phép lập cơ quan đại diện của Mặt trận.

Nhiều người hẳn sẽ tò mò: Kết quả của cuộc đàm phán chớp nhoáng ấy ra sao?

Sự chân thành và tinh thần hết lòng vì Tổ quốc của bà đã hoàn toàn thuyết phục được Tổng thống Sukarno. 

Lịch sử ngoại giao đã ghi nhận, ngay sau đó, Chính phủ Indonesia đã chính thức đồng ý để Mặt trận lập cơ quan đại diện tại thủ đô Jakarta. Lời đề nghị vội vã trên sàn khiêu vũ ngày ấy đã mở ra một bước ngoặt rất lớn trên mặt trận ngoại giao của Việt Nam!

Một nhà ngoại giao kiệt xuất, một người phụ nữ tỏa sáng giữa cuộc khiêu vũ lộng lẫy. Thế nhưng, trước khi khoác lên mình những bộ trang phục sang trọng ấy, "Madam Bình" từng có những tháng ngày lam lũ, gánh từng rổ trứng vịt, quả cà chua ra chợ bán.

👉 Bạn có hình dung được một cô gái bán hàng xén giữa chợ Sài Gòn lại có thể khiến cảnh sát ngơ ngác bằng một tràng tiếng Pháp sắc lẹm? 

Đừng bỏ lỡ câu chuyện về cô gái gánh cà chua trên CÁNH SÓNG ÂM VANG nhé./.
Theo Hồi ký: Gia đình, bạn bè và đất nước - Nguyễn Thị Bình.
QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: TÊN BÀ LÀ HOÀ BÌNH, TẠI SAO BÀ CHỈ NÓI CHUYỆN CHIẾN TRANH?

     Có một sự thật thú vị về xuất thân của Nữ Bộ trưởng Ngoại giao huyền thoại Việt Nam mà đến nay vẫn nhiều người chưa biết: Bà Nguyễn Thị Bình chính là cháu ngoại của nhà yêu nước Phan Châu Trinh.

Mang trong mình dòng máu của một sĩ phu yêu nước, con đường cách mạng của bà được rèn giũa từ những năm tháng hoạt động bí mật. Thời bấy giờ, tên thật của bà là Sa (Nguyễn Thị Châu Sa). Trong kháng chiến chống Pháp, bà mang bí danh là Yến Sa.

Phải đến tận năm 1961, khi rẽ ngang sang làm nhiệm vụ ngoại giao quốc tế, bà mới được tổ chức khuyên đổi tên thành Nguyễn Thị Bình. Lý do thật giản dị mà sâu sắc: "Bình là hòa bình, đi quốc tế dễ tranh thủ cảm tình và tên cũng dễ đọc đối với người nước ngoài".

Nhưng chính cái tên mang ý nghĩa ấy lại từng trở thành "tâm điểm" mà giới truyền thông phương Tây giăng ra để làm khó bà tại Paris.

Trong một cuộc họp báo với hàng trăm ống kính chĩa vào, một nhà báo phương Tây đã buông lời vặn vẹo đầy ẩn ý: "Tên bà là Hòa Bình, nhưng tại sao bà lại chỉ toàn nói về chiến tranh?"

Bầu không khí hội trường chùng xuống. Nhưng người phụ nữ mang cốt cách của cụ Phan Châu Trinh ấy không hề nao núng. Bà nở một nụ cười điềm tĩnh, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào người đặt câu hỏi và đanh thép đáp lời:

"Tôi không thể làm gì khác ngoài việc lên án chiến tranh xâm lược. Nhân dân Việt Nam chúng tôi buộc phải cầm súng chiến đấu, đổ máu hy sinh, cũng chính là để giành lại một nền hòa bình và độc lập thực sự!"

Câu trả lời xuất thần ấy đã đập tan mọi sự hồ nghi, biến câu hỏi khó ấy trở thành bệ phóng để tiếng nói chính nghĩa của Việt Nam vang vọng khắp thế giới. Sự sắc sảo của "Madam Bình" đã khiến dư luận quốc tế phải nể phục.

Nhưng sự sắc bén ấy không chỉ thể hiện trên bàn đàm phán hay trước báo giới. 

Bạn có tin được không, vị nữ Bộ trưởng thép này từng lấy hết can đảm bước ra sàn khiêu vũ với một vị Tổng thống dù... không hề biết nhảy. Bà làm vậy để hoàn thành một nhiệm vụ "bất khả thi"?
Theo Hồi ký: Gia đình, bạn bè và đất nước - Nguyễn Thị Bình.
QV-ST!

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: GIẢI MÃ HỒ SƠ TUYỆT MẬT LẦU NĂM GÓC!

KỲ 3: 7.000 TRANG TÀI LIỆU VÀ LỜI NÓI DỐI CỦA 4 ĐỜI TỔNG THỐNG

     Năm 1967, mang theo vết thương lòng rỉ máu từ chảo lửa Việt Nam, Daniel Ellsberg trở về nước Mỹ và tiếp tục làm việc tại Tập đoàn Rand, cơ quan cố vấn chiến lược tối cao của Lầu Năm Góc.

Nhờ đặc quyền an ninh ở mức cao nhất, ông được Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara điền tên vào một dự án Tuyệt Mật: Biên soạn lại toàn bộ lịch sử can thiệp của Mỹ vào Đông Dương từ năm 1945 đến 1968.

Công trình này sau đó trở thành một khối tài liệu khổng lồ: 47 tập, dày 7.000 trang. Và nó được cất giữ trong những chiếc két sắt bất khả xâm phạm.

Trong căn phòng bảo mật nghiêm ngặt ở Santa Monica, dưới ánh đèn huỳnh quang lạnh lẽo, Ellsberg được giao nhiệm vụ đọc và tổng hợp lại những tập hồ sơ nhạy cảm nhất. Và rồi, cứ sau mỗi tiếng lật giấy sột soạt, một cơn ớn lạnh lại chạy dọc sống lưng vị Tiến sĩ.

Sự thật dần hiện ra trên từng con chữ đã xé toạc hoàn toàn lớp mặt nạ của giới tinh hoa chính trị Washington.

Ellsberg cay đắng nhận ra, sự dối trá mà ông chứng kiến trong đêm Vịnh Bắc Bộ không phải là một "tai nạn" của riêng Tổng thống Lyndon B. Johnson. Nó là một khối u ác tính mang tính hệ thống, kéo dài xuyên suốt 4 đời Tổng thống Mỹ!

Lật giở những hồ sơ ố vàng từ thập niên 50, ông thấy Tổng thống Truman đã bí mật bơm hàng tỷ đô la để ủng hộ thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương. Ông thấy Tổng thống Eisenhower đã can thiệp trái phép để phá hoại cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956, chỉ vì tình báo Mỹ biết chắc chắn Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giành chiến thắng áp đảo. Ông thấy Tổng thống Kennedy đã nói dối công chúng truyền hình khi tuyên bố chỉ gửi "cố vấn", nhưng thực chất là lính tác chiến đặc nhiệm.

Và điều kinh khủng nhất nằm ở những bản đánh giá tình báo tuyệt mật: Cả 4 đời Tổng thống Mỹ đều biết rõ họ không thể thắng ở Việt Nam! Không một ai tin rằng cỗ máy quân sự Mỹ có thể khuất phục được ý chí của người Việt. 

Thế nhưng, từ đảng Dân chủ đến Cộng hòa, không một Tổng thống nào dám can đảm nhận thất bại và rút quân. Họ sợ mất thể diện trước quốc tế. Họ sợ đối thủ chính trị công kích trong các kỳ bầu cử. Họ sợ bị lịch sử ghi danh là "Kẻ đã để mất Việt Nam".

Để bảo vệ chiếc ghế quyền lực trong Phòng Bầu Dục, họ sẵn sàng ném hàng vạn thanh niên Mỹ và sinh mạng của hàng triệu người dân Việt Nam vô tội vào cỗ máy chiến tranh.

Khép lại tập hồ sơ cuối cùng, tay Ellsberg run rẩy vì phẫn nộ. 7.000 trang giấy nằm lặng lẽ trên bàn kia đang rỉ máu. Mọi lời tuyên bố vì "hòa bình, tự do" của các đời Tổng thống đều là những lời dối trá.

Đứng trước sự thật phũ phàng này, Ellsberg đi đến một quyết định: Thứ tội ác mang tính hệ thống này không thể tiếp tục được chôn vùi. Ông phải mang nó ra ánh sáng mặt trời!

Nhưng làm cách nào để một mình chống lại cả cỗ máy an ninh khổng lồ của nước Mỹ, khi mỗi trang giấy bị tuồn ra ngoài đều được định giá bằng một bản án tù chung thân?

Nguồn tư liệu: Kịch bản được biên dịch và trích dẫn từ hồi ký lịch sử "Những bí mật về chiến tranh Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc" (Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers) của Tiến sĩ Daniel Ellsberg.
QV-ST!