Đa số người Việt, kế cả sinh viên đang học ở Nga, những người đã tốt nghiệp đại học ở Nga và Ucraina đều không quan tâm, không có ít nhiều hiểu biết cơ bản về lịch sử Ucraina, quan hệ hai nước.
Đầu tiên phải nhấn mạnh một điều để khỏi nhầm lẫn là: Ucraina như một quốc gia độc lập, có lãnh thổ riêng như hiện nay chưa bao giờ tồn tại, có trên bản đồ thế giới cho đến năm 1918. Trên lãnh thổ Ucraina hiện tại, trong lịch sử là những quốc gia khác, những người dân tộc khác sống chứ không phải người Ucraina cho đến năm 1918.
Lịch sử Ucraina và Nga luôn luôn gắn bó, chồng chéo nhau. Lịch sử Ucraina bắt đầu từ khoảng thế kỷ lX (năm 882) khi vùng đất này trở thành trung tâm của nền văn minh Đông slav với quốc gia hùng mạnh Rus Kiev (Nước Nga Kiev). Thế kỷ thứ Xll, vào năm 1230 đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn trỗi dậy và bành trướng đánh tan Rus Kiev. Rus Kiev bị đô hộ nhiều thế kỷ. Đến khi đế quốc Mông Cổ suy yếu lãnh thổ Ucraina lại bị chia sẻ bởi nhiều thế lực ở châu Âu. Cụ thể là Balan, Litva, Thổ và Nga. Chỉ đến thế kỷ 19 khi Nga đánh thắng các địch thủ còn lại, hầu hết các lãnh thổ Ucraina đã nằm trong đế quốc Nga.
Lần thứ nhất Ucraina xin sát nhập vào Nga năm 1654 để được hỗ trợ cuộc chiến Ái quốc do Getman B. KhờMenhiski cầm đầu chống Balan.
Lần đầu được giải phóng nhờ cách mạng tháng 10 năm 1917 đế quốc Nga tan rã, ngày 20.11.1917 nước Cộng Hòa Ucraina УНР được thành lập. Ngày 22.01.1918 УНР tuyên bố độc lập.
Cũng chính vì thế trong bài phát biểu công nhận hai nước ly khai V. Putin mới nói: "Lê Nin là kiến trúc sư nặn ra Ucraina".
Năm 1922 УНР là 1 trong 4 nước đứng ra thành lập liên minh CCCP và trở thành УСССР.
Ngày 24. 08. 1991 sau khi Liên Xô giải tán Uclaina tuên bố độc lập. Đây là lần giải phóng thứ hai.
Như vậy Ucrina đã 2 lần xin sát nhập vào Nga và Nga cũng đã 2 lần giải phóng cho Ucrina.
Người Nga và người Ukraine giống như anh em ruột thịt cùng cha khác mẹ. Có những lúc lục đục do hiểu lầm nhau, nhưng ruột thịt vẫn là ruột thịt, họ nhanh chóng làm lành với nhau khi không có những kẻ xúi giục, đâm bị thóc, chọc bị gạo.
Một số người không hiểu, không biết một tý gì về văn hóa, cuộc sống và lịch sử hai nước to mồm gào lên: Nga xâm lược Ucraina.
Trước khi gào thét thử tự đăt cho mình câu hỏi: Tại sao hơm 80 nghìn người trẻ em, phụ nữ, người già, công dân của nước bị xâm lược lại xin nước xâm lược cứu trợ, cưu mang? Nhiều người chê bai Nga nghèo, nhưng đã có nước nào trên thế giới có thể tổ chức đón gần 100 nghìn người tị nạn trong hai, ba ngày có chỗ ăn chỗ ở, trẻ em được đến trường một cách bình thản, âm thầm, không ngạo nghễ, Tuy là biết sẽ gặp nhiều khó khăn, giá cả sẽ tăng cao không một người nào, kể cả những bợm rượu hằn học, đay nghiến và hỏi câu cửa miệng: Bọn mày đã làm gì cho đất nước tao?
Bộ Ngoại giao Nga cho biết họ không ngạc nhiên trước việc chính quyền Ukraine cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Moscow và gọi đây là 'bước đi hợp lý' của Kiev.
Đài RT dẫn tuyên bố từ Bộ Ngoại giao Nga hôm 24-2 cho biết họ không ngạc nhiên khi Ukraine cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Moscow.
Bộ Ngoại Nga cho biết nếu là họ, họ sẽ không đưa ra lựa chọn này nhưng coi đó là "bước đi hợp lý từ các chính sách chống Nga" của giới lãnh đạo Ukraine.
Cơ quan này cũng lưu ý rằng chính Kiev đã gia tăng các chính sách phân biệt đối xử đối với người dân Nga sống ở Ukraine và hạ cấp mối quan hệ với Moscow kể từ cuộc ly khai của 2 khu vực Donetsk và Luhansk vào năm 2014.
Trước đó cùng ngày, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky thông báo đã cắt bỏ tất cả các mối quan hệ ngoại giao với Nga trong bối cảnh Moscow bắt đầu tiến hành một cuộc tấn công vào nước này từ sáng ngày 24-2.
Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết mục tiêu của chiến dịch đặc biệt của Moscow là để “phi quân sự hóa và phi phát xít hóa" Ukraine.
Ông Putin cáo buộc các quốc gia phương Tây do Mỹ dẫn đầu đã cung cấp cho Ukraine vũ khí tối tân và gia tăng sự hiện diện của NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) ở nước này.
Nhà lãnh đạo Nga khẳng định cuộc tấn công là cần thiết để ngăn chặn nguy cơ “đổ máu tồi tệ hơn trong tương lai”./.
Các binh sĩ Ukraine đang từ bỏ vị trí, hạ vũ khí khi đối mặt với quân đội Nga, Mátxcơva tuyên bố.
Trong một tuyên bố đưa ra sáng 24/2 (giờ Nga), các quan chức quốc phòng Nga dẫn nguồn tin tình báo cho biết “các quân nhân Ukraine đang đồng loạt rời bỏ vị trí, hạ vũ khí”.
“Không có cuộc tấn công nào nhằm vào những đơn vị đã hạ vũ khí. Quân đội Nga không tấn công các thành phố của Ukraine nên không có mối đe doạ nào đối với dân thường”, Mátxcơva khẳng định dù không đưa ra bằng chứng.
Trước đó, Bộ Quốc phòng Nga cho biết quân đội nước này đã vô hiệu hoá lực lượng phòng không - không quân Ukraine bằng một loạt các vụ tấn công có độ chính xác cao.
Thông báo của Bộ Quốc phòng Nga được đưa ra sau khi báo giới phương Tây cho biết các sân bay và đường băng trên khắp Ukraine đã bị rung chuyển bởi các vụ nổ lớn.
Bộ Quốc phòng Nga tuyên bố quân đội nước này không gặp phải sự kháng cự từ lực lượng biên phòng Ukraine. Đồng thời, Mátxcơva phủ nhận thông tin cho rằng quân đội Nga đã mất ít nhất một máy bay quân sự trong chiến dịch.
“Lực lượng biên phòng Ukraine không kháng cự các sư đoàn của Nga. Khả năng phòng không của lực lượng vũ trang Ukraine đã bị vô hiệu. Cơ sở hạ tầng quân sự tại các căn cứ không quân của Ukraine đã không còn hoạt động”, Bộ Quốc phòng Nga thông báo.
Tổng thống Nga Vladimir Putin sáng nay (24/2) thông báo, Điện Kremlin đã quyết định thực hiện “một chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Donbass, khu vực miền đông Ukraine bao gồm các nước ly khai tự xưng Donetsk và Lugansk mà Nga đã công nhận nền độc lập hôm 21/2.
Kế hoạch của quân đội Nga không phải là chiếm đóng Ukraine, mà chỉ nhằm “phi quân sự hoá” và bảo vệ người dân Donbass, ông Putin khẳng định./.
Tục ngữ Việt Nam có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Đây không phải ý bảo chúng ta bán đi anh em của mình mà là lời khuyên cho một nguyên tắc sống hay ở đời. Người ở gần là người có thể giúp đỡ và hỗ trợ mình rất nhiều. Trong những lúc thật sự nguy cấp, cả đại gia đình anh em xa cũng không thiết thực bằng một người láng giềng gần. Bởi thế nên nếu không thể đối xử tốt với nhau thì cũng đừng làm gì ảnh hưởng đến nhau! Huống hồ Nga, Ukraine và Belarus có chung một nguồn cội, đều là người Rus! Vậy nên Nga và Ukraine không những là láng giềng gần mà là anh em cùng nguồn cội! Năm 1922, LêNin và những người Bolshevik lập quốc Ukraine và chuyển giao vùng Dobass và Crimea cho Ukraine quản lý, trong đại gia đình Liên Xô vĩ đại. Khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, Dobass và Crimea vẫn thuộc Ukraine.
Thế nhưng quan hệ Nga - Ukraine trở nên căng thẳng mà nguồn cơn là do Ukraine chọn cách đối đầu với Nga, người anh em và là người láng giềng thân cận từ bao đời nay để theo Mỹ và NATO. Vào năm 2014, khi diễn ra một cuộc nổi dậy của những người ủng hộ châu Âu nhằm lật đổ Viktor Yanukovych, tổng thống Ukraine lúc bấy giờ, người đã ký một thỏa thuận liên kết với Liên minh châu Âu nhưng sau đó đã hủy bỏ nó dưới áp lực từ Nga. Vladimir Putin, tổng thống Nga đã phản ứng lại trong cùng năm đó bằng cách sáp nhập Crimea và Donetsk và Luhansk tự trị dưới sự giúp đỡ của Nga. Năm 2013, những kẻ quá khích ở Ukraine đã có hành đồng vô ơn, thất đức khi chúng chặt đầu tượng LêNin và đến 2015 thì toàn bộ những tượng đài liên quan đến các anh hùng, lãnh tụ Xô Viết đều bị kéo sập.
Ngày 15/5/2015, sau khi lên nhậm chức, Tổng thống Ukraine - Poroshenko ký phê chuẩn các dự luật “phi Xô viết hóa” và “phi cộng sản hóa” Ukraine. Theo đó, các dự luật này chính thức trở thành luật và có hiệu lực trên khắp quốc gia Đông Âu này từ ngày 15/5/2015. Nội dung các luật trên đặt chủ nghĩa Cộng sản ngang hàng với chủ nghĩa Phát xít, lên án đồng thời hai chủ thuyết này và cấm tuyên truyền về chúng. Các đạo luật cấm sản xuất, phân phối và sử dụng ở nơi công cộng các biểu tượng (kể cả vật lưu niệm) gắn với thời Xô viết (như cờ, hình ảnh, huy hiệu búa liềm, sao 5 cánh...), cấm sử dụng quốc ca Liên Xô, quốc ca Cộng hòa XHCN Ukraine, quốc ca các nước Cộng hòa XHCN khác trong Liên Xô. Ukraine thậm chí còn hình sự hóa việc sử dụng các biểu tượng gắn với Liên Xô. Luật pháp mới của Ukraine đồng thời tôn vinh các phần tử dân tộc cực đoan đã hợp tác với Đức Quốc xã để chiến đấu chống lại Liên Xô, coi các phần tử này là “anh hùng giải phóng dân tộc” của Ukraine. Luật mới thông qua cũng cho phép công chúng tiếp cận kho hồ sơ mật của lực lượng an ninh Liên Xô. Nhận giặc làm cha, bỏ anh em, láng giềng để theo chân ngoại bang và họ phải nhận kết cục rất đắng!
Ngày 22/2 vừa qua, sau khi công nhận Donetsk và Luhansk, Tổng thống Putin tuyên bố trên truyền hình “Nhờ Bolshevik mới có Ukraine, thế mà bây giờ những kẻ “biết ơn” ở Ukraine lại muốn giải trừ chủ nghĩa cộng sản. Nhưng họ làm chưa triệt để. Chúng tôi sẵn sàng cho các vị thấy thế nào là giải trừ thật sự đối với Ucraina". Và ngày hôm nay, quân đội Nga đã tấn công Ukraine, đúng như Ông Putin nói: “Chúng tôi sẵn sàng cho các vị thấy thế nào là giải trừ thật sự đối với Ukraine”! Nhà thơ Gamzatov từng viết: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”, Ukraine đã nhận một tràng đaị bác, cơ sự này là do họ tự chuốc lấy.
Mỹ và NATO luôn mồm khích tướng Zelensky và Ukraine, cho họ ăn món bánh vẽ về cái gọi là “Mỹ và NATO sẽ bảo vệ Ukraine”. Thực tế thì những người Mỹ và NATO đã đánh hơi được cơn giận của Nga nên đã nhanh chân “tùy nghi di tản”. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ lợi ích quốc gia là vĩnh viễn! Mỹ là tay lái buôn thượng hạng, sen đầm quốc tế mọi thời đại. Mỹ kích động chiến tranh hoặc làm cho các nước mâu thuẫn, chạy đua vũ trang để họ lái súng và vũ khí, bán nhiên liệu. Họ cũng muốn Nga phải lao tâm khổ tứ ở các nước láng giềng để Mỹ có lợi ở Trung Đông và châu Phi, Mỹ La Tinh…họ liên tục khuyến khích các nước Đông Âu gia nhập NATO, mục tiêu là để kiềm chế Nga. Khi lợi ích quốc gia và an ninh quốc gia bị xâm phạm, nước Nga buộc phải ra tay. Ukraine là phên dậu của Nga, có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng với Nga, Nga sẵn sàng đổ máu chứ không bao giờ ngồi nhìn Ukraine là đồ trong túi của NATO.
Một quốc gia được xem là hùng mạnh khi và chỉ khi quốc gia đó tự đứng vững trên đôi chân của mình! Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã dạy “đem sức ta mà giải phóng ta” là thế. Việt Nam tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, trên cơ sở tranh thủ thời cơ và vận hội để phát triển đất nước. Đó là chân lý “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” của Đảng ta! Chiến tranh xảy ra thì Ukraine phải gánh chịu hậu quả rất nặng nề, vì chiến trường nằm trên đất nước họ. Đừng mơ người Mỹ và NATO đem quân tới giúp Ukraine đánh Nga, vì thế là tự sát! Có chăng người Mỹ và NATO sẽ chỉ đưa ra vài lệnh cấm vận Nga và tọa sơn quan hổ đấu kiểu trai cò đánh nhau, ngư ông đắc lợi! Mỹ và NATO luôn ủng hộ Ukraine tuyệt đối, ủng hộ đánh đến người Ukraine cuối cùng! Lỗi thuộc về lãnh đạo Ukraine nhưng khổ đau thuộc về nhân dân Ukraine. Rất đáng buồn nhưng rõ ràng là cơ sự hôm nay là do họ tự chuốc lấy. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân./.
Có một điểm chung từ những vụ án, vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, đó là đối tượng phạm tội, vi phạm kỷ luật, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... là người trẻ chiếm tỷ lệ cao.
Khi chưa bị điều tra, xử lý, không ít người trong số họ từng được đánh giá là cán bộ có năng lực, doanh nhân giỏi. Một trong những nguyên nhân khiến họ suy thoái, vi phạm pháp luật đó là tính hãnh tiến, hiếu thắng, muốn thành công bằng mọi giá...
Từ những bài học nhãn tiền
Vụ án tiêu cực xảy ra tại Công ty Việt Á liên quan đến hành vi móc nối, cấu kết “thổi” giá vật tư y tế để trục lợi trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc, đang tiếp tục làm “nóng” dư luận. Việc cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, nhiều cán bộ ở một số ngành, địa phương liên quan bị khởi tố, đã cho thấy quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, không có vùng cấm trong xử lý vi phạm của Đảng, Nhà nước ta. Trong một diễn biến khác, vụ việc Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô (Quảng Ninh) Lê Hùng Sơn bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm nghiêm trọng phẩm chất đạo đức, lối sống, cũng là đề tài bàn tán xôn xao của dư luận xã hội. Điểm đáng chú ý ở những vụ án, vụ việc được dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt này là những cán bộ, người đứng đầu bị xử lý thuộc diện cán bộ trẻ. Nhìn lại những vụ án, vụ việc tiêu cực bị cơ quan chức năng kiểm tra, điều tra, xử lý được công bố rộng rãi trên công luận thời gian qua, chúng ta thấy, tỷ lệ người trẻ “nhúng chàm” chiếm đa số. “Soi” hồ sơ, tiểu sử của những đối tượng này, nhiều người bày tỏ sự xót xa, tiếc nuối. Nhiều người trong số họ là cán bộ được đào tạo căn bản, có triển vọng, từng có thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, được trao tặng những phần thưởng danh giá. Một số trường hợp từng được kỳ vọng là “hạt giống đỏ” của ngành, địa phương, doanh nghiệp...
Trẻ chơi game ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển. Ảnh: Báo Pháp luật.
Vậy, điều gì khiến họ sa ngã, suy thoái về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng? Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất... Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đảng: “Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng...”. Sự nể nang, cục bộ... trong công tác cán bộ diễn ra ở không ít tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương đã vô hình trung đưa vào bộ máy những nhân tố hãnh tiến, hiếu thắng, tư tưởng mang nặng chủ nghĩa cá nhân.
Khi còn sống, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) có kể cho chúng tôi nghe câu chuyện nhỏ, đáng suy ngẫm. Chuyện là khi ông mới nghỉ hưu, một cán bộ tổ chức của địa phương đến nhà chúc Tết, có tham khảo ý kiến ông về một số nhân sự đang được quy hoạch nguồn cán bộ kế cận. Ông đã góp ý về một trường hợp cụ thể, rằng cậu ấy chưa đủ độ "chín" để giữ cương vị đó, cần thời gian rèn luyện, tu dưỡng thêm. Đưa một cán bộ trẻ có tư tưởng hãnh tiến, hiếu thắng, “ngựa non háu đá” vào vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền, rất dễ gây họa. Mặc dù vậy, dự kiến của tổ chức vẫn không thay đổi. Vị cán bộ trẻ vẫn được bổ nhiệm theo quy trình. Mới đầu, anh ta gây chú ý bởi một số tuyên bố, hứa hẹn trong những lần đăng đàn hội nghị. Nhưng sau đó thì có biểu hiện lộng quyền, làm trái nguyên tắc, quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền, kết bè kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ và cuối cùng là bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác.
Dẫn một ví dụ như vậy để thấy, đưa cán bộ vào bộ máy thì dễ, nhưng khi cán bộ làm trái nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ để loại bỏ họ ra khỏi bộ máy lại vô cùng khó khăn, phức tạp. Khi đưa được họ ra khỏi bộ máy thì tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó đã bị “ngấm đòn”, yếu kém, bết bát kéo dài, hậu quả để lại rất nặng nề.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân... Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ nhiều trường hợp còn nể nang, cục bộ...”.
Nhận diện, ứng xử với “ngựa non”
Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...
Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, trọng dụng cán bộ trẻ là chủ trương lớn của Đảng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, xây dựng đất nước hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...”.
Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng, cần phải làm thật tốt công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Đảng ta tin tưởng, kỳ vọng vào cán bộ trẻ, nhưng đó phải là những nhân tố hội tụ đủ cả đức lẫn tài. Chính đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn nhân lực trẻ của Đảng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là lực lượng chủ lực tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi đội ngũ cán bộ trẻ phải thực sự là đạo đức, là văn minh từ tư duy, lời nói, việc làm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng”.
Đến Đại hội lần thứ XIII, hệ thống các quy định, hướng dẫn, nghị quyết... của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, bảo đảm chặt chẽ, khoa học. Thực hiện nghiêm các quy định, Điều lệ Đảng, sẽ không có chuyện bố trí sai người, sai việc. Tuy nhiên, mầm mống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền... trong hệ thống chính trị vẫn luôn là nguy cơ gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng. Bởi vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng. Chỉ khi việc học tập trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên thì chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong công tác cán bộ, mới thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đảng khuyến khích và có chủ trương bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là những đặc trưng, thế mạnh của cán bộ trẻ. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá... hoàn toàn đối lập với thói hãnh tiến, hiếu thắng, làm liều. Phân biệt những thuộc tính này đối với cán bộ trên thực tế không khó. Những cán bộ hội tụ đủ cả đức và tài, sự năng động, sáng tạo, đột phá của họ luôn hướng đến lợi ích chung, làm lợi cho tập thể, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Ngược lại, thói “ngựa non háu đá” của một bộ phận cán bộ hãnh tiến, hiếu thắng, thực chất là biểu hiện, hệ quả của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. “Ngựa non háu đá” thì lực của những cú đá chỉ đủ lắc rung nhành cây, ngọn cỏ. Vấn đề là, khi đã biết đó là “ngựa non” thì tuyệt đối đừng để nó “sổng” vào khu hoa màu, tác hại khôn lường.
Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị là những người có khả năng và thường xuyên tiếp cận trực tiếp, nhận diện sâu rộng, kịp thời các thông tin, luận điệu sai trái, phản động; từ đó, với chức trách, nhiệm vụ của mình, họ là lực lượng quan trọng tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Vì thế, nghiên cứu bổ sung và cập nhật những quan điểm lý luận chính trị nền tảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết.
Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã xác định: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và cấp thiết chủ yếu sau:
Một là, nghiên cứu, xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, cần kết hợp chặt chẽ và làm rõ 3 vấn đề cơ bản sau: 1- Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất; nhất là các âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; 2- Những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; 3- Mỗi hình thức, biện pháp đấu tranh cần mô tả rõ trình tự, cách thức thực hiện rõ ràng, có tính hệ thống và mang tính khả thi; xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng như của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong việc đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Hai là, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về lý luận và công tác lý luận, những kỹ năng tham gia đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Trên cơ sở tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, hằng năm các cơ quan chức năng cần phối hợp với các học viện, nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về vấn đề này. Nội dung, chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, như giáo dục nâng cao nhận thức vị trí, vai trò của lý luận và công tác lý luận; cập nhật những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; cập nhật quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện. Tiếp đó, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, cần có những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời về hình thức, biện pháp đấu tranh để nâng cao hiệu quả việc ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận; đồng thời, tăng cường cập nhật những kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức mới trong nước và trên thế giới,... Gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với bồi dưỡng lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị và dũng khí cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam để nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá rất quyết liệt, ngày càng tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch; từ đó, có biện pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh, phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Các nhà trường đào tạo cán bộ, giảng viên lý luận chính trị cần hoàn thiện đầy đủ các hình thức hoạt động khoa học, tổ chức học lý luận chính trị, theo hướng đi vào thực chất và hiệu quả hơn. Không tổ chức các hoạt động đấu tranh theo kiểu hình thức, làm qua loa cho xong chuyện, hội thảo chỉ có phần “hội” mà không có “thảo”; theo đó, tất cả các hoạt động trên phải được đổi mới căn bản cả về nội dung và hình thức; đặc biệt là, chất lượng công tác tuyên truyền phải có tính thuyết phục cao. Tăng cường tổng kết các mô hình hay, phương thức đấu tranh có hiệu quả, đặc biệt là đấu tranh qua truyền thông xã hội để phổ biến, nhân rộng.
Ba là, kiên quyết và kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.
Đây là một giải pháp bao trùm chi phối các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam. Một mặt, phải tiếp tục tuyên truyền và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nhận thức rõ quyết tâm của Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”; mặt khác, giải pháp này giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nâng cao nhận thức và có ý thức trong tiếp cận thông tin; chia sẻ thông tin, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn gần dân, thân thiện với dân, trọng dân và giúp đỡ dân.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam.
Đối với các cơ quan nghiên cứu, cần xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để xây dựng chiến lược nghiên cứu phù hợp, cũng như hình thành được danh mục các vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên, đẩy mạnh nghiên cứu phục vụ trực tiếp công tác này. Đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam, cần ý thức rõ các vấn đề đặt ra từ lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của mình và từ yêu cầu của thực tiễn để xác định, định hướng nghiên cứu từng thời kỳ, từng năm. Qua đó, giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị xác định hướng nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo, bên cạnh đó còn có một số trào lưu tư tưởng, quan điểm khác, kể cả tư tưởng sai trái, thù địch. Vì vậy, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam cần coi trọng công tác nghiên cứu đối với các luồng tư tưởng, quan điểm trên để nhận diện đầy đủ lịch sử hình thành, nội dung của các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái; từ đó, vận dụng quan điểm, lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới ngoài chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay. Việc tôn trọng “tự do học thuật”, “tự do tư tưởng” có tác dụng quan trọng trong nghiên cứu và phát triển lý luận; tuy nhiên, cần tỉnh táo, phân biệt đúng đắn giữa vấn đề học thuật và vấn đề chính trị. Trong lĩnh vực học thuật, một mặt, cần phát huy tốt dân chủ, tôn trọng tự do học thuật, khắc phục tình trạng chính trị hóa vấn đề học thuật, ngăn ngừa tình trạng “chụp mũ”, “quy chụp”,... nhằm góp phần tăng cường sức sống của lý luận; mặt khác, cần đề cao cảnh giác và đấu tranh với việc lợi dụng, lấy danh nghĩa “học thuật” để phản đối các nguyên tắc lý luận nền tảng, cơ bản ở nước ta, biến vấn đề chính trị trở thành vấn đề học thuật thuần túy. Cần nhấn mạnh một yêu cầu là, bất cứ nghiên cứu học thuật nào đều cần phải kiên trì các nguyên tắc cơ bản: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về sự nghiệp đổi mới đất nước, cũng như mô hình tổng thể về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).
Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia vào công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị bảo đảm về số lượng, chất lượng, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; có chuyên môn, nghiệp vụ cũng như năng lực hành động, tổng kết thực tiễn. Đội ngũ giảng viên lý luận khi đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; tuyệt đối trung thành, kiên định về lập trường, tư tưởng chính trị, vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; gương mẫu, tiên phong trong công tác, học tập, sinh hoạt, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đặc biệt, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị khi tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết về các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng. Đó là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trách nhiệm với công việc; đoàn kết nội bộ và có ý thức tổ chức kỷ luật tốt. Tổ chức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận thực sự phát huy hiệu quả, thông qua viết sách, báo, tạp chí; đổi mới và nâng cao chất lượng các bài viết, bảo đảm có tính lý luận, tính thực tiễn và tính thuyết phục, sắc bén, không kinh viện, giáo điều; trong đó, cần cập nhật những tri thức mới của nhân loại và những vấn đề nổi cộm, “điểm nóng” của thực tiễn đang cần phải xử lý, giải quyết.
Để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam trở thành đội ngũ tuyên truyền viên hiệu quả trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đào tạo, bồi dưỡng họ là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, có lý luận, có kiến thức thực tiễn, biết lắng nghe, phân tích tình hình, nhận biết nhanh nhạy các luận điệu sai trái; đồng thời, phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng, phù hợp với họ. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội trong việc tăng cường thông tin về cơ sở, tham gia nắm bắt dư luận xã hội, tuyên truyền, giải thích rõ các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có cơ chế biểu dương, khen thưởng phù hợp, kịp thời đối với những cá nhân, tổ chức có thành tích tiêu biểu trong cuộc đấu tranh này. Định kỳ sơ kết, tổng kết, nhằm tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, những cách làm hay, sáng tạo; kịp thời uốn nắn những đơn vị, tổ chức, cá nhân làm chưa tốt.
Sáu là, tích hợp nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhấn mạnh đúng mức nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong chương trình, giáo trình lý luận chính trị. Trong hệ thống chương trình, giáo trình hệ cao cấp lý luận chính trị và trung cấp lý luận chính trị - hành chính hiện nay, bên cạnh việc làm rõ giá trị, tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý luận, thực tiễn của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cần chỉ rõ một số quan điểm sai trái, thù địch có liên quan tới bài giảng, cũng như định hướng, gợi mở cho học viên để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách thuyết phục. Bên cạnh đó, cần xây dựng và đưa một số chuyên đề phù hợp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở các hệ lớp.
Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào trong giáo án và từng bài giảng, tiết giảng của giảng viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy lý luận chính trị, cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để đội ngũ giảng viên lồng ghép, tích hợp công tác này vào trong từng giáo án bài giảng, từng tiết giảng. Theo đó, từng giảng viên cần ý thức được trách nhiệm của mình để tự giác lồng ghép, tích hợp các nội dung có liên quan vào giáo án bài giảng, tiết giảng. Cơ quan quản lý giảng viên cần tăng cường sinh hoạt chuyên môn, định hướng phương thức lồng ghép công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong hoạt động giảng dạy của giảng viên, cũng như tăng cường công tác kiểm tra hoạt động giảng dạy trên lớp của giảng viên để nắm thông tin phản hồi của học viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên. Để thực hiện được điều này, thông qua các phiếu thăm dò chất lượng bài giảng của giảng viên dành cho học viên, các đơn vị cần thiết kế một mục để học viên tự đánh giá; trong phiếu đánh giá dùng cho thao giảng ở các đơn vị cũng cần có mục đánh giá về nội dung này.
Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong kiểm tra, đánh giá học viên. Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, định hướng cho hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên; do đó, để tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị, thì việc kiểm tra, đánh giá cần coi trọng đúng mức vấn đề này. Theo đó, trong hệ thống các câu hỏi, ngân hàng đề thi kiểm tra, thi hết môn (bao gồm đề thi vấn đáp, đề thi tự luận và đề thi trắc nghiệm) cần có các câu hỏi để kiểm tra năng lực của học viên trong nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Bảo đảm tính đảng và kỷ luật phát ngôn của đội ngũ giảng viên trong giảng dạy lý luận chính trị. Điều kiện tiền đề để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đó là đội ngũ này phải “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Cán bộ giảng dạy lý luận chính trị mà suy thoái về tư tưởng chính trị, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì không thể nói đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua giảng dạy lý luận chính trị. Do đó, một yêu cầu cơ bản để đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong công tác giảng dạy là phải bảo đảm tính đảng và tuân thủ kỷ luật phát ngôn trong giảng dạy lý luận chính trị.
Bảy là, tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác quốc tế trong công tác lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức và nâng cao hiệu quả hợp tác.
Xây dựng và phát triển đội ngũ những người giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam vững về quan điểm, lập trường chính trị, có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Hiện nay, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam còn rất hạn chế; số cán bộ có thể tự tham gia tranh luận trong các hội thảo quốc tế bằng ngoại ngữ là rất hiếm, số người có thể thuyết giảng bằng ngoại ngữ lại càng hiếm hơn. Do đó, không thể nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong công tác lý luận, nếu đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam không có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ xứng tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao hơn trước. Muốn tìm kiếm đối tác, phải có những cán bộ chuyên môn tốt, ngoại ngữ giỏi, nhiệt tình, tâm huyết và chịu khó tìm tòi các vấn đề nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị cần nhạy bén trong việc tìm hiểu các đối tác nước ngoài, có khả năng đề xuất một cách nhanh chóng các đề tài, dự án có nội dung tốt, phù hợp với điều kiện thực tế ở các cơ quan, đơn vị. Việc đào tạo năng lực và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam trong các cơ quan nghiên cứu, đào tạo lý luận, nhằm đáp ứng nhu cầu của công tác hợp tác quốc tế; vì vậy, cần đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận chính trị theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Khuyến khích đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị đi học các lớp ngoại ngữ để nâng cao trình độ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị Trung ương III khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế từ nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới. Khai thác có hiệu quả các quan hệ hợp tác quốc tế, nhằm tăng cường và hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, thu hút các nguồn tài trợ học bổng cho cán bộ, thông qua các dự án hỗ trợ phát triển. Phát huy tối đa các cơ hội đưa cán bộ, giảng viên đi học tập ngắn hạn, dài hạn hoặc tham gia giao lưu, hội thảo, khảo sát,... về lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo lý luận với các nước trên thế giới. Hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về hợp tác quốc tế, khuyến khích cơ chế hợp tác song phương và đa phương trong đào tạo, nghiên cứu lý luận; tích cực triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế; có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở nghiên cứu, giáo dục nước ngoài; học tập những kinh nghiệm, mô hình và phương pháp nghiên cứu, đào tạo mới. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ cho công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ lý luận.
Tám là, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, kích thích tính tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; từ đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Có chính sách khen thưởng, khuyến khích kịp thời đối với những giảng viên lý luận chính trị có bài viết mang tính “bút chiến” sắc sảo, có tính thuyết phục cao, đấu tranh trực diện với từng quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận chính trị; chính sách trang bị, cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi nghiên cứu, hội thảo, tác nghiệp ở các địa bàn khác nhau, kể cả đi nước ngoài; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực công tác theo đúng sở trường và trình độ chuyên môn.
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị - xã hội; trong đó, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là sự nghiệp cách mạng, đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, lâu dài, không được chủ quan, không lơ là; đồng thời, phải thường xuyên, liên tục đổi mới, sáng tạo trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và không ngừng tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại để bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.
Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.
Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sứcnguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.
Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.
Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.
Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.
Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.
Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.
Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới,rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.
Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông.Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.
Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”
Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.
Đoàn Khắc Xuyên đăng trên Doithoaionline bài viết “Thể chế và nguồn
lực con người”. Thông qua bài viết, Y viện dẫn một số vụ tham nhũng, tiêu cực
của những kẻ thoái hóa, biến chất trong ngành y tế, giáo dục, doanh nghiệp; rồi
đổ lỗi đó cho thể chế và cơ chế. Y cho rằng “Qua mỗi vụ scandal, lòng tin trong
xã hội vào sự trung thực, sự tử tế và cái thiện lại giảm thêm một mức…”, “thể
chế không thuận lợi cho sự phát triển của nguồn lực con người có phẩm chất và
tài năng đích thực”, kêu gọi “Nếu thể chế không kịp thời thay đổi” để âm mưu
tuyên truyền thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cũng như những kẻ
khác, luận điệu trong bài viết của Đoàn Khắc Xuyên chỉ nhằm
mục đích xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam mà thôi.
1. Nhận thức rõ nguy cơ cũng như tác hại của tham nhũng, tiêu cực, Trung
ương cũng như các cấp ủy đảng đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn và thực sự đã
có những chuyển biến tích cực. Đảng ta đã khẳng định phải kiên quyết xử nghiêm
“không có vùng cấm”. Trên thực tế, nhiều vụ án tham nhũng được điều tra, khởi
tố, truy tố và xử lý công khai, kể cả với cán bộ đã nghỉ hưu; trong nhiệm kỳ
Đại hội Đảng khóa XII đã xử lý kỷ luật hơn 3 nghìn đảng viên liên quan đến tham
nhũng. Sau Đại hội XIII, Đảng có những quyết sách mạnh mẽ để tiếp tục thực hiện
nghiêm minh hơn trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đưa những đại án ra
trước pháp luật, kịp thời chỉ đạo quyết liệt những vụ án mới; bổ sung, hoàn
thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, không tạo ra kẽ hở để cho những cán
bộ, đảng viên, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất lợi dụng thực hiện
hành vi tham nhũng, lãng phí. Trong đó, tập trung xây dựng hệ thống chỉ thị,
kết luận, nghị quyết, đề án quan trọng của Đảng về công tác phòng, chống tham
nhũng; đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế về kinh tế – xã hội và tích cực
tìm tòi và nhân rộng các cách làm mới, đột phá hơn trong quản lý Nhà nước đối
với doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh; quyết liệt cải cách thủ tục hành
chính hướng tới sự thông thoáng, minh bạch về cơ chế, chính sách; tăng cường
năng lực và hiệu lực của các định chế và chế tài, kinh tế, hành chính, cũng như
bộ máy tư pháp Quốc gia và địa phương nhằm đảm bảo sự hài hòa lợi ích Nhà nước,
lợi ích doanh nghiệp, doanh nhân và người lao động; tích cực phòng, chống tham
nhũng, từng bước hình thành cơ chế để phòng ngừa tham nhũng.
2. Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế – xã hội nào thì con người cũng
luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của
lịch sử xã hội. Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất
yếu của cách mạng Việt Nam. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta
phải có những nguồn lực, trong đó nguồn lực con người là cơ bản nhất.
Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay luôn chăm lo phát
triển nguồn lực con người. Đảng đã khẳng định: “Con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội”, “Lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững”.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 của Đảng xác định:
“Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn
lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển”. Các quan điểm trên đã được
đi vào cuộc sống bằng các chính sách cụ thể trong giáo dục và đào tạo, chăm sóc
sức khỏe, dân số và môi trường sống của con người để phát triển nguồn lực con
người. Kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019, gần 88% dân số trong độ tuổi từ
25 – 59 tham gia lực lượng lao động. Lực lượng lao động đã tốt nghiệp trung học
phổ thông trở lên chiếm 39,1%; đã được đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở
lên chiếm 23,1%.
Những thành tựu trong xây dựng đất nước cùng với kết quả phòng, chống tham
nhũng những năm qua đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân ghi nhận, đánh giá
cao, góp phần củng cố vững chắc hơn niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh
đạo của Đảng và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Điều này cũng bác bỏ hoàn
toàn âm mưu xuyên tạc, bịa đặt hòng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở
nước ta của Đoàn Khắc Xuyên và đồng bọn của y.