Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

NHỮNG HÌNH ẢNH MÀ HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN CỐ TÌNH BỎ QUÊN

         Các vị cứ rêu rao là Việt Nam bỏ phiếu chống là ủng hộ chiến tranh, mang tội ác chiến tranh nhưng cho tôi hỏi hàng ngàn tấn chất Dioxin Mỹ đã đổ lên đầu nhân dân Việt Nam để lại hậu quả đến giờ vẫn chưa xong. Hàng ngàn tấn bom đạn đổ xuống đầu nhân dân Việt Nam, hàng ngàn cuộc thảm sát dân thường mà Pháp, Mỹ và chính quyền Nguỵ quyền gây ra cho nhân dân Việt Nam không thấy ai nhắc đến, không thấy ANH LIÊN HỢP QUỐC NÀO LÊN TIẾNG, ANH HỘI NHÂN QUYỀN cho một câu phát biểu nhỉ?


Hiện nay các nạn nhân chiến tranh Việt Nam vẫn đấu tranh yêu cầu các công ty ở Mỹ bồi thường hậu quả chiến tranh nhưng chẳng thấy ai lên tiếng cả? Họ quên hay cố tình quên, mấy ông UCraine giống loài gì mà cả thế giới bâu vào vậy? Trong lúc các nạn nhân của chúng tôi cũng xứng đáng với điều này?


Nói thêm mấy anh nói phét "việt tân" các anh "rận chủ" mồm lu loa khắp nơi khen Mỹ, khen châu Âu, chê Việt Nam nhưng chưa bao giờ tôi thấy các anh nói về hậu quả của cuộc chiến Mỹ và Pháp gây ra cho đất nước này; chưa bao giờ thấy các anh nhắc đến những nạn nhân của chất độc màu da cam cả. Hay các anh ấy cũng là những kẻ đạo đức giả hay nói cách khác là ăn tục nói phét mà thôi./.





Yêu nước ST.

XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC – XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội phụ nữ, công đoàn, hội đồng quân nhân, đây là một bộ phận của hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động ở các đơn vị quân đội để đại diện, bảo vệ lợi ích và thực hiện, phát huy quyền làm chủ của các thành viên. Cùng với việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện thì xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh sẽ trực tiếp góp phần xây dựng, củng cố thể chế chính trị trong quân đội vững mạnh - một nội dung cơ bản xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.

Quán triệt và nắm vững những  quan điểm của Đảng về công tác quần chúng: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân; các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác dân vận là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và đoàn thể.

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng và hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội. Xác định đúng phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương, phương thức hoạt động; coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tôn trọng tính độc lập, tự chủ; tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo đúng chức năng giáo dục, đoàn kết, phát huy quyền làm chủ của hội viên, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ  của đơn vị

Các tổ chức chính trị - xã hội phải có nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể, thiết thực, hấp dẫn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia. Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt của các tổ chức chính trị - xã hội về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác quần chúng. Xây dựng đội ngũ đoàn viên, hội viên đông đảo về số lượng, mạnh về chất lượng, nhất là trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần tự giác, trách nhiệm, ý thức làm chủ, ý thức tổ chức, kỷ luật.

ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU ĐÒI "CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ" Ở VIỆT NAM

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

NÂNG CAO NỘI DUNG PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO ĐẠT HIỆU QUẢ

 

Hiện nay các thế lực thù địch vẫn tăng cường điên cuồng chống phá nước ta bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ hết sức thâm độc. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ xác định Việt Nam là một trọng điểm thực thi chiến lược xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Chúng không từ một thủ đoạn nào, từ “chiến lược chi phối đầu tư”, “ngoại giao thân thiện” đến “chiến lược khoét sâu nội bộ” nhằm phá hoại ta trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, kinh tế, văn hoá, tâm lý nhằm làm tan rã niềm tin phai nhạt lý tưởng, chuyển hoá dần ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, và nhân dân ta, làm cho ta mất ổn định, suy yếu, dần dần loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, giành “chiến thắng không cần chiến tranh”. Đồng thời với sử dụng “biện pháp mền” kẻ thù cũng không từ các thủ đoạn gây áp lực, răn đe sử dụng sức mạnh quân sự, tiến hành các hoạt động lật đổ, xâm lược vũ trang khi cần thiết và có điều kiện.

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới đang diễn ra với tốc độ phi thường, đưa tới những tiến bộ to lớn, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong kinh tế và trên các mặt đời sống xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu mới về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; về năng lực của đội ngũ đảng viên. Có thể thấy rõ rằng, hiện nay người đảng viên, người cán bộ đảng ngoài kiến thức toàn diện thì cần phải có hiểu biết sâu về chuyên ngành của mình, nếu không thông thạo chuyên ngành đó thì lãnh đạo, chỉ huy rất khó.

Chiến tranh trong thời đại khoa học - công nghệ là chiến tranh vũ khí công nghệ cao, điều này sẽ làm thay đổi cả quan điểm chiến tranh cũng như nghệ thuật quân sự, đòi hỏi phải giải quyết mỗi quan hệ giữa con người với vũ khí có sự khác biệt với chiến tranh thông thường. Chiến tranh với đòn đánh phủ đầu từ xa bằng hoả lực mạnh, độ chính xác cao dặt ra vấn đề giữ vững tinh thần, ý chí chiến đấu cho bộ đội, bảo toàn lực lượng, phòng tránh đánh trả, đảm bảo thông tin liên lạc.

Vì vậy, trong công tác lãnh đạo phải giải thích một cách rõ ràng thuyết phục, có căn cứ và phương pháp khoa học. Trình độ dân chủ trong sinh hoạt ngày càng được mở rộng. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng hơn nữa.

 

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ LÀ KHÂU TRUNG TÂM CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHI BỘ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH

 


Việc cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt ở chi bộ hiện nay là khâu rất quan trọng để nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, giáo dục huấn luyện cán bộ, đảng viên. Thực tế hiện nay cho thấy công tác xây dựng chi bộ hiện nay có nhiều tiến bộ nhưng còn bộc lộ một số nhược điểm như: Tính khoa học trong lãnh đạo chưa cao, chủ trương kế hoạch thường sao chụp thụ động ỷ lại vào chỉ thị nghị quyết của trên; chế độ nguyên tắc sinh hoạt chưa được thực hiện nghiêm ngặt; phong cách dân chủ tính chiến đấu trong sinh hoạt còn hạn chế. Vì vậy, chi uỷ và mỗi đảng viên phải có trách nhiệm sâu sát quần chúng, nắm chắc tình hình nhất là lĩnh vực, bộ phận được phụ trách để phát hiện vấn đề, tìm hiểu thông tin, tiếp xúc với quần chúng, trực tiếp dự thảo nghị quyết để có nội dung thiết thực, có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng công tác lãnh đạo của chi bộ, nội dung sinh hoạt lãnh đạo tuy bao quát mọi mặt nhưng cần tập trung bàn sâu vào một hai vấn đề trọng yếu có ý nghĩa thiết thực chuyển biến chất lượng công việc, khắc phục yếu điểm của chi bộ, đơn vị.

 Trong sinh hoạt phải tìm mọi cách phát huy mạnh mẽ dân chủ nội, phát động mọi người tích cực mạnh dạn tham gia ý kiến phân tích tình hình đề ra chủ trương biện pháp, nêu chinh kiến rõ ràng, tranh luận trung thực thẳng thắn. Các ý kiến thảo luận trong hội nghị phải được kết luận rõ ràng mạnh lạc, biểu quyết công khai. Chỉ có làm được như vậy thì sinh hoạt chi bộ mới đưa ra được các nghị quyết đúng đắn, nội bộ ngày càng đoàn kết thống nhất, các đảng viên ngày càng trưởng thành về mọi mặt. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tố chức cơ sở đảng trong quân đội bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung, nhất là sự nghiệp quốc phòng, quân sự; là kết quả phấn đấu xây dựng, rèn luyện của mỗi tổ chức đảng, thể hiện trong chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cấp uỷ viên và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở các đơn vị trong toàn quân.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, trình độ, kinh nghiệm, khả năng nắm bắt và vận dụng đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực, nhất là về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, những kiến thức cần thiết về chính trị, quân sự.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN GIỮ VỮNG TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN

 


Quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân. Gắn bó mật thiết với nhân dân là thể hiện bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân của quân đội. Hơn nữa, cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của quân đội là nhân dân, sức mạnh từ gốc của quân đội là trận địa lòng dân. Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị phải coi trọng giữ vững, tăng cường quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tiến hành và nâng cao chất lượng công tác dân vận.

Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần xác định nghị quyết, chủ trương, kế hoạch công tác dân vận và tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục. Thường xuyên giáo dục, quản lý, duy trì bộ đội chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân dân. Bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của lực lượng vũ trang; bản chất, truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang; mục đích, ý nghĩa, nội dung nhiệm vụ của công tác dân vận; mười lời thề danh dự, mười hai điều kỷ luật quan hệ quân dân; tình hình kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của địa phương; chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương. Quản lý, duy trì đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân - dân.

Hồ Chí Minh đã dạy: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, phải làm thế nào để khi mình chưa đến thì dân mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân, mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của mình”.

Tổ chức tốt việc tuyên truyền, vận động nhân dân. Đổi mới nội dung, đa dạng hoá các hình thức, biện pháp tuyên truyền vận động nhân dân. Tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của địa phương vững mạnh; bảo vệ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống, phòng chống thiên tai, huấn luyện lực lượng vũ trang địa phương, giáo dục thế hệ trẻ và cùng địa phương kịp thời giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ quân dân.

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Nâng cao năng lực tổ chức triển khai thực hiện trên thực tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo bằng nghị quyết, lãnh đạo thông qua tổ chức và vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên. Vì vậy, sau khi đã có chủ trương biện pháp đúng thì phải triển khai tổ chức việc thi hành cho đúng. Đây là một khâu quyết định đến sự thành công của nghị quyết.

Bằng công tác tư tưởng và công tác tổ chức, người cán bộ đảng phải làm cho các quyết nghị của đảng uỷ thấm sâu vào nhận thức của mọi người, biến nó thành tình cảm, trách nhiệm, thành ý thức quyết tâm trong thực hiện nhiệm vụ. Thông qua hoạt động của các tổ chức, phát động phong trào thi rộng khắp, khơi dậy tinh thần cách mạng, ý chí tiến công nhằm tạo ra sức mạnh vật chất to lớn biến những tư tưởng của chủ trương, nghị quyết thành hiện thực sinh động trên thực tế.

Nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát việc tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng uỷ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi các cấp uỷ viên phụ trách từng mặt công tác theo phân công, đặc biệt là bí thư, người chỉ huy phải thường xuyên theo dõi, bám sát các hoạt động thực tiễn của đảng bộ và đơn vị để nắm chắc tình hình mọi mặt, diễn biến và những phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nâng cao năng lực sơ, tổng kết thực hiện nghị quyết của đảng uỷ. Đây là một nội dung quan trọng của nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng. Làm tốt công tác sơ tổng kết, giúp cho các tổ chức cơ sở đảng, cho cấp uỷ phát hiện những điểm chưa hoàn chỉnh trong chủ trương, những biện pháp thiếu hiệu quả trong tổ chức thực hiện để sửa đổi, bổ sung và phát triển cho hoàn thiện nhằm không ngừng nâng cao hơn nữa phẩm chất, năng lực của chính tổ chức cơ sở đảng đó, đảm bảo chu trình lãnh đạo sau đạt kết quả cao hơn, chất lượng tốt hơn. Như vậy, thực hiện tốt các giải pháp trên là cơ sở và nền tảng để xây dựng các tổ chức Đảng vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình mới.

THƯ VAY TIỀN CÚ NGUYỄN VĂN THIỆU...

         Lúc Trần Văn Đôn nôn nóng xin cung cấp vũ khí, phương tiện một cách muộn màng thì Thiệu đã cố gắng lần cuối trước khi từ chức, viết thư van nài Tổng thống Ford “cho vay nợ vì tự do” (!). Bức thư được cố vấn của Thiệu đưa ra sau ngày 30/ 4 tại Mỹ, có đoạn:
“Thưa Ngài Tổng thống,
Tôi đề nghị Ngài yêu cầu Quốc hội (Mỹ) đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỉ Mỹ kim được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm, với mức lãi suất do Quốc hội quyết định”.
Thiệu, trong cơn tuyệt vọng, đem cả tài nguyên đất nước ra thế chấp:
“Tiềm năng về dầu hỏa và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ thế chấp cho món nợ này. Số tiền vay này được gọi là “Freedom Loan”, số tiền này sẽ cho phép chúng tôi một cơ hội để được tồn tại (...). Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết này, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” nêu trên của chúng tôi. Đây là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ. Kính chào, Nguyễn Văn Thiệu”.

Thiệu giao bản thảo bức thư cho cố vấn của mình là TS Nguyễn Tiến Hưng mang sang Washington để vận động hậu thuẫn cho kế hoạch “vay tiền” của Thiệu.

Trước khi lên đường, Hưng điện cho đại sứ Martin ở nhà riêng thông báo về chuyến đi và cho biết ông Thiệu đang muốn “ngăn chặn” sự phủ quyết của Quốc hội Mỹ và phái Hưng vận động vay 3 tỉ đô la, rồi hỏi liệu có cơ may thành sự không?
Martin trả lời “có thể được” bằng một giọng điệu “êm ái” nhưng không che giấu được “sự hững hờ lạnh nhạt vì dường như ông ta đang bận rộn với việc khác”.

Hưng thuật lại như vậy. Và bảo trong cuộc điện đàm, lần đầu tiên đại sứ Martin dùng chữ "Tổng thống của các ông” chứ không phải “tổng thống” hoặc “tổng thống Thiệu” như trước đây. Mấy tiếng “của các ông” đầy dự cảm không hay...

Ngày 18/4, sau khi qua Mỹ, TS Hưng định đến Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) để thu âm buổi phỏng vấn quanh kế hoạch “vay tiền vì tự do”. Hưng nghĩ điều đó sẽ khích lệ phần nào tinh thần quân đội Sài Gòn khi nghe đài VOA, hy vọng còn nhận được viện trợ.

Nhưng vài phút trước khi đi, mọi dự định thảy đều tan vỡ vì Đài phát thanh Hoa Kỳ đưa tin Quốc hội biểu quyết từ chối viện trợ, Kissinger tuyên bố “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt” và điều quan tâm của Mỹ lúc bây giờ là rút người của họ về nước.

Ngay đêm hôm sau 19/4, Phan Thiết mất, Tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa bị đập tan. Đường “tiến về Sài Gòn” rộng mở. Hai ngày sau 21.4, Thiệu xuất hiện trên truyền hình suốt 3 giờ đồng hồ tuyên bố từ chức. Thiệu trách móc Mỹ bằng những lời cay cú công khai như:

“Các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự. Hiện nay khi quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, đạn dược, máy bay trực thăng, máy bay B.52, các ông đòi hỏi chúng tôi làm một điều không thể làm được giống như dùng đá lấp biển, giống như các ông đưa tôi chỉ có 3 đô la mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đô la một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được...”./.
Yêu nước ST.

THẮP LÊN NGỌN LỬA LẠC HỒNG

 

Với sứ mệnh kết nối kiều bào và bạn bè quốc tế cùng tham gia bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu được tổ chức vào cùng một ngày, cùng một thời điểm kết nối trực tuyến từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thực sự trở thành ngày lễ lớn của con Lạc, cháu Hồng trên khắp thế giới.

CÁC CÔ GIÁO CHÂU PHI DUYÊN DÁNG TRONG TÀ ÁO DÀI VIỆT NAM: "CẢM ƠN TẤM LÒNG TUYỆT VỜI CỦA CÁC BẠN!".



Ai theo dõi Quang Linh Vlogs chắc chắn không thể không ủng hộ người bạn thân của Quang Linh - Công Giáp Vlogs. Team Công Giáp thời gian qua không chỉ xây nhà công vụ, lớp học cho bà con nghèo khó Châu Phi mà còn dành tặng phần quà đặc biệt cho các các cô giáo ở đây: mỗi người một bộ áo dài truyền thống Việt Nam. Thật tuyệt vời!


Các thầy, cô giáo nơi châu Phi xa xôi chia sẻ rằng:


- Trong đời tôi chưa bao giờ được mặc bộ quần áo nào đẹp như này.


- Cảm ơn các bạn đã mang văn hóa Việt đến miền quê nghèo.


- Cảm ơn các bạn đã xây trường học, mang ánh sáng, lại mang cả tình yêu của đất nước Việt Nam thân thương đến với Châu Phi. 


Thật hạnh phúc khi nhìn thấy tà áo dài của Việt Nam mình tung bay trên đất Châu Phi - Angola. Nhìn tà áo dài Việt Nam cùng nụ cười của các bạn Châu Phi, chúng ta thầm cảm thấy tự hào rằng người Việt Nam đúng là vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng luôn sẵn lòng giúp đỡ, đùm bọc bất cứ người bạn thân thương nào. Bên cạnh đó Quang Linh và những người bạn góp phần mang hình ảnh Việt Nam vượt qua biên giới.


Đặng Tuấn Anh

TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

 Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam - dạy rằng: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Tư tưởng xuyên suốt của Người về công tác cán bộ được Đảng ta quán triệt, vận dụng sáng tạo, phù hợp tình hình thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử cách mạng và đạt nhiều kết quả tích cực. Đảng ta luôn quan tâm, coi trọng công tác cán bộ trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thật đáng buồn là vẫn có không ít cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, vướng vòng lao lý. Vấn đề kiểm soát quyền lực cán bộ, vì vậy cần được đặc biệt chú trọng.

Cuối tháng 3/2022, Thanh tra Chính phủ có Báo cáo kết quả giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri gửi sau kỳ họp thứ 2 (20/10/2021-13/11/2021), Quốc hội khóa XV (2021-2026). Báo cáo cho biết, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (2 Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Đây mới chỉ là những cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, có liên quan đến tham nhũng.

Thời gian qua, những thông tin về việc kỷ luật cán bộ sai phạm là không phải cá biệt, hiếm thấy, ngay cả khi đại dịch Covid-19 hoành hành. Đơn cử như ngày 15/3/2022, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với các đồng chí: Phan Mạnh Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Đại tá Nguyễn Thế Anh, Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang.

Đồng chí Phan Mạnh Cường bị kỷ luật do đã vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và Quy chế làm việc; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo; thiếu kiểm tra, giám sát, có nhiều vi phạm trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản, đất đai. Đồng chí Nguyễn Thế Anh bị kỷ luật do đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc, thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; nhận hối lộ, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác cán bộ, trong quản lý, sử dụng tài chính, trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, buôn lậu và gian lận thương mại.

Những con số thống kê mà Thanh tra Chính phủ công bố, thông tin 2 đồng chí lãnh đạo bị kỷ luật nêu trên chỉ là những sự việc gần đây có liên quan đến công tác cán bộ, nhưng cùng với các sự việc tương tự xảy ra thời gian qua đã gây ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của Đảng, gây hậu quả rất nghiêm trọng đến xã hội: làm thiệt hại tài sản của Nhà nước; làm xói mòn, phai nhạt niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Không thể tiếp tục để lọt vào hàng ngũ những “con sâu”, những “mầm bệnh” có thể gây ung nhọt, bệnh tật tàn phá “cơ thể Đảng”, việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ cần thiết phải được coi trọng hơn, phải luôn được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, được thực hiện với quyết tâm chính trị cao.

Thực tế, việc kiểm soát quyền lực là vấn đề khá mới ở nước ta, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nội dung này. Ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.

Điều 2 của Quy định giải thích: “1. Quyền lực trong công tác cán bộ là thẩm quyền của tổ chức, cá nhân trong việc tuyển dụng, bố trí, quản lý, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. 2. Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ”.

Mới nhất, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”; “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”…

Có thể thấy rằng, chúng ta đã có khái niệm rất rõ ràng, cả về nội hàm cũng như phạm vi giới hạn vấn đề quyền lực trong công tác cán bộ và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ cùng những nghị quyết, quy định, hướng dẫn rất cụ thể về việc kiểm soát quyền lực. Vậy mà chỉ sau chưa đầy 10 năm triển khai thi hành việc kiểm soát quyền lực, vẫn có không ít cán bộ thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm pháp luật ở các mức độ khác nhau.

Ngay cả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp suốt hơn 2 năm qua, vẫn có những cán bộ vô cảm đang tâm ăn tiền trên nỗi thống khổ của nhân dân, của đồng bào mình; từ việc nâng giá thiết bị y tế, cấu kết “thổi giá” kit test xét nghiệm Covid-19 đến những chuyến bay “giải cứu công dân”; tiêu cực nảy sinh cả trong những ngành nghề cao quý được coi trọng trong xã hội như giáo dục, y tế đến những ngành nghề dễ tiêu cực như khi cán bộ được trao quyền để thực thi pháp luật, hay tại chính cơ quan pháp luật.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần sử dụng hình ảnh nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật. Điều ấy thể hiện việc coi trọng quá trình từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nhất là trong công tác cán bộ, đồng thời khẳng định việc kiểm soát quyền lực bằng cơ chế và việc tổ chức thực hiện cơ chế ấy. Bởi khi đã có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhưng việc thực hiện không được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, công tâm, công bằng, thiếu sự giám sát thì chắc chắn sẽ nảy sinh những hậu quả đáng tiếc.

Không ít cán bộ bị thao túng, tha hóa, biến chất. Thực tế không ít vụ việc tai tiếng liên quan đến công tác cán bộ, đến từng cán bộ cụ thể cho thấy rõ rằng, một khi cán bộ được bổ nhiệm vào vị trí quyền lực, được trao quyền lớn mà không “thượng tôn pháp luật”, không tu dưỡng đạo đức, phẩm chất chính trị, không chịu sự kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên bằng cơ chế, luật pháp thì rất dễ nảy sinh sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực, tha hóa, biến chất dẫn tới vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, hình thành “nhóm lợi ích”, bè phái đục khoét của công…

Có thể thấy những vi phạm của một số cá nhân, tập thể đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương. Việc kỷ luật cán bộ là không ai muốn, nhưng không thể không làm, để giữ nghiêm phép nước, để “thượng tôn pháp luật”, để răn đe những cán bộ nhăm nhe, tiềm ẩn những mưu đồ vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm mà bất chấp tất cả, sẵn sàng “nhúng chàm”.

Qua nghiên cứu, xem xét một số trường hợp, vụ việc liên quan đến vi phạm về thực hiện quyền lực trong công tác tổ chức cán bộ có thể thấy các quy định về quyền và thực hiện quyền lực trong công tác cán bộ có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ, đúng đắn. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ chế, thể chế và thực thi cơ chế, thể chế, chính sách về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đôi khi còn chưa khả thi, chưa phù hợp thực tiễn, trong khi việc kiểm soát quyền lực chưa được tiến hành một cách kịp thời, sát sao, nghiêm minh.

Mặt khác, việc kiểm soát quyền lực ở nơi này, nơi khác còn chưa được thực hiện đầy đủ, trách nhiệm, quyết tâm, rõ ràng, từ việc tự kiểm soát quyền lực đối với từng chủ thể, kiểm soát lẫn nhau giữa các chủ thể, việc kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện đúng, thường xuyên, nghiêm túc. Trong khi đó, những sai phạm của cá nhân, tổ chức còn chưa được xử lý, kỷ luật nghiêm minh. Do vậy, vẫn diễn ra tình trạng quy trình đúng, bổ nhiệm sai cán bộ, thể hiện qua các hiện tượng, sự việc cụ thể, như: Bổ nhiệm trước khi nghỉ hưu, chuyển công tác; tự ý bổ nhiệm, điều động cán bộ; bổ nhiệm người thân, cánh hẩu, người biết “chạy”, đút lót; bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện… Rõ ràng, việc xây dựng, phát triển một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực… vẫn là vấn đề cấp bách, hệ trọng đối với sự sống còn của Đảng, sự phát triển vững bền của đất nước.

Xin được nhắc lại là, dù việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ luôn được quan tâm, ngày một hoàn thiện, nhưng vẫn khó tránh khỏi những sai sót trong công tác cán bộ. Ấy là do quy trình đúng, nhưng bổ nhiệm sai; là do có sự thao túng, lạm quyền, lợi dụng cơ chế, chính sách, các quy định trong công tác cán bộ. Điều này đòi hỏi việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ luôn phải được đề cao, xem trọng. Một khi việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ chưa thể chặt chẽ, hoàn thiện, vẫn còn những người cố tình bằng mọi cách để “bôi trơn”, lo lót, chạy chọt… thì vai trò của người đứng đầu với sự công tâm, liêm chính, vì tập thể sẽ là rất quan trọng, mang yếu tố quyết định đến sự thành bại đối với “công việc gốc của Đảng”./.

Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhân dân hạnh phúc.

 Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra yếu tố hạnh phúc. Đây là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội.                

Hạnh phúc là giá trị vô cùng quý giá của mỗi dân tộc, đất nước, mỗi người. Là một trong những đích đến của nhân loại tiến bộ. Cách đây vừa tròn 60 năm, trong bài thơ “Bài ca mùa Xuân năm 1961”, nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện một niềm hạnh phúc đơn sơ, giản dị nhưng vô cùng thiêng liêng, quý giá vì nó gắn liền với nền hòa bình, độc lập của dân tộc: “Như hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ/ Treo trước mắt của loài người ta đó/ Hoà bình/ Độc lập/ Ấm no/ Cho/ Con người/ Sung sướng/ Tự do!”.

Hạnh phúc của dân tộc ta, của mỗi người dân chúng ta trước hết phải được bảo đảm bằng nền độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước, tự do của toàn dân. Năm 1919, tại Hội nghị Véc-xây (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt những người dân An Nam gửi “Bản yêu sách 8 điểm”, trong đó có quyền dân sinh, dân chủ như độc lập cho thuộc địa, dân quyền cho người dân. Nguyễn Ái Quốc đã trả lời trực diện Bộ Thuộc địa Pháp rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”. Khát vọng độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc thống nhất 3 tổ chức đảng trong nước, lập nên Đảng Cộng sản Đông Dương với mục tiêu đoàn kết, tập hợp giai cấp công nhân, nông dân, nhân dân lao động đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Khi mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, những thành quả cách mạng đồng thời cũng là hạnh phúc đối với toàn thể người dân Việt Nam: Là dân một nước tự do, độc lập. Tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” ghi dưới Quốc hiệu Việt Nam từ 1945 đến nay vẫn không thay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện. Tại Sắc lệnh này, lần đầu tiên 6 chữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được gắn liền với nhau bằng các gạch nối, thể hiện sự gắn bó hữu cơ và biện chứng giữa các yếu tố với nhau, đó là những điều kiện và mục tiêu tối thượng. Ngay từ những ngày tháng độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ cho hạnh phúc của người dân. Người khẳng định: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946). Tháng 1-1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên khát vọng cháy bỏng của mình: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Sau chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, đế quốc Mỹ hoàn toàn rút khỏi đất nước ta, chính quyền tay sai bị lật đổ, người dân hai miền Nam - Bắc, kiều bào ta ở nước ngoài vỡ òa trong niềm hạnh phúc khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Từ đây, con đường tới hạnh phúc đủ đầy, trọn vẹn của mỗi người dân đã mở ra. Đó là con đường đi lên CNXH.

Lịch sử vẻ vang của Đảng hơn 90 năm qua là lịch sử chiến đấu, hy sinh, thế hệ tiếp nối thế hệ của những người cộng sản Việt Nam cùng với Nhân dân và dân tộc mình vì độc lập - tự do - hạnh phúc của mỗi người Việt Nam. Cán bộ, đảng viên với tấm lòng trong sáng, sự hy sinh, gian khổ, cố gắng hết mình, gắn bó máu thịt với dân, không tơ hào cái kim, sợi chỉ của dân, nhất là các đồng chí lãnh tụ của Đảng nên luôn được dân tin, dân yêu, dân ủng hộ, đùm bọc, che chở. Chính sự trong sạch, hy sinh của cán bộ, đảng viên đã cuốn hút, lôi kéo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng, góp phần làm cho Đảng ta vững mạnh, lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.

Tuy nhiên, do những sai lầm chủ quan, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mà nhiều người dân ta “cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc”, đất nước rơi vào khủng hoảng nặng nề, lạm phát lên đến 700%. Trong tình thế ấy, một số cán bộ, đảng viên, những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương ở Vĩnh Phú (cũ), Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Long An... đã bất chấp sự ràng buộc của cơ chế cũ, trăn trở suy nghĩ, lắng nghe ý kiến góp ý của người dân mà “phá rào”, “khoán chui”, “tiền tệ hóa tiền lương”... mở ra hướng phát triển mới. Đó chính là sự hy sinh thầm lặng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì hạnh phúc nhân dân của cán bộ, đảng viên. Đảng ta khi nhận ra những sai lầm về đường lối, bất cập trong cơ chế, chính sách chưa theo kịp sự phát triển của tình hình thực tiễn cũng đã thẳng thắn thừa nhận và rút ra bài học xương máu. Nhìn thẳng vào sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, cầu tiến bộ là một biểu hiện sinh động của một Đảng trong sạch, cách mạng, chân chính, thực sự là đạo đức, là văn minh, là một Đảng tiến bộ.

Trải qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, “chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”. Đất nước “thay da, đổi thịt” hằng ngày, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện. Sau 20 năm thực hiện 8 mục tiêu trong Tuyên ngôn thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc (tháng 9-2000), Việt Nam là một quốc gia điển hình, được đánh giá cao, vượt xa nhiều chỉ tiêu đã đề ra. Chỉ số Phát triển người (HDI) của Việt Nam từ mức 0,654 (năm 2010, hạng 128/189 quốc gia và vùng lãnh thổ) lên mức 0,704 (năm 2019, hạng 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ). Kể từ năm 1990 đến năm 2019, trị số HDI của Việt Nam tăng gần 46%. Trong Chỉ số hành tinh hạnh phúc năm 2016 do tổ chức nghiên cứu kinh tế - xã hội New Economics Foundation (Anh) công bố, Việt Nam xếp thứ 5, cao nhất châu Á... Tiêu biểu và điển hình nhất là trong năm 2020, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của toàn dân, nước ta đã khống chế thành công đại dịch COVID-19, được các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới đánh giá cao, chứng tỏ không phải cứ thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng nhanh là hạnh phúc. Điều quan trọng nhất là người dân được sống trong một đất nước hòa bình, có cuộc sống bình yên, an toàn với mỗi ngày là một ngày vui và xã hội “không một ai bị bỏ lại phía sau”...

Những năm gần đây, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp cao, đã sa vào chủ nghĩa cá nhân, có những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm... Tuy đất nước vẫn phát triển, cuộc sống người dân không ngừng được cải thiện, nhưng những biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm suy giảm lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, thậm chí có nguy cơ làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nhiệm kỳ qua các cấp ủy, tổ chức Đảng đã thi hành kỷ luật “hơn 1.000 tổ chức đảng và hơn 87.000 đảng viên, trong đó, có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, kể cả đương chức và đã nghỉ hưu”. Chưa bao giờ trong lịch sử Đảng, một nhiệm kỳ có tới hơn 110 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có cả các Ủy viên Bộ Chính trị bị kỷ luật. Nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta ban hành nhiều quy chế, quy định về công tác cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền... Đến nay, tham nhũng, tiêu cực đã bước đầu được ngăn chặn, từng bước được đẩy lùi, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố, tăng cường. Điều đó khẳng định thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó chính là cơ sở đem lại niềm hạnh phúc của Nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, khi nào tổ chức, cấp ủy đảng và đảng viên gương mẫu, gắn bó mật thiết với Nhân dân, biết dựa vào Nhân dân thì khi đó tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Thực tiễn và thành tựu của công cuộc đổi mới cho thấy sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sự nêu gương, tấm lòng trong sáng của đảng viên. Điều này làm nên sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, đồng thời nhân lên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. “Dân là gốc của nước”, dân giàu thì nước mạnh; Đảng vì dân, vì nước, dân tin Đảng, theo Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng làm nên sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.

“Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng lịch sử hơn 90 năm qua đã chứng minh: Đảng ta trong sạch, vững mạnh, làm nên hạnh phúc cho Nhân dân thì Nhân dân theo Đảng đến cùng, cùng Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Xây dựng chi bộ vững mạnh để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng .

 Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng, phần về xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đảng viên, sau khi khẳng định những thành tích đã đạt được và những chuyển biến tích cực so với nhiệm kỳ qua, Báo cáo đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục: “… Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số TCCSĐ còn thấp, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết và khả năng phát hiện, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo giải quyết các vấn đề phát sinh ở cơ sở. Công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước còn lúng túng, hạn chế; công tác phát triển đảng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo còn nhiều khó khăn. Sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức, sinh hoạt chuyên đề chưa được coi trọng, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu… Kết nạp đảng viên một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng; động cơ vào Đảng của một số cá nhân chưa đúng đắn. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên chưa được quan tâm đúng mức; việc rà soát, sàng lọc đảng viên chưa thường xuyên, thiếu cương quyết. Tính tiên phong, gương mẫu và phẩm chất đạo đức của một bộ phận đảng viên giảm sút; số đảng viên bỏ sinh hoạt đảng phải xoá tên có xu hướng tăng…”. Theo tôi, nguyên nhân của tất cả các hạn chế, yếu kém này bắt đầu từ chất lượng của chi bộ.

1. Chi bộ là cửa ngõ của Đảng

Xã hội, Nhân dân sinh thành ra Đảng, nuôi dưỡng, xây dựng Đảng. Đảng phải được xây dựng từ phong trào cách mạng của quần chúng, từ cơ sở. Tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ. Chi bộ là cửa ngõ của Đảng. Nơi ấy Đảng lựa chọn, đón nhận những người con ưu tú của dân tộc, sẵn sàng, tự nguyện, tự giác gia nhập vào ngôi nhà chung của Đảng để cùng nhau đồng tâm, đồng chí, đồng lòng chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân. Đảng là một tổ chức rộng lớn, ở khắp mọi nơi, ở đâu có quần chúng là nơi ấy có tổ chức đảng. Điều đó có nghĩa là Đảng có nhiều cửa ngõ trong cả nước. Tinh thần Đảng lộng gió bốn phương mà lại gần sát ngay trong lòng quần chúng. Cửa ngõ ấy nếu khép kín thì không thể tiếp nhận được người đủ tài năng, đức độ, có tinh thần cách mạng và giác ngộ chính trị vào Đảng. Đảng sẽ trở nên hẹp hòi, biệt lập, “kín cổng cao tường”, xa rời quần chúng. Ngược lại cửa ngõ ấy nếu thiếu nghiêm cẩn thì Đảng sẽ chỉ như một câu lạc bộ, ai vào, ai ra cũng được, sẽ dễ dàng cho bọn cơ hội luồn lách, chui vào Đảng, làm hại ngôi nhà chung của Đảng. Cửa ngõ ấy phải có đường vào cho những ai có chí hướng cách mạng phấn đấu và cũng có đường ra cho những ai nhạt phai lý tưởng, hờ hững với sự nghiệp của Đảng, của dân, thoái hóa, biến chất, không còn xứng đáng là đảng viên. Cửa ngõ ấy nhất thiết phải có chức năng sàng lọc, phải có con mắt tinh đời, biết phân biệt, ngăn không để vàng thau lẫn lộn, kẻ xấu như cỏ rác chui vào, tìm cách leo cao, chui sâu. Thực tiễn chứng tỏ khi để lọt vào rồi thì việc loại, thải rất khó khăn. Những đảng viên được phân công dìu dắt, tuyên truyền, giáo dục đối tượng để giới thiệu và đề nghị chi bộ kết nạp nhất thiết phải là những đảng viên tốt, phải là người lính gác cửa trung thành của Đảng.

Xem vậy đủ thấy chi bộ có vị trí quan trọng như thế nào trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho tổ chức đảng luôn trong sạch, phát triển lớn mạnh, mãi mãi thanh xuân, tràn đầy nhựa sống, làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử.

2. Chi bộ là nền tảng của Đảng

Đảng ví như một kiến trúc kỳ vĩ, có nhiều tầng cao, thấp khác nhau, mỗi tầng, cấp có vai trò, vị trí khác nhau nhưng nền móng là quan trọng nhất, nền móng có vững thì tòa nhà mới vững chắc, bền lâu. Đảng sinh ra trong lòng quần chúng. Đảng tồn tại và phát triển trong phong trào quần chúng. Đảng không gắn bó với Nhân dân thì chẳng khác gì người khổng lồ chân đất sét. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng”(1). Nhiều lần, Người nhấn mạnh: Gốc có vững cây mới bền. Mọi tư tưởng hay, mọi chủ trương, chính sách đúng của Đảng chỉ trở thành hiện thực khi chi bộ quán triệt, tổ chức thực hiện với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Nếu chi bộ yếu kém thì chẳng những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không được thi hành đến nơi đến chốn mà còn gây tổn thất, thậm chí đi ngược lại, gây tình trạng cơ quan cấp trên nói một đằng, cơ sở làm một nẻo, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, làm cho Nhân dân mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước, khi ấy Đảng rơi vào nguy cơ mất dần quần chúng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy”(2).

Để có chi bộ tốt thì phải làm đúng quy luật phát triển của Đảng là thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Phải thường xuyên được giáo dục và tự chỉnh đốn, giúp nhau ngăn ngừa sai lầm và sửa chữa khuyết điểm; phải có tình đồng chí thương yêu để thật thà đoàn kết trong sáng. Thực tiễn những năm qua đã chứng tỏ, hầu như tất cả các vụ việc tiêu cực, tham ô, lãng phí, gây thất thoát lớn tạo thành một nguy cơ đe dọa trầm trọng đối với sự tồn vong của chế độ ta đều do các TCCSĐ yếu kém, vai trò chi bộ bị lu mờ, đảng viên có chức, có quyền hầu hết không được chi bộ giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình.

Chi bộ là nơi tạo ra sự tác động hai chiều giữa Đảng và Nhân dân. Chi bộ trực tiếp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, dẫn dắt quần chúng. Quần chúng nhân dân trực tiếp giúp đỡ, phê bình, xây dựng, bảo vệ Đảng. Soi vào thực tiễn, nhìn thẳng vào sự thật sẽ có một thước đo khách quan, một tấm gương phản chiếu diện mạo, tầm vóc của Đảng. Chi bộ chính là nơi mà hình ảnh của Đảng thể hiện một cách cụ thể, gần gũi và chân thật nhất. Quy luật phát triển của Đảng là tự phê bình và phê bình. Tự phê bình được thực hiện trước hết, chủ yếu và thường xuyên là ở chi bộ. Không cấp nào, nơi nào hiểu thấu, sâu sát đảng viên bằng chi bộ. Phê bình được thể hiện đồng thời từ ba chiều: Từ dưới lên, từ trên xuống, và rất quan trọng là từ ngoài (quần chúng nhân dân) vào. Chi bộ là nơi trực tiếp nhận được sự tác động (phê bình) bằng mọi cách từ quần chúng nhân dân đối với Đảng và là nơi hiểu rõ những ưu điểm, thành tích, hạn chế và sai lầm, khuyết điểm của bản thân mỗi đảng viên cũng như mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua sự tiếp nhận, lắng nghe ý kiến phê bình của Nhân dân, chi bộ sẽ là nơi cung cấp thông tin chính xác để Đảng và Nhà nước đánh giá đúng những ưu điểm, sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của mình, từ đó đề ra các quyết sách chính trị đúng đắn và kịp thời. Hồ Chí Minh đã viết trong cuốn Sửa đổi lối làm việc như sau: Đảng“phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu, chỉ thị đó có đúng hay không?”(3). Người còn chỉ rõ: “Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống, từ dưới lên. “Trên đe, dưới búa” của phê bình thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”(4).

3. Đảng mạnh là do chi bộ tốt

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(5). Đảng do nhiều đảng viên hợp lại mà thành. Mọi đảng viên bất kỳ ở cương vị nào từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội… đến đảng viên thường đều sinh hoạt trong một chi bộ nơi mình công tác, đều phải chịu sự giáo dục, giúp đỡ của chi bộ, đều phải làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của người đảng viên. Càng ở cương vị cao, càng phải gương mẫu, nghiêm túc sinh hoạt đảng. Khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch BCH Trung ương Đảng và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, biết bao công việc bộn bề, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở thư ký phải sắp xếp, bố trí để Người dự họp chi bộ. Không chỉ họp cho có mặt, Người còn nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình, khích lệ các đồng chí văn phòng, bảo vệ, phục vụ… “phê bình đảng viên Hồ Chí Minh”. Tháng nào Người cũng tự mình mang tiền đến nộp đảng phí. Khi đi công tác lâu ngày không kịp về sinh hoạt chi bộ, Người đều có báo cáo nghiêm túc. Để quản lý công tác cán bộ, Đảng có sự phân cấp, có đồng chí thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có đồng chí thuộc diện BTV tỉnh, thành ủy quản lý. Nhưng phân cấp không có nghĩa là các đồng chí thuộc diện cấp trên quản lý chỉ “sinh hoạt hờ” ở chi bộ, hoặc ỷ vào “bận công tác” mà không tham gia sinh hoạt chi bộ một cách nghiêm túc, tự mình tách khỏi sự giám sát, kiểm tra, phê bình của chi bộ về tư tưởng, đạo đức, nhân cách, tác phong, quan hệ quần chúng. Một thực tế cần chấn chỉnh là không ít chi ủy và chi bộ còn tự ti, e dè, né tránh, không thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình đối với đảng viên thuộc diện cấp trên quản lý. Nếu có thì cũng chỉ là hình thức, nặng về ca ngợi, ít dám phê bình những sai lầm, khuyết điểm của họ. Cấp trên thường chỉ đặt vấn đề kiểm điểm, phê bình cán bộ, đảng viên thuộc diện quản lý khi “câu chuyện đã vỡ lở”, khi quần chúng tố cáo và báo chí lên tiếng. Một ví dụ nhỏ như việc điều động con trai của một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy B, đang làm công tác đoàn thanh niên về làm bí thư thành ủy trực thuộc tỉnh trong khi đảng bộ thành phố vừa tiến hành đại hội xong và đã bầu ra bí thư. Cách sắp xếp, bố trí cán bộ trớ trêu, lộ liễu thế mà cả BTV Tỉnh ủy B không ai có ý kiến gì, cơ quan tham mưu của tỉnh cũng không lên tiếng, đến khi dư luận bất bình và chỉ sau khi có ý kiến chỉ đạo của Trung ương thì tỉnh B mới sửa chữa. Những việc như thế, nếu có sự thẳng thắn, vô tư và sự góp ý mang tính xây dựng, chân thành của các đồng chí xung quanh thì sẽ tránh được sai lầm, đó mới thực sự là tình đồng chí thương yêu như Bác Hồ từng căn dặn.

Bản thân nhiều đảng viên thuộc diện cấp trên quản lý đã coi thường sinh hoạt chi bộ, tự coi mình như loại đảng viên “đặc biệt”, “siêu hạng”, đứng trên, đứng ngoài tầm kiểm soát của chi bộ. Không ít người đã không tham gia đầy đủ các kỳ sinh hoạt chi bộ theo Điều lệ Đảng, thậm chí quên cả nghĩa vụ tự mình đóng đảng phí mà thường là do thư ký nộp hộ. Có lẽ cũng cần nhắc lại rằng, việc đóng đảng phí không chỉ có ý nghĩa về tài chính đối với Đảng mà quan trọng hơn là để thường xuyên nhắc nhở ý thức của từng đảng viên, để thấy rằng dù ở cương vị, cấp bậc nào thì thực chất mình vẫn chỉ là một chiến sĩ cộng sản, một đảng viên của chi bộ. Chi bộ là nơi dưỡng dục người đảng viên và mỗi đảng viên phải có trách nhiệm xây dựng chi bộ, gương mẫu, làm gương sáng cho các đảng viên khác và quần chúng noi theo. Hầu hết các vụ việc tiêu cực trong những năm qua đều xảy ra ở những nơi mà cả tập thể cấp ủy và người đứng đầu thiếu “dũng khí” trong việc duy trì chế độ sinh hoạt đảng, tự mình hạ thấp vai trò lãnh đạo chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, tư cách cho đảng viên của chi bộ. Nhiều đảng viên thuộc diện cấp trên quản lý đã xa rời sự giáo dục của chi bộ, không khép mình vào tổ chức và coi thường nghĩa vụ của người đảng viên.

Chi bộ tốt là do từng đảng viên tốt. Lẽ ra các chi bộ có nhiều cán bộ trung, cao cấp phải là những chi bộ mạnh, chi bộ kiểu mẫu. Lẽ ra những vụ việc tiêu cực phải tỷ lệ nghịch với số lượng đảng viên thuộc cấp trên quản lý. Thực tế lại không hoàn toàn như vậy. Đây là hiện tượng cần chấn chỉnh. Đảng cần bổ sung các quy định thật chặt chẽ về sinh hoạt đảng ở chi bộ đối với đảng viên thuộc diện cấp trên quản lý để việc sinh hoạt chi bộ đối với các đồng chí đó có thực chất, không hình thức, chiếu lệ. Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cụ thể về vấn đề này: “Để hoạt động cách mạng thực hiện nhiệm vụ, đường lối của Đảng, mỗi đảng viên phải hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đảng. Cho nên các cô, các chú phải hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ của chi bộ, cố gắng góp phần của mình vào việc xây dung chi bộ “bốn tốt”. Phải hiểu rõ quyền hạn, nhiệm vụ của người đảng viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình với Đảng”(6).

Muốn tiến bộ, muốn xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong gương mẫu của dân tộc thì đảng viên phải không ngừng học tập, tu dưỡng, phải luôn được giáo dục và biết tự giáo dục. Môi trường giáo dục ấy chính là chi bộ, là TCCSĐ. Hồ Chí Minh căn dặn: “Chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt. Cho nên các cô, các chú phải quan tâm đến việc xây dựng chi bộ… phải làm thiết thực, đừng hình thức, đừng báo cáo sai”(7). Phấn đấu để trở thành người đảng viên tốt, để chi bộ nào cũng đều là chi bộ tốt, luôn luôn là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đó là vấn đề cơ bản nhất khi xác định xây dựng Đảng là then chốt trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đại hội đảng bộ các cấp từ cơ sở đến Trung ương, ở đâu cũng được đánh giá là thành công tốt đẹp, các cấp ủy mới đã được kiện toàn, các quyết sách và nhiệm vụ chính trị đã được bàn thảo và quyết nghị. Vấn đề là biến quyết tâm chính trị đã được thể hiện trong nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp thành hành động thực tiễn và chỉ khi có kết quả cụ thể mới là thước đo chính xác những nghị quyết đại hội đã đề ra.

 Chi bộ là nền tảng của những thắng lợi ấy, mỗi đảng viên đều phải là một chiến sĩ tiên phong, mỗi chi bộ phải là một pháo đài, mỗi đồng chí cấp ủy viên đều là người chỉ huy. Cả tổ chức bộ máy của Đảng đều có quan hệ hữu cơ với nhau như nhà máy điện, máy chạy thì đèn sáng.

Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống cần có nhiều giải pháp nhưng giải pháp căn cơ nhất, nền tảng nhất là củng cố xây dựng chi bộ, cửa ngõ ngôi nhà chung của Đảng. Hãy mở rộng cửa đón nhận những nhân tài mới, những chiến sĩ mới trẻ trung, đầy nhiệt huyết, có niềm tin vào lý tưởng của Đảng. Cửa ngõ ấy phải có máy sàng lọc, có sự canh gác cẩn mật với những con mắt tinh đời và đồng thời luôn phải loại bỏ những sâu mọt, những phần tử cơ hội, những kẻ ham “làm quan phát tài”. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chống  “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” phải làm thường xuyên và bắt đầu từ chi bộ.

-----

Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của các bộ, ngành .

 Thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt với quyết tâm cao. Đến nay, tổ chức bộ máy của các ban, bộ, ngành đã được sắp xếp, tinh gọn, từng bước ổn định; chất lượng, hiệu quả công việc có nhiều chuyển biến rõ rệt, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Những kết quả nổi bật

Để sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương nói riêng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, thể chế hóa, cụ thể hóa 2 nghị quyết khẩn trương, đồng bộ, tạo hành lang pháp lý, điều kiện thuận lợi thực hiện. Theo đó, cơ cấu tổ chức bên trong các ban, bộ, ngành từng bước được sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giảm cấp trung gian, đầu mối bên trong, giảm tối đa số phòng trong cục, vụ, cơ bản không chuyển vụ thành cục. Giảm số lượng lãnh đạo cấp phó gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Giải thể hoặc sắp xếp lại các cơ quan, tổ chức hoạt động không hiệu quả, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý và tính chất hoạt động. Khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ theo hướng một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Kết quả, đã giảm 7 tổng cục và tương đương; 81 cục, vụ, 73 đơn vị sự nghiệp thuộc các ban, bộ, ngành Trung ương. Ở các bộ và cơ quan ngang bộ, số lượng cấp phó giảm rõ rệt: Phó vụ trưởng và tương đương giảm 70 đồng chí; phó cục trưởng và tương đương 30; phó tổng cục trưởng và tương đương 7; phó trưởng phòng thuộc vụ 133; phó trưởng phòng thuộc cục 122.

Điển hình trong thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy giai đoạn này là Bộ Công an. Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lực lượng Công an đã giảm 6 tổng cục, 55 đơn vị cấp cục, 20 sở Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy, 819 đơn vị cấp phòng và trên 2.000 đơn vị cấp đội. Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của 63 công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và công an cấp huyện theo hướng giảm đầu mối cấp phòng, cấp đội. Đối với các đơn vị sự nghiệp, Bộ Công an chủ trương sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo trực thuộc theo hướng giảm mạnh số lượng đầu mối các trường trung cấp, cao đẳng, văn hóa. Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an ban hành nhiều văn bản để thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từ năm 2015 đến nay, Bộ Công an đã tinh giản biên chế hơn 6.000 người. Tích cực triển khai việc điều động công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã. Hiện 63 địa phương đã bố trí công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã tại gần 4.000 xã với tổng số gần 10.000 cán bộ công an chính quy.

Bộ Quốc phòng xây dựng, triển khai thực hiện Đề án về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2016-2021 và Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020, bảo đảm không tăng quân số, tinh gọn, mạnh, cơ động nhanh và sức chiến đấu cao. Đến nay, đã tiến hành giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên thuộc các công ty, tổng công ty; giải thể 6 trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm, 7 trường trung cấp nghề, 61 trường quân sự cấp tỉnh, thành phố; đã xây dựng đề án tiến tới giải thể 15 trường cao đẳng nghề trong Quân đội. Các cơ quan chiến lược cũng được tổ chức lại với tinh thần làm điểm, giảm 10% quân số theo biên chế, điển hình như Cục Quân huấn, Cục Dân quân tự vệ, Cục Tác chiến, Cục Quân lực… Chuyển Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Phòng Kiểm toán thành Kiểm toán Bộ Quốc phòng; tổ chức lại các cơ sở in trong Quân đội. Bộ cũng đã chỉ đạo điều chuyển các Ban quản lý dự án 678, 98 về Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng. Các Ban quản lý dự án 46, 47 được rút gọn ở mức hợp lý.

Tại Bộ Tài chính, trong 2 năm toàn Ngành đã cắt giảm 3.708 đầu mối các đơn vị. Giảm trên 3.600 công chức giữ chức danh lãnh đạo. Biên chế hành chính giảm gần 5.000 người. Bộ Công thương đã cắt giảm số đơn vị đầu mối từ 35 đơn vị (30 đơn vị hành chính, 5 đơn vị sự nghiệp) xuống còn 30 đơn vị (26 đơn vị hành chính, 4 đơn vị sự nghiệp); số lượng phòng giảm từ 197 còn 125. Trong quá trình rà soát lại cơ cấu tổ chức của các đơn vị, Bộ Công thương tiếp tục giảm thêm 2 phòng của Thanh tra Bộ; tinh giản biên chế hơn 800 người. Ngân hàng Nhà nước cắt giảm 74 phòng trong toàn hệ thống. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng giảm từ 11 đầu mối xuống 8; tổ chức phòng thuộc cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng giảm từ 48 còn 30. Trong giai đoạn 2015-2019, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện tinh giản biên chế 385 người.

Các cơ quan đảng Trung ương gương mẫu, đi đầu trong rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức, bộ máy và tinh giản biên chế. Trong đó, Ban Tổ chức Trung ương đã tham mưu Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 152-QĐ/TW ngày 26-10-2018 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức Trung ương, giảm được 1 đầu mối cấp vụ, gần 20% biên chế, 4 phó trưởng ban chuyên trách. Ban Tuyên giáo Trung ương đã giảm 3 vụ, đơn vị, 20 đầu mối cấp phòng và sắp xếp lại các tạp chí, bản tin. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã sắp xếp 9 đơn vị trực thuộc (giải thể, hợp nhất 3 đơn vị cấp vụ, sáp nhập 6 đơn vị dưới cấp vụ trực thuộc Giám đốc Học viện); số lượng phòng, ban đã giảm từ 134 đơn vị xuống 16. Tại các Học viện trực thuộc, số lượng khoa, phòng, ban giảm từ 123 đơn vị xuống 112. Đến nay, tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc Học viện đã hoạt động ổn định theo mô hình mới, từng bước xác định vị trí, việc làm của từng cá nhân.

Hạn chế, khó khăn

Một số quy định, hướng dẫn của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các nghị quyết chưa được ban hành đồng bộ, liên thông, trong đó có các quy định về tiêu chí thành lập tổ chức bộ máy và biên chế... để tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, ngành khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật sự quyết liệt, thiếu chủ động, tích cực trong thực hiện.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số ngành, lĩnh vực còn mang tính cơ học, đầu mối trực thuộc ở một số bộ, ngành chưa thực sự tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Các bộ, ngành đã chủ động trong việc sắp xếp tổ chức, đẩy mạnh tự chủ và đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nhưng kết quả còn chậm, số đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động chưa nhiều. Tinh giản biên chế ở một số bộ, ngành còn mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức...

Một số kinh nghiệm

Một là, quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, nguyên tắc của Đảng về đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách thể chế, cải cách hành chính, tư pháp một cách đầy đủ, thống nhất. Đồng thời, thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của từng đơn vị, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, là bước đột phá của cấp ủy các cấp, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Hai là, bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của các bộ, ngành, đồng thời xử lý đúng đắn, đồng bộ các mối quan hệ: giữa đổi mới cơ cấu tổ chức với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của tổ chức; giữa đổi mới tổ chức và đổi mới công tác cán bộ; giữa tinh gọn bộ máy với tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giữa quản lý tập trung thống nhất với tăng cường phân công, phân cấp trên các mặt công tác.

Ba là, việc triển khai đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ là công việc hệ trọng, phức tạp, nhạy cảm, nhất là ở các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương. Vì vậy, cần có quyết tâm cao, tiến hành thận trọng, công phu, kỹ lưỡng, khách quan, khoa học, coi trọng tổng kết thực tiễn theo từng bước chặt chẽ và phát huy dân chủ trong nội bộ. Quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp xác đáng, cần khẩn trương, mạnh mẽ trong quyết định những vấn đề đã rõ, đã “chín” để bảo đảm yêu cầu tinh gọn.

Bốn là, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí lại đội ngũ cán bộ ở các bộ, ngành có tác động toàn diện đến các mặt công tác, tâm tư, tình cảm của cán bộ, nhất là những cán bộ chịu sự tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp. Vì vậy, cần chú trọng công tác tư tưởng, quan tâm giải quyết hài hòa quyền lợi một cách hợp tình, hợp lý đối với cán bộ. Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ tích cực, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, dư luận quần chúng đối với chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành; đồng thời chủ động phòng, tránh những biểu hiện lợi dụng sắp xếp tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ để trục lợi hoặc vì ý đồ cá nhân.


Tiền đề cho nhiệm kỳ mới ở khu vực phía Bắc.

 Năm 2020 là năm diễn ra đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, một năm với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng toàn diện tới đời sống, kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và các tỉnh, thành phố phía Bắc nói riêng. Các tỉnh, thành ủy khu vực phía Bắc đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện mục tiêu kép vừa tích cực phòng, chống dịch COVID-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp. Đây là một minh chứng sinh động thể hiện quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, trong đó công tác xây dựng Đảng giữ vai trò quyết định.

Những kết quả khả quan...

Nét nổi bật trong công tác xây dựng Đảng các tỉnh, thành phố phía Bắc 5 năm qua là triển khai đồng bộ, toàn diện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Hướng về cơ sở, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động trong công tác cán bộ, thực hiện mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, thực hiện bí thư cấp ủy tỉnh không là người địa phương. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Kết quả đại hội đảng bộ các cấp 28 tỉnh, thành phố phía Bắc là kết tinh thành quả đạt được, ghi nhận sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đảng bộ các cấp trong khu vực đã đánh giá kỹ, rõ, tìm ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, từ đó ban hành nghị quyết, xây dựng chương trình hành động. Trong đó đề ra các giải pháp đột phá, quan trọng trong nhiệm kỳ 2020-2025 sát với đặc điểm, tình hình từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc xây dựng, ban hành nghị quyết được thực hiện theo quy trình ngày càng dân chủ, chặt chẽ hơn, phát huy được trí tuệ của các tổ chức đảng, đảng viên, bảo đảm tính khoa học, sát thực tiễn. Quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đồng thời siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tình trạng chạy chức, chạy quyền bước đầu được ngăn chặn. Việc đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, luân chuyển, phân cấp quản lý cán bộ được bổ sung, hoàn thiện. Công tác nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 được chuẩn bị nghiêm túc, đúng quy trình, dân chủ, khách quan, công tâm. Các cấp ủy đã tiến hành công tác nhân sự theo Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương, thực hiện nghiêm quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị. Phương án nhân sự trình đại hội bảo đảm về số lượng, cơ cấu, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tiêu chuẩn chính trị. Đại hội đảng bộ các cấp các tỉnh, thành phố phía Bắc đều thành công tốt đẹp, chất lượng cấp ủy, BTV, bí thư, phó bí thư được nâng lên so với nhiệm kỳ trước. Sau đại hội, việc phân công cấp ủy được tiến hành ngay gắn với kiện toàn các chức danh lãnh đạo chính quyền.

Các tỉnh, thành ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở, bí thư cấp ủy; đồng thời, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo chức danh, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, giúp cán bộ cơ sở nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc, năng lực giải quyết các tình huống cụ thể ở cơ sở và thông tin về tình hình của địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố đã đầu tư kinh phí mở các lớp đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị tại địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ cơ sở nâng cao trình độ; đồng thời, cử cán bộ trẻ đi học đại học chuyên môn, cao cấp, cử nhân chính trị. Đối với các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, cấp ủy các cấp tăng cường đào tạo nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy cơ sở và chi ủy viên các chi bộ.

Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) được các tỉnh, thành ủy triển khai quyết liệt với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tạo chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tiếp tục được sắp xếp tinh gọn, giảm đầu mối, khâu trung gian, giảm cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, cấp phó, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Một số mô hình tổ chức mới được thực hiện thí điểm, qua thực tiễn đã phát huy hiệu quả như: Sáp nhập ban tổ chức cấp ủy với cơ quan nội vụ; ủy ban kiểm tra cấp ủy với cơ quan thanh tra; trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; trưởng ban tuyên giáo đồng thời là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện… Các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thôn, tổ dân phố đang được hợp nhất, sắp xếp lại phù hợp. Việc bố trí, sử dụng cán bộ được thực hiện công khai, dân chủ, trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh, phát huy năng lực, sở trường cán bộ, quan tâm cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Nhiều nơi thực hiện bổ nhiệm thông qua thi tuyển đối với một số chức danh chủ chốt. Hầu hết các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm chủ trương bố trí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND cấp xã ở những nơi đủ điều kiện. Mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã trở thành một nội dung quan trọng trong sinh hoạt chi bộ và kiểm điểm tập thể, cá nhân hằng năm. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên, nhất là chi bộ thôn, tổ dân phố, đơn vị lực lượng vũ trang, các cơ quan đảng. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên; hướng dẫn nâng cao chất lượng sinh hoạt đối với từng loại hình chi bộ, ban hành tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Nhiều chi bộ đưa việc tự phê bình và phê bình, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt hằng tháng. Nhiều nơi sinh hoạt chi bộ đã từng bước đổi mới, khắc phục tình trạng đơn điệu, hình thức. Việc đánh giá, xếp loại chất lượng TCCSĐ, đảng viên hằng năm đã thực chất hơn, tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phù hợp với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Công tác khen thưởng TCCSĐ, đảng viên được thực hiện kịp thời hơn. Hầu hết cấp ủy viên các cấp được phân công theo dõi, phụ trách các tổ chức đảng trực thuộc, trực tiếp dự sinh hoạt hằng tháng với chi bộ. Nhiều nơi phân công đảng viên theo dõi, phụ trách một số hộ gia đình tạo điều kiện để đảng viên gắn bó với nhân dân hơn, góp phần nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở.

Và 5 nhiệm vụ quan trọng

 Công tác tổ chức, xây dựng Đảng các tỉnh, thành phố phía Bắc vẫn còn một số hạn chế: Việc cụ thể hóa một số nghị quyết của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện còn hạn chế. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng, tính thuyết phục và tính chiến đấu chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số TCCSĐ còn yếu; chất lượng sinh hoạt chi bộ chuyển biến chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng núi cao và ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sâu sát, quyết liệt; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu thiếu gương mẫu, chưa chủ động, sáng tạo, chưa coi trọng công tác kiểm tra, giám sát.

Năm 2021 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Để công tác xây dựng Đảng đạt hiệu quả, cần quan tâm làm tốt một số nội dung chính sau:

Một là, tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền và phổ biến sâu rộng kết quả Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Cấp ủy các cấp hoàn thiện chương trình hành động thực hiện nghị quyết, ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa theo quy định; sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2016-2021 và tham mưu chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu hội HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Hai là, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, nhất là rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện hiệu quả hơn nữa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và các quy định về nêu gương. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ công tác cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, đúng người, đúng việc. Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ, góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và thực hiện kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Ba là, triển khai nhân rộng những mô hình thí điểm có hiệu quả. Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và nghiên cứu triển khai thực hiện ở cấp tỉnh theo lộ trình phù hợp với quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính các cấp, gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện kiêm nhiệm chức danh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau khi sắp xếp. Chỉ đạo tiếp tục thực hiện mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố.

Bốn là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, nhất là ở những lĩnh vực, địa bàn khó khăn, đặc thù. Xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh toàn diện; tiếp tục kiện toàn TCCSĐ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình và phù hợp với thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nội dung, hình thức sinh hoạt của chi bộ.

Năm là, tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Đổi mới, tăng cường công tác quản lý đảng viên; thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên bảo đảm yêu cầu về số lượng, chất lượng, chú trọng tạo nguồn phát triển đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng. Chủ động rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Nâng cao chất lượng kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm bảo đảm thực chất.


DÙ TÁ HAY TƯỚNG ĐỀU PHẢI LO PHỤC VỤ NHÂN DÂN!

         Vào khoảng tháng 7 năm 1944, một máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi ở Hòa An, Cao Bằng. Phi công Mỹ nhảy dù rơi xuống cánh rừng đã bị du kích địa phương bắt.
Lúc này, Mỹ ở trong phe Đồng minh chống phátxít. Phi công Mỹ được đưa đến chỗ chúng tôi. Bác gọi tôi đến, chỉ thị:
- Tuy ta còn thiếu thốn, nhưng các chú cố gắng cho anh ta ăn uống tương đối, cư xử tử tế, nhân đạo để họ hiểu ta.
Vâng lệnh Bác, chúng tôi đã làm như vậy. Phi công Mỹ được ăn với khẩu phần còn hơn cả chúng tôi.
Sau đó mấy ngày, Bác cho đưa anh ta đến gặp Bác. Bác hỏi chuyện bằng tiếng Anh. Người phi công vô cùng ngạc nhiên, trố mắt nhìn Bác đầy vẻ kính phục, không sao hiểu nổi ở chốn rừng núi này lại gặp được một ông già gầy guộc, mặc áo chàm với đôi mắt rực sáng lại nói tiếng Anh rất thành thạo, am hiểu phong tục nước Mỹ.
Sao (Shaw) - tên người phi công - tha thiết xin được thả về bộ chỉ huy Mỹ đang đóng trên đất Trung Quốc, dù có phải tốn phí đến bao nhiêu khi về nước cũng xin Chính phủ Mỹ và gia đình lo chịu.
Bác mỉm cười và giải thích thêm:
- Các anh trong quân đội Đồng minh, cùng chung một mục đích chiến đấu chống chủ nghĩa phátxít, bảo vệ hoà bình thế giới. Chúng tôi cư xử với anh như thế này là thể hiện những cam kết thiện chí chứ không phải dùng anh vào mục đích kiếm lợi.
Sao đã hiểu và càng kính phục, tin tưởng Bác. Sau đó, chính anh ta đã được Bác cho theo sang Côn Minh, trao lại cho Bộ Tư lệnh Mỹ.
... Bác ở Trung Quốc về được một thời gian, Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ điện cho Bác, xin được cử người sang để hợp tác bằng cách họ sẽ cho người nhảy dù xuống căn cứ Tân Trào.
Tôi lại được Bác giao nhiệm vụ đón 5 người Mỹ này. Chúng tôi đốt lửa làm ám hiệu cho máy bay biết mục tiêu. Khi họ nhảy dù xuống, chúng tôi tập hợp bộ đội hoan hô họ. Họ rất cảm động trước việc làm đó của ta.
Sau khi tiếp nhận 5 nhân viên tình báo quân sự Mỹ, họ đều được Bác giao nhiệm vụ.
Bác chỉ thị thành lập đại đội Việt - Mỹ và chỉ thị tôi làm đại đội trưởng.
Một người Mỹ mang hàm thiếu tá tên là Tômát làm tham mưu trưởng đại đội. Lúc đó, tôi còn nhớ là tôi rất tự hào. Tôi thưa với Bác là nếu thiếu tá làm tham mưu trưởng, thì đại đội trưởng gọi là cấp gì, nào ngờ nét mặt Bác nghiêm lại. Bác bảo:
- Chú phải lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, dù tá hay tướng, đã là một chiến sỹ cách mạng cũng đều phải lo phục vụ nhân dân cho tốt cả.
Từ bấy đến nay tôi luôn luôn nhớ lời dạy ấy./.
Ảnh: Các phi công Mỹ và Anh tại căn cứ Việt Bắc.
Yêu nước ST.