Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Gắn bó máu thịt với nhân dân

 

Một trong những yếu tố thuộc về đặc trưng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được xác định trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Đây là nét đẹp truyền thống, là cội nguồn sức mạnh của Quân đội ta, được hình thành ngay từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và ngày càng phát triển lên tầm cao mới theo bề dày thời gian.

Ngược dòng lịch sử, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Từ 34 chiến sĩ, trải qua hơn 77 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ của nhân dân, đội quân ấy đã lớn mạnh không ngừng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục khẳng định, tô thắm truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Sự gắn bó đó là mối quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân và dân. Nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội, giúp cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Ngược lại, quân đội luôn “hiếu với dân”, sẵn sàng xả thân chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân bất kể hiểm nguy, gian khổ.

Gắn bó máu thịt với nhân dân
Bộ đội giúp dân khắc phục hậu quả và dọn dẹp sau lũ. Ảnh: Tuấn Sơn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Người thường xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”. Với mục tiêu đánh đuổi phát xít, thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, mang lại cơm no, áo ấm cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta đã anh dũng chiến đấu; cán bộ, chiến sĩ quân đội không tiếc máu xương để đổi lấy cuộc sống hạnh phúc, yên bình cho nhân dân. Khi Tổ quốc lâm nguy, cuộc sống của nhân dân bị đe dọa, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ xung phong ra mặt trận, xông pha trong bom đạn chiến tranh, để lại gia đình, cha mẹ, vợ con nơi quê nhà để chiến đấu cho Tổ quốc trường tồn, cho nhân dân không còn cảnh đau thương, cơ cực. Trong số họ, không ít người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường ở tuổi hai mươi.

Ngay cả khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, bao người lính vẫn đằng đẵng xa nhà, chấp nhận mọi khó khăn, vất vả, kể cả hiểm nguy để canh giữ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Hòa bình rồi nhưng máu của Bộ đội Cụ Hồ vẫn đổ trong lúc giúp dân chống thiên tai, lũ lụt. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ dầm mình cứu dân trong lũ dữ; đẫm mồ hôi mang lương thực, thực phẩm tiếp tế nhân dân bị cô lập bởi mưa bão, thiên tai... càng tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Mới đây nhất, đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, hàng chục vạn lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang không quản ngại vất vả, nguy cơ lây nhiễm, dũng cảm lao vào “cuộc chiến” chống dịch, cứu dân. Bộ đội, bác sĩ quân y ở khắp các đơn vị toàn quân hừng hực khí thế “đi về phía nhân dân” với tinh thần “tính mạng của nhân dân trên hết, trước hết”. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 phát động Phong trào thi đua đặc biệt “Chống dịch, cứu dân”; tổ chức các chương trình 5.000 phần quà hỗ trợ nhân dân, rồi 10.000, 20.000, 100.000 phần quà giúp dân chống đói, ổn định an sinh. Ở địa bàn biên giới, Bộ đội Biên phòng cắm chốt ngay từ đầu khi dịch xuất hiện, căng mình tuần tra đường mòn, lối mở để phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ có người thân qua đời vì ốm đau, dịch bệnh nhưng không thể về tiễn biệt lần cuối, phải nén đau thương bái vọng từ xa...

Cũng ở tuyến biên giới, địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi đất cằn sỏi đá, nước độc rừng thiêng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị kinh tế-quốc phòng bám trụ, đồng hành với nhân dân; hằng ngày cầm tay, chỉ việc, hỗ trợ giống, vốn, hướng dẫn kỹ thuật để bà con biết trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cao cả ấy, đã có bao mất mát, hy sinh giữa thời bình vì cuộc sống của nhân dân...

Tất cả những điều đó đã góp phần khẳng định, ở những nơi nguy hiểm nhất, gian khổ nhất, xa xôi nhất đều có mặt Bộ đội Cụ Hồ sát cánh cùng nhân dân vượt qua mọi chông gai, thử thách; tận tình bảo vệ và giúp đỡ nhân dân. Tình đoàn kết quân dân gắn bó máu thịt đã trở thành nét đẹp văn hóa, thẳm sâu trong con tim, khối óc của mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, bởi họ luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Cho nên, dẫu xông pha trong lửa đạn, oằn mình trong bão lũ, vất vả giữa trùng khơi hay nhọc nhằn nơi biên viễn..., mỗi cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rõ trách nhiệm, vinh dự của mình-đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính những người thân yêu của mình nơi quê hương yêu dấu. Bởi thế, họ sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận hy sinh. Và sự hy sinh đó đã góp phần vun đắp thêm truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm sáng đẹp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ...

Đáp lại tình cảm sâu nặng của Bộ đội Cụ Hồ, hơn 77 năm qua, nhân dân luôn tin yêu, quý mến, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân. Thực tiễn lịch sử cho thấy, Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều là con em của nhân dân, nên được dân yêu, dân mến, dân nuôi dưỡng, che chở. Trong những năm chiến tranh, nhân dân chính là hậu phương vững chắc, là căn cứ địa an toàn nhất cho bộ đội đánh giặc. Hình ảnh những bà mẹ, những người chị chắt chiu, gom góp cho đầy “hũ gạo kháng chiến”, gửi áo ấm, chăn màn cho chiến sĩ; đào hầm nuôi giấu bộ đội... mãi là những hình ảnh cao đẹp của tình quân dân, của lòng dân trời biển. Hẳn chúng ta không thể quên những khẩu hiệu, phong trào thi đua: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Tất cả vì tiền tuyến”, “Ba đảm đang”, “Ba sẵn sàng”, “Tay cày, tay súng”... được triển khai sâu rộng để bộ đội “ăn no, đánh thắng”, hỗ trợ tiền tuyến, cổ vũ bộ đội vững tâm chiến đấu, đánh đuổi quân thù, thu non sông về một mối.

Đất nước hòa bình, thống nhất, sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân tiếp tục thêm khăng khít. Hàng loạt chương trình, mô hình nhân dân chung sức chăm lo cho bộ đội, chăm lo cho nhiệm vụ quốc phòng-an ninh ngày càng phát triển mạnh mẽ. Điển hình như các phong trào: “Góp đá xây Trường Sa”; “Thắp sáng nhà giàn DK1”, mô hình “Mái ấm cho chiến sĩ, người nghèo nơi biên giới”, “Nước ngọt vùng biên”, Quỹ “Vì biển đảo quê hương-Vì tuyến đầu Tổ quốc”... thể hiện sâu sắc ý Đảng, lòng dân và thấm nhuần bài học từ lịch sử: Trong thái bình vẫn phải lo giữ nước, dưỡng quân, quân có mạnh cơ đồ mới vững.

Có thể thấy rằng, những hành động, việc làm và nhiệt huyết đó chỉ có thể xuất phát từ sự tin tưởng, từ tình cảm thương yêu và tinh thần quân với dân một ý chí; đồng thời một lần nữa khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Bộ đội Cụ Hồ...

Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới không chỉ khái quát đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà còn chỉ ra những nhóm giải pháp cụ thể. Thấu triệt và cụ thể hóa những giải pháp ấy, để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt công tác dân vận, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Bằng chính tình cảm, sự chân thành và hành động cao đẹp của mình để thuyết phục nhân dân tin theo bộ đội; thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; củng cố vững chắc “cái gốc”, cái cội nguồn sức mạnh của quân đội theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nguồn Báo QĐND

Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới thể hiện tư duy rất toàn diện và đặt ra yêu cầu cao về việc xây dựng, giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng.

Yêu cầu này cần được nhận thức đầy đủ và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt ở tất cả các cấp. Chúng ta biết rằng, giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ là sự hội tụ và kết tinh nhiều phẩm chất cao quý. Trong đó, một phẩm chất rất đáng quý là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng. Gần 8 thập niên xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hun đúc, tôi luyện nên những cán bộ, chiến sĩ có "bản lĩnh sắt thép", luôn sẵn sàng “Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng
Huấn luyện khẩu đội cối tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3, Quân khu 1. Ảnh: MINH TRƯỜNG/qdnd.vn 

Đức tính của mỗi con người được tạo nên bởi nhiều phẩm chất xã hội khác nhau. Trong đó “bản lĩnh” là phẩm chất cơ bản được hình thành qua quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Trong ngôn ngữ, từ “bản” nghĩa là gốc, nền tảng; yếu tố “lĩnh” thường gắn với ý nghĩa là đứng đầu, chỉ huy như “thủ lĩnh”, “tướng lĩnh”. “Bản lĩnh” có thể hiểu là phẩm chất của người có năng lực, tự tin, dám đi đầu, dám xông pha, bứt phá, dám chịu trách nhiệm, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Với mỗi quân nhân, được rèn luyện tổng hợp trong môi trường quân ngũ là điều kiện thuận lợi để hình thành nên bản lĩnh vững vàng. Đặc biệt, hoạt động quân sự có tính đặc thù cao, diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp, gian khổ, ác liệt, nếu không có bản lĩnh thì con người không thể vượt qua. Chính vì vậy, bản lĩnh được hình thành từ thực tiễn chiến đấu, lao động và công tác. Có bản lĩnh, bộ đội sẵn sàng thực hiện lời thề thiêng liêng “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...”. Bản lĩnh của người quân nhân cách mạng được tôi rèn thì “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”.

“Bản lĩnh” là một phẩm chất chung gắn với nhiều yếu tố, như: “Bản lĩnh chính trị”, “bản lĩnh chiến đấu”, “bản lĩnh công tác”, “bản lĩnh khoa học”... Trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bản lĩnh chính trị là yếu tố đầu tiên. Đó là khả năng nhận thức chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, là ý chí và niềm tin vào giai cấp và chế độ. Đó cũng là yếu tố để mỗi quân nhân tự trả lời câu hỏi phục vụ lợi ích của ai? Chiến đấu, hy sinh vì cái gì? Quân đội ta là đội quân trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, Quân ủy Trung ương chỉ rõ bản lĩnh chính trị là “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Bản lĩnh chính trị vững vàng giúp bộ đội kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ được giao, giữ vững trận địa tư tưởng, tạo ra sức mạnh quân sự, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Thực tế trong chiến đấu, trong những tình huống cam go, ác liệt nhất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trở thành biểu tượng sáng ngời về hình ảnh con người Việt Nam. Bác Hồ từng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội phải luôn kiên định, vững vàng “lúc có địch cũng trấn tĩnh như không có địch, xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch”. Thế nên nhờ có bản lĩnh tuyệt vời, phi công Phạm Tuân mới vững tay lái Mic-21 hạ gục cả "pháo đài bay" B-52 trong tích tắc, bản lĩnh làm nên kỳ tích “1 thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, bản lĩnh giúp Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân dẫu bị thương nát đùi vẫn bám trụ trận địa động viên bộ đội “nhằm thẳng quân thù mà bắn”... Và hàng triệu người con ưu tú khác đứng trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam với bản lĩnh vững vàng đã làm nên lịch sử. Họ là những tượng đài bất tử được nhân dân ngợi ca: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất!/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Tố Hữu).

Không chỉ trong chiến đấu, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ còn được biểu hiện trong quá trình công tác. Quân đội ta đóng quân trên khắp mọi miền Tổ quốc, ở đâu cũng có bóng dáng cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời, biên cương đất nước. Họ là những chiến sĩ biên phòng dầm sương giá rét tuần tra biên giới, phòng, chống tội phạm. Là chiến sĩ hải quân vượt trùng dương đóng quân trên các nhà giàn, các điểm đảo. Là những bác sĩ quân y lao vào tâm dịch cứu chữa người nhiễm Covid-19... Họ còn là những người lính công nghệ của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội đã chung sức đưa tập đoàn trở thành đơn vị cung cấp viễn thông lớn nhất Việt Nam và đầu tư kinh doanh tại hàng chục quốc gia ở 3 châu lục. Những cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị khác nhau sẵn sàng làm việc trong những điều kiện đặc biệt, độc lập công tác, xa gia đình, người thân, đời sống thiếu thốn... Tất cả những trở ngại đó nếu không có bản lĩnh chắc chắn sẽ không thể vượt qua.

Mỗi quân nhân không chỉ thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị mà còn tham gia các hoạt động ngoài xã hội. Đó là điều kiện thuận lợi để bộ đội hòa nhập với môi trường xung quanh. Đất nước bước vào thời kỳ phát triển kinh tế, đời sống xã hội được nâng lên, điều kiện công tác của bộ đội cũng được cải thiện. Bên cạnh những thuận lợi cũng đặt ra những thách thức lớn, trước hết là về nhận thức. Lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng, thích những nơi công tác thuận lợi, vị trí có điều kiện thăng tiến, ngại đi vùng sâu, vùng xa, ngại phấn đấu, rèn luyện đang tác động đến tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội, sản phẩm phi văn hóa, thông tin phản động đang từng ngày len lỏi vào trong suy nghĩ, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các chiến sĩ trẻ là thành phần dễ chịu ảnh hưởng, tác động của các yếu tố trên. Vậy điều gì có thể tạo ra “sức đề kháng” để vượt lên trên mọi cám dỗ, tệ nạn, thói hư tật xấu? Có thể khẳng định, đó chính là bản lĩnh. Bản lĩnh thời nay của Bộ đội Cụ Hồ là sức mạnh để tiếp nhận những yếu tố mới tiến bộ, tránh xa những tiêu cực, lạc hậu, thói hư tật xấu. Bản lĩnh giúp bộ đội tự tin dấn thân trong công tác và lao động, bản lĩnh để sáng tạo và cống hiến.

Hiện nay, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi mỗi quân nhân không chỉ giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh cách mạng mà cần phải có bản lĩnh trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, trong học tập, công tác, nghiên cứu khoa học mới có thể xây dựng quân đội vững mạnh, tinh nhuệ và hiện đại. Nét đẹp bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu phải được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, bản lĩnh để làm giàu thêm tri thức, để hội nhập và phát triển.

Có thể khẳng định, bản lĩnh đã tạo nên nét đẹp văn hóa trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Bản lĩnh là thước đo phẩm chất, là yếu tố tiên khởi để đánh giá người quân nhân cách mạng. Chính vì vậy, việc rèn luyện bản lĩnh là yêu cầu tự thân của mỗi quân nhân. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần luôn quan tâm đến việc xây dựng, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội thông qua học tập, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, giao nhiệm vụ thực tế, đưa bộ đội vào từng hoàn cảnh cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ. Có bản lĩnh, bộ đội sẽ vững vàng trong mọi điều kiện, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, từ đó, ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Bản lĩnh vững vàng trong mọi hoàn cảnh sẽ mãi là phẩm chất cao quý của người quân nhân cách mạng, nét đẹp văn hóa ngời sáng Bộ đội Cụ Hồ.

Nguồn báo QĐND

Khai mạc Phiên họp thứ 9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

 

Sáng 10-3, tại Nhà Quốc hội, với sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khai mạc Phiên họp thứ 9.

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ điểm lại những nội dung công việc trong công tác lập pháp mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tiến hành tại phiên họp. Khối lượng công việc lập pháp tại phiên họp này rất lớn. Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến lần đầu về 3 dự án luật; cho ý kiến về 2 dự án luật, 1 dự thảo nghị quyết sẽ trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ ba.

Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng sẽ xem xét, thông qua 1 dự thảo pháp luật, 1 dự thảo nghị quyết và xem xét đề nghị của Chính phủ bổ sung dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022.

Đối với các dự án luật trình Quốc hội xem xét lần đầu tại Kỳ họp thứ ba, thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan xây dựng hồ sơ, tài liệu các dự án luật khá công phu, kỹ lưỡng, đã đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

Việc xây dựng các dự án luật này nhằm kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và kịp thời khắc phục bất cập, vướng mắc hiện nay trong việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; việc phòng, chống bạo lực gia đình cũng như đáp ứng yêu cầu về việc đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số.

Chủ tịch Quốc hội cho biết, chiều tối ngày 9-3, Chủ tịch Quốc hội đã tiếp đoàn CEO của 40 doanh nghiệp lớn nhất Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN. Chủ đề cơ bản mà họ nêu ra là về kinh tế số và vấn đề lập pháp liên quan tới chuyển đổi số.

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét tại phiên họp để chuẩn bị trình Quốc hội là một bước thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế số, với mục tiêu trong nhiệm kỳ này, quy mô nền kinh tế số của nước ta phải đạt tối thiểu 20% tổng GDP của nền kinh tế. Vừa rồi, Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, trong đó có bổ sung một số chỉ tiêu thống kê để đo lường kinh tế số…

Lắng nghe ý kiến của rất nhiều kênh

Với 2 dự án luật trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ ba, ngay sau Kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan tổng hợp, nghiên cứu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật này. Đồng thời đã tổ chức nhiều buổi làm việc, khảo sát thực tế tại một số cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức các cuộc họp của các cơ quan thẩm tra với các bộ, ngành hữu quan để trao đổi, thống nhất về một số vấn đề lớn của các dự thảo luật.

Việc tiếp thu, chỉnh lý các dự án luật này đã được tiến hành một cách thận trọng, kỹ lưỡng, trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện tác động của các chính sách, bám sát và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Các cơ quan cần tiếp thu hợp lý, xác đáng và giải trình thấu đáo, thuyết phục để bảo đảm chất lượng 2 dự án luật này.

“Chúng ta đã làm rất kỹ lưỡng, từ sớm, từ xa, rất nhiều vòng, rất nhiều lớp, lắng nghe ý kiến của rất nhiều kênh với tinh thần cẩn trọng, tỷ mỉ, cụ thể để có sản phẩm pháp luật được ban hành đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội dung. Về mặt hình thức thì bảo đảm hệ thống pháp luật được đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, minh bạch, công khai, ổn định, đời sống pháp luật dài, có tính dự báo cao. Về mặt nội dung thì đáp ứng được yêu cầu kiến tạo, phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Trên tinh thần đó, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phát huy tinh thần trách nhiệm “đã cao rồi thì phải cao hơn nữa, đã kỹ lưỡng rồi thì phải kỹ lưỡng hơn nữa” với các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội thông qua.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu cả các cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra cần chủ động hơn nữa trong thực hiện các nhiệm vụ lập pháp, cần thiết có thể tiếp tục tổ chức các Kỳ họp bất thường của Quốc hội để xem xét, thông qua những dự án luật cần thiết, cấp bách.

Chất vấn là hoạt động giám sát trực tiếp hiệu quả

Về công tác giám sát, Chủ tịch Quốc hội cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đã được tổ chức thành công tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV. Ngoài chất vấn tại Kỳ họp thứ hai, các cơ quan của Quốc hội đã tổ chức một số phiên giải trình và đang có kế hoạch tiếp tục tổ chức các phiên giải trình.

Để chuẩn bị kỹ cho chương trình chất vấn tại phiên họp, ngày 15-3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ nghỉ họp.

Cùng với việc triển khai các chuyên đề giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, những chuyển biến tích cực của hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn mang lại đã khẳng định đây là hoạt động giám sát trực tiếp hiệu quả của Quốc hội, góp phần lan tỏa cảm hứng, hành động sáng tạo trong nỗ lực đổi mới hoạt động giám sát, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và cử tri, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Căn cứ vào chương trình phiên họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, ý kiến về kinh tế-xã hội được đại biểu Quốc hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo tổ chức một quy trình xin ý kiến về các nhóm vấn đề rất chặt chẽ.

“Chúng ta đã đề ra 6 nhóm vấn đề khác nhau, căn cứ vào phiếu biểu quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chúng ta chọn 2 vấn đề dành cho 2 bộ trưởng”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Cùng với đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng xem xét báo cáo kết quả bước đầu của Đoàn giám sát chuyên đề về “Việc thực hiện các nghị quyết của UBTVQH về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019-2021”; “Việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo từ ngày 1-7-2016 đến ngày 1-7-2021”; “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016-2021”…

 Nguồn Báo QĐNN

CHÚNG TA KHÔNG CHỌN PHE, CHÚNG TA CHỌN HÒA BÌNH VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM!

         Việt Nam là một quốc gia đã hứng chịu nhiều “cung bậc” giữa trường quốc tế. Chúng ta từng thoát khỏi tư cách là một quốc gia thuộc địa, từng chịu sự chia tách lãnh thổ, từng chịu hàng trăm năm chiến tranh, từng chiến đấu với các nước láng giềng, từng chịu bao vây cấm vận, từng bị lên án oan ức giữa nghị trường Liên Hợp Quốc…. Hơn quốc gia nào khác, chúng ta hiểu giá trị của hòa bình, hiểu được tính đúng - sai trong các mối quan hệ quốc tế, hiểu được rằng cuộc chiến giữa các phe phái chưa bao giờ đem lại lợi ích thực sự cho quốc gia.

Hãy xem chúng ta làm được gì trong những ngày qua? Chúng ta nỗ lực hết mình cùng Ba Lan, Moldova, Romania… trong việc hỗ trợ công dân Việt Nam và tôn vinh hành động của các nước này trong việc giúp đỡ nạn nhân chiến tranh. Chúng ta đồng tình với chủ trương thiết lập hành lang nhân đạo của Ukraine - Nga và mong hai bên ngồi đàm phán. Chúng ta không tham gia vào các lệnh trừng phạt nhắm vào Nga, không tham gia vào các nỗ lực lên án chính quyền Ukraine.

Chúng ta vừa tập trận cùng hải quân Ấn Độ và Pháp. Việt Nam cũng đang cật lực thay đổi các chính sách sản xuất nông sản để đáp ứng nhu cầu của thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng tái khẳng định việc tôn trọng thể chế chính trị của Việt Nam.

Chính phủ không cấm người dân bày tỏ ý kiến. Có nhiều người ủng hộ Ukraine, họ có thể quyên góp ủng hộ nạn nhân chiến tranh, tham gia mít tinh tại đại sứ quán Ukraine. Và cũng có nhiều người thoải mái bày tỏ ủng hộ Nga. Hoặc phần đông còn lại là ủng hộ hòa bình, chấm dứt chiến tranh và trung lập.

Trong ngoại giao quốc tế, đúng - sai là hai thứ khó phân định. Nếu chúng ta ủng hộ Ukraine, thì tức là chúng ta đồng ý với việc “chọn phe”, “biến lãnh thổ thành nơi chống lại một quốc gia khác”, trái với “bốn không” trong chính sách quốc phòng. Ngoài ra, chúng ta từng không đồng tình với nước bạn vì nước bạn đã từng bỏ phiếu “chống lên án chủ nghĩa phát xít”. Nếu ủng hộ Nga, điều đó khác gì nói rằng chúng ta ủng hộ chiến tranh và giải quyết xung đột bằng vũ khí?

Ở vị thế cá nhân, yêu - ghét và quyền của mỗi người. Nhưng ở vị thế quốc gia thì đôi khi yêu - ghét không còn đúng nữa, chỉ có lợi ích quốc gia là tối thượng.

Nhưng lợi ích dân tộc luôn là hàng đầu, chúng ta phải lựa chọn phương án tốt nhất cho sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai, phải đảm bảo cho đất nước có được hòa bình, phải hài hòa lợi ích giữa các quốc gia, không “khinh bên nọ trọng bên kia”.

Việt Nam được biết đến là một quốc gia vươn mình từ chiến tranh, từ cấm vận, từ nghèo đói. Chúng ta đã mất nhiều thời gian, sinh mạng, máu và nước mắt để có được ngày hôm nay.

Giá trị của hòa bình và quyền tự quyết là điều mà chúng ta phải luôn giữ gìn./.
Yêu nước ST.

“NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN” LÀ QUAN ĐIỂM PHI LÝ

 Chủ quyền quốc gia và quyền con người có mối quan hệ hữu cơ gắn bó mật thiết, không thể tách rời, có tác động bổ trợ qua lại lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội. Quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc tự quyết, độc lập dân tộc. Quyền con người vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính khu vực và mang tính bản sắc của mỗi quốc gia dân tộc. Vì vậy, không thể áp đặt tiêu chí quyền con người của quốc gia này cho các quốc gia khác. Hàng rào chủ quyền quốc gia ngăn cản mọi sự áp đặt vô lý đó. Nếu một quốc gia, tổ chức hoặc giai cấp nào đó tự coi mình là đại diện cho nhân quyền của toàn nhân loại, lấy quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “nhân quyền không biên giới” làm cơ sở để can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia độc lập, có chủ quyền là sự vi phạm nghiêm trọng đáng phê phán và lên án. Tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng chính là tôn trọng các giá trị về nhân quyền của quốc gia đó. Một quốc gia không có hay chưa có chủ quyền dân tộc thì không thể nói đến quyền con người, đến các “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của nhân dân.

Thực tế lịch sử Việt Nam cho thấy, khi mất chủ quyền dân tộc, mọi người dân không có đầy đủ quyền con người mà chỉ là những người “vong quốc nô”. Chính Hồ Chí Minh đã rất đau xót khi phải thốt lên rằng: “Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô”(3); “chúng tôi chẳng có quyền gì cả trừ quyền đóng thuế cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ... chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” nước chúng tôi không để chúng tôi tự do”(4). Trong tác phẩm Đông Dương, Người đã lên án thực dân Pháp: “chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách một cách độc ác trơ tráo đến thế”(5).

Mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc là mấy ngàn năm lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc là giá trị thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Chỉ khi nào đất nước được độc lập, chủ quyền quốc gia được bảo vệ thì mới có hạnh phúc của mỗi con người, quyền của mỗi người dân mới được bảo đảm. Chủ quyền quốc gia và quyền con người có mối quan hệ khăng khít, bền chặt, biện chứng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một quốc gia mất chủ quyền thì nhân dân của quốc gia đó cũng sẽ không bảo đảm được quyền con người, việc bảo đảm quyền con người chỉ có được trong quốc gia thực sự có chủ quyền. Với thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam từ chỗ là người nô lệ, bị mất nước trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ chính vận mệnh của mình.

Như vậy, rõ ràng, ở đây không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà chỉ là sự thống nhất giữa quyền con người và chủ quyền quốc gia, lập luận “nhân quyền cao hơn chủ quyền” chỉ là ngụy biện cho những toan tính chính trị đen tối. Xét trên cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn, quan điểm này tất yếu sẽ bị lịch sử bỏ qua bởi tính phi khoa học, phi logic, phi thực tiễn và hàm hồ của nó.

7 NỮ ANH HÙNG KIỆT XUẤT CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM

     Dù những năm tháng chiến tranh đau thương đã lùi xa, những mất mát đang dần được khỏa lấp trong cuộc sống hòa bình hôm nay nhưng lịch sử Việt Nam luôn khắc ghi đóng góp to lớn của những nữ anh hùng, như Hai Bà Trưng, Nguyễn Thị Định, Võ Thị Sáu,...

7 nữ anh hùng kiệt xuất của lịch sử Việt Nam

1. Nữ vương đầu tiên trong lịch sử

    Danh hiệu này dành cho hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, hai người phụ nữ anh hùng, đã quả cảm phát động và lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, vùng lên đập tan chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán, xưng vương và lập nên nền độc lập tự chủ trong vòng ba năm sau hơn 200 năm đắm chìm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc. 

2. Nữ chiến sĩ cộng sản Việt Nam đầu tiên

    Nguyễn Thị Minh Khai là một nữ chiến sĩ cộng sản tiền bối trên quê hương Xô viết, người đã làm rạng danh truyền thống cách mạng của phụ nữ Việt Nam. Cô sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), năm 1927 gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng.

    Năm 1929 thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng ở Trung Hoa. Năm 1935 vào học trường Đại học Phương Đông tại Liên Xô cũ, cùng với Lê Hồng Phong là đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương tham dự Đại hội VII Quốc tế cộng sản. Năm 1937, cô về nước hoạt động. Sau khi Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, cô bị giặc Pháp bắt năm 1940 và bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn năm 1941.

3. Nữ anh hùng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam

    Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930 tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Bà là Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam và Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, bà đã xây dựng và chỉ huy đội nữ du kích Tán Thuật (Thái Bình). Hoạt động hiệu quả, táo bạo dũng cảm, nổi tiếng với chiến tích “tay không bắt giặc”, bà được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương chiến công.

4. Nữ đại tá tình báo giỏi nhất

    Anh hùng - Đại tá tình báo Đinh Thị Vân

    Đinh Thị Vân là một Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bà là một tình báo viên nổi tiếng trong Chiến tranh Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 

    Với tính cách thông minh, nhanh nhẹn, kiên trung, xây dựng được mạng lưới tình báo vững chắc, bà đã cung cấp kịp thời cho Trung ương Đảng nhiều tin tức về các cuộc càn quét của Mỹ ngụy vào đầu não kháng chiến của ta ở miền Đông Nam bộ. Hệ thống tình báo của bà phục vụ đắc lực cho các kế hoạch tấn công của quân đội ta từ Tết Mậu Thân 1968 đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng năm 1975.

5. Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất

    Chị Võ Thị Sáu (1933-1952) xứng đáng với danh hiệu này. Ngay từ năm 15 tuổi, chị đã hăng hái tham gia cách mạng, lập nhiều chiến công vang dội. Tháng 5/1950, bị giặc Pháp bắt, tra tấn dã man nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Năm 1952, giặc đày chị ra Côn Đảo và hành quyết. Năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

6. Nữ tướng duy nhất của Việt Nam ở thế kỷ XX

    Những người từng biết đến thiếu tướng Nguyễn Thị Định, hay còn được gọi với cái tên trìu mến là “bà ba Định” đều cho rằng, bà thật xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Phó Tư lệnh giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho dân tộc ta”. 

7. Người sinh viên yêu nước can đảm

    Võ Thị Thắng trước 1975 là sinh viên Sài Gòn, tham gia đấu tranh biểu tình chống chính quyền bị bắt và bị kết án 20 năm tù. Khi bị kết án Võ Thị Thắng có nói một câu được cho là rất nổi tiếng đó là "...tôi chỉ sợ chính quyền của các ông không tồn tại nổi đến khi tôi mãn hạn tù". Khi Võ Thị Thắng bị dẫn giải về nhà lao, có nhà báo đã chụp được bức ảnh Võ Thị Thắng mỉm cười đứng giữa hai lính dẫn giải./.


CHÚNG TA KHÔNG CHỌN PHE, CHÚNG TA CHỌN HÒA BÌNH VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM


          Việt Nam là một quốc gia đã hứng chịu nhiều “cung bậc” giữa trường quốc tế. Chúng ta từng thoát khỏi tư cách là một quốc gia thuộc địa, từng chịu sự chia tách lãnh thổ, từng chịu hàng trăm năm chiến tranh, từng chiến đấu với các nước láng giềng, từng chịu bao vây cấm vận, từng bị lên án oan ức giữa nghị trường Liên Hợp Quốc…. Hơn quốc gia nào khác, chúng ta hiểu giá trị của hòa bình, hiểu được tính đúng - sai trong các mối quan hệ quốc tế, hiểu được rằng cuộc chiến giữa các phe phái chưa bao giờ đem lại lợi ích thực sự cho quốc gia.

          Hãy xem chúng ta làm được gì trong những ngày qua? Chúng ta nỗ lực hết mình cùng Ba Lan, Moldova, Romania… trong việc hỗ trợ công dân Việt Nam và tôn vinh hành động của các nước này trong việc giúp đỡ nạn nhân chiến tranh. Chúng ta đồng tình với chủ trương thiết lập hành lang nhân đạo của Ukraine - Nga và mong hai bên ngồi đàm phán. Chúng ta không tham gia vào các lệnh trừng phạt nhắm vào Nga, không tham gia vào các nỗ lực lên án chính quyền Ukraine.

          Chúng ta vừa tập trận cùng hải quân Ấn Độ và Pháp. Việt Nam cũng đang cật lực thay đổi các chính sách sản xuất nông sản để đáp ứng nhu cầu của thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng tái khẳng định việc tôn trọng thể chế chính trị của Việt Nam.

          Chính phủ không cấm người dân bày tỏ ý kiến. Có nhiều người ủng hộ Ukraine, họ có thể quyên góp ủng hộ nạn nhân chiến tranh, tham gia mít tinh tại đại sứ quán Ukraine. Và cũng có nhiều người thoải mái bày tỏ ủng hộ Nga. Hoặc phần đông còn lại là ủng hộ hòa bình, chấm dứt chiến tranh và trung lập.

          Trong ngoại giao quốc tế, đúng - sai là hai thứ khó phân định. Nếu chúng ta ủng hộ Ukraine, thì tức là chúng ta đồng ý với việc “chọn phe”, “biến lãnh thổ thành nơi chống lại một quốc gia khác”, trái với “bốn không” trong chính sách quốc phòng. Ngoài ra, chúng ta từng không đồng tình với nước bạn vì nước bạn đã từng bỏ phiếu “chống lên án chủ nghĩa phát xít”. Nếu ủng hộ Nga, điều đó khác gì nói rằng chúng ta ủng hộ chiến tranh và giải quyết xung đột bằng vũ khí?

          gó độ cá nhân, yêu - ghét là quyền của mỗi người. Nhưng ở vị thế quốc gia thì đôi khi yêu - ghét không còn đúng nữa, chỉ có lợi ích quốc gia là tối thượng.

          Nhưng lợi ích dân tộc luôn là hàng đầu, chúng ta phải lựa chọn phương án tốt nhất cho sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai, phải đảm bảo cho đất nước có được hòa bình, phải hài hòa lợi ích giữa các quốc gia, không “khinh bên nọ trọng bên kia”.

          Việt Nam được biết đến là một quốc gia vươn mình từ chiến tranh, từ cấm vận, từ nghèo đói. Chúng ta đã mất nhiều thời gian, sinh mạng, máu và nước mắt để có được ngày hôm nay.

          Giá trị của hòa bình và quyền tự quyết là điều mà chúng ta phải luôn giữ gìn./.

 

Vạch trần âm mưu của “Các hiện tượng tôn giáo mới”

     Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

    Một số “hiện tượng tôn giáo mới” có biểu hiện xâm phạm nhân phẩm, sức khỏe con người, gây ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội, làm thay đổi và xáo trộn về nếp sống, tập quán truyền thống của nhân dân... Khi chuyển đổi tôn giáo, tín ngưỡng để theo các “hiện tượng tôn giáo mới”, do khác biệt về tín ngưỡng đã góp phần tạo nên sự phân hóa, mâu thuẫn giữa người theo và không theo “tôn giáo” trong cùng một cộng đồng, một tộc người và các dân tộc trên địa bàn.

    Đây là một trong những yếu tố góp phần làm thay đổi lối sống và các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, tộc người và các dân tộc; là nhân tố làm nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa bộ phận dân cư theo và không theo tôn giáo của các dân tộc, trong nội bộ tộc người tại các buôn làng, thậm chí diễn ra trong từng dòng họ và gia đình. 

    Một số “hiện tượng tôn giáo mới” tuyên truyền cách thức thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức, văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như: yêu cầu người đi theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự (thực chất là nhà riêng của những người cầm đầu, cốt cán), phục vụ những hoạt động nhằm duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền người tin theo không cần làm cũng có ăn, siêng năng cầu nguyện và trung thành với tổ chức sẽ được ban cho cuộc sống tốt đẹp, mọi nợ nần kể cả vay tiền ngân hàng hay cá nhân đều được xóa bỏ, không bị ốm đau bệnh tật và bất hạnh trong cuộc sống.

    Để giữ niềm tin cho những người tham gia, đồng thời ép những người khác trong gia đình phải đi theo, những người cầm đầu, cốt cán của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường yêu cầu và buộc số người tin theo không được tiếp xúc và quan hệ với người khác niềm tin, tự tổ chức làm riêng và đổi công cho nhau trong nhóm, ăn riêng và sinh hoạt riêng, kể cả trong gia đình nếu vợ chồng, con cái có người theo và không theo cũng phải tách ra để làm ăn và sinh hoạt riêng, thậm chí li dị và phân chia tài sản, con cái. Đồng thời, không tham gia các cuộc hội họp chung của cộng đồng, các chương trình, dự án, chính sách phát triển, hỗ trợ của chính quyền và tổ chức xã hội,... Do vậy, sự hiểu biết về xã hội cũng như đời sống kinh tế của những gia đình này đã thấp kém lại gặp nhiều khó khăn hơn. 

    Phần lớn các “hiện tượng tôn giáo mới” đều tuyên truyền và thực hành những hoạt động có yếu tố mê tín dị đoan, như: xem tướng số, bói toán về số phận con người, không tham gia các lễ hội và sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng; không thực hiện phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đồng thời phủ nhận các tôn giáo chính thống, kể cả tôn giáo đó là nguồn gốc của mình,... Do đó, đời sống văn hóa của những người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thường bị bó hẹp và góp phần làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong bộ phận dân cư này. . . 

    Mặt khác, các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền và thực hành chữa bệnh không cần dùng thuốc và thăm khám chữa trị ở các cơ sở y tế, mà chỉ cần tin vào đấng siêu linh được tôn thờ và thực tâm siêng năng cầu nguyện sẽ khỏi. Cùng với đó là việc thực hành những phương pháp chữa bệnh mang tính ma thuật, phản khoa học, như: viết lời cầu nguyện ra giấy để đọc sau đó đốt lấy tro hòa nước uống sẽ khỏi bệnh hay tập trung quanh người bệnh để cầu nguyện với niềm tin hết ốm đau. 

    Do tồn tại bất hợp pháp nên các buổi sinh hoạt chung của nhóm hay riêng trong nội bộ gia đình thường tổ chức lén lút vào lúc nửa đêm về sáng; những nơi hoang vắng để tránh bị các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý, đã ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi, sản xuất, học tập và sức khỏe của những người tin theo, nhất là trẻ em và người già cũng như gây mất an ninh trật tự cộng đồng. Việc người theo hiện tượng tôn giáo mới cũng phải bỏ ra thời gian, tiền bạc hay của cải vật chất cho những thực hành tôn giáo của họ. 

    Đa số các “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra tình trạng học sinh trong những gia đình tin theo bỏ học, trốn học, không tiếp tục học lên cao,...Đơn cử như trường hợp con trai của Y. N-  bác sĩ và cũng là một trong những đối tượng cầm đầu của tổ chức “Amo Sara” đậu hai trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh, nhưng bố mẹ không cho đi để tránh tiếp xúc với người lạ, ở nhà cùng gia đình thực hành “tín ngưỡng” và kết hôn với con gái của người sáng lập ra tổ chức này.

    Một số “hiện tượng tôn giáo mới” đã chối bỏ văn minh, truyền thồn văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, có biểu hiện mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục. Một số người còn trở thành “thầy lang” chữa bách bệnh cho mọi người, phương pháp chữa bệnh mang nặng mầu sắc mê tín, phản khoa học.

    Một số hoạt động của “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra sự hoang mang trong giáo dục học đường, thậm chí cả cho các bậc phụ huynh. Họ gửi thư tuyên truyền đến cho các em học sinh còn quá ít tuổi, khi mà họ vô tình hoặc cố ý biết tên, địa chỉ các em. Nhất là, trong nội dung thư có nội dung tuyên truyền về “ngày tận thế”, về “thời mạt pháp”, đe dọa nếu nhận được thư mà không viết thư hoặc tuyên truyền cho người khác thì sẽ bị rủi ro, tai nạn, có khi thiệt mạng,... 

    Những hành động này gây lo lắng, hoang mang trong nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa... Trong khi đất nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì những hoạt động đó cản trở không nhỏ, khiến quần chúng nhân dân bất bình, phản đối. 


Quan điểm nhất quán của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine

     Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức và thể hiện sự nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

    Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

    Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

    Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

    Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 Âm mưu "đấu tranh bất bạo động", thực hiện “cách mạng đường phố”

    Một trong những phương thức, thủ đoạn hoạt động của Việt Tân là kích động biểu tình phá rối an ninh, tập dượt cho “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

    Theo đó, Việt Tân triệt để lợi dụng tâm lý bất bình của quần chúng nhân dân về một số vụ việc tiêu cực trong nước, các sự kiện nóng liên quan chủ quyền lãnh thổ…, để kích động thanh niên, sinh viên tham gia các cuộc tuần hành, biểu tình. Chúng đưa người thâm nhập vào số đi khiếu kiện, thậm chí tài trợ tiền đề kích động họ tham gia các hoạt động do Việt Tân tổ chức, hòng biến những vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai thành các cuộc biểu tình quy mô lớn; xây dựng và tán phát kịch bản “lật đổ chế độ tại Việt Nam”. Đồng thời, chỉ đạo các đối tượng ở trong nước vẽ sơ đồ, quay phim, chụp ảnh các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội…, phục vụ cho các mưu đồ chống phá.

    Gần đây, các vụ biểu tình, tụ tập đông người phá rối an ninh do Việt Tân kích động không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về tính chất và mức độ nguy hiểm. Số cầm đầu Việt Tân đánh giá “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”.

    Có thể nêu lên một vài vụ điển hình đã được Báo Công an nhân dân đưa tin như: Vụ Nguyễn Hữu Thiên An (Khánh Hòa) âm mưu đặt bom đánh phá tại quận 1, TP Hồ Chí Minh; Trần Thị Nga (Hà Nam) tán phát hàng nghìn bài viết, hàng chục video clip trên internet tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân dân biểu tình nhưng đã bị cơ quan Công an kịp thời phát hiện, đấu tranh, bắt giữ và xử lý.

    Một vụ việc khác đã bị lực lượng an ninh phát hiện và xử lý xảy ra ngày 17-4-2012, Việt Tân chỉ đạo Nguyễn Quốc Quân, “Ủy viên Trung ương Việt Tân” sử dụng tên Nguyen Richard nhập cảnh vào Việt Nam mang theo máy tính xách tay, sử dụng nhiều tài liệu và tiền với ý đồ kích động biểu tình, tổ chức rải truyền đơn phá hoại dịp lễ 30-4, tổ chức thông tin ra bên ngoài để tuyên truyền, xuyên tạc chống Nhà nước Việt Nam như lần nhập cảnh vào Hà Nội tháng 7-2011.

    Cũng vào dịp lễ kỷ niệm ngày thống nhất đất nước năm 2019, Việt Tân âm mưu cử các thành viên nhập cảnh vào Việt Nam, thực hiện rải truyền đơn phản động tại TP Hồ Chí Minh và khu vực chùa Ba Vàng, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nhưng toàn bộ hoạt động của chúng đều nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan an ninh khiến số đối tượng bên ngoài không thể xâm nhập về nước, số cơ sở trong nước hoang mang không dám thực hiện.

Lập hội, nhóm trá hình, hậu thuẫn các phần tử chống đối trong nước

    Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của Việt Tân nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

    Theo phản ánh của Báo Công an nhân dân, ăn theo Việt Tân, nhiều hội, nhóm trá hình đã được thành lập như: Hội cựu lao động Đài Loan do Trần Thị Nga thành lập theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Hùng, thành viên Việt Tân ở Đài Loan; Hội nhóm dân oan Hà Nam do Trần Thị Nga thành lập tháng 12-2013; Công đoàn doanh nhân, trí thức Thái Hà do Lê Quốc Quân, Nguyễn Hữu Vinh và Trần Thị Hường và một số đối tượng khác cầm đầu; Văn phòng truyền thông Công giáo và Quỹ Trái tim yêu thương, thành lập năm 2014.

    Để dễ bề chỉ đạo số đối tượng trong nước, Việt Tân đưa người tham gia, tài trợ tiền cho các hội, nhóm để chi phối hoạt động. Điển hình như “Hội anh em dân chủ” có Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Bắc Truyển thường xuyên nhận tài trợ của Việt Tân. Đồng thời, là đầu mối tuyển chọn người cho Việt Tân đưa ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện. Trong số các thành viên được Việt Tân huấn luyện có thể kể đến như Lê Thu Hà, Hoàng Chí Hiếu.

    Đầu năm 2015, được sự giúp đỡ của Việt Tân, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) cùng một số đối tượng đã khôi phục “Câu lạc bộ nhà báo tự do” thành một tổ chức phi chính chủ để triển khai hoạt động chống phá Việt Nam với cơ cấu gồm Ban giám đốc, ban biên tập, bộ phận xây dựng website, truyền thông (do Phạm Đắc Hồng Thuận phụ trách), giao tiếp cộng đồng, thủ quỹ. Ngoài ra còn có “Phong trào chống tham nhũng” có Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Anh Tuấn (Thái Bình)..., đều là cơ sở của Việt Tân.

Móc nối đưa người ra nước ngoài đào tạo, phát triển lực lượng

    Lợi dụng nhu cầu muốn ra nước ngoài học tập của người dân, Việt Tân núp dưới danh nghĩa tài trợ học bổng, từ thiện, mời tham dự hội thảo, du lịch..., để móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, luật sư, phóng viên, người khiếu kiện... ra nước ngoài. Sau đó, dùng thủ đoạn lừa mị, khống chế, bắt điền đơn gia nhập tổ chức, tiến hành huấn luyện kỹ năng hoạt động, bảo mật máy tính, cách chế tạo bom xăng..., rồi tung về nước rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng, gây hoang mang trong nhân dân.

    Năm 2019, dưới danh nghĩa từ thiện, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân là VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment) - “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại”, thông qua cái gọi là “Học bổng xã hội dân sự VOICE” mời gọi thanh niên tham gia và cam kết “giúp các học viên trở thành những công dân tích cực, giàu tinh thần cộng đồng, và được trang bị các kiến thức nền tảng để có thể tham gia vào các hoạt động xã hội”. Vậy nhưng đằng sau những lời tuyên bố đầy tốt đẹp lại là những hoạt động chống đối nguy hiểm.

    Trong khoá đào tạo của mình, trước hết VOICE truyền bá những cách nhìn nhận sai lệch về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam, hình thành tư tưởng chống đối chính quyền cho học viên. Sau đó, VOICE tiến hành tập huấn, trang bị, huấn luyện cho học viên các nội dung về đấu tranh bất bạo động đối với chính quyền, đặc biệt là việc sử dụng chiêu bài tự do, nhân quyền để tiến hành chống phá. Ngoài ra, VOICE còn tổ chức cho học viên tiếp xúc với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị để học hỏi phương thức hoạt động, thậm chí là cả cách ứng phó với cơ quan chức năng. Các “sản phẩm” sau đào tạo được tung về nước, trở thành hạt nhân tập trung lực lượng tiến hành chống phá chính quyền.

    Một thủ đoạn nham hiểm khác của Việt Tân là sử dụng các đối tượng chống đối trong nước làm bằng chứng sống, cung cấp những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam cho chính giới một số nước; một số hãng thông tin quốc tế, xuyên tạc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đồng thời khuếch trương thanh thế, chứng tỏ thực lực của Việt Tân ở nước ngoài, gây dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam.

    Những đối tượng thường được Việt Tân nhắm tới là số thân nhân đặc biệt như luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ, giảng viên một số trường đại học trong nước, số cốt cán của các hội, nhóm chống đối trong nước; thân nhân đối tượng đang bị bắt; các blogger thường xuyên viết bài chống Đảng, Nhà nước và số chức sắc, tín đồ chống đối trong tôn giáo. Đồng thời, Việt Tân sử dụng danh nghĩa của một số tổ chức nước ngoài mời các đối tượng trong nước; chỉ đạo số trong nước xuất cảnh sang Campuchia hoặc Thái Lan bằng đường bộ, sau đó mới xin thị thực nhập cảnh vào nước thứ ba.

Phá hoại  nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội

    Ông Nguyễn Thanh Tú là con trai của ký giả Ðạm Phong - một trong năm ký giả người Mỹ gốc Việt đã bị giết hại tại Mỹ trong những năm 80 của thế kỷ trước khi chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân đã khẳng định: Hồi nhỏ, tôi theo bố làm báo. Bố tôi bảo làm báo để "làm người", song tôi theo ông để học hỏi, và vì thương bố. Lúc đó tiếng Việt của tôi không tốt, ngồi bên bố và bạn bè, họ nói các vấn đề to tát quá, tôi càng không hiểu. Trước khi bố tôi bị giết hại, tôi đã chứng kiến nhiều việc lắm, có việc đến hôm nay tôi vẫn không đủ can đảm để nói ra. Trước khi chết, bố tôi có hướng dẫn tôi rất kỹ càng. Một trong những việc đó là ông nói về "băng đảng Việt Tân", ông bảo rồi đây họ sẽ "Việt Tân hóa truyền thông hải ngoại", họ sẽ biến truyền thông hải ngoại thành bộ máy tuyên truyền cho họ. Ðiều bố tôi lo nhất là đồng bào trong nước không có điều kiện tìm hiểu nên không biết mặt thật của "Việt Tân". 

    Việt Tân còn triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Với chiêu bài “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch của thanh niên, sinh viên với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức.

    Theo Báo Công an nhân dân, Việt Tân đã cho lập mới hơn 300 tài khoản và nhiều diễn đàn kín, kết hợp với những diễn đàn trước đó như “Canh Tân”, “Bạn của Việt Tân”, “Bạn của Nguyễn Quốc Quân”... duy trì gần 1.000 tài khoản mạng xã hội, đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Ý đồ của chúng là biến mỗi thành viên, cảm tình viên của tổ chức trở thành một tuyên truyền viên, một kênh thông tin hữu hiệu để tuyên truyền, lan tỏa những “thông điệp” của Việt Tân trong cộng đồng người thân và bạn bè của đối tượng. Từ đó, tác động tư tưởng, phát hiện đầu mối giới thiệu cho tổ chức thông qua các trang facebook.

    Việt Tân đồng thời duy trì các trang web, đài phát thanh và lập bản tin..., cung cấp tài chính, phương tiện cho số đối tượng trong nội địa của chúng thu thập thông tin, viết bài công kích trực tiếp lãnh đạo Đảng Nhà nước; khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tập trung khai thác những sự kiện được dư luận quan tâm như vụ cây xanh tại Hà Nội, vấn đề Biển Đông, sự kiện công nhân đình công..., lồng ghép thông tin xuyên tạc tình hình, bôi nhọ, vu cáo các cơ quan chức năng của ta.

    Bằng cách liên kết với các đối tượng như Đoàn Viết Hoạt (cầm đầu Họp mặt dân chủ) và Nguyễn Văn Đài (cầm đầu Hội anh em dân chủ), từ tháng 10-2014 đến nay, Việt Tân đã tổ chức các khóa học với trên 55 đối tượng tham dự vào các tối thứ 4 và thứ 7 hằng tuần. Chúng lập ra nhóm học tập dân chủ online; tổ chức huấn luyện 15 nội dung liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền như: Dân chủ là mục tiêu hàng đầu của đấu tranh; từ độc tài đến dân chủ trên thế giới..., điều hành nhóm là số cầm đầu “cốt cán” của Việt Tân như Hoàng Cơ Định, Nguyễn Quốc Quân, Đỗ Đăng Liêu, Nguyễn Đỗ Thanh Phong đều là “ủy viên trung ương”.

    Không dừng lại ở đó, chúng liên kết, tài trợ cho Dòng chúa cứu thế mở các văn phòng truyền thông công giáo tại ba miền Bắc, Trung, Nam để tuyên truyền chống chế độ; mở chiến dịch tiếp cận internet tại các vùng ở Tây Nguyên, Tây Bắc nhằm trang bị kiến thức, huấn luyện cách thức sử dụng Internet cho đồng bào dân tộc để dễ dàng tuyên truyền, phát triển lực lượng và kích động họ tham gia các hoạt động tụ tập, gây rối an ninh trật tự tại địa phương, tạo ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Từ bên ngoài, năm 2015, đúng dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các đối tượng đã soạn thảo và tán phát vào trong nước “bản tuyên bố” có tựa đề “40 năm đã qua” và bộ phim tài liệu “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” với nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng thời kêu gọi số chống đối tham gia ký tên và tán phát rộng rãi trong cả nước.

    Ngang nhiên và liều lĩnh hơn, các đối tượng còn phát động trên mạng Internet phong trào “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”; cuộc thi “Cộng sản và tôi”; tổ chức các buổi “hội luận” trên mạng Internet với sự tham gia của số cầm đầu như Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm và số đối tượng trong nước. Việt Tân còn chỉ đạo các đối tượng trong nước vận động mọi người trong nước tham gia các buổi “tưởng niệm”, xuyên tạc lịch sử năm 1975.

    Hiện nay, Việt Tân đang ráo riêng kích động các hoạt động chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XV, hậu thuẫn các đối tượng phản động, cơ hội chính trị tự ứng cử để phá hoại bầu cử.

    Các vị trí chủ chốt của Việt Tân đều có nguồn gốc liên quan đến dòng họ của Hoàng Cơ Minh. Sau khi Hoàng Cơ Minh chết tại Lào, cái gọi là “Mặt trận” giải tán, Hoàng Cơ Định chính là người nắm quỹ tài chính, điều hành hoạt động của Việt Tân từ đó đến nay. Hoàng Tứ Duy – kẻ xưng là người phát ngôn chính thức của Việt Tân lại chính là con trai của Hoàng Cơ Định. Đỗ Hoàng Điềm - kẻ tự xưng là Chủ tịch Việt Tân là cháu vợ của Hoàng Cơ Định...

    Anh Nguyễn Thanh Tú cho biết: Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đã phải đóng góp biết bao nhiêu tiền, nhưng băng đảng "Việt Tân" lấy cả chục triệu USD của chung để biến thành của riêng. Tôi muốn tuổi trẻ ở Việt Nam - trong đó có những người rất dễ trở thành “con mồi” của băng đảng Việt Tân, thấy rằng đó là một tổ chức băng đảng chứ không phải đảng phái chính trị gì cả.

    Mặc dù Việt Tân và các thế lực thù địch luôn tìm cách chối bỏ bản chất khủng bố, chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhưng theo các quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế, đủ cơ sở khẳng định Việt Tân chính là tổ chức khủng bố. Bộ Công an khẳng định: Việt Tân là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.



“Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” và trò hề của Việt Tân


    Thời gian gần đây, tổ chức khủng bố Việt Tân công bố cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” với mục đích nhằm vinh danh “những hoạt động cứu trợ dân nghèo gặp khó khăn trong đại dịch Covid-19 vừa qua đã bị chính quyền bỏ rơi” và đề cao “sự hi sinh, những việc làm của những cá nhân hay những tổ chức đang miệt mài đấu tranh cho nhân quyền của dân tộc Việt Nam”, vậy thực hư mục đích của “giải thưởng” này là như thế nào?

    Đầu tiên, chúng ta cần phải nghiên cứu tính “chính danh” của “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” khi “cha đẻ” của nó là tổ chức khủng bố Việt Tân, vốn là tổ chức phản động lưu vong người Việt, do Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó Đô đốc Hải quân chính quyền Sài Gòn cũ) thành lập năm 1982 tại Thái Lan, hiện do Đỗ Hoàng Điềm (sinh năm 1963, quốc tịch Mỹ) là Chủ tịch. Mục tiêu hoạt động của tổ chức này là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phương thức hành động ban đầu của “Việt Tân” là dùng bạo động, vũ trang, khủng bố, phá hoại ở Việt Nam, sau đó chuyển sang phương thức “đấu tranh bất bạo động hiện đại”, bản chất là kết hợp giữa “đấu tranh bất bạo động” với “bạo lực cục bộ địa phương”. Ngày 4/10/2016, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố tại Việt Nam, đồng thời nêu rõ: “Người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Do vậy, việc một tổ chức “khủng bố” lập ra giải thưởng thì giải thưởng đó hoàn toàn không có giá trị, là bất hợp pháp, đây thực chất là trò bịp bợm của “Việt Tân” nhằm lôi kéo sự quan tâm của dư luận.

    Thứ hai, khi nói về “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” thì chúng ta cần nhận diện rõ Lê Đình Lượng là ai và ông ta có đóng góp gì đối với “nhân quyền” mà lại được tổ chức khủng bố Việt Tân vinh danh. Theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh Nghệ An, Lê Đình Lượng là thành viên tổ chức Việt Tân, trong thời gian từ 2015 đến 2017, Lê Đình Lượng sử dụng Facebook mang tên "Lỗ Ngọc” để kết bạn, làm quen, lôi kéo Nguyễn Văn Hóa (đối tượng đã bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 7 năm tù về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” vào tháng 11-2017). Lê Đình Lượng còn thường xuyên sử dụng Facebook "Lỗ Ngọc" để đăng, tải nhiều bài viết có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, năm 2018, TAND tỉnh Nghệ An tuyên phạt bị cáo Lê Đình Lượng 20 năm tù giam về tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 79, Bộ luật Hình sự năm 1999 và 5 năm quản chế tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Đây là bản án nghiêm khắc, đúng người, đúng tội đối với Lê Đình Lượng, được dư luận quần chúng đồng tình ủng hộ. Do vậy, việc “đẻ ra” một giải thưởng nhằm “vinh danh” một kẻ phản bội Tổ quốc, là một trò hề của tổ chức khủng bố ViệtTân.

    Thứ ba, từ khi thành lập cho đến nay, Đảng luôn chủ trương “lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”; “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước từ trước đến nay, quyền con người và pháp luật về quyền con người là nội dung rất quan trọng, được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Những thành quả trong việc bảo đảm, tôn trọng quyền con người và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực, ở mọi điều kiện, hoàn cảnh và đã được cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Mới đây, Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

    Thứ tư, thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là trong phòng, chống dịch Covid-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua. Trong bối cảnh nguồn vaccine trên thế giới tiếp tục khan hiếm nghiêm trọng, Việt Nam đã triển khai chiến dịch ngoại giao vaccine hết sức khẩn trương, toàn diện, quyết liệt, hướng tới mục tiêu có vaccine nhiều nhất, nhanh nhất để tiêm chủng cho Nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo và tham gia trực tiếp, quyết liệt, với các hình thức ngoại giao song phương hay đa phương, điện đàm hay viết thư cho lãnh đạo các nước, lãnh đạo WHO, các doanh nghiệp sản xuất vaccine; hay việc huy động hàng trăm ngàn y, bác sĩ, cán bộ, chiến sĩ tham gia giúp Nhân dân trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, chính là sự khẳng định sự ưu việt của chế độ ta trong đảm bảo nhân quyền. Mới đây trong chuyến thăm, làm việc tại Vương quốc Anh, khi gặp đại diện kiều bào, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thẳng thắn nói: “Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới này về vấn đề nhân quyền. Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau”.

    Mọi cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật Việt Nam thì lẽ dĩ nhiên phải chịu những hình thức xử lý của pháp luật Việt Nam và đó cũng chính là minh chứng trong việc bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức. Do đó, việc đề ra cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”cũng chỉ là chiêu trò mà Việt Tân đã lợi dụng để kích động, chia rẽ, cổ súy, gây mất ổn định tình hình trong nước, tạo điều kiện cho chúng tập hợp, xây dựng ngọn cờ nhằm thực hiện các mưu đồ xấu xa. Do vậy mỗi người cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tránh bị tổ chức khủng bố Việt Tân lợi dụng.