Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

CHUYỆN VỀ GIA THẾ THÂN PHỤ,THÂN MẪU CỦA NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN THỊ BÌNH!

Là một kỹ sư cầu cống do Pháp đào tạo, làm việc trong công sở của Pháp với mức lương khá cao, nhưng cụ Nguyễn Đông Hợi vẫn từ bỏ để theo cách mạng, trở thành Trưởng ban Công binh Nam Bộ chuyên sản xuất vũ khí. khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp diễn ra, cụ Hợi được tổ chức bí mật đưa ra Bắc để phục vụ chiến dịch...


Cả gia tộc theo cách mạng kháng chiến”

Cụ Nguyễn Đồng Hợi là con rể thứ hai của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, chồng bà Phan Thị Châu Lan. Cụ Hợi sinh năm 1900, quê ở huyện Điện Bàn, thân phụ là một nghĩa sĩ Cần vương. 

Tôi may mắn gặp ông Nguyễn Đông Hồ - con trai thứ ba của cụ Hợi và được nghe ông kể những câu chuyện về thân phụ mình. Đọc cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc" của bà Nguyễn Thị Bình, tôi cũng đã biết thêm về cụ Hợi và các con của cụ. Ông Nguyễn Đông Hồ cho biết, cha ông học giỏi và uyên bác, nhờ thế mới trở thành con rể của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. 

Cha mẹ ông sinh được bảy chị em, bốn trai ba gái, bà Nguyễn Thị Bình là con đầu, còn người con gái út đã mất lúc nhỏ. Vì công việc, cụ Hợi phải đi làm nhiều nơi và ở lại đó một thời gian dài nên cụ mang vợ theo. Họ sống trên một chiếc ghe bầu lớn rong ruổi khắp các tỉnh Nam bộ. Bà Nguyễn Thị Bình chào đời trong hoàn cảnh đó. Trong cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc" bà Nguyễn Thị Bình kể lại: "Tôi được sinh ra ở xã tân Hiệp, tỉnh Sa Đéc (cũ), và được ba má đặt tên là Sa(...) Tuổi thơ tôi được sống một thời gian dài ở nông thôn nên cũng hiểu việc đồng áng, câu cá, câu tôm. Tôi còn nhớ mãi mùa nước nổi ở đồng bằng miền Tây, ruộng vườn chìm trong nước mênh mông như biển. Những ngày tháng tuổi thơ ảnh hưởng lâu dài trong cả cuộc đời tôi...".

Do công việc, cụ Hợi rời Nam Bộ, đưa gia đình qua Campuchia sống ở đại lộ Miche, thủ đô Phnom Penh. Ở Campuchia, bà Bình theo học tại Lycée Sisowath - trường trung học lớn nhất Campuchia, chỉ dành cho con cháu hoàng tộc Campuchia và người Pháp học. Vì cụ Hợi làm trong công sở của Pháp nên mới xin cho con mình vào học ở đây. Theo lời ông Hồ, lúc còn đi học ở trường này, bà Bình là bạn học với hoàng tử Sihanouk, sau này là Quốc vương của Campuchia. "Thời gian ở Campuchia, cha tôi đã tham gia hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước tại Campuchia giúp mua vũ khí, đạn dược... rồi chở về Việt Nam" - ông Hồ kể. Năm 1945, cụ Hợi đưa gia đình về lại Việt Nam rồi vào chiến khu D tham gia kháng chiến. Với kiến thức về khoa học tự nhiên uyên bác của mình, cụ Hợi được phân công làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ, đơn vị chuyên sản xuất vũ khí cho quân đội. Cùng với những người lính công binh, cụ Hợi chế tạo súng đạn, mìn... cho bộ đội đánh giặc. Năm 1947, kỹ sư Nguyễn Đồng Hợi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Là gia đình có truyền thống yêu nước nên các con cụ Hợi đều tham gia cách mạng. Trong đó có hai người nổi bật là bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Đông Hà - thủ lĩnh phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên Sài Gòn những năm 60 - 70, thế kỷ XX. "Sau này anh Hà bị tù ở Côn Đảo. Vợ anh Hà, chị Lê Thị Sáu cũng hoạt động cách mạng và bị tù với anh. Mấy anh em con bà dì, chị của má tôi là bà Phan Thị Châu Liên, cũng tham gia cách mạng. Trong đó có hai người nổi tiếng là chị Phan Thị Minh (lấy họ của ông ngoại, tên thật là Lê Thị Kinh, sau này làm Đại sứ ở Úc) và nhà văn Phan Tứ (tên thật là Lê Khâm). Chồng của dì tôi là dượng Lê Ấm, là giáo sư có tiếng thời đó, từng giúp ông ngoại tôi soạn thảo thư từ, bài viết... khi ông ngoại tôi bị ốm nặng ở Sài Gòn" - ông Nguyễn Đông Hồ kể.


Bí mật tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trước khi mở chiến dịch Điện Biên Phủ, biết tiếng kỹ sư Nguyễn Đồng Hợi đang làm Trưởng ban Công binh ở chiến khu D, Trung ương quyết định điều kỹ sư Hợi ra Bắc, phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông Nguyễn Đông Hồ nhớ lại: "Nhận chỉ thị của Bộ Chính trị, cấp trên bố trí cho ba tôi về thành phố Sài Gòn. Họ bí mật đưa ba tôi về ở đền thờ ông ngoại tôi mà lúc đó người dân Sài Gòn thường gọi là đền thờ cụ Phan ở Đa Kao (thuộc phường Đa Kao, quận 1 bây giờ; đền thờ này, sau giải phóng đã được dời về gần mộ cụ Phan trong Khu di tích của cụ Phan). Vì ở trong chiến khu lâu này, ba tôi đã quen với nền nếp sinh hoạt và ăn vận như kiểu trong đó, để giữ bí mật cho hoạt động, ba tôi phải náu mình mấy tháng trời để làm quen với cuộc sống mới. Sau đó, cùng với một bà cụ và một người đi theo bảo vệ, ba tôi cùng họ đóng giả làm những người buôn trầu đi lên sân bay Tân Sơn Nhất bay ra Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng, tổ chức bí mật đưa ba tôi ra Bắc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ba tôi hoạt động ở hậu cứ chứ không trực tiếp tham gia chiến dịch. Ba tôi tham gia chế tạo bom mìn, hình như còn làm cố vấn trong việc đào hầm hào công sự...".

Sau "56 ngày đêm" bộ đội ta bao vây đánh chiếm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chiều ngày 7.5.1954, quân và dân ta đã làm nên "chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu". Công tác ở miền Bắc một thời gian rồi cụ Hợi xin về Nam hoạt động. Cụ sống trong đền thờ cụ Phan. Năm 1969, cụ Hợi bị bệnh nặng. Lúc đó, bà Nguyễn Thị Bình vừa trở về từ Hội nghị Paris. Nghe tin ba bệnh nặng, bà vội vã đến thăm. Bà kể lại chuyện đó trong cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc": "Năm 1969, ở Hội nghị Paris về nhận chỉ thị, tôi hết sức đau buồn khi biết tin ba đã nằm viện mấy tháng rồi, người gầy còm tiều tụy. Tôi ôm lấy ba, nước mắt giàn giụa: "Ba ốm sao không cho con hay?". Ba tôi xúc động trả lời: "Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan trọng hơn!". Ít lâu sau, cụ Hợi qua đời (1969).

Hình 1: Nhà chí sĩ yêu nước cụ Phan Châu Trinh (ông ngoại của bà Nguyễn Thị Bình ).

Hình2 : Ông bà Nguyễn Đồng Hợi và Phan Thị Châu Lan. (Ảnh chụp lại).

Hình 3: Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình./.


Yêu nước ST.

Một số định hướng và tác động đến di cư ở Việt Nam hiện nay

 


     -   Xác định di cư là tất yếu của cung cầu thị trường lao động

Hiện nay có hiện tượng mu quốc tịch trên thế giới (Bồ Đào Nha: 180.000 USD. Năm cần ở Bồ Đào Nha 1 tuần sau 5 năm); Cộng Hòa Síp 2 triệu đô la

-         Cần xây dựng những chính sách nhằm đảm bảo có một cấu trúc đô thị cân bằng hơn giữa các vùng để giảm sức ép đô thị hóa ở hai thành phố lớn nhất của cả nước

-         Chủ trương của nhà nước trong những năm tới về xóa bỏ hệ thống đắng ký hộ khẩu hiện hành sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đảy thực hiện bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ công đối với người di cư.

-          Tập trung xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm cho người lao động

Xây dựng mô hình phát triển sản xuất ở nông thôn: Tập trung sản xuất lớn với sự tích tụ ruộng đất, đầu tư của khoa học công nghệ, gắn liền với đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động và tìm kiếm thị trường cho đầu ra của sản phẩm của nông nghiệp, thông qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện tích cực đời sống ở khu vực nông thôn

-          Xây dựng tâm niệm “ly nông, không ly hương”

-           Quản lý và tạo điều kiện cần thiết cho người nhập cư. Những hỗ trợ đặc biệt cần được thực hiện sớm để sớm ổn định cuộc sống cho người di cư. Cần phải tăng cường đầu tư cho các hoạt động kiểm soát và phòng ngừa lây nhiễm dịch bệnh

“Già hóa dân số” và “dân số già” ngày càng tăng- những vấn đề đặt ra

 


- Xây dựng hệ thống an sinh xã hội người cao tuổi.

Xây dựng hệ thống an sinh cho người cao tuổi có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với thực tiễn hiện nay và xu hướng tỷ trọng người già tăng nhanh, đặc biệt là heẹ thống an sinh với người cao tuổi

Hiện nay có khoảng 70% người cao tuổi ở Việt Nam tự lao động kiếm sống, khoảng 30% người có lương hưu/trợ cấp xã hội; 72,3% sống cùng con cháu; tình trạng người cao tuổi sống cô đơn cao. Nữ giới chiếm tỷ trọng cao trong dân số cao tuổi và phụ nữ cao tuổi sống cô đơn gấp 5,44 lần nam giới. Số người cao tuổi không có tích lũy vật chất chiếm 70% trong đó 62,3% khó khăn thiếu thốn (nông thôn 68%, thành thị 50%)

- Tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Chúng ta phấn đấu đến năm 2030 tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khẻo mạnh đạt tối thieeur 68 nawm, 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y teé, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

Kết quả điều tra về người cao tuổi năm 2011 cho thấy; tuy tuổi thọ trung bình người Việt nam cao (73 tuổi), nhưng gấnh nặng bệnh tật của người cao tuổi cũng cao, gánh nặng bệnh tật kép (95% có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền), 67,2% tình trạng sức khỏe yếu, rất yếu, sức khỏe tốt chỉ có 5%)

Sử dụng nguồn lực lao động do “dư lợi dân số” mang lại ở Việt Nam hiện nay.

 


- Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng lao động.

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động cần xác định chiến lược đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp cho lực lượng lao động bước vào độ tuổi lao động, lực lượng lao động chuyển đổi nghề và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm giải quyết phù hợp với cung – cầu của kinh tế thị trường lao động và xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

- Giải quyết lao động tạo việc làm và hạn chế tình trạng thất nghiệp

Tính đến ngày 1/4/2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước đạt 54,5 triệu người, tăng gần 105 ngìn người so với thời điểm năm 2016, bao gồm 28 triệu lao động là nam và 26,5 triệu lao động là nữ. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2017 ước tính là 74%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I ước tính là 2,3% (quý I 2016 là 2,25%). Theo các chuyên gia thì năm 2017 có khoảng 200.000 cử nhân thất nghiệp

Cơ cấu lại lao động:

+ Giảm tỷ lệ lao động nông, lâm, thủy sản tăng tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ

Nghị quyết 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045: Giảm tỷ lệ lao động khu vực Nông, Lam nghiệp, thủy sản, phấn đấu tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ sớm đạt ngưỡng 70%

+ Hạn chế lao động giản đơn: Hiện nay nhóm nghề lao động giản đơn thu hút nhiều lao động nhất 33,2% (so với 10 năm trước giảm mạnh: giảm 7,1 điẻm %)

Cần phải tận dung: “dịch vụ cá nhân”, “bảo vệ và bán hàng”, thợ thủ công và các thợ khác có liên quan: “thợ lắp ráp, thờ vận hành máy móc thieét bị cũng là nhóm nghề thu hút nhân lực.

Thách thức của di cư ở Việt Nam hiện nay

 


- Tăng sức ép đô thị

Điểm đến của luồng di cư NT-ĐT và ĐT-ĐT chủ yếu ở những vùng có các khu công nghiệp và ở hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng di cư và hướng di cư cho thấy các cơ hội việc làm phần lớn là ở khu vực này. Mô hình di cư này làm tăng sức ép đô thị hóa ở các thành phố lớn.

-Khó khăn trong ổn định cuộc sống

Hầu hết những người di cư tới vùng Tây Nguyên làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (trên 50%) và đến từ các vùng nông thôn khác. Cả nước có khoảng 1/3 số người di cư gặp khó khăn ở nới đến, tuy nhiên có tới 60% số người di cư ở Tây Nguyên gặp phải vấn đề này. Hiện nay có khoảng 100 ngàn hộ gia đình di cư đang chưa được ổn định chỗ ở tại vùng Tây Nguyên. Trong đó có khoảng 50% là đồng bào DTTS

-Khó khăn trong việc cung cấp đủ nhà ở tại nơi đến, đặc biệt là đô thị và các dịch vụ thiết yếu

+Kết quả khảo sát năm 2015 cho thấy, điều kiện nhà ở tại những nới đến là điều làm cho nhiều người di cư không hài lòng. Gần 1/3 số người di cư cho rằng điều kiện tại nơi ở mới kém hơn so với quê cũ của họ. Nhiều người di cư phàn nàn về việc phải thuê nhà với giá điện nước quá cao. Hơn 40% số người di cư ở diện tích bình quân đầu người thấp hơn 10m2, trong khi tỷ lệ này ở người không di cư là 16%.

+ Các thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú phức tạp đối với những người di cư. Nhiều người di cư (49%) đăng ký tạm trú và có 13,5% số người di cư không đăng ký tạm trú, tạm vắng. Không đăng ký hộ khẩu thường trú có khó khăn: Tiếp cận giá dục cho con cái; chăm sóc sức khỏe; vay vốn các nguồn chính thức; đăng ký phương tiện đi lại

-Khó khăn trong kiểm soát lây lan các dịch bệnh

Việc kiểm soát lây lan của các dịch bệnh thông qua di chuyển của người di cư từ địa phương này tới địa phương khác và từ vùng này tới vùng khác. Ví dụ dịch COVID- 19.

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY LÀ VẤN ĐỀ CÓ TẦM CHIẾN LƯỢC

 


 Nhận thức đúng thời đại luôn là vấn đề có tầm chiến lược đối với quốc gia dân tộc và toàn thể nhân loại trong việc xác định điểm đứng của mình hiện ở đâu trong tiến trình lịch sử, để từ đó lựa chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với xu thế phát triển khách quan của thời đại.

Trung thành với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và vận dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận thời đại, trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, Đảng ta đã phân tích làm rõ tính chất, đặc điểm, mâu thuẫn cơ bản với những biểu hiện mới của chúng trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Đây là một căn cứ khoa học giúp Đảng ta xác định con đường, mục tiêu, chiến lược phát triển đất nước phù hợp với xu thế khách quan của thời đại ngày nay.

 Nghiên cứu vấn đề thời đại ngày nay có ý nghĩa quan trọng giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nâng cao nhận thức, năng lực tư duy và năng lực thực tiễn, góp phần để cán bộ chiến dịch, chiến lược ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Di cư và phát triển KT-XH ở Việt Nam

 


Theo nghĩa rộng: Di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian vào thời gian nhất định; Theo nghĩa hẹp: Di cư là sự chuyển dịch của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nới cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định.

Di cư là động lực tích cực thúc dẩy phát triển KT-XH, góp phần phân bố lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh teé lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm phát triển bền vững

Hiện nay di cư nông thôn – thành thị là xu hướng nổi trội (Đánh giá chung di cư nông thôn- thành thị gấp 3 lần so với luồng di cư đô thị - nông thôn; đặc biệt các khu vực Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long quy mô luồng di cư nông thôn- đô thị gấp 5 lần so với luồng di cư đô thị - nông thôn

Di cư nông thôn- đô thị có tác động trực tiếp làm thay đổi nghề nghiệp, hành vi, lối sống của những người di cư. Hầu hết những người di cư nông thôn – đô thị chuyển đổi từ các việc làm trong nông nghiệp sang việc làm phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn và nâng cao vị thế của họ (bản chất của di cư nông thôn- thành thị). Kết quả năm 2015 cho thấy hầu hết  những người di cư đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (chiếm 95,5%). Gần 60% những người di cư nhận thấy rằng thu nhập của họ tăng lên sau khi di cư, và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục cũng tốt hơn. Người di cư chủ yếu là thanh niên cho nên ở đô thị cũng được bổ sung và trẻ hóa

+Mang lại lợi ích cho các hộ gia đình và cộng đồng có người di cư qua việc nhận được các khoản tiền gửi về quê hương của người di cư. Kết quả điều tra năm 2015, trong 12 tháng trước điều tra có gần 30% số người di cư gửi tiền về cho gia đình. Theo đó trung bình một người gửi về là 27,5 triệu đồng/năm.

Chú ý: Không nên coi di cư  là yếu tố cản trở phát triển; những cũng không coi di dư là liều thuốc thần kỳ chữa bệnh đói nghèo và sự mất cân bằng thu nhập

Ý nghĩa đối với cán bộ khoa học quân sự khi nghiên cứu về thời đại

 


- Góp phần củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ khoa học quân sự

+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng ta về thời đại ngày nay góp phần tạo cơ sở khoa học để cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược củng cố lập trường, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, giữ vững niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

+ Thế giới quan, phương pháp luận khoa học được rút ra từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng ta về thời đại ngày nay có ý nghĩa to lớn giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược vận dụng vào nhận thức đời sống xã hội trong nước và quốc tế một cách khoa học để nâng cao tri thức toàn diện; đặc biệt hơn là giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nắm vững được tư duy biện chứng của Đảng về mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, để tiến hành đấu tranh và hợp tác có hiệu quả.

+ Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta về thời đại ngày nay sẽ là vũ khí lý luận giúp cán bộ chiến dịch, chiến lược đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái phản động, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác-  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn. 

- Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn cho cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước,  cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược tích cực nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Trong đó trọng tâm là các hoạt động: nâng cao chất lượng toàn diện cho quân đội trên cơ sở chất lượng về chính trị; xây dựng khu vực phòng thủ; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nhanh tiềm lực quân sự quốc gia; nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự để đối phó, làm thất bại các thủ đoạn phi vũ trang, nhất là thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao nếu kẻ thù tiến hành xâm lược nước ta.

- Làm tốt chức năng tham mưu với Đảng và Nhà nước về QP,QS

Trên cơ sở nắm vững về đối tượng, đối tác và yêu cầu mới của Chiến lược BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, cán bộ KHQS làm tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về chiến lược quốc phòng, quân sự nhằm không ngừng củng cố quốc phòng, không bị bất ngờ về mặt chiến lược. Đó là tham mưu về tổ chức bố trí lực lượng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phương thức thực hiện phương châm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, quân sự; phương thức chuyển trạng thái thời bình sang thời chiến; phương thức thực hiện tốt việc kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội và kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh...

Ưa thích con trai là nguyên nhân căn bản dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam

 


Số liệu của cuộc tổng điều tra năm 2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả nước theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của cả nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều nằm ở phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì đa số các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao nhất nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Với kết quả trên có thể khẳng định rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về ưa thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi của văn hóa truyền thống Việt Nam

> Việc tiếp tục duy trì những truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay

Hiện nay, một số văn bản chính sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến việc phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ đó là truyền thống gì. Mặc dù bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn được coi là nền tảng của truyền thống văn hóa Việt nam. Dó đó nếu chỉ nói tới truyền thống văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành động trọng nam, khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là những truyền thống văn hóa Việt nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh giá là những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật BĐG đã nêu rõ về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đang ngăn cản việc thực hiện mục tiêu BĐG.

Tình hình mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam hiện nay

 


Tỷ số giới tính: Là số nam trên 100 nữ trong tập hợp dân số

Tỷ số giới tính khi sinh: Là một chỉ số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ em gái (Tỷ số này thông thường là từ 104-106 trẻ em trai/100 em gái và giá trị của chỉ số này thường là rất ổn định qua thời gian)

Tỷ số giới tính khi sinh là chỉ số cơ bản làm thước đo phản ánh cơ cấu dân số về giới tính và phản ánh mức độ cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Tỷ số này ở mức cân bằng sinh học tự nhiên giao động từ 103-106 bé trai/1000 bé gái sinh ra sống tùy theo từng quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh ở mức cân bằng tự nhiên là 105. Nếu không có sự can thiệp một cách có chủ đích của con người thì tỷ số giới tính tự nhiên sẽ thường trong khoảng từ 103-106 bé trai/100be gái và khi bước vào độ tuổi hôn nhân tỷ số giới tính tự cân bằng

Hiện tượng mất cân bằng khi sinh sảy ra từ sau năm 2005, khi đó tỷ số giới tính khi sinh khoảng 106-107. Tỷ số giới tính tăng đến 110 năm 2009, và tiếp tục tăng những năm sau đó (năm 2018:114,8 bé trai/100 gái; năm 2019:111,5/100 gái

Xét theo chiều cạnh mức sống thì có sự khác biệt về mất cân bằng giới tính khi sinh về điều kiện kinh tế. Nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) thì chỉ số xác định phân bố mức sinh theo giới tính ở mức bình thường là 105,2, thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm giàu nhất tình trạng mất cân bằng mức sinh theo giới tính lại rất cao. Cụ thể mức sinh theo giới tính giàu là 111,7 và nhóm giàu nhất là 112,9. Mức sinh theo giới tính thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ (107) và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trịnh độ cao dẳng trở lên

Nguyên nhân của mất cân bằng giới tính khi sinh, được xác định 3 nguyên nhân cơ bản:

- Văn hóa truyền thống về ưa thích con trai

- Mức sinh giảm thấp xuống mức sinh thay thế

- Phát triển công nghệ siêu âm xác định giới tính thai nhi

 Theo ước tính nhân khẩu học, nếu tỷ số giới tính vẫn mất cân bằng như những năm vừa qua, đến năm 2050, trong cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thừa 12% nam giới ở độ tuổi dưới 50 (2.3 – 4,3 triệu nam giới). Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ khiến hàng triệu nam giới khó tìm được bạn đời (người ngheog và học vấn thấp…) để lại một loạt hậu quả về mặt nhân khẩu học và mặt xã hội, bao gồm nạn ép buộc kết hôn, buôn bán, bạo hành phụ nữ, trẻ em gái và cả nguy cơ bất ổn xã hội do sự bất mãn về xã hội và tình dục của nam giới…vấn đề di cư trong nước và nước ngoài vì mục đích hôn nhân có thể tăng lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn

Tận dụng “dân số vàng” ở Việt nam hiện nay như thế nào

 


Giai đoạn năm 2005 đến nay, tỷ trọng dân số trẻ em giảm chỉ còn khoảng 24-25%, trong khi đó tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65+) đang còn tăng chậm (năm 2019 mới có 7,7%), dó đó tỷ trọng dân số lao động tăng lên nhanh, nước ta bước vào thời kỳ có “cơ cấu dân số vàng” (ước tính từ năm 2007). Trong thời kỳ này, số người trong độ tuổi lao động (15-64) nhiều hơn gấp đôi số người phụ thuộc (0-14 và 65+) hoặc tỷ số phụ thuộc dưới 50/100.

Qua khảo sát cho thấy, tỷ số phụ thuộc dân số ở nước ta bắt đầu giảm từ 63,3/100 vào năm 1999 xuống 44,4/100 năm 2009 và bắt đầu tăng trở lại 47/100 vào năm 2019, như vậy thời kỳ “dân số vàng” ở nước ta đã vượt qua đỉnh và có thể kéo dài đến năm 2037-2040

Đặc điểm thời đại- những vấn đề cần nắm vững

 


Với tư duy mới, Đảng ta đã vận dụng tổng hợp, sáng tạo các phương pháp tiếp cận thời đại trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật để phân tích, nhận diện, rút ra những đặc điểm của thời đại trong giai đoạn hiện nay, gồm những đặc điểm sau đây:

+ Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đưa loài người bước vào nền kinh tế tri thức, đồng thời tạo ra quá trình toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng ta nhận định: Cuộc cách mang khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, tác động đến sự phát triển của nhiều nước[1]. Do sự tác động của các quá trình này đã tạo nên xu thế hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; song bên cạnh đó, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, bạo loạn lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra rất phức tạp.

Thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay đã chứng tỏ cho sự nhận định trên của Đảng, đó là sự liên kết khu vực, liên kết toàn cầu như ASEAN, APEC, ASEM...; chiến tranh ở Apganixtan, Irac...; bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi...; tình hình phức tạp ở biển Đông...

+ Về chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng trên thế giới:

=> Đảng ta đánh giá: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới[2]. Chính tổn thất này mà phong trào cách mạng thế giới ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX  và một số năm đầu thế kỷ XXI đã lâm vào thoái trào.

=> Tuy nhiên, một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển. Đặc biệt hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bước hồi phục[3], song Đảng ta cũng thấy rõ sự gian nan, thử thách đối với những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả sẽ còn gặp nhiều khó khăn, vì các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá, tìm mọi cách để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

+ Về chủ nghĩa tư bản:  Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn  tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.

=> Đi sâu phân tích những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, Đảng đã khẳng định: Nhưng mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc, khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn ra. Từ đó Đảng ta kết luận: Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân lao động các nướcsẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.

+ Về độc lập dân tộc và phát triển:

Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ lại nằm trong tay các nước tư bản, cho nên Các nước đang phát triển, kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ đọc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

+ Về những vấn đề toàn cầu:

Giai đoạn hiện nay của thời đại đã và đang nổi lên những vấn đề cấp bách, liên quan đến vận mệnh sống còn của cả nhân loại như: “ gìn giữ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo.... Giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực hợp tác với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.

Từ những đặc điểm trên, Đảng ta khái quát nêu lên đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là: các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Căn cứ vào lôgic, quy luật vận động, phát triển của tiến trình lịch sử nhân loại, Đảng ta rút ra kết luận: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Nxb CTQG, Hà nội, 2011, tr. 67.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

Giảm tỷ trọng trẻ em- thách thức ở Việt Nam hiện nay

 


Quá trình giảm sinh mạnh mẽ trong hơn 30 năm qua ở nước ta đã dẫn đến việc thay đổi rõ rệt cơ cấu các nhóm dân số theo độ tuổi. Trước hết có thể thấy ngay là tỷ trọng trẻ em trong dân số đã giảm nhanh. Tỷ trọng trẻ em trong dân số ở nước ta đã giảm từ 39,2% năm 1989, xuống 33,1% năm 1999; 24,5% năm 2009 và còn 24,3% năm 2019. Tương ứng với mức sinh ở các năm đó lần lượt là 3,8; 2,3; 2,1; và 2,1 con/phụ nữ

Có thể nhận xét là, trong 10 năm trở lại đây (2009- 2019), mức sinh thay thế được giữ ổn định (2,1 con). Dó đó mục tiêu cơ bản của chính sách dân số hiện nay là duy trì mức sinh thay thế. Những tỉnh/thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần có các giải pháp chính sách để đưa mức sinh lên ngang bằng với mức sinh thay thế. Nhóm các tỉnh/thành phố đang có mức sinh thay thế ổn định tiếp tụch duy trì mức sinh thay thế này

Ba người ra tòa với cáo buộc 'nói xấu lãnh đạo'

QUẢNG TRỊ Doanh nhân Lê Anh Dũng, cựu nhà báo Bảo Thy và cán bộ công an Nguyễn Huy bị xác định đăng nhiều bài viết trên Facebook nói xấu lãnh đạo tỉnh. Ngày 29/10, TAND Quảng Trị xét xử bị cáo Lê Anh Dũng (56 tuổi, giám đốc doanh nghiệp), Phan Bùi Bảo Thi (50 tuổi, cựu nhà báo) và Nguyễn Huy (44 tuổi, cựu cán bộ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị) về tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bị hại là 6 lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Quảng Trị không đến tòa, đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Ba người bị cáo buộc đăng tải 79 bài viết trên các trang Facebook có nội dung "xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, xâm phạm uy tín, danh dự" một số lãnh đạo tỉnh Quảng Trị. Bị cáo Dũng trực tiếp nhận và đăng tải 79 bài viết, bị cáo Bảo Thy biên tập 53 bài, bị cáo Huy biên tập 26 bài và gửi cho Dũng để đăng tải. Tại phiên tòa, bị cáo Dũng cho rằng nội dung các bài viết là "đúng", không phải bôi nhọ. Trả lời tòa về bằng chứng, ông nói một số nội dung đã được báo chí đăng tải. Về những bài viết đăng trên một số tài khoản Facebook, ông nói có chuyển cho người yêu qua mạng để "tâm sự" chứ không phải để đăng. Tương tự, bị cáo Bảo Thy thừa nhận viết 53 bài, chuyển cho ông Dũng "tâm sự" chứ không biết việc bị đăng trên mạng xã hội. Nội dung bài viết do ông Thy "nghe tâm sự" ở các quán cà phê, quán nhậu... và dự định sử dụng làm tư liệu cho một tác phẩm. Một số được ông này xác thực và đăng báo chí. "Những bài đang xác thực, tôi không phát tán, chỉ gửi cho bạn thân đọc vui vẻ", ông Thy nói và khai "không biết gì về mạng xã hội". Chủ toạ phiên toà cho rằng lời khai sáng nay của các bị cáo khác với lời khai tại cơ quan điều tra là "hoàn toàn nhận thức nội dung các bài đăng không đúng sự thật, chưa được kiểm chứng". Bị cáo Nguyễn Huy thừa nhận biên tập 26 bài viết, "một số do bức xúc nên viết quá lên". Ông này cũng cho rằng việc gửi cho ông Dũng là "anh em tâm sự với nhau", sau mới biết là xuất hiện trên mạng xã hội. Chiều này, phiên toà tiếp tục làm việc.

Quá trình già hóa dân số thách thức sinh kế, chăm sóc y tế người già ở Việt Nam

 


Hiện nay cho thấy, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già thì không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác tỷ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia đình người già. Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Khi các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già (ước tính hieenj nay mới có khoảng 25% số người già đã tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu trí). Như vậy nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. Dó đó việc thực hiện thành công các mục tiêu về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội theo quyết định của nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng đối với sinh kế của người già

So sánh với các nhóm dân số khác, nhóm người già có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất

Mô hình bệnh tật của người già chuyển từ các bênh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm đang là thách thức lớn cho ngành y tế hiện nay. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho một người già cao hơn 7-8 lần so với trẻ em

Trong bối cảnh “chưa giàu đã già”, hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách thức về chi phí khám chữa bệnh cao trong khi chỉ có thu nhập thấp. Đây là một yếu tố tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội

Bỏ giấy thông hành 'âm tính'

TP HCM bỏ giấy đi đường từ hôm nay, nhưng tôi mong việc bỏ giấy thông hành 'âm tính' cũng sẽ được áp dụng trên toàn quốc. Trong điện thoại của tôi vài tháng nay thêm nhiều nhóm chat. Một nhóm tôi được đưa vào của các doanh nghiệp có phân xưởng tại Long An. Câu hỏi thường xuyên đặt ra là làm sao để có giấy xét nghiệm cho công nhân từ TP HCM có thể về Long An làm việc. Tôi hỏi kỹ hơn, ngoài việc phải khai báo y tế, có giấy chứng nhận công tác, người lao động còn phải xuất trình giấy xét nghiệm 'âm tính' hàng ngày để qua các chốt giữa hai thành phố. Yêu cầu này khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, phải hỗ trợ chi phí cho công nhân làm xét nghiệm, mất rất nhiều thời gian hàng ngày khi họ phải đợi xét nghiệm và qua những chốt chặn. Nhưng quan trọng nhất là doanh nghiệp mất nguồn lao động, khoảng 50% nhân công của họ từ TP HCM do không làm được xét nghiệm nên không thể đến xưởng. Nhiều doanh nghiệp đành phải nghỉ vì không thể thực hiện các yêu cầu trong đó có xét nghiệm liên tục hai lần mỗi tuần. Công ty của bạn tôi vừa khai trương tại Long An đầu năm, suốt ba tháng nay không làm gì được vì nhân công đòi nghỉ gần hết. "Hai, ba ngày ngoáy mũi một lần, giờ con sưng lỗ mũi hết rồi, không đi làm được sếp ơi" có người nói. Chị còn sợ các công xưởng tại TP HCM sẽ thu hút hết nhân công, vì nếu họ xin vào khu công nghiệp tại TP HCM thì không phải xét nghiệm hàng tuần để đi Long An. Quy định mới nhất đang là, công nhân, công chức, chuyên gia, người đi khám bệnh từ các tỉnh đến TP HCM và ngược lại phải đáp ứng điều kiện: đã tiêm vaccine phòng Covid-19 mũi thứ nhất đủ 14 ngày hoặc đã khỏi Covid-19; kết quả xét nghiệm âm tính với nCoV còn hiệu lực trong 72 giờ kể từ thời điểm lấy mẫu. Các doanh nghiệp kể với tôi, người của họ hầu hết đã tiêm ít nhất một mũi vaccine, nhưng cán bộ chấp pháp tại địa phương nhất quyết: "Hoặc anh có giấy hoặc không đi. Giấy này sẽ đảm bảo cho tỉnh tôi không có người nhiễm Covid". Điều ấy có thực sự đạt được không? Tôi xin nêu ra vài khía cạnh. Quy định yêu cầu dù đã tiêm vaccine hoặc đã khỏi Covid-19 vẫn cần giấy thông hành xét nghiệm Covid -19 âm tính trong 72 giờ. Ta đều biết rằng, mẫu xét nghiệm nào cũng chỉ có giá trị tại thời điểm lấy mẫu. Việc xét nghiệm âm tính hôm nay chưa chắc ngày mai chúng ta thử lại vẫn âm tính. Ví dụ, hôm nay tôi tiếp xúc với F0, nếu tôi bị nhiễm virus thì khả năng dương tính được xác định vào khoảng từ ngày ba đến bảy ngày sau khi tiếp xúc. Nhưng vấn đề là không thể biết được người đang di chuyển đã tiếp xúc với F0 vào ngày nào. Do đó, khi người di chuyển nộp giấy xét nghiệm cách đó 72 giờ, rõ ràng không loại trừ được khả năng người đó âm tính với Covid-19 vào thời điểm họ đi vào tỉnh, và rõ ràng cũng không xác định được họ vẫn tiếp tục âm tính sau đó. Ngoài ra, không phải có kết quả xét nghiệm âm tính nghĩa là người đó âm tính. Độ nhạy, độ chuyên của xét nghiệm test nhanh kháng nguyên chỉ trung bình tầm 80%. Vẫn có 20% dương tính giả hoặc âm tính giả, do đó vẫn có những trường hợp âm tính nhưng có thể có dương. Cách lấy mẫu không đúng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, có thể cho âm tính giả nếu lấy mẫu sai, nhất là trong những trường hợp lấy mẫu cho quá đông người trong một thời gian ngắn như nhiều nơi đang làm. Lợi điểm của xét nghiệm như vậy chưa rõ ràng, nhưng nguy cơ lại khá nhiều. Ngoài việc gây phiền hà và tốn kém cho người lao động, khả năng lây nhiễm virus do phải lấy mẫu xét nghiệm rất cao. Bình thường Sars Cov 2 chủ yếu lây qua giọt bắn và tiếp xúc gần, nhưng thao tác lấy mẫu xét nghiệm giúp cho virus có thể phát tán trong không khí, tạo nguy cơ cho những người đến lấy mẫu ngay cả khi đảm bảo khoảng cách hai mét. Nếu một người bị nhiễm trong khu vực lấy mẫu rất có khả năng lây lan cho những người xung quanh nhanh chóng. Ngoài ra, áp lực phải lấy mẫu quá nhiều trong thời gian ngắn nên nhân viên lấy mẫu không thể tuân thủ đúng việc thay găng, rửa tay giữa mỗi lần lấy mẫu. Theo đúng quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn, mỗi nhân viên y tế khi lấy mẫu phải mang găng và sau đó tháo găng, rửa tay trước khi chuyển qua lấy mẫu cho người kế tiếp. Tuy nhiên, đa phần các điểm xét nghiệm đều không thể thực hiện được yêu cầu này. Do đó, nguy cơ lây nhiễm cho người đến lấy mẫu hàng tuần hay mỗi ba ngày rất cao. Có ý kiến cho rằng người tiêm vaccine rồi vẫn có khả năng nhiễm Covid-19 và lây cho người khác, nên tiêm rồi vẫn cần giấy xác nhận 'âm tính'. Khả năng bảo vệ của vaccine cao nhất chỉ khoảng 80%, nghĩa là có xác suất đã chích ngừa vẫn bị nhiễm. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới và các nghiên cứu quốc tế khác trên người đã chích ngừa hai mũi cho thấy tải lượng virus của những người này rất thấp, gần như không có khả năng lây nhiễm. Mỗi giai đoạn dịch phải có một chiến thuật khác nhau, dù chiến thuật nào, cần chọn phương án hiệu quả và ít tốn kém cho dân nhất. Tôi hy vọng chúng ta sẽ tinh gọn chiến lược chống Covid bằng mục tiêu phủ vaccine càng nhanh, càng nhiều càng tốt. Nguồn vaccine đang về dồi dào hơn, nếu quyết liệt, sẽ sớm thôi để Việt Nam đạt được đa số dân được tiêm mũi một vaccine. Chính quyền cũng làm sao để quản lý tốt người tiêm vaccine, F0 đã khỏi để cấp giấy đủ chứng nhận cho họ. Vì đến nay, vẫn còn rất nhiều người đã tiêm đủ nhưng trên hệ thống không cập nhật, nhiều ca nhiễm Covid đã khỏi nhưng không được xác nhận. Riêng với giấy thông hành xét nghiệm 'âm tính', như đã phân tích, chỉ làm tăng thêm gánh nặng kinh tế, tăng nguy cơ lây nhiễm cho người có nhu cầu phải đi lại. Theo tôi, đây là lúc cả nước dần sử dụng chứng nhận tiêm vaccine như một giấy thông hành mới.

Tính chất của thời đại ngày nay không hề thay đổi

 


+ Luôn nhất quán với quan điểm mác - xít về tính chất của thời đại mới, thời đại ngày nay, Đảng ta khẳng định: Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi mở đầu của chủ nghĩa xã hội và cũng là mở đầu thời đại mới mà nội dung cơ bản và tính chất của nó đã được xác định là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất ấy của thời đại đến nay vẫn không hề thay đổi.

+ Trước tổn thất lớn của phong trào cách mạng thế giới: sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, dẫn đến thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã phân tích cụ thể, đánh giá đúng tình hình và đưa ra nhận định: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội[1].

+ Cùng với sự khẳng định tính chất không thay đổi của thời đại ngày nay, Đảng ta chỉ rõ: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử[2].

=>  Để có thêm cơ sở đưa ra nhận định về tính chất của thời đại ngày nay, Đảng ta đã xuất phát từ thực tiễn lịch sử: Thời đại phong kiến ở châu Âu hình thành, phát triển sau gần 200 năm mới thay đổi được hoàn toàn chế độ nô lệ; thời đại quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa, nếu tính từ cách mạng tư sản Anh đến cách mạng tư sản Pháp và cả châu Âu cũng diễn ra khoảng 200 năm. Từ đó, Đảng ta rút ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại mà chế độ xã hội khác hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó trong lịch sử, thì đương nhiên sẽ rất lâu dài và hết sức quanh co, phức tạp.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr.76.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb CTQG, Hà Nội, 1991, tr.8.

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau


Quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau là quan hệ liên minh giữa các thế lực, các tập đoàn tư bản để cùng tìm kiếm và giành giật nhau về lợi ích. Thực chất quan hệ liên minh giữa các nước tư bản là liên minh trong cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau. Song chúng luôn có sự thống nhất về mục đích chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới.

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau thường xuyên diễn ra, lúc gay gắt, lúc thầm kín. Biểu hiện mới của mâu thuẫn này trong giai đoạn hiện nay thể hiện:

+ Xu hướng “đa cực” chống “đơn cực” của Mỹ

Mỹ là trung tâm phát triển cao nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ra sức mưu toan khống chế các nước tư bản khác và làm bá chủ thế giới. Các trung tâm khác như Tây Âu (chủ yếu là Cộng hòa liên bang Đức, Pháp) và Nhật Bản cũng ra sức trở thành siêu cường kinh tế; vừa là đồng minh vừa là đối thủ của Mỹ.

+ Cạnh tranh kinh tế, tranh chấp thị trường, chiến tranh thương mại cả trong và ngoài khuôn khổ WTO, thể hiện tập trung ở trục: Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản và ở các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. Ngoài ra, giữa các tập đoàn tư bản khác nhau trong từng nước tư bản chủ nghĩa cũng có những mâu thuẫn gay gắt trong việc giành giật ưu thế về quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

Tóm lại, với tư duy mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc mâu thuẫn của thời đại trong giai đoạn hiện nay và khẳng định: các mâu thuẫn của thời đại ngày nay vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển sâu sắc hơn với những hình thức, mức độ biểu hiện mới so với trước đây. Những biểu hiện mới đó của mâu thuẫn cơ bản nói lên đặc điểm, tính chất thời đại, phản ánh tính chất phức tạp, quanh co của sự vận động lịch sử trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội. 

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

 

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

Tôn giáo là một trong những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã. Tôn giáo đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ ngĩa xã hội. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng nước ta.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Các quyền này đã được nêu rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước Việt Nam, trong đó có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Một số nước vẫn còn có các nhóm người công khai, lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo đến công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, hàng năm có hàng chục phái đoàn vào “tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam”, trong đó vẫn có những nhân vật lợi dụng hoạt động này để nắm bắt tình hình, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá Việt Nam. Trong cái gọi là “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế” hằng năm, họ thường xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, trong đó có những thông tin cố tình làm sai lệch và phản ánh không đúng tình hình như ở Tây Nguyên mấy năm trước và một số địa phương trong những tháng đầu năm nay. Những phương thức chủ yếu của bọn đế quốc trong việc lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng.

Thứ nhất, chúng tìm mọi cách để đưa giáo hội vào các cuộc chiến chính trị. Một mặt chúng thúc giục các giáo hội ủng hộ các đảng phái đồi lập hoạt động chống Ðảng Cộng Sản. Mặt khác thông qua hoạt động của các đảng phái đối lập để lôi kéo, tập hợp, kích động các chức sắc, giáo sĩ, tín đồ chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, xúi giục các giáo hội đòi lập khu tôn giáo tự trị. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn đế quốc chú trọng đến việc xây dựng các khu tôn giáo tự trị ngay trên lãnh thổ các nước xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn ở Trung quốc, đã một thời xuất hiện khu tự trị Phật Giáo Tây Tạng. Mục đích của việc hình thành các khu tự trị tôn giáo này là: Tăng thêm tính độc lập của giáo hội đối với nhà nước. Tạo thế và lực cho giáo hội hoạt động chống nhà nước. Tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động can thiệp trực tiếp khi giáo hội yêu cầu.

Thứ ba, khơi dậy, khoét sâu những mâu thuẫn, những vấn đề tôn giáo và dân tộc; kích động các cuộc chiến tranh mang màu sắc tôn giáo, sắc tộc, làm suy yếu tiến tới làm sụp đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay và trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về công tác tôn giáo, từ thực trạng vấn đề tôn giáo trong lịch sử thế giới và ở nước ta, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam như sau:

Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật, hình thành chủ nghĩa vô thần cho toàn dân mà trực tiếp là đồng bào các dân tộc theo đạo.
Nội dung tuyên truyền phải toàn diện, tổng hợp. Trước hết, cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng thừa nhận rằng: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; tôn giáo có những giá trị văn hóa đạo đức phù hợp với chế độ mới; Đảng và Nhà nước tôn trọng và bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng; tuyên truyền cho đồng bào hiểu rõ: chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề tôn giáo không có mục đích nào khác là nhằm thúc đẩy quá trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng (trong giai đoạn hiện nay là thúc đẩy toàn diện quá trình đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh) được củng cố và tăng cường.

Hai là, triển khai thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Đồng thời hết sức quan tâm giải quyết một số vấn đề bức xúc về kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào theo đạo. Hiện nay, nhiệm vụ chính trị trọng đại của cả dân tộc ta lúc này là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Trên tiền đề có đường lối đúng, việc phát huy cho được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có gần một phần tư dân số theo 6 tôn giáo lớn là một động lực mạnh nhất của quá trình phát triển để đạt mục tiêu vừa nêu. Việc giải quyết vấn đề tôn giáo phải góp phần phục vụ cho nhiệm vụ chính trị căn bản đó. Trong những năm trước mắt, liên quan tới vấn đề vừa nêu, cần đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh đô thị hoá. Bởi lẽ, một khi đời sống mọi mặt đồng bào được bảo đảm, thì dù thế lực thù địch bên trong và bên ngoài có muốn gây rối bằng việc lợi dụng vấn đề tôn giáo của đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo cũng không thể thực hiện được.

Ba là, củng cố và từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc, cán bộ an ninh, cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ. Đây là điều kiện bảo đảm nắm được quần chúng đồng thời làm nòng cốt cho công tác phòng ngừa, đấu tranh, giáo dục cảm hoá, cải tạo những phần tử xấu, trừng trị những kẻ lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để hoạt động trái pháp luật, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở còn phải chú trọng chất lượng cán bộ làm công tác an ninh, công tác tôn giáo, dân tộc, hướng vào đối tượng người dân tộc thiểu số tại chỗ. Ở cấp cơ sở cơ bản không có cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo, cán bộ kiêm nhiệm không ổn định; họ thiếu thông tin, nhiều người chưa nắm vững nội dung các văn bản của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo. Sự yếu kém, hẫng hụt từ đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay có thể nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém của công tác này. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, trước hết cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ đang làm công tác này. Mấy năm nay, trong sự phối hợp của các đơn vị làm công tác tôn giáo, nhiều loại lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và công tác tôn giáo được mở cho hàng ngàn cán bộ ở các cấp, ngành, các đoàn thể. Đây là một chuyển biến lớn, góp phần nâng cao nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo cho toàn hệ thống chính trị.
Bốn là, triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt công tác phòng, chống và giải quyết “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn.

Phải tôn trọng các tôn giáo có tư cách pháp nhân, tranh thủ giáo sĩ, thực lòng quan tâm đến đồng bào các tôn giáo, dân tộc để vận động đồng bào tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đối với đồng bào không theo tôn giáo thì giáo dục để giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thực hiện các hình thức tín ngưỡng truyền thống, làm vô hiệu hoá hoạt động truyền đạo trái pháp luật. Đối với những người thực sự có nhu cầu theo tôn giáo, cần giáo dục để đồng bào hiểu rõ và thực hiện đúng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.
 Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân dân cả nước tiếp tục luôn nêu cao cảnh giác, tuyền truyền, tích cực đấu tranh chống các thế thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta.

 

Cựu nhân viên ngân hàng bị truy tố do lừa đổi tiền mới mừng tuổi

HÀ NỘI Nguyễn Ngọc Kiên, cựu nhân viên ngân hàng, bị cáo buộc lừa đổi hàng tỷ đồng tiền mới mệnh giá 10.000-100.000 đồng, tổng cộng 4,3 tỷ đồng. VKSND Hà Nội vừa ra cáo trạng truy tố Kiên, 36 tuổi, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo cáo trạng, Kiên thua lỗ khi chơi tiền ảo nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của đồng nghiệp bằng việc nói dối có thể đổi được tiền mới mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng vào dịp Tết Nguyên đán 2021. Ai có nhu cầu cần chuyển khoản trước cho Kiên, được cam kết sau 2-7 ngày sẽ nhận tiền mới. Đến ngày hẹn, nếu đồng nghiệp nào hỏi, giục nhiều lần, Kiên đi đổi ở bên ngoài để trả nhằm tạo lòng tin. Nhiều người tưởng Kiên có khả năng lại tiếp tục đưa tiền. Từ tháng 12/2020 đến cuối tháng 1/2021, Kiên bị cáo buộc chiếm đoạt của 17 đồng nghiệp cùng cơ quan, tổng cộng hơn 4,3 tỷ đồng. Trong số này một người bị đưa một tỷ, một người 1,5 tỷ đồng.