Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

Huyện đảo Trường Sa sẽ tổ chức bầu cử sớm tại 20 khu vực bỏ phiếu

Sau khi kiểm tra, giám sát công tác chuẩn bị bầu cử tại tỉnh Khánh Hòa, ngày 7/5, tại thành phố Nha Trang, Đoàn giám sát, kiểm tra công tác bầu cử của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia do Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Phó Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh, Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa. Tại buổi làm việc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Tấn Tuân đã báo cáo với đoàn công tác về tình hình triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 của tỉnh. Theo đó, Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa đã kịp thời tham mưu, triển khai đồng bộ và có hiệu quả các văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan trung ương liên quan đến công tác triển khai chuẩn bị tổ chức bầu cử. Việc tổ chức các hội nghị hiệp thương, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, lập và niêm yết danh sách cử tri, danh sách những người ứng cử ở đơn vị bầu cử; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về công tác bầu cử; công tác tuyên truyền, chuẩn bị cơ sở vật chất… đều được triển khai theo đúng quy trình, tiến độ luật định, đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ. Tỉnh Khánh Hòa có 13 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV (trong đó có 3 người được Trung ương giới thiệu), để bầu 7 đại biểu; 84 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, để bầu 52 đại biểu; 479 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, để bầu 290 đại biểu; 5.387 người được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (trong đó có 10 trường hợp tự ứng cử) để bầu 3.211 đại biểu. Theo số liệu thống kê, tỉnh Khánh Hòa có tổng số trên 977 nghìn cử tri. Tỉnh đang triển khai tổ chức cho người ứng cử tiếp xúc, gặp gỡ cử tri và thực hiện quyền vận động bầu cử. Đối với huyện đảo Trường Sa, Hội đồng bầu cử quốc gia đã đồng ý cho phép tỉnh Khánh Hòa tổ chức bầu cử sớm tại 20 khu vực bỏ phiếu ở các điểm đảo thuộc thị trấn Trường Sa, xã Sinh Tồn, xã Song Tử Tây vào ngày 16/5. Riêng khu vực bỏ phiếu thuộc đảo Trường Sa Lớn, thị trấn Trường Sa và 3 khu vực bỏ phiếu còn lại thuộc huyện Trường Sa nằm trên đất liền vẫn tiến hành bầu cử theo đúng thời gian quy định là ngày 23/5. Phát biểu tại buổi làm việc, Đại tướng Đỗ Bá Tỵ đã ghi nhận và biểu dương những kết quả tỉnh Khánh Hòa đã đạt được trong công tác chuẩn bị cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, cơ bản bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, đáp ứng các yêu cầu đặt ra tại địa phương. Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, thời gian đến ngày bầu cử không còn nhiều, Khánh Hòa cần triển khai đồng bộ các phần việc còn lại để đảm bảo kịp thời, toàn diện cho công tác bầu cử. Tỉnh cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo trên cơ sở quán triệt các chỉ thị của Trung ương về công tác bầu cử, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, an toàn và đúng pháp luật; quy trình bầu cử đảm bảo chặt chẽ, thống nhất. Đồng thời Khánh Hòa cần chú trọng hơn nữa công tác phòng, chống dịch COVID-19, không được lơ là, chủ quan; tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, vận động cử tri đi bỏ phiếu, chuẩn bị tốt cơ sở vật chất cho các điểm bỏ phiếu; nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc tình hình, không để bất ngờ trong mọi tình huống, bằng mọi giá phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khoảng thời gian trước, trong và sau ngày bầu cử.

BẢO ĐẢM QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP CÓ CƠ CẤU HỢP LÝ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ CỦA NƯỚC TA BẢO ĐẢM Ý CHÍ CỦA NHÂN DÂN VÀ PHÙ HỢP VỚI XU HƯỚNG TIẾN BỘ XÃ HỘI

Họ cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng. Thậm chí, có đối tượng còn đói xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản chủ nghĩa. Bản chất Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta khác với các nước tư bản chủ nghĩa. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”. Chính vì thế trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có cơ cấu hợp lý, đại diện cho các giai tầng trong xã hội, có ­người ngoài Đảng, nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được đặt ra từ các cuộc bầu cử trước đây và cố gắng phấn đấu đạt tỷ lệ ấy. Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

MỌI CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỀU CÓ QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Trên thực tế, kể từ khi tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (06/01/1946) đến nay, mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có quyền bầu cử và ứng cử và thực hiện dân hiện dân chủ thật sự, không có chuyện “hình thức” như một số người lu loa. Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIỚI THIỆU NHỮNG NGƯỜI ĐỂ BẦU LÀM ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP LÀ ĐÚNG THẨM QUYỀN

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội, trong đó có lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”[2]. Các nước tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v... Tại sao lại cho rằng ở Việt Nam lại “Đảng cử - dân bầu”? Trên thế giới đều “đảng cử - dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai. Những người có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản khác, như Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14 về Quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở xã, ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung; Nghị quyết số 1187/NQ/UBTVQH14 về Hướng dẫn việc xác định cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG về việc hướng dẫn mẫu hồ sơ ứng cứ, mẫu phiếu bầu cử, nội dung phòng bỏ phiếu và các mẫu văn bản sử dụng trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đều thể hiện rõ những vấn đề cơ bản nhất: Một là, xác định rõ tiêu chuẩn đối với ứng viên: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cậy quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ học vấn, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, v.v... Hai là, thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CUỘC BẦU CỬ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Để cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Hiện nay, các nước dù theo thể chế chính trị nào đều có đảng chính trị. Các nước theo chế độ đa đảng, các đảng chính trị đều lãnh đạo các cuộc bầu cử.

Những điểm mới về công tác tư tưởng trong Văn kiện Đại hội XIII .

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã nhiều lần đề cập đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện khẳng định đã “đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, Văn kiện đã coi niềm tin của nhân dân là một thành tố trong những thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Trong 5 bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới, Văn kiện lần này bổ sung một nội dung mới vào bài học thứ hai là: Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, “củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(2). Trong 12 định hướng chiến lược cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và các năm tiếp theo, Văn kiện xác định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(3). Cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược thành các nhiệm vụ và giải pháp cơ bản, Văn kiện yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải: “Củng cố, tăng cường lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(4). Những dẫn chứng nêu trên cho thấy, trong nhiệm kỳ này, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, sức mạnh niềm tin của nhân dân. Mặc dù, vai trò của nhân dân đã được đề cập xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, nhưng lần này, vai trò đó đã được cụ thể hóa thành niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Vấn đề này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XII, “hợp lòng dân, thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Niềm tin là sợi dây liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; không có niềm tin của nhân dân, Đảng không có cơ sở để tồn tại. Niềm tin vào Đảng đã giúp nhân dân vượt qua mọi hy sinh, gian khổ để một lòng theo Đảng làm cách mạng, lập nên những chiến công trong chiến tranh giải phóng dân tộc; vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX và sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, cũng như những khó khăn, thách thức mà đại dịch COVID-19 đặt ra mới đây. Niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố, từ những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, uy tín của cán bộ, đảng viên, kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Niềm tin đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TINH THẦN Trước hết, phải khẳng định rằng, công tác tư tưởng được tiến hành ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, mọi lĩnh vực. Vì vậy, có thể nói, các nội dung đề cập trong Văn kiện đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác tư tưởng, từ lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, cho đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại... Trong đó, một số vấn đề nổi bật, có liên quan mật thiết đến công tác tư tưởng được thể hiện cụ thể như sau: Trên cơ sở dự báo tình hình, Văn kiện đã xác định mục tiêu và các quan điểm chỉ đạo cơ bản, trong đó “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(5). Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị giữ vai trò vô cùng quan trọng. Bởi chỉ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng thì mới có sự kiên định trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, kiên định đi đôi với vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác nghiên cứu lý luận chính trị - một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, Văn kiện đã cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nhiệm kỳ tới. Trong đó, nhiệm vụ đầu tiên cũng liên quan đến trách nhiệm của công tác tư tưởng: “Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống văn hoá, lịch sử và cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”(6). Đáng chú ý, Văn kiện Đại hội lần này nhấn mạnh đến việc khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần của dân tộc: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(7). Trong nhiệm vụ, giải pháp cơ bản thứ 3, Văn kiện làm rõ hơn: “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(8). Một trong những điểm mới trong ba đột phá chiến lược của Văn kiện lần này là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(9). Để khơi dậy và phát huy các giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, làm bùng lên khát vọng phát triển đất nước có nhiều biện pháp, trong đó, việc làm rõ hơn nội hàm, giá trị, biểu hiện, đồng thời làm cho mọi người dân hiểu rõ, tự hào, trân trọng những giá trị tinh thần đó và mong muốn đóng góp công sức, trí tuệ của mình để chấn hưng đất nước không có cách nào tốt hơn các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên của công tác tư tưởng. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, những vấn đề liên quan đến công tác tư tưởng, bên cạnh được diễn đạt lại theo hướng chặt chẽ, sâu sắc, khoa học hơn về câu chữ, còn có nhiều điểm mới về nội dung, bám sát thực tiễn và tập trung giải quyết những hạn chế, bất cập của công tác tư tưởng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Văn kiện Đại hội XIII sử dụng thuật ngữ “công tác tư tưởng” thay cho thuật ngữ “công tác tư tưởng, lý luận” như các nhiệm kỳ trước. Đây là một bước tiến mới về mặt lý luận đối với khoa học công tác tư tưởng. Theo đó, Đảng thừa nhận công tác lý luận là một bộ phận của công tác tư tưởng như quan niệm của Lênin Đánh giá về kết quả công tác tư tưởng của nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện đã bổ sung thêm hạn chế so với nhiệm kỳ Đại hội XII là nhận thức, thái độ của cấp ủy đối với công tác tư tưởng: “Công tác tư tưởng có nơi, có lúc chưa thực sự được cấp uỷ coi trọng, chưa kịp thời, thiếu thuyết phục”(10). Về công tác lý luận, Văn kiện không chỉ khẳng định hạn chế là chưa đáp ứng yêu cầu như trước đây, mà chỉ rõ “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”(11). Nếu như Văn kiện Đại hội XII đề cập đến những hạn chế, yếu kém của công tác giáo dục lý luận chính trị, thì Văn kiện lần này nhấn mạnh đến hạn chế của công tác tuyên truyền, cổ động: “Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự quan tâm của nhân dân”(12). Đặc biệt, Văn kiện bổ sung thêm những hạn chế của công tác nghiên cứu định hướng dư luận xã hội và xử lý các tình huống nảy sinh trong công tác tư tưởng: “Công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(13). Về phương hướng nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới, ngoài việc khẳng định phải tiếp tục đổi mới về nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Văn kiện nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa và yêu cầu công tác tư tưởng phải tăng cường tính giáo dục. Để khắc phục những hạn chế trong công tác nghiên cứu, định hướng dư luận xã hội, Văn kiện yêu cầu: “Nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội”(14). Trong công tác lý luận, Văn kiện nhấn mạnh đến phát huy dân chủ, tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Văn kiện cũng đề cập đến việc sử dụng kết quả nghiên cứu: “sớm kết luận những vấn đề lý luận đã chín, đã rõ, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”(15). Văn kiện Đại hội XIII cũng yêu cầu: “Từng bước đưa hoạt động trao đổi lý luận của Đảng ta với một số đảng cầm quyền, đảng tham chính ở một số nước đi vào chiều sâu, hiệu quả”(16). Văn kiện lần này tách việc học tập quán triệt nghị quyết thành một nội dung riêng: “Tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả”(17). Đây là một quyết định đúng đắn, xuất phát từ thực tiễn. Bởi sau khi có nghị quyết thì việc học tập, quán triệt là khâu đầu tiên để xây dựng niềm tin và đưa nghị quyết vào cuộc sống, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích đang tồn tại khá phổ biến trong công tác tư tưởng hiện nay. Phát huy những thành tựu của công tác giáo dục lý luận chính trị trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện lần này đề cập một cách cụ thể hơn, trong đó coi trọng việc: “Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo tinh thần khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(18), bảo đảm tính nền nếp, nhất quán và chất lượng hiệu quả, chú trọng duy trì kỷ luật, kỷ cương vốn đang là một khâu yếu hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII trình bày công tác tư tưởng theo logic từ “xây” đến “chống” nên đấu tranh tư tưởng được xếp sau cùng. Điểm mới lần này là không đề cập đến chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng chung chung, mà cụ thể hơn theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”(19). TẠO SỰ ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI Để thực hiện được những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII, cấp ủy các cấp cần nhận thức sâu sắc mục đích của công tác tư tưởng là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là mục tiêu rất cụ thể, rõ ràng nhưng hết sức nặng nề, phức tạp. Trong bối cảnh các thế lực thù địch chống phá quyết liệt; sự nghiệp đổi mới còn những yếu kém, bất cập; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường; tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất vẫn chưa được ngăn chặn triệt để... thì nhiệm vụ xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ càng khó khăn hơn. Để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, cấp ủy các cấp cần tiến hành một số biện pháp sau đây: Một là, tiếp tục học tập, quán triệt, nghiên cứu sâu sắc các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhất là những điểm mới về công tác tư tưởng, tạo ra đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp cho toàn Đảng, trước hết là cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ tư tưởng các cấp; từ đó, xây dựng cho được niềm tin, trách nhiệm, nhiệt huyết và sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Hai là, sớm cụ thể hóa những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII về công tác tư tưởng, gắn với những hạn chế, yếu kém và yêu cầu của địa phương, đảng bộ mình thành những việc làm cụ thể, có thể đo đếm, lượng hóa được kết quả, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích trong công tác tư tưởng. Cấp ủy các cấp cần thực hiện tốt phương châm “nói đi đôi với làm”, làm đến nơi đến chốn bằng cả tinh thần và nhiệt huyết cách mạng, thể hiện quyết tâm “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” như Hướng dẫn về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Trung ương. Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, công tác tư tưởng không chỉ làm nhiệm vụ triển khai nghiên cứu, học tập, quán triệt, cổ vũ, động viên nhân dân mà chính mình phải gương mẫu đi đầu hiện thực hóa những điểm mới mà Văn kiện đã đề ra. Ba là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ tư tưởng có trình độ lý luận thực chất, có niềm tin và phong cách khoa học, hiện đại, nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm, lấy hiệu quả công việc để đánh giá phẩm chất, năng lực. Chấp nhận những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm dám đổi mới, dám áp dụng những thành tựu công nghệ thông tin vào công tác tư tưởng. Cán bộ tuyên giáo phải được đào tạo cơ bản, chuyên sâu về lý luận chính trị, có kỹ năng nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa và được bồi dưỡng thường xuyên. Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành công tác tư tưởng theo hướng dân chủ hóa, hiện đại hóa, tăng cường lắng nghe, chia sẻ, đối thoại với nhân dân. Nội dung công tác tư tưởng phải cụ thể, thiết thực, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với từng đối tượng, không kêu gọi, hô hào chung chung. Cần loại bỏ ngay những hoạt động mang tính phô trương hình thức, sau mỗi hoạt động phải đánh giá kết quả cụ thể so với chi phí bỏ ra. Thường xuyên bám sát thực tiễn, giải quyết ngay những vấn đề tư tưởng nảy sinh, không để tích tụ thành “điểm nóng”, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các sự cố khủng hoảng truyền thông. Cần chú ý tác động đối tượng cả về lý trí và tình cảm, nhất là tình cảm để hình thành niềm tin. Đầu tư để từng bước hiện đại hóa phương tiện, sử dụng mạng xã hội để tiến hành công tác tư tưởng.

Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp

Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị  - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân. Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu. Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải đi từ những việc rất cụ thể hằng ngày

             Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đã chỉ rõ: Chúng ta đang ở giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước XHCN sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Chính vì vậy, việc giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng chuyên sâu vào từng lĩnh vực, từng thuộc tính của phẩm chất, năng lực cán bộ, đảng viên cần được coi trọng thường xuyên, góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy trong hệ tư tưởng, đạo đức cách mạng của các thế hệ. Lấy những bài học, kinh nghiệm đúc kết từ lịch sử và thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng truyền thụ cho thế hệ cán bộ trẻ, cán bộ kế cận, kế tiếp là công việc thường xuyên, thường ngày trong cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.  

  Cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị tuyệt đối không được coi nhẹ, lơ là, né tránh khuyết điểm. Những gì chúng ta thể hiện hôm nay chính là tấm gương cho thế hệ kế cận, kế tiếp. Một tấm gương phẳng, trong sáng, trong sạch sẽ cho hình ảnh chân thực; ngược lại, sự giấu giếm, cầu an, lắt léo kiểu “lươn, chạch” sẽ cho ra những hình ảnh méo mó, phản tác dụng. Chúng ta nhận được quả ngọt hay trái đắng sau khi rời vị trí công tác trở về với đời thường là do chính nhân quả chúng ta gieo và gặt trong quá trình làm công bộc của dân./.


Báo cáo năm 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ còn một số nội dung, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng


Ngày 29-4, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Báo cáo năm 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, Việt Nam tiếp tục vi phạm tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Đoàn Khắc Việt khẳng định: Việt Nam ghi nhận việc Báo cáo tình hình tự do tôn giáo thế giới 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã đề cập đến những nỗ lực và tiến triển tích cực trong việc đảm bảo và thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam.

Tuy nhiên, báo cáo vẫn còn một số nội dung, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình tại Việt Nam. Tại Việt Nam, các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng để vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật./.

Mấy điều trao đổi thêm với những ai bênh vực cho lá cờ vàng ba sọc



Nhân dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975, có một vụ việc gây tranh luận trái chiều trên mạng xã hội do BBC News Tiếng Việt khởi xướng, đó là vụ việc du học sinh trung học tại Úc giật lá cờ vàng ba sọc, làm “xúc phạm” đến những người Việt hải ngoại đang sống tại Úc. Theo dẫn luận của trang mạng này, có một số ý kiến (như bà Kiều Ngọc, bà Hoàng Ánh, ông Huy Nguyễn và một số người khác…) phát biểu chính kiến của mình dưới các góc độ khác nhau, hàm ý phê phán cách giáo dục, tuyên truyền, hệ tư tưởng chính trị theo chủ nghĩa cộng sản của Việt Nam là nguồn gốc gây ra hành vi “thiếu tôn trọng luật pháp nước sở tại” và “gây hận thù dân tộc”, làm “tổn thương cộng đồng người Việt hải ngoại từng sống trong chế độ Việt Nam cộng hòa” trước năm 1975, đòi “lấy lại công bằng lịch sử cho ngày 30 tháng 4 năm 1975” (!). Nay xin có mấy điều trao đổi thêm, như sau:

Pháo đài Đồng Đăng



Pháo đài Đồng Đăng được người Pháp xây dựng ở một vị trí chiến lược quân sự quan trọng. Từ pháo đài Đồng Đăng có thể quan sát và bảo vệ các tuyến giao thông huyết mạch, từ đường sắt đến đường bộ như ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng – Hà Nội, quốc lộ 1A Lạng Sơn – Hà Nội, quốc lộ 1B Lạng Sơn - Thái Nguyên, quốc lộ 4B Lạng Sơn - Cao Bằng. 

  

Đúng “Tự do báo chí - Không có quốc gia nào giống quốc gia nào”




Trên RFA vừa qua, chủ đề về tự do báo chí lại được một tài khoản chống Hà Nội đưa lại với tiêu đề: “Tự do báo chí: Việt Nam không đồng cách hiểu với thế giới? “Mặc dù tác giả bài viết đặt dấu hỏi chấm (?) nhưng thực chất đây là sự phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam. Có thể nói chủ đề này chẳng có gì mới…nếu như nó không có cái tiêu đề gây tò mò cho người đọc!

4 nhóm giải pháp tập trung phòng, chống COVID-19 của Hà Nội

 Trước diễn phức tạp của tình hình dịch bệnh, Thường trực Thành ủy Hà Nội yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể từ thành phố đến cơ sở, nhất là các tổ giám sát COVID-19 tại cộng đồng tiếp tục chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, Thường trực Thành ủy Hà Nội lưu ý 4 nhóm nội dung quan trọng.

Người đến BV Bệnh Nhiệt đới TW cơ sở 2 từ 14/4 đến nay nhanh chóng khai báo

 Đến sáng nay 6/5, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh đã có tổng cộng 22 ca mắc là nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Cơ sở này đã được cách ly y tế, bệnh viện cũng ra thông báo khẩn nêu rõ:

Thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong toàn quân

 

Ngày 7-5, Tổng cục Hậu cần đã có công văn gửi các đơn vị toàn quân về việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 trong tình hình hiện nay.

Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp - phương thức nhân dân giao quyền, ủy quyền quyền lực Nhà nước của mình cho đại biểu

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành ở nước ta. Nhận thức đúng đắn bản chất của chế độ bầu cử ở nước ta, để chẳng những ngày bầu cử sẽ trở thành ngày hội của toàn dân, mà còn là vũ khí tư tưởng để đấu tranh phòng, chống những nhận thức không đúng đắn của một số người và hơn thế nữa là tăng sức đề kháng trước các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch thường diễn ra trước mỗi cuộc bầu cử. Ở nước ta, bầu cử là phương thức cử tri trực tiếp bầu ra các đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, là phương thức để nhân dân trao quyền lực nhà nước của mình cho Nhà nước (trao quyền lực nhà nước của mình cho người mình lựa chọn). Trong nhà nước dân chủ và pháp quyền thì bầu cử là quyền làm chủ trực tiếp, cơ bản được Hiến pháp quy định và được cụ thể trong một đạo luật về bầu cử. Do đó, có thể nói hành vi bỏ phiếu của cử tri vào thùng phiếu cùng một lúc thực hiện hai chức năng: vừa lựa chọn, vừa trao quyền. Vì vậy, hành vi bầu cử của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyền lực nhà nước của mình cho người mình chọn. Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta có vai trò và ý nghĩa như thế nào? Chế độ bầu cử ở nước ta quy định ra sao? Là những vấn đề cần phải nắm vững trong mỗi cuộc bầu cử. Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị  - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân. Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu. Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là tổng thể các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức bầu cử được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, các quy tắc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đặt ra và được Nhà nước thừa nhận để cử tri thực hiện quyền ứng cử, bầu cử những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân tham gia Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được quy định bởi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (sau đây gọi là Luật Bầu cử) năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019. Thứ nhất, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta gồm các nội dung cơ bản sau: Một là, các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Nguyên tắc bầu cử là những quan điểm cơ bản, có tính nền tảng của chế độ bầu cử, được thể hiện ở các quy định của pháp luật về bầu cử, có tính bắt buộc phải tuân thủ trong suốt quá trình tổ chức bầu cử. Các nguyên tắc bầu cử cơ bản bao gồm: Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mỗi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng bảo đảm cho mọi cử tri đều có khả năng như nhau trong việc tác động đến kết quả bầu cử. Đối với quyền bầu cử, công thức chung là “một người, một phiếu, một giá trị”. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện giữa các nhóm dân cư trong xã hội, giữa các đơn vị bầu cử và giữa các ứng cử viên trong cuộc bầu cử. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: Đại biểu là do dân trực tiếp bầu ra mà không qua bất kỳ một khâu trung gian nào, bảo đảm cho cử tri thể hiện trung thực, khách quan ý chí và sự tín nhiệm đối với người được bầu. Theo đó, bảo đảm bản chất dân chủ của bầu cử, tạo mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm giữa đại biểu và cử tri. Nguyên tắc bỏ phiếu kín là nguyên tắc mang tính kỹ thuật, bảo đảm cho cử tri tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình khi bỏ phiếu, ngăn ngừa mọi sự tác động, áp đặt từ bên ngoài. Mặc dù các nguyên tắc bầu cử vẫn giữ như trước đây, nhưng nội dung và tinh thần các nguyên tắc bầu cử có sự bổ sung thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật và thực tiễn tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nguyên tắc phổ thông được mở rộng, Nhà nước tạo điều kiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử và tham gia các hoạt động bầu cử, phạm vi đối tượng không được bầu cử thu hẹp, việc hạn chế quyền bầu cử phải trên nguyên tắc pháp quyền. Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm tỷ lệ tham gia ứng cử của người dân tộc thiểu số, phụ nữ; bình đẳng trong vận động bầu cử. Quyền tự ứng cử của công dân được pháp luật ghi nhận. Hai là, quyền bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Bầu cử và ứng cử là quyền chính trị cơ bản của công dân ở nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Bầu cử. Đây là quyền còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền mang tính toàn cầu và khu vực. Liên hợp quốc đã khẳng định: Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia(8); mọi công dân không có bất kỳ sự phân biệt và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và có cơ hội để bầu cử và ứng cử(9). Ở nước ta, việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử rộng rãi đã được thể hiện ngay từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946. Ngày nay, quyền bầu cử ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc phổ thông cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn triển khai. Việc thực thi các quyền bầu cử đã xóa bỏ sự hạn chế do phân biệt về thành phần, giai cấp, thái độ chính trị. Các trường hợp bị tước quyền bầu cử, hạn chế quyền bầu cử được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Bầu cử. Thực hiện Luật Bầu cử năm 2015, những người bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được tham gia bầu cử là điểm mới theo Luật Bầu cử năm 2015. Ba là, đơn vị bầu cử và hệ thống bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Đơn vị bầu cử là khu vực địa lý có số dân nhất định được bầu một số lượng đại biểu nhất định. Nguyên tắc cơ bản của việc phân chia đơn vị bầu cử là bảo đảm sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện và giá trị phiếu bầu. Sự chênh lệch chỉ cho phép trong phạm vi tỷ lệ dung sai nhất định. Hệ thống bỏ phiếu đa số tuyệt đối hay vòng tiếp tục được kế thừa và áp dụng, nhưng cách thức phân chia, tổ chức đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội có sự thay đổi mạnh mẽ thể hiện sự đổi mới nhằm tăng tính cạnh tranh, khắc phục tính hình thức trong bầu cử. Các đơn vị bầu cử được thu hẹp phạm vi, chỉ bầu ba đại biểu, nhằm đề cao trách nhiệm đại biểu, tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri. Từ 79 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (năm 1976), 93 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII (năm 1981) tăng gần gấp đôi thành 167 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và 158 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX (năm 1992). Luật Bầu cử năm 2015 đã kế thừa và quy định cụ thể hơn về số đại biểu Quốc hội được bầu, số dư người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đã góp phần làm cho bầu cử thực chất hơn (khóa XIV có 870 ứng viên, bầu 500 đại biểu (gấp 1,74 lần). Bốn là, quy trình thủ tục bầu cử. Quy trình thủ tục bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân là các bước triển khai tổ chức cuộc bầu cử từ khi công bố ngày bầu cử đến khi xác định kết quả bầu cử. Pháp luật về bầu cử ở nước ta quy định quy trình, thủ tục gồm các bước sau: - Giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân bao gồm các công việc: Dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng người ứng cử và hiệp thương bầu cử. Cơ cấu thành phần và số lượng là vấn đề trọng tâm của bầu cử, nhằm bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân. Về mặt pháp lý, nội dung này được định hướng thông qua công tác dự kiến và được quyết định tại các hội nghị hiệp thương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì. - Vận động bầu cử: Là giai đoạn quan trọng để các ứng viên quảng bá chương trình hành động của mình đến với công chúng, từ đó xây dựng hình ảnh và uy tín chính trị nhằm nhận được sự ủng hộ của cử tri. Pháp luật bầu cử nước ta quy định hai hình thức vận động bầu cử là gặp gỡ tiếp xúc cử tri và trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng. - Bỏ phiếu, kiểm phiếu và giám sát bầu cử: Quy trình bỏ phiếu, kiểm phiếu được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, giám sát bầu cử có tác dụng phát hiện, hạn chế những tùy tiện, sai sót, vi phạm, gian lận trong bầu cử, bảo đảm tính trung thực, công khai, minh bạch của bầu cử. - Quản lý bầu cử: Tổ chức bầu cử là công việc nhạy cảm về chính trị và phức tạp về kỹ thuật nên công tác tổ chức và quản lý bầu cử đóng vai trò hết sức quan trọng. Ở nước ta, công tác tổ chức và quản lý bầu cử là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử: Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử có vai trò ngăn ngừa, khắc phục kịp thời các vi phạm, bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra theo đúng các nguyên tắc và tiêu chí dân chủ, phù hợp với Hiến pháp và Luật Bầu cử. Ở nước ta, các tổ chức phụ trách bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử theo cơ chế hành chính. Cơ chế tư pháp (thông qua tòa án nhân dân cấp huyện) chỉ áp dụng đối với khiếu kiện của công dân về việc đăng ký cử tri. Quy trình thủ tục bầu cử đã được cải tiến, đổi mới từng bước qua việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử và cải tiến cách thức tổ chức triển khai bầu cử. Hiệp thương bầu cử được cải tiến theo hướng dân chủ dựa trên quan điểm đề cao vai trò của cử tri tham gia vào bầu cử, tôn trọng ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú. Các quy định cụ thể, các bước hiệp thương bầu cử tiếp tục được quy định cụ thể và thực chất hơn. Về mặt pháp lý, vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hiệp thương bầu cử được đề cao. Nội dung hiệp thương không chỉ giới hạn trong việc giới thiệu nhân sự ứng cử mà còn thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu trên cơ sở số đủ dự kiến và có quyền biểu quyết lựa chọn người để giới thiệu ứng cử. Quy trình hiệp thương 5 bước đã góp phần nâng cao chất lượng người ứng cử. Đồng thời, bảo đảm tỷ lệ người tham gia ứng cử và tỷ lệ thích đáng đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, đại biểu là nữ,... Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử. Bầu cử và đảng chính trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở các nước, các đảng chính trị chỉ có thể trở thành đảng cầm quyền khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Do vậy, các đảng chính trị đã chuyển hóa bầu cử, ứng cử thành công cụ để tranh cử và thắng cử đóng vai trò then chốt trong bầu cử. Ở các nước này “Hoạt động tranh cử... về hình thức là cuộc ganh đua giữa các cá nhân, song thực chất là cuộc chạy đua giữa các đảng phái”(10). Ở nước ta, khi chưa giành được chính quyền, Đảng đã tham gia vận động bầu cử, tranh cử trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936  - 1939). Năm 1945, mặc dù tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Đảng vẫn giới thiệu được các đảng viên tham gia tranh cử và lãnh đạo thành công công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sau khi giành được chính quyền, Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vị thế đó được Hiến pháp ghi nhận. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử thể hiện qua việc đề ra chủ trương và lãnh đạo Nhà nước xây dựng, đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử; định ra chủ trương lớn có tính định hướng để tổ chức các cuộc bầu cử; lãnh đạo Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia tổ chức bầu cử; lãnh đạo khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử; xây dựng chính quyền. Đảng tham gia cuộc bầu cử qua việc bồi dưỡng, giới thiệu đảng viên ứng cử; tham gia công tác hiệp thương, tuyên truyền, vận động bầu cử. Giới thiệu đảng viên ứng cử là con đường duy nhất của đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước một cách chính đáng và hợp pháp, hiện thực hóa sự lãnh đạo qua Nhà nước, duy trì, củng cố vị thế lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc bầu cử. Đảng lãnh đạo bầu cử và tham gia bầu cử trên cơ sở pháp luật. Các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch theo các trình tự, thủ tục do luật định về bầu cử là đòi hỏi trước tiên về việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta./.

Diễn biến đại dịch COVID-19 và ảnh hưởng đến toàn cầu

Hiện nay, cả thế giới đang dồn tâm, dồn lực vào chống đại dịch viêm phổi cấp do virus corona chủng mới gây ra. Dịch bệnh này bùng phát vào tháng 12-2019, nay đã nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu với 215 quốc gia có nguời nhiễm bệnh và số nạn nhân của COVID-19 tăng từng ngày. Trước mức độ nguy hiểm của đại dịch, ngày 31-1-2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu. Đến ngày 11-3-2020, WHO chính thức công bố COVID-19 là “đại dịch toàn cầu”. Tính đến ngày 23-9-2020, số ca nhiễm trên toàn thế giới là gần 32 triệu người, số ca tử vong là gần 1 triệu người. Nhưng số ca nhiễm chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tăng nhanh. Theo các nhà nghiên cứu dự báo, số ca bệnh vẫn tăng khó lường và số người thiệt mạng không chỉ dừng lại ở con số gần 1 triệu người. Lấy mẫu xét nghiệm nhanh COVID-19 tại Los Angeles, ngày 20-7-2020_Ảnh: Tư liệu Các chuyên gia kinh tế của Oxford Economics ước tính, dịch COVID-19 có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại hơn 1.000 tỷ USD do năng suất lao động giảm, sản xuất đình đốn, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thương mại và đầu tư giảm, ngành du lịch bị thiệt hại nặng nề… Một số nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh lây lan nhanh: Một là, sự vào cuộc chưa quyết liệt của chính phủ nhiều nước trong việc dập dịch, chưa coi dịch COVID-19 là mối đe dọa nghiêm trọng, dẫn tới các biện pháp chưa đủ mạnh. Nhiều nhà khoa học đã nhận định, Mỹ và các nước châu Âu chưa có sự chuẩn bị tốt để ứng phó với COVID-19, ở cả lĩnh vực xét nghiệm, thực hiện giãn cách xã hội và xử lý tình trạng lây nhiễm. Ngoài ra, Mỹ và các nước châu Âu lo ngại, nếu mạnh tay chống dịch sẽ làm tổn thương đến kinh tế và động chạm đến các vấn đề chính trị nhạy cảm. Hai là, sự thờ ơ, chủ quan, thiếu hợp tác của người dân trong phòng, chống dịch COVID-19. Do đề cao quyền riêng tư và tự do cá nhân, nên khi các biện pháp chống dịch được thực hiện, nhiều người dân ở các nước phương Tây đã không cộng tác, thậm chí còn chống đối, kêu gọi đòi biểu tình. Vì vậy, những biện pháp, như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang đến nơi cộng cộng, vệ sinh cá nhân… không phát huy tác dụng…

Hiệu quả của việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam

Với những tổn thất về con người, kinh tế, chính trị mà COVID-19 đang gây ra cho toàn thế giới đã cho thấy, không phải lúc nào sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế cũng giải quyết được mọi vấn đề của cuộc sống đang đặt ra. Những vũ khí tối tân nhất của nhân loại cũng không thể loại bỏ được một virus vô hình. Cơn dịch bệnh gây chết người hàng loạt đang cho thấy nền tảng tôn thờ “sức mạnh cứng”, tôn thờ quyền lực, lợi lộc, danh vọng, sức mạnh của đồng tiền,… không phải là triết lý sống của nhân loại. Virus không phải là một “loài siêu thông minh”, cũng không có bất cứ “mưu lược tính toán” nào để lây lan, hãm hại loài người, vì thế, mức độ phát tán của nó phụ thuộc chính vào cách ứng xử của con người. Nếu loài người nắm chặt tay nhau, đồng thuận cùng nhau hướng đến triết lý nhân sinh, chính phủ các nước đặt giá trị sinh mạng con người ở mức tối thượng thì hoàn toàn có thể vượt qua đại nạn này. Nói cách khác, tác hại nhiều hay ít của COVID-19 đến con người phụ thuộc rất nhiều vào thể chế chính trị, vào sự đồng thuận của người dân và vào việc sử dụng “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã từng khẳng định, chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1). Mọi việc đều bắt nguồn từ dân, lấy dân làm gốc, sinh mạng của người dân là quan trọng nhất, là bài học lớn được đúc kết suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Điều này cũng đã được Đảng ta vận dụng thành công trong hơn 90 năm qua. Vì thế, một trong năm bài học mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đúc kết là: “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”(2). Bài học lịch sử đó một lần nữa đã được chứng minh, được phát huy trong phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam hôm nay. Đây là giá trị văn hóa và “sức mạnh mềm” vô cùng quý báu, là đường lối chiến lược mang tính lâu dài, là quy luật sinh tồn và phát triển của toàn dân tộc Việt Nam. Bộ đội Biên phòng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh phát khẩu trang miễn phí và hướng dẫn cho người dân các sử dụng _Ảnh: TTXVN) Với dân số gần 100 triệu người, có đường biên giới dài với Trung Quốc (quốc gia đầu tiên xuất hiện dịch bệnh), Việt Nam là nước có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh rất cao. Nhưng với sự vào cuộc quyết liệt và sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, hiện nay về cơ bản chúng ta đã kiểm soát và dập dịch tốt, được các nước trên thế giới và khu vực ca ngợi, thừa nhận, lấy làm gương trong phòng, chống đại dịch. Để có thành công đó là do chúng ta biết khai thác “sức mạnh mềm” Việt Nam. Điều đó được thể hiện: Thứ nhất, công tác ứng phó và chủ động phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị Việt Nam. Khi có thông tin về ca bệnh ở đầu tiên ở Vũ Hán và nguy cơ lây lan của COVID-19, ngày 16-1-2020, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế (phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới - WHO) khẩn trương xây dựng các kịch bản, phương án phòng, chống dịch; chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ công tác cách ly, xét nghiệm, khám, điều trị. Đến ngày 23-1-2020 khi phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 121/CĐ-TTg và liên tiếp các ngày 28 và 31-1-2020, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 28-1-2020 “Về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, Chỉ thị số 06/CT-TTg, ngày 31-1-2020 “Về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp mới của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, trong đó quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để phòng, chống dịch. Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch được thành lập. Ngày 30-1-2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Công văn số 79-CV/TW “Về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút Corona gây ra”, yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân khẩn trương vào cuộc. Xác định phòng, chống dịch là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, huy động toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, toàn dân khẩn trương, quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch. Trước diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình dịch bệnh, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg, ngày 11-3-2020, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới” tập trung thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Bí thư, tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh, bố trí nguồn lực cho các hoạt động y tế, bảo đảm môi trường, hỗ trợ kiểm soát phòng, chống dịch. Ngày 21-3-2020, Bộ Chính trị ban hành Thông báo kết luận số 172-TB/TW “Về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19”, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cần tiếp tục tập trung phòng, chống dịch bệnh với tinh thần trách nhiệm cao nhất, kiên quyết không để dịch bệnh bùng phát, đồng thời, thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, duy trì sản xuất, kinh doanh, chăm lo cho người dân, chủ động chuẩn bị các phương án phục hồi nền kinh tế. Động viên nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp phát huy tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, trách nhiệm xã hội, cùng tham gia phòng, chống dịch. Đặc biệt, ngày 30-3-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, để bảo đảm chiến thắng đại dịch COVID-19. Toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ để tiếp tục chủ động ngăn chặn và kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh; không quá hốt hoảng nhưng tuyệt đối không được chủ quan, lơi lỏng; nắm chắc tình hình, dự báo khả năng xấu nhất, kịp thời đề ra các biện pháp hữu hiệu để kiểm soát, ngăn chặn bằng được sự lan rộng lây nhiễm. Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, mỗi địa phương cần bám sát sự chỉ đạo của cấp trên, chủ động và phối hợp chặt chẽ hơn nữa để thực hiện các công việc phòng, chống dịch; ưu tiên nguồn lực, thời gian và công sức cho công tác chống dịch… Nhờ thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bằng nhiều giải pháp cụ thể, đến nay, về cơ bản, Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh. Hai là, sự đồng thuận của người dân Việt Nam. Quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong chống dịch COVID-19 đã nhận được sự đồng lòng, chung sức, đồng thuận cao của người dân, thực sự là “ý Đảng - lòng dân”, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Mọi người dân Việt Nam đa số đều nghiêm túc thực hiện việc phòng, chống dịch, đeo khẩu trang khi ra đường, đến nơi công cộng; thực hiện các biện pháp theo dõi lịch trình, khai báo y tế; vệ sinh cá nhân cẩn thận; cách ly tập trung và thực hiện cách ly toàn xã hội. Các cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh hàng hóa không thiết yếu đều đóng cửa, người dân hạn chế ra khỏi nhà… Theo điều tra của Viện Dư luận và Xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương với 21.277 lượt người tham gia trả lời, có 85% người dân hoàn toàn tin tưởng Việt Nam sẽ khống chế, dập tắt dịch COVID-19(3). Bởi, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặt sức khỏe của người dân lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân. Người dân đoàn kết một lòng, mỗi người dân đều là chiến sĩ chống dịch, tạo nên sức mạnh tập thể, cùng nhau đẩy lùi dịch bệnh COVID-19 (Trong ảnh: Người dân nhận gạo miễn phí tại một cây ATM gạo dành cho người nghèo)_Ảnh: Tư liệu “Sức mạnh mềm” được phát huy trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 đã và đang diễn ra, để mọi người đoàn kết một lòng, mỗi người dân đều là chiến sĩ chống dịch, tạo nên sức mạnh tập thể, cùng nhau đẩy lùi dịch bệnh. Chính phủ đã ký Nghị quyết số 42/NQ-CP, ngày 9-4-2020, của Chính phủ “Về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19” chi 62 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân khó khăn do đại dịch COVID-19. Đồng thời, với truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc, thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân đã tự nguyện góp tiền, góp gạo hỗ trợ người nghèo, nhiều câu chuyện đẹp và cảm động, như ATM gạo, tin nhắn điện thoại, các doanh nhân ủng hộ hàng trăm triệu đồng đến cụ già đạp xe cả chục cây số đến ủng hộ 20.000 đồng,… đã được lan tỏa không chỉ trong nước mà cả cộng đồng quốc tế. Những thành công lớn bước đầu trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 là tổng hợp sức mạnh của cả dân tộc ta, trong đó cần nhấn mạnh “sức mạnh mềm” của cả đất nước đã được phát huy đúng mức và đúng lúc. “Sức mạnh mềm” lúc này là một thứ tài sản vô cùng quý báu. Kết quả của sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc, đồng lòng, chung sức trong cuộc chiến chống đại dịch cũng minh chứng cho sức mạnh mềm Việt Nam. Với bài học này, chúng ta càng thấy ý nghĩa sâu sắc và giá trị nhân văn lớn lao từ những quyết sách của Đảng, Chính phủ, từ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quân đội, công an đến các bộ, ngành chức năng và nhân dân. Trong khó khăn, thử thách, “sức mạnh mềm” của người Việt càng tỏa sáng./.

Không thể xuyên tạc Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Khi cả nước đang tưng bừng tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 67 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954/7-5-2021) thì trên Internet và một số trang mạng xã hội lại lạc lõng xuất hiện một số bài viết có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị lịch sử to lớn này của nhân dân Việt Nam. Bên cạnh tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta; chúng còn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng lịch sử. Đây là những luận điệu, hành động không mới về thủ đoạn nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc sự nghi ngờ, làm phân tâm niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là giới trẻ hiện nay. Các thế lực, phản động xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta chỉ là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến; hay đáng nói hơn, chúng tráo trở cho rằng, thực chất Quân đội Pháp dưới sự hậu thuẫn của Mỹ có mặt ở Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác. Phải khẳng định rằng, trong thời gian ấy, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng mọi biện pháp giành lấy hoà bình bằng giải pháp đàm phán với Pháp mà cả thế giới đều biết. Nhưng với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, chúng đã đưa hàng chục vạn sĩ quan, binh lính của quân đội nhà nghề, với hàng triệu tấn bom đạn, vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân nhất để giáng lên đầu hàng chục triệu người dân vô tội. Tuy nhiên, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta đã nhất tề đứng lên, vượt qua hi sinh, gian khổ để giành chiến thắng cuối cùng tại Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời phải công nhận độc lập của Lào, Campuchia, rút quân khỏi 3 nước Đông Dương. Điều đó khẳng định, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Điện Biên Phủ, của nhân dân Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng anh dũng, kiên cường, bất khuất; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách, bản lĩnh và trí tuệ của toàn dân tộc; là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; thắng lợi của sự kiên trì đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và của nghệ thuật quân sự tài tình. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng đã thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chứ đâu phải như những ý kiến lạc lõng, phản động trên. Với sự kiện và nhân vật lịch sử rõ như ban ngày trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 67 năm về trước, thế nhưng các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc, bóp méo sự thật quả là không thể chấp nhận được. Để đấu tranh với những hành động trên, cấp ủy, chỉ huy và cán bộ đảng viên các cấp trong Quân đội cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử truyền thống, tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc bằng mọi hình thức, nhất là đối với sĩ quan trẻ, chiến sĩ mới. Từ đó khẳng định giá trị lịch sử to lớn của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó, cần chủ động, sáng tạo tăng cường mọi biện pháp rèn luyện, nâng cao bản lĩnh, lập trường tư tưởng, chính trị để cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có đủ kiến thức, nhãn quan chính trị, nhậy bén nhận biết những thông tin sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử của kẻ xấu để lên án, đấu tranh hiệu quả.

Cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. Thực tế, vấn đề Biển Đông, chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Bởi vậy, giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo. Dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường. Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Chúng ta càng khẳng định lại rằng vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.