Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra yếu tố hạnh phúc. Đây là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội.
Hạnh phúc là giá trị vô cùng quý giá của mỗi dân tộc, đất nước, mỗi người. Là một trong những đích đến của nhân loại tiến bộ. Cách đây vừa tròn 60 năm, trong bài thơ “Bài ca mùa Xuân năm 1961”, nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện một niềm hạnh phúc đơn sơ, giản dị nhưng vô cùng thiêng liêng, quý giá vì nó gắn liền với nền hòa bình, độc lập của dân tộc: “Như hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ/ Treo trước mắt của loài người ta đó/ Hoà bình/ Độc lập/ Ấm no/ Cho/ Con người/ Sung sướng/ Tự do!”.
Hạnh phúc của dân tộc ta, của mỗi người dân chúng ta trước hết phải được bảo đảm bằng nền độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước, tự do của toàn dân. Năm 1919, tại Hội nghị Véc-xây (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt những người dân An Nam gửi “Bản yêu sách 8 điểm”, trong đó có quyền dân sinh, dân chủ như độc lập cho thuộc địa, dân quyền cho người dân. Nguyễn Ái Quốc đã trả lời trực diện Bộ Thuộc địa Pháp rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”. Khát vọng độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc thống nhất 3 tổ chức đảng trong nước, lập nên Đảng Cộng sản Đông Dương với mục tiêu đoàn kết, tập hợp giai cấp công nhân, nông dân, nhân dân lao động đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Khi mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, những thành quả cách mạng đồng thời cũng là hạnh phúc đối với toàn thể người dân Việt Nam: Là dân một nước tự do, độc lập. Tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” ghi dưới Quốc hiệu Việt Nam từ 1945 đến nay vẫn không thay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện. Tại Sắc lệnh này, lần đầu tiên 6 chữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được gắn liền với nhau bằng các gạch nối, thể hiện sự gắn bó hữu cơ và biện chứng giữa các yếu tố với nhau, đó là những điều kiện và mục tiêu tối thượng. Ngay từ những ngày tháng độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ cho hạnh phúc của người dân. Người khẳng định: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946). Tháng 1-1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên khát vọng cháy bỏng của mình: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Sau chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, đế quốc Mỹ hoàn toàn rút khỏi đất nước ta, chính quyền tay sai bị lật đổ, người dân hai miền Nam - Bắc, kiều bào ta ở nước ngoài vỡ òa trong niềm hạnh phúc khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Từ đây, con đường tới hạnh phúc đủ đầy, trọn vẹn của mỗi người dân đã mở ra. Đó là con đường đi lên CNXH.
Lịch sử vẻ vang của Đảng hơn 90 năm qua là lịch sử chiến đấu, hy sinh, thế hệ tiếp nối thế hệ của những người cộng sản Việt Nam cùng với Nhân dân và dân tộc mình vì độc lập - tự do - hạnh phúc của mỗi người Việt Nam. Cán bộ, đảng viên với tấm lòng trong sáng, sự hy sinh, gian khổ, cố gắng hết mình, gắn bó máu thịt với dân, không tơ hào cái kim, sợi chỉ của dân, nhất là các đồng chí lãnh tụ của Đảng nên luôn được dân tin, dân yêu, dân ủng hộ, đùm bọc, che chở. Chính sự trong sạch, hy sinh của cán bộ, đảng viên đã cuốn hút, lôi kéo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng, góp phần làm cho Đảng ta vững mạnh, lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.
Tuy nhiên, do những sai lầm chủ quan, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mà nhiều người dân ta “cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc”, đất nước rơi vào khủng hoảng nặng nề, lạm phát lên đến 700%. Trong tình thế ấy, một số cán bộ, đảng viên, những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương ở Vĩnh Phú (cũ), Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Long An... đã bất chấp sự ràng buộc của cơ chế cũ, trăn trở suy nghĩ, lắng nghe ý kiến góp ý của người dân mà “phá rào”, “khoán chui”, “tiền tệ hóa tiền lương”... mở ra hướng phát triển mới. Đó chính là sự hy sinh thầm lặng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì hạnh phúc nhân dân của cán bộ, đảng viên. Đảng ta khi nhận ra những sai lầm về đường lối, bất cập trong cơ chế, chính sách chưa theo kịp sự phát triển của tình hình thực tiễn cũng đã thẳng thắn thừa nhận và rút ra bài học xương máu. Nhìn thẳng vào sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, cầu tiến bộ là một biểu hiện sinh động của một Đảng trong sạch, cách mạng, chân chính, thực sự là đạo đức, là văn minh, là một Đảng tiến bộ.
Trải qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, “chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”. Đất nước “thay da, đổi thịt” hằng ngày, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện. Sau 20 năm thực hiện 8 mục tiêu trong Tuyên ngôn thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc (tháng 9-2000), Việt Nam là một quốc gia điển hình, được đánh giá cao, vượt xa nhiều chỉ tiêu đã đề ra. Chỉ số Phát triển người (HDI) của Việt Nam từ mức 0,654 (năm 2010, hạng 128/189 quốc gia và vùng lãnh thổ) lên mức 0,704 (năm 2019, hạng 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ). Kể từ năm 1990 đến năm 2019, trị số HDI của Việt Nam tăng gần 46%. Trong Chỉ số hành tinh hạnh phúc năm 2016 do tổ chức nghiên cứu kinh tế - xã hội New Economics Foundation (Anh) công bố, Việt Nam xếp thứ 5, cao nhất châu Á... Tiêu biểu và điển hình nhất là trong năm 2020, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của toàn dân, nước ta đã khống chế thành công đại dịch COVID-19, được các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới đánh giá cao, chứng tỏ không phải cứ thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng nhanh là hạnh phúc. Điều quan trọng nhất là người dân được sống trong một đất nước hòa bình, có cuộc sống bình yên, an toàn với mỗi ngày là một ngày vui và xã hội “không một ai bị bỏ lại phía sau”...
Những năm gần đây, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp cao, đã sa vào chủ nghĩa cá nhân, có những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm... Tuy đất nước vẫn phát triển, cuộc sống người dân không ngừng được cải thiện, nhưng những biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm suy giảm lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, thậm chí có nguy cơ làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nhiệm kỳ qua các cấp ủy, tổ chức Đảng đã thi hành kỷ luật “hơn 1.000 tổ chức đảng và hơn 87.000 đảng viên, trong đó, có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, kể cả đương chức và đã nghỉ hưu”. Chưa bao giờ trong lịch sử Đảng, một nhiệm kỳ có tới hơn 110 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có cả các Ủy viên Bộ Chính trị bị kỷ luật. Nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta ban hành nhiều quy chế, quy định về công tác cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền... Đến nay, tham nhũng, tiêu cực đã bước đầu được ngăn chặn, từng bước được đẩy lùi, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố, tăng cường. Điều đó khẳng định thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó chính là cơ sở đem lại niềm hạnh phúc của Nhân dân.
Thực tiễn cho thấy, khi nào tổ chức, cấp ủy đảng và đảng viên gương mẫu, gắn bó mật thiết với Nhân dân, biết dựa vào Nhân dân thì khi đó tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Thực tiễn và thành tựu của công cuộc đổi mới cho thấy sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sự nêu gương, tấm lòng trong sáng của đảng viên. Điều này làm nên sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, đồng thời nhân lên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. “Dân là gốc của nước”, dân giàu thì nước mạnh; Đảng vì dân, vì nước, dân tin Đảng, theo Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng làm nên sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
“Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng lịch sử hơn 90 năm qua đã chứng minh: Đảng ta trong sạch, vững mạnh, làm nên hạnh phúc cho Nhân dân thì Nhân dân theo Đảng đến cùng, cùng Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét