Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

SriLanka vỡ nợ và bài học "tự lực, tự cường" cho Việt Nam.

 Trong suốt 9 năm Tổng thống Mahinda Rajapaksa cầm quyền, Sri Lanka bắt đầu rút khỏi các tổ chức viện trợ truyền thống như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) - và ngả về Trung Quốc. Sau này, Trung Quốc đã trở thành nhà đầu tư, chủ nợ và đối tác thương mại lớn thứ hai của Sri Lanka.
Tổng thống đương nhiệm Maithripala Sirisena, người bất ngờ đánh bại cựu Tổng thống Rajapaksa hồi năm 2015, đã hứa hẹn sẽ giải phóng Sri Lanka khỏi những điều kiện vay nợ ngặt nghèo của Trung Quốc.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, số phận của Sri Lanka đã bị định đoạt. Sau khi trở thành nước có thu nhập trung bình, Sri Lanka không còn đủ điều kiện cho các khoản vay ưu đãi nữa và phải tuân theo các điều khoản tín dụng thương mại như quy định của thị trường chung.
Sau khi đình chỉ các dự án như thành phố Cảng Colombo, chính phủ liên minh Sirisena-Wickremesinghe đã cố gắng đàm phán lại các điều khoản vay nợ, nhưng phía Trung Quốc dứt khoát bác bỏ đề nghị xóa nợ, và thay vào đó đề nghị đổi số nợ lấy cổ phần của các dự án.
Do không thể trả những khoản nợ chồng chất (hơn 95% doanh thu chính phủ được dùng để trả nợ), và gần như bị đẩy đến đường cùng, Sri Lanka buộc phải đồng ý đổi cổ phần để xóa nợ, trong đó Trung Quốc sẽ được điều hành một số dự án thuộc lãnh thổ của Sri Lanka trong vòng 99 năm, với khoản nợ trị giá 1,12 tỉ USD. Các dự án bao gồm cảng Hambantota (Trung Quốc nắm 70% cổ phần, và một lô đất chiến lược tại thành phố cảng Colombo.
 
Sri Lanka tuyên bố không đủ khả năng trả khoản nợ nước ngoài 51 tỷ USD và đang chờ gói hỗ trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Bộ Tài chính Sri Lanka hôm nay tuyên bố các chủ nợ của nước này, trong đó có chính phủ các nước đã cho quốc gia Nam Á vay tiền, có thể cộng dồn lãi chưa trả vào khoản vay mà Sri Lanka đến hạn thanh toán từ chiều cùng ngày, hoặc chọn nhận lại khoản vay gốc bằng đồng rupee Sri Lanka.
"Chính phủ chỉ áp dụng biện pháp khẩn cấp này như lựa chọn cuối cùng nhằm ngăn tình hình tài chính của đất nước thêm xấu đi", Bộ Tài chính Sri Lanka giải thích về quyết định tuyên bố vỡ nợ với các khoản vay nước ngoài.
Cơ quan này nói thêm rằng tuyên bố vỡ nợ là để đảm bảo "đối xử công bằng và bình đẳng đối với tất cả các chủ nợ" trước khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cung cấp chương trình hỗ trợ cho quốc gia Nam Á.
Sri Lanka từ lâu đã ký nhiều thỏa thuận vay của nước ngoài nhằm đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, chính sách quản lý tài chính yếu kém cùng tác động từ đại dịch Covid-19 với ngành du lịch, vốn mang lại nguồn thu lớn cho đất nước, đã khiến Sri Lanka ngập trong "núi nợ".
Các tổ chức đánh giá tín dụng quốc tế đã hạ mức tín dụng của Sri Lanka từ năm ngoái, khiến quốc gia này gần như không thể tiếp cận với thị trường vốn nước ngoài để vay thêm tiền trang trải chi phí nhập khẩu hàng hóa.
Quốc gia này đã xin được xóa nợ từ Ấn Độ và Trung Quốc, song cả hai quốc gia chỉ đồng ý tăng hạn mức tín dụng để Sri Lanka mua thêm hàng hóa. Sri Lanka phải nhập khẩu hầu hết mặt hàng, từ sữa bột, gạo, xăng dầu cho tới dược phẩm, xi măng.
Bài học từ Sri Lanka cho thấy những quốc gia trung bình như Việt Nam cần hết sức tỉnh táo trước những "món hời" từ đầu tư nước ngoài, cần phải tự chủ và chủ động sản xuất được các mặt hàng gia dụng cũng như phụ trợ công nghiệp trong nước, tránh bị lệ thuộc vào nước ngoài. Bài học tự lực tự cường trước khi dựa vào bên ngoài chưa bao giờ là cũ.

Bám địa bàn, đánh theo sở trường...

Sư đoàn 316 (Quân khu 2) là đơn vị có bề dày truyền thống, thành tích vẻ vang trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Sư đoàn đã tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh lớn, trong đó có trận đánh Buôn Ma Thuột, mở màn Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, tạo thời cơ chiến lược cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dấu ấn những trận đánh lớn Ngay sau khi thành lập ngày 1-5-1951 tại làng Cốc Lùng, xã Bình Trung (Cao Lộc, Lạng Sơn), Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) khẩn trương ổn định tổ chức, huấn luyện và tham gia Chiến dịch Hòa Bình (năm 1951-1952), Chiến dịch Tây Bắc (năm 1952). Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954), Đại đoàn 316 đã đánh tiêu diệt cứ điểm Đồi A1 và nhiều cứ điểm khác, góp phần làm nên chiến thắng “chấn động địa cầu”. Sư đoàn cũng là đơn vị đầu tiên của Quân đội ta sang làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Lào, tham gia các chiến dịch: Nậm Thà (năm 1962), Nậm Bạc (năm 1964), Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng (năm 1971-1972). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị thuộc sư đoàn đã tham gia nhiều trận đánh lớn, điển hình là trận đánh cao điểm 875 trong Chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1967 của Trung đoàn 174, đã tiêu diệt hàng trăm lính Mỹ. Đầu năm 1975, Sư đoàn 316 bí mật hành quân từ Quân khu 4, luồn rừng vào Nam Tây Nguyên, triển khai lực lượng và đánh trận mở màn Buôn Ma Thuột giành thắng lợi, góp phần tạo ra thời cơ chiến lược để ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. “Hơn 70 năm qua, dấu chân sư đoàn đi dọc chiều dài đất nước và làm nhiệm vụ quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, sư đoàn cũng luôn đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, huấn luyện giỏi, chiến đấu thắng lợi, lập nhiều thành tích vẻ vang. Sư đoàn 316 cùng các Trung đoàn 174, 148, 98 và 13 tập thể thuộc sư đoàn được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; trong đó, Trung đoàn 148 và Tiểu đoàn Công binh 25 (Tiểu đoàn 17) được tuyên dương hai lần”, Đại tá Nguyễn Ngọc Ngân, Chính ủy Sư đoàn 316 tự hào cho biết. Phát huy cách đánh sở trường Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Sư đoàn 316 đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù. Sở trường của sư đoàn là tác chiến ở địa hình rừng núi; giỏi về tiến công trong vận động chiến đấu, phòng ngự chắc chắn, chặt chẽ. Cội nguồn những chiến công của sư đoàn, đó là tập thể lãnh đạo, chỉ huy đoàn kết, nhất trí cao; tiến hành công tác giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu và công tác cho bộ đội thường xuyên, chu đáo; kết hợp giữa huấn luyện và thực hành, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. “Sư đoàn chú trọng giáo dục truyền thống, niềm tự hào về những chiến công của quân đội và đơn vị cho bộ đội. Những trận đánh, chiến dịch mà sư đoàn tham gia đều được biên soạn thành tài liệu, cán bộ khi giảng bài khéo léo vận dụng, minh chứng giúp bộ đội hiểu sâu và hứng thú khi học tập chính trị, truyền thống. Sư đoàn tổ chức nhiều hình thức giáo dục, kết hợp giữa lên lớp với tham quan nhà truyền thống, địa danh lịch sử, Tượng đài Chiến thắng sông Lô; mời nhân chứng lịch sử, đến giao lưu, kể chuyện. Các đơn vị tổ chức diễn đàn, thi tìm hiểu, liên hoan văn hóa, văn nghệ, xây dựng mô hình “Tượng đài Chiến thắng”. Đặc biệt, sư đoàn tổ chức lập Đồi cây tri ân, trồng các loại cây điển hình cho những vùng đất, địa danh sư đoàn đã chiến đấu, đóng quân và công tác, qua đó giúp cho bộ đội thêm tự hào, tạo động lực khắc phục khó khăn, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Đại tá Nguyễn Ngọc Ngân chia sẻ. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, truyền thụ kinh nghiệm, vận dụng cách đánh sở trường vào huấn luyện là một trong những biện pháp sư đoàn triển khai có hiệu quả trong những năm qua. Các đơn vị huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; vận dụng sáng tạo phương pháp huấn luyện, huấn luyện theo tình huống và theo sở trường của đơn vị. Như Trung đoàn 98 có sở trường chiến đấu vận động tiến công; Trung đoàn 174 có sở trường phòng ngự; Trung đoàn 148 nổi bật về tiến công địch phòng ngự ở địa hình rừng núi, tiến công địch trong công sự... Bên cạnh đó, sư đoàn luôn làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện; tổ chức thi mô hình, đồ dùng huấn luyện, bài giảng; đồng thời chú trọng cổ động thao trường, tổ chức các trò chơi quân sự, giúp bộ đội hứng thú, bền bỉ, dẻo dai, say mê huấn luyện. Nhờ đó, kết quả huấn luyện của sư đoàn luôn đạt cao, Bộ Quốc phòng công nhận “Đơn vị huấn luyện giỏi”; trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội nâng lên hằng năm. Các cuộc diễn tập MB-17, diễn tập hiệp đồng quân binh chủng năm 2018, diễn tập TB-21... sư đoàn tham gia đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng bằng khen. Xây dựng địa bàn vững chắc Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, nắm chắc địa bàn, dựa vào dân, giúp đỡ nhân dân, xây dựng địa bàn vững chắc là một trong những truyền thống của Sư đoàn 316. Hình ảnh những bà mẹ vắt sữa nuôi dưỡng thương binh, mang nước uống, tặng quà bộ đội Sư đoàn 316 trên các chiến trường, hay người dân dẫn đường cho bộ đội hành quân đã trở nên quen thuộc và cảm động. Đại tá Nguyễn Ngọc Ngân cho biết: “Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, sư đoàn luôn nhận được sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân và sự ủng hộ của các cấp ủy, chính quyền địa phương. Tri ân những tình cảm đó, sư đoàn luôn quan tâm tổ chức các hoạt động hành quân huấn luyện dã ngoại, làm công tác dân vận, giúp dân và hỗ trợ các địa phương xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới. Chỉ tính từ năm 2020 đến nay, sư đoàn huy động hàng nghìn ngày công tham gia giúp các địa phương tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ... thu hoạch hoa màu, làm đường, góp phần hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong công tác phòng, chống dịch bệnh, nhất là phòng, chống dịch Covid-19, sư đoàn vận động, tặng tiền và quà trị giá hàng tỷ đồng hỗ trợ các tỉnh phía Nam, Hà Nội, Phú Thọ, Hà Giang; tặng Sư đoàn 2 (Quân đội nhân dân Lào) hơn 200 triệu đồng hỗ trợ bạn phòng, chống dịch. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn còn tích cực tham gia phòng, chống lụt bão, khắc phục hậu quả thiên tai. Năm 2017 và 2018, sư đoàn tổ chức lực lượng đến khắc phục lũ ống, lũ quét, giúp dân ở các huyện Văn Chấn, Mù Cang Chải, thị xã Nghĩa Lộ (tỉnh Yên Bái), được chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao...”. Những việc làm tri ân, giúp đỡ nhân dân không chỉ góp phần thắt chặt tình cảm quân dân cá nước, góp phần xây dựng địa bàn vững chắc, mà còn làm tỏa sáng phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, là động lực để Sư đoàn 316 nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nguồn: QĐND Quân khu2

Hai trận không kích đáng nhớ...

Hơn 60 lần xuất kích, 13 lần gặp địch, bắn rơi 6 máy bay F-4 của Mỹ, trong đó có 5 chiếc bắn rơi tại chỗ bằng 5 quả đạn tên lửa; yểm hộ và tạo điều kiện cho đồng đội bắn rơi 5 máy bay khác... là chiến công của Anh hùng LLVT nhân dân Lê Thanh Đạo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng ban Dân vận Trung ương. Đồng chí Lê Thanh Đạo sinh năm 1943 tại xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm (nay là phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội). Tháng 7-1963, ngay khi tốt nghiệp cấp 3, ông nhập ngũ về Trung đoàn 84, Sư đoàn Pháo binh 351 rồi được lựa chọn đi học sĩ quan pháo binh tại Sơn Tây. “Trước khi kết thúc năm thứ nhất, Trường Sĩ quan Pháo binh tổ chức hội thao bắn ném, tôi được đại diện lớp tham gia. Ngay quả đạn đầu tiên, tôi đã bắn trúng lô cốt và thế là “lọt vào tầm ngắm của cấp trên” để bồi dưỡng chuyên sâu. Chẳng ngờ chưa đầy 10 tháng sau, tôi lại nhận được quyết định sang Liên Xô đào tạo phi công quân sự”, anh hùng Lê Thanh Đạo bắt đầu câu chuyện. Thông thường, để đào tạo được một phi công quân sự phải mất ít nhất 5 năm. Vậy mà trong những năm 60 của thế kỷ trước, chỉ sau 3 năm vừa học tiếng vừa học bay là các phi công của ta đã tốt nghiệp để về nước, bước ngay vào cuộc chiến đấu với không quân Mỹ. Lê Thanh Đạo cũng không ngoại lệ. Năm 1968, với 200 giờ bay huấn luyện tích lũy, ông về nước và được biên chế về Phi đội 1, Trung đoàn 921. Ông liên tục cùng đồng đội cơ động đến các sân bay để huấn luyện và trực sẵn sàng chiến đấu, chủ yếu là ở Khu 4. Giờ đây đã ở tuổi 79, ông vẫn khỏe mạnh và minh mẫn khi kể với chúng tôi về những trận không chiến của mình. Nhớ nhất là hai trận đầu xuất kích và đánh thắng của ông cùng đồng đội. Trận thứ nhất diễn ra ngày 18-12-1971, khi ông đang là phi công của Phi đội 1, Trung đoàn 921. Hôm đó là kíp trực của phi công Võ Chí Giáp và Phạm Phú Thái. Nhưng do đại đội có việc giao cho Phạm Phú Thái nên Lê Thanh Đạo vào trực thay. “Từ khi về nước, tôi chủ yếu theo các phi công tiền bối huấn luyện làm quen với điều kiện chiến đấu trong nước chứ chưa thực chiến lần nào. Hôm ấy, nghe tiếng kẻng báo động chiến đấu, tôi liền khẩn trương làm công tác chuẩn bị với tốc độ nhanh nhất có thể. Biên đội tôi bay theo hướng 270 độ về phía tây. Qua bộ đàm, tiếng thông báo liên tục về khoảng cách và số lượng máy bay đang hướng về phía chúng tôi, nhưng thực tế chúng tôi chưa thấy mục tiêu. Chừng 10 phút bay theo đài dẫn đường mới thấy chiếc F-4 của địch, tôi liền bám theo. Khi bắt được mục tiêu, tôi thông báo: “Không kích đây” và thực hiện đúng những động tác đã được luyện tập rồi nghiêng trái thoát ly, đồng thời báo với số 2 bắn tiếp. Tôi nghe rõ tiếng Giáp hô: “Cháy rồi còn đâu!”, ông kể. Bằng một quả tên lửa, ngay trận đầu không chiến, phi công Lê Thanh Đạo đã thành công tiêu diệt địch. Ông tâm sự, lúc đó chẳng suy nghĩ, lo lắng gì nhiều, nhận được lệnh là bước vào buồng lái với tâm thế sẵn sàng tìm diệt kẻ thù. Tuy nhiên niềm vui chiến thắng chưa được bao lâu, ngay chiều hôm đó, ông lại đau đớn nhận tin một đồng đội của mình hy sinh trên bầu trời Yên Bái. Phi công Lê Thanh Đạo bùi ngùi: “Chiến tranh là thế. Niềm vui chiến thắng và nỗi buồn ly biệt có thể đến bất cứ lúc nào. Dù vậy, những người lính bay chúng tôi chưa bao giờ nao núng. Bản thân tôi trong chiến đấu từng hai lần phải nhảy dù thoát ly máy bay, hai chân đều bị thương nhưng với quyết tâm vượt khó, tôi đã tích cực rèn luyện, phục hồi sức khỏe. Qua giám định, chưa đầy 6 tháng sau khi bị thương, tôi đã đủ điều kiện để trở lại đội hình chiến đấu. Thế mới có trận đánh thứ hai tôi kể sau đây”. Đó là trận đánh ngày 10-5-1972, được ghi nhận là ngày chiến đấu ác liệt, nhiều kỷ lục nhất trên mặt trận không đối không ở Việt Nam. Phía Mỹ công bố đã cho 388 lần chiếc máy bay đánh phá miền Bắc. Phía Việt Nam, bộ đội không quân đã xuất kích 64 lần chiếc gồm 22 tốp trên cả 3 loại máy bay được trang bị là MiG-21, MiG-19 và MiG-17. Trong lần xuất kích của mình, biên đội Lê Thanh Đạo và Vũ Văn Hợp đã lập công xuất sắc, là những phi công đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ. Khi ấy, Lê Thanh Đạo mang quân hàm trung úy, là Trung đội trưởng thuộc Phi đội 9 (Đại đội 9), Trung đoàn 927. Trung đoàn này mới được thành lập ngày 3-2-1972 trên cơ sở lực lượng phi công nòng cốt lấy từ Phi đội 3 (Đại đội 3) của Trung đoàn 921. Qua lời kể của anh hùng phi công Lê Thanh Đạo và những ghi chép trong tài liệu lịch sử của Sư đoàn 371 (Quân chủng Phòng không-Không quân), từ 8 giờ 30 phút sáng 10-5, địch đã kéo vào bầu trời miền Bắc. Trong vòng 1 giờ, hơn 70 lần máy bay địch liên tiếp đánh phá. Các sân bay của ta bị lực lượng không quân địch khống chế liên tục, máy bay ta không cất cánh được. Đến 12 giờ 50 phút, biên đội MiG-21 gồm Lê Thanh Đạo (số 1), Vũ Văn Hợp (số 2) được lệnh sẵn sàng cất cánh, đánh cường kích và tiêm kích đối phương trên tầng cao, phối hợp với biên đội MiG-17 đánh ở tầng thấp, bảo vệ cầu Lai Vu và cầu Phú Lương. Chưa đầy 10 phút vào cấp 1, họ được lệnh cất cánh từ sân bay Kép (Bắc Giang) bay hướng 360 độ rồi vòng phải hướng 180 độ. Theo đài dẫn đường và hiệu lệnh từ sở chỉ huy, biên đội chỉnh hướng bay, tăng tốc độ và độ cao về hướng mục tiêu. Khi cách địch khoảng 10km, biên đội phát hiện hai máy bay địch đang ở hướng đối đầu. Số 1 Lê Thanh Đạo liền hô biên đội thả thùng dầu phụ, tăng lực lao đến, rồi vượt lên bám chiếc trên cao, số 2 Vũ Văn Hợp bám chiếc dưới thấp. Với việc đồng thời công kích, chỉ cách nhau 3 giây, họ đã lần lượt bắn rơi tại chỗ hai chiếc F-4. Những chiếc F-4 còn lại vội quăng bom bừa bãi rồi tháo chạy ra biển. Mũi tiến công đánh phá của không quân Mỹ vào khu vực Hải Dương, cầu Lai Vu, cầu Phú Lương bị bẻ gãy... Trong vòng 20 phút từ lúc cất cánh đến khi vòng về sân bay hạ cánh an toàn, biên đội của Lê Thanh Đạo và Vũ Văn Hợp đã hoàn thành nhiệm vụ. “Đến năm 1974, mang quân hàm đại úy, tôi trở thành sĩ quan biệt phái sang nhận nhiệm vụ là Bí thư thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Dù vậy, hằng tháng, tôi vẫn trở lại đơn vị thực hiện những chuyến bay đơn chống giãn cách. Đến năm 1983 chính thức chuyển ngành, tôi mới ngừng bay. Cho đến bây giờ, trải qua nhiều vị trí công tác nhưng những năm tháng ngồi trong buồng lái, cùng đồng đội trên những con “én bạc” chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc vẫn mãi là ký ức không phai mờ trong tôi. Tôi luôn tin rằng các bạn trẻ ngày nay sẽ tiếp bước những gì thế hệ cha anh đã gìn giữ một cách xứng đáng”, anh hùng Lê Thanh Đạo tự hào chia sẻ. nguồn: Báo QĐND

CHỦ NGHĨA ANH HÙNG TRONG CHIẾN THẮNG 30/4/1975. LỊCH SỬ VÀ HIỆN TẠI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

Thật tự hào khi nhắc tới lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam – dân tộc có bề dày truyền thống trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm với tinh thần bất khuất, anh dũng và khí phách hiên ngang. Từ thời Vua Hùng dựng nước cho đến nay, dân tộc ta đã tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và hàng trăm cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc ngoại xâm. Có lẽ những thử thách của lịch sử dựng nước và giữ nước đã “hun đúc” và tôi luyện nên trong mỗi con người Việt Nam những phẩm chất, đức tính cao đẹp như: lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, lao động cần cù, sáng tạo, lòng nhân ái, bao dung… những phẩm chất đó đã hội tụ trở thành truyền thống tốt đẹp tạo nên bản sắc dân tộc của nền văn hoá và con người Việt Nam. Đến thời đại Hồ Chí Minh những phẩm chất đó đã được kế thừa, phát triển rực rỡ, thể hiện rõ nhất là Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, điều này được chứng minh một cách thuyết phục qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ-đỉnh cao của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được coi là thứ vũ khí sắc bén để quân và dân ta chiến thắng kẻ thù xâm lược lớn mạnh và tàn bạo hàng đầu thế giới. Đó là chủ nghĩa anh hùng tập thể, bởi nó xuất hiện và được phát huy cao độ trong phong trào cách mạng của quần chúng, của tinh thần đoàn kết tạo ra sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù. Có lẽ chỉ có Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mới có được những nét tiêu biểu riêng biệt mang đậm sắc thái truyền thống dân tộc: đó là tinh thần tiến công trên trận địa, chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiến; là hình ảnh của em bé đội mũ rơm đi học đến các mẹ, các chị chèo đò đưa bộ đội qua sông dưới bom đạn… Có thể nói, trên khắp đất nước Việt Nam đâu đâu cũng có sự tích anh hùng, con người anh hùng, nó trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành và tôi luyện qua sự khắc nghiệt của chiến tranh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam là sự kết hợp nhuần nhuyễn của lòng dũng cảm, sự mưu trí sáng tạo trong đánh địch, là sự quyết tâm làm chủ các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại. Đồng thời, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam còn cho thấy sự linh hoạt, sáng tạo trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện với sự huy động toàn thể các lực lượng, mọi tầng lớp, lứa tuổi trong xã hội, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh giặc cứu nước. Từ các em học sinh, sinh viên, trí thức đến các nhà khoa học, nhà văn, nhà báo từ Bắc chí Nam đều chung một lòng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm, lập lại nền hoà bình cho đất nước. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, có nhiều thời điểm đất nước ta trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt, làm nên những thắng lợi kỳ diệu: chiến thắng đạo quân viễn chính và nguỵ quân được trang bị vũ khí tối tân; giành thắng lợi oanh liệt ở Điện Biên Phủ trên không; nổi bật là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng mùa xuân 1975… ở đây Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được thể hiện chính trong sự sáng tạo, đổi mới về cách đánh, trang bị vũ khí cùng với ý chí để chiến thắng kẻ địch. Như vậy, dưới ánh sáng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, sự dẫn đường chỉ lối của Đảng ta, nhân dân Việt Nam đã viết lên những trang sử hào hùng. Trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, được sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Bác Hồ, luôn coi trọng kế thừa truyền thống dân tộc, nêu gương người tốt, việc tốt đến các anh hùng, chiến sĩ thi đua, tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước với các điển hình tiên tiến làm cho Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy lên tầm cao mới với nhiều thành tích khác nhau, như một vườn hoa muôn màu sắc. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam còn là sự biểu hiện của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa yêu nước với tinh thần quốc tế cao cả - sự giúp đỡ, tương trợ làm nên thắng lợi vang dội. Ngày nay, hoà bình đã lập lại, non sông Việt Nam thu về một mối, Nước ta đang vững bước trên con đường hội nhập, mở cửa, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần, ý chí cách mạng ngày 30/4 đã và đang cổ vũ cho mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu xét trong dòng chảy dịch sử dân tộc, thì chiến thắng 30/4/1975 chỉ là một khoảnh khắc trong chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhưng đó thực sự là mốc son lịch sử quan trọng mang tính “bước ngoặt” trên bước đường xây dựng và phát triển đất nước. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách đặt ra, song những thành tích, những kết quả mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đạt được trong những năm qua là cơ bản, là chủ yếu. Không như những gì mà các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc, bóp méo cho rằng, tình hình kinh tế-xã hội của đất nước ta chỉ hoàn toàn là màu ảm đạm. Đây là những âm mưu trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của kẻ địch cần phải được loại bỏ. Đặc biệt, hiện nay đông đảo các tầng lớp nhân dân ta đang tích cực hưởng ứng “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, điều đó đã làm xuất hiện ngày càng nhiều các phong trào thi đua yêu nước, nhiều đơn vị, địa phương tiêu biểu, nhiều cá nhân, tập thể với những thành tích, cống hiến xuất sắc… tất cả đã tạo động lực tinh thần to lớn, giúp đất nước ta vượt qua mọi khó khă, thử thách vững bước đi lên. Đó thực sự là những biểu hiện mới, sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập ngày nay. Ngày nay thế hệ người Việt Nam cần phải tiếp tục nêu cao tinh thần quyết tâm giữ vững nền độc lập thống nhất – thành quả mà các thế hệ cha anh phải đánh đổi bằng xương máu. Luôn nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lao động, học tập và công tác có hiệu quả góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGÀY 30/4/1975.

Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 các thế lực thù địch tăng cường nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử về ngày 30/4/1975 tác động đến tư tưởng trong một bộ phận Nhân dân, nhất là trong giới trẻ. Là người dân Việt Nam, chúng ta cần hiểu rõ, chiến tranh đã để lại cho đất nước những nỗi đau to lớn; biết bao xương máu các anh hùng đã đổ xuống để giành lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, chúng ta cần nhận thức đầy đủ nguyên nhân vì sao đất nước ta có chiến tranh, vì sao Bắc Nam bị chia cắt. Đó là do mưu đồ của bọn đế quốc xâm lược, chúng muốn biến dân ta thành nô lệ, biến đất nước Việt Nam phải lệ thuộc vào ngoại bang. Với truyền thống yêu nước và quật khởi, Nhân dân ta không khuất phục trước những áp bức, bất công nên đã đứng lên chiến đấu để giành lại độc lập, tự do. Chúng ta phải chứng minh cho thế giới thấy được nguyên nhân sâu xa thất bại của Mỹ - Ngụy ngày 30/4/1975 là do cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo, trái với đạo lý, bị nhân dân trên thế giới lên án mạnh mẽ. Nhân dân Việt Nam đã trải qua biết bao mất mát hy sinh. Vì vậy, đến dịp kỷ niệm ngày giành được chiến thắng, chúng ta không chỉ vui mừng vì đất nước được độc lập, tự do, vui mừng vì quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp, mà còn tưởng nhớ công lao và tôn vinh những người đã anh dũng hy sinh máu xương cho Tổ quốc, để chúng ta có cuộc sống như hôm nay. Chiến thắng 30/4/1975 luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam, sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn giúp cho Đảng và Nhân dân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính tự lực, tự cường, quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không mơ hồ, mất cảnh giác mà phải nhận thức rõ mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch và phần tử xấu. Nhân dân ta hãy tuyệt đối nêu cao tinh thần cảnh giác, giữ vững niềm tin với Đảng, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kiên quyết không nghe theo kẻ xấu lôi kéo, kích xúi thực hiện những hành vi chống phá, gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương. Hãy chung tay góp phần bảo vệ sự bình yên và hạnh phúc cho Nhân dân, tạo điều kiện cho người dân được hưởng trọn vẹn niềm vui trong những ngày nghỉ lễ 30/4 và 1/5.

CẢM ƠN TẤM LÒNG TUYỆT VỜI CỦA CÁC BẠN

Ai theo dõi Quang Linh Vlogs chắc chắn không thể không ủng hộ người bạn thân của Quang Linh - Công Giáp Vlogs. Team Công Giáp thời gian qua không chỉ xây nhà công vụ, lớp học cho bà con nghèo khó Châu Phi mà còn dành tặng phần quà đặc biệt cho các các cô giáo ở đây: mỗi người một bộ áo dài truyền thống Việt Nam. - Trong đời tôi chưa bao giờ được mặc bộ quần áo nào đẹp như này. - Cảm ơn các bạn đã mang văn hóa Việt đến miền quê nghèo. - Cảm ơn các bạn đã xây trường học, mang ánh sáng, lại mang cả tình yêu của đất nước Việt Nam thân thương đến với Châu Phi Nhìn tà áo dài Việt tung bay cùng nụ cười hạnh phúc của các bạn Châu Phi, chúng ta thầm cảm thấy tự hào rằng người Việt Nam đúng là vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng luôn sẵn lòng giúp đỡ, đùm bọc bất cứ người bạn thân thương nào. Yêu lắm, người Việt Nam mình

Việt Nam sẵn sàng đóng góp thúc đẩy phát triển tại các diễn đàn của LHQ

Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc (LHQ) ngày 12/4 đã có buổi làm việc với ông Lưu Chấn Dân, Phó Tổng Thư ký LHQ phụ trách các vấn đề kinh tế, xã hội. Tại buổi làm việc, Phó Tổng Thư ký LHQ Lưu Chấn Dân chúc mừng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020 – 2021 và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và LHQ trong thời gian qua. Ông bày tỏ mong muốn thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục đồng hành ủng hộ LHQ và Cục các vấn đề kinh tế và xã hội của Ban Thư ký LHQ (DESA) trên các vấn đề liên quan nhằm thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG). Phó Tổng Thư ký cũng chia sẻ Ban Thư ký LHQ phụ trách xây dựng rất nhiều báo cáo, nghiên cứu sâu về các vấn đề kinh tế, phát triển, dân số, phục hồi sau đại dịch Covid-19… và cho biết sẵn sàng cung cấp, trao đổi thông tin với Việt Nam khi cần thiết. Đại sứ Đặng Hoàng Giang đánh giá cao đóng góp của Phó Tổng Thư ký cũng như Ban Thư ký LHQ trong lĩnh vực phát triển. Đại sứ khẳng định hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững, theo đó, cộng đồng quốc tế cần đoàn kết, chung tay giải quyết các vấn đề hiện nay nhằm thúc đẩy việc thực hiện Chương trình nghị sự về phát triển bền vững vào năm 2030. Đại sứ nhấn mạnh Việt Nam sẵn sàng đóng góp thực chất tại các diễn đàn phát triển của LHQ và mong muốn hợp tác chặt chẽ với cá nhân Phó Tổng thư ký cũng như Ban Thư ký LHQ, đặc biệt trong các vấn đề Việt Nam quan tâm như hành động khí hậu, xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy giáo dục và bảo đảm an ninh lương thực…/.

VIỆT TÂN SO SÁNH XUNG ĐỘT TẠI UKRAINE VỚI VIỆT NAM

Cuộc xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine đang là chủ đề nóng trên toàn thế giới, cuộc xung đột này ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế, chính trị tới rất nhiều nước. Việt Nam chúng ta với đường lối ngoại giao mềm dẻo, chọn chính nghĩa chứ không chọn phe, lợi dụng việc này các đối tượng phản động liên tục đăng bài công kích chế độ, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Vấn đề phe phái trong cuộc xung đột này đang là chủ đề hàng đầu các đối tượng tập trung xuyên tạc, nhiều lý lẽ đã được các đối tượng đưa ra, trong đó đặc biệt có vấn đề bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông. Mới đây, Việt Tân đã đăng tải bài viết với tiêu đề: “Đối với Trung Quốc, Việt Nam là mục tiêu dễ đánh chiếm hơn Đài Loan”, nội dung bài viết chủ yếu để vẽ ra một kịch bản rằng “Trung Quốc sẽ chọn tấn công Việt Nam như Nga đang tấn công Ukraine”. Nếu như theo luận điệu của Việt Tân, người đồng minh thân nhất của Việt Nam là Liên Xô đến nay đã không còn, Việt Nam cũng không tham gia bất kỳ một liên minh quân sự nào thì Việt Nam sớm muộn sẽ bị Trung Quốc đánh chiếm. Lịch sử đã chứng minh chẳng có liên minh nào có thể tồn tại mãi mãi, như Cựu thủ tướng Anh Winston Churchill từng nói : "Trên thế giới này không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn". Cuộc xung đột Nga – Ukraine đã khiến thế giới dần chuyển hướng từ đường lối ngoại giao ý thức hệ sang đường lối ngoại giao lấy lợi ích làm cốt lõi. Hơn thế nữa, Trung Quốc cũng chẳng thể “manh động” trên biển Đông khi trên bản đồ thế giới còn Nga và Mỹ. Sẽ chẳng có liên minh nào bằng nhân dân đoàn kết, thống nhất và giữ vững được khối đại đoàn kết dân tộc. Những “kịch bản” như Việt Tân vẽ ra chỉ là thủ đoạn gây hoang mang, xuyên tạc đường lối, chính sách của Việt Nam ta.

NHỮNG TRÒ HỀ CỦA CÁC DÂN CHỦ CUỘI

Cứ bấy lâu nay, cứ nhắc đến Việt Tân là thấy được sự hài hước của chúng. Nhất là khi đất nước và trên thế giới có nhiều sự kiện gì nổi bật, dưới ngòi bút xuyên tạc của mình một lần nữa đã làm cho mọi người cảm thấy khinh tởm. Nhiều nhà zận chủ như “Việt Tân”, “Đài Á Châu tự do”, “Nguyễn Văn Đài”… lại bắt đầu kêu gào, dùng ngôn từ của mình để xuyên tạc, thêu dệt những chuyện vừa qua liên quan đến ông Trịnh Văn Quyết. Một sự việc lớn như ông Trịnh Văn Quyết bị cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt giam; ngay lập từ các anh hùng cào phím lại thêm bớt vài câu từ để thể hiện việc khởi tố, bắt tạm giam ông Trịnh Văn Quyết không phải vì thao túng thị trường chứng khoán mà vì động cơ khác, đó chỉ là cái cớ. Mà lý do chính quyền bắt ông Trinh Văn Quyết là vì ngân sách nuôi Đảng và chế độ cạn kiệt…; chúng xuyên tạc việc Trịnh Văn Quyết bị bắt là do nội bộ Đảng có nhiều phe phái, thanh trừng, đấu đá lẫn nhau. Chúng cho rằng sau bà Phương Hằng, Quyết sẽ còn nhiều “nhà tư bản đỏ” khác sẽ vào tù! Nhưng sự thật đằng sau nó là xuất phát từ sự sai phạm, coi thường thượng tôn pháp luật, “Quốc có quốc pháp; gia có gia quy” không ai được đứng trên Luật pháp. Nhà nước ta đã tạo điều kiện để ông pháp triển chứ không phải để ông lũng đoạn thị trường làm ảnh hưởng đến nhà đầu tư, làm mất uy tín của doanh nghiệp Việt Nam. Thế nên mấy anh hùng bàn phím ảo bớt làm trò hề.

VIỆT NAM CHỌN LẼ PHẢI KHI BỎ PHIẾU CHỐNG VỀ VIỆC LOẠI NGA KHỎI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN

Sau khi Việt Nam bỏ phiếu phản đối, chị đại biện Ukraine đã lên tiếng chỉ trích Việt Nam, một vị giáo sư có thái độ không thiện cảm với Việt Nam đã trả lời đài RFA là Việt Nam tự bắn vào chân mình. Lợi dụng việc này, Việt Tân và đám dân chủ trong nước ra sức bình luận, xuyên tạc về lá phiếu của Việt Nam. Cần hiểu rằng, vụ việc thảm s.á.t ở Bucha mới chỉ là những thông tin một chiều do Mỹ và Ukraine đưa ra. Theo quy định của công pháp quốc tế, trước khi trừng phạt, vấn đề này cần phải được điều tra và kết luận một cách khách quan, có sự tham vấn và ý kiến của nhiều bên có liên quan. Thế nhưng, LHQ đã quá vội vàng tin lời Mỹ, đưa ra bỏ phiếu chống lại Nga khi những cáo buộc này chưa được bất kỳ một cơ quan hay tổ chức quốc tế độc lập nào điều tra để có kết luận một cách chính thức, khách quan. Bản thân Nga cũng đã lên tiếng đề nghị được đưa ra bằng chứng, đề nghị LHQ điều tra rõ ràng về sự việc nhưng không được LHQ chấp nhận. Liên hợp quốc đáng nhẽ ra phải là một tổ chức trung gian hoà giải, duy trì công bằng và hoà bình thế giới, chứ không phải là tổ chức của riêng nước Mỹ và đồng minh, khi mà Mỹ nói gì cũng tin, còn Nga và các quốc gia khác ngoài trục của Mỹ thì không. Là một quốc gia từng trải qua 4 cuộc xâm lược chỉ trong thế kỷ 20, Việt Nam quá hiểu giá trị của hoà bình, của sự chà đạp lên nhân quyền và sự tang thương của người dân vô tội. Thế nhưng, điều Việt Nam ủng hộ phải là lẽ phải, sự thật, chứ không chỉ là thông tin một chiều, cáo buộc lẫn nhau mà chưa được kết luận. Vì thế, lá phiếu chống của Việt Nam hôm qua là lá phiếu chống lại sự vội vàng và thông tin một chiều, chưa được điều tra, chứ không phải là chống lại nước này hay theo chân nước kia. Điều Việt Nam chọn là lẽ phải chứ không hề “chọn bên” cho bất kỳ xung đột và tranh chấp quốc tế nào.

BẢN CHẤT NHÂN QUYỀN KIỂU MỸ

Sau khi Liên Hợp quốc tiến hành đã bỏ phiếu đình chỉ tư cách thành viên của Nga tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, liên quan tới chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine với tỷ lệ 93 nước ủng hộ, 24 nước bỏ phiếu chống và 58 nước bỏ phiếu trắng thì Tổng thống Mỹ Joe Biden được cho là đã tuyên bố những quốc gia bỏ phiếu chống, trung lập là kẻ thù của nền dân chủ nhân quyền. Theo thông tin của Tờ Human Right Watch, sau đó ông Joe Biden đã có buổi thảo luận với các nhà lãnh đạo phương Tây tiến hành áp đặt các lệnh trừng phạt “nhân quyền” đối với các quốc gia bỏ phiếu chống, trung lập trong hội nghị loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền. Không thể hiểu được hành động của ông Joe Biden. Tổ chức bỏ phiếu nhưng sau đó lại tìm cách trừng phạt những nước bỏ phiếu chống. Tôi cứ tưởng ông Joe Biden là một nhà chính trị khôn ngoan nhưng sau hàng loạt những phát ngôn và hành động “lệch chuẩn” của ông thời gian qua thấy rằng thực tế không giống gì chúng ta nghĩ. Chắc hẳn mọi người chưa quên, người Mỹ từng dùng một cái lọ có chứa loại bột màu trắng để quy kết là Iraq có vũ khí giết người hàng loạt, tạo cớ để xâm lược một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, sát hại Tổng thống Saddam Hussein. Mỹ cũng tạo ra nhiều cái cớ kiểu trên trời rơi xuống để xâm lược hoặc đánh phá Lybia, Syria, Ya Men, Nam Tư...vậy tại sao Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc lại ngó lơ, không hủy tư cách thành viên của Mỹ? Xin khẳng định rằng Liên Hợp quốc không phải là đồ trong túi của Hoa Kỳ, mà là là một tổ chức liên chính phủ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên thế giới. Vậy nên mọi việc cần tuân thủ luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp Quốc, không thể cảm tính, một chiều. Không thể lấy tiêu chuẩn kiểu Mỹ để làm thước đo cho nhân loại, khi mà chính cái thước đo đó lệch chuẩn và mang màu sắc áp đặt của sự bá quyền. Thế giới đại đồng cần một Liên hợp quốc thực chất chứ không phải là một thứ gì đó mang ý nghĩa tượng trưng. Nực cười với trò hề “nhân quyền”. Thử hỏi rằng nếu Mỹ tôn trọng nhân quyền sao lại trừng phạt những nước bày tỏ chính kiến của mình bằng quyền bỏ phiếu hay nhân quyền chỉ thuộc về kẻ mạnh và nó là chiêu trò để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia đó sao?

ĐỪNG MÙ QUÁNG

Độc lập chủ quyền là bất khả xâm phạm đối với một quốc gia có lãnh thổ và của cộng đồng dân tộc sinh sống trên đất nước của mình. Sự kiện Nga thực hiện “chiến dịch quân sự đặc biệt” trên đất Ukraine là một câu chuyện đáng suy nghĩ cho các quốc gia khác. Đối với Việt Nam chúng ta cả hai đều là những người bạn, chúng ta không chọn bên mà đứng về phía chính mình không bênh vực ai trong sự kiện này và không cổ suý “chiến tranh” trong bất cứ trường hợp nào. Nhưng bất ngờ thay, có một nhóm người không biết yêu nước Nga như thế nào liên tục hô vang ủng hộ. Nhìn về sự kiện chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 là một bài học lịch sử cho việc dân tộc Việt Nam tự cường đánh đuổi một nước lớn ra khỏi lãnh thổ của mình giữ vừng chủ quyền lãnh thổ. Chúng ta không phủ nhận người anh em Liên Xô đã có những viện trợ rất lớn cho Việt Nam, nhưng nhìn chung chúng ta chiến đấu bằng chính sức lực của mình là chính để đánh đuổi kẻ cướp đất. Đó là một bài học mãi không quên của một đất nước lớn hơn xâm nhập chủ quyền của láng giềng bất hợp pháp. Tự hỏi nếu cha ông chúng ta không anh dũng chiến đấu từng tất đất, ý chí người dân không chịu khuất phục thì chúng ta có rơi vào hoàn cảnh Ukraina hiện tại? Một bộ phận người Việt Nam có sự yêu mến tột độ đối với nước Nga đó là điều bình thường. Tuy nhiên, sự ấu trĩ ủng hộ chiến dịch của Nga trên đất Ukraina đó là lãnh thổ của nước khác là sự “mù quáng” khó chấp nhận, thử nghĩ lại đến một ngày nước nào đó thực hiện hành động quân sự trái phép trên lãnh thổ Việt Nam các bạn có cảm xúc gì? Khi một nước lớn làm như vậy đối với Tổ quốc khác thì những nước còn lại không có lý do gì là họ không làm điều tương tự như vậy được. Các bạn có thích hay yêu nước Nga nhiều như nào thì hành động cổ vũ, ủng hộ “chiến dịch quân sự đặc biệt” là rất thiếu ý thức tôn trọng độc lập, chủ quyền của nước khác. Ủng hộ nước Nga, tung hô Putin đại đế đó là tình yêu của riêng các bạn. Nhưng lãnh thổ nước khác bị xâm phạm thì không thể chấp nhận, các bạn tiếp tục hô vang, reo hò ủng hộ Nga vì cho rằng dạy cho Ukraine một bài học khác nào “tự bắn vào chân mình” và cái này nó ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam chúng ta. Hãy tỉnh giấc đừng cổ suý cho vấn đề đó nữa, nhìn về biển Đông của chúng ta mà xem đó là Trung Quốc mới có hành động trên biển chứ chưa hành động trên đất liền. Củng cố suy nghĩ mà ngẫm nếu Nga làm được thì Trung Quốc không có cớ gì là không làm được cả.

HÃY TÔN TRỌNG VÙNG BIỂN VÀ ĐẢO CỦA VIỆT NAM

“Cây muốn yên nhưng gió biển Đông không chịu ngừng”. Chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên biển Đông ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là điều không thể chối cãi, nhưng những hành động gần đây của các nước khác trên vùng biển thuộc chủ quyền pháp lý của chúng ta làm cho nó bị tổn thương. Cụ thể là các cuộc diễn tập quân sự trên biển, hành động bí mật do thám trên không của láng giềng Trung Quốc và anh bạn Đài Loan. Đầu tiên là Đài Loan họ lôi tên lửa, các tàu chiến bắn đạn thật của họ ra vùng biển đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta. Một hành động không thể chấp nhận, người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng và yêu cầu Đài Loan không tái hiện sự việc trong tương lai. Biết là với sự hậu thuẫn của Mỹ cuộc diễn tập diễn ra là để phô trương khí tài quân sự, nhưng nó diễn ra trên vùng đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là vi phạm công ước Luật biển quốc tế UNCLOS 1982 và vô cùng nguy hiểm cho sự mất an ninh, ổn định cho Việt Nam. Tiếp theo là anh hàng xóm Trung Quốc cũng tập trận ở biển Đông còn ngang nhiên tập trận trong vùng đặc quyền kinh tế của của Việt Nam chúng tôi, tuyên bố cấm các tàu thuyền đi vào. Thời gian đã chỉ ra Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn đối với biển Đông, xây dựng trái phép các đảo nhân tạo quần đảo Hoàng Sa. Một nước có tiềm lực quân sự được đánh giá là có sức mạnh thứ 3 thế giới, việc họ tập trận để thử nghiệm trang thiết bị, chiến thuật là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, đề nghị Trung Quốc không tập trận tại những vị trí thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam, điều đó sẽ làm căng thẳng thêm quan hệ ngoại giao giữa các nước láng giềng. Với tình hình như thế chắc chắn Việt Nam chúng ta không thể đứng ngoài cuộc trên vùng biển đảo thuộc chủ quyền linh thiêng của mình, chúng ta đã đóng cửa sân bay Phù Cát ở Bình Định 10 ngày để diễn tập liên tục. Sự chuẩn bị ấy là điệu hợp lý và lẽ phải để chuẩn bị cho mọi tình huống có thể xảy ra đối với đất nước. Bước vào kì huấn luyện liên tục 12 tháng, bắt đầu ở Bình Định, đây là dịp Quân đội nhân dân Việt Nam thử thách bản thân thực chiến của mình. Đợt diễn tập bắn đạn thật này là cơ hội cho chúng ta thể hiện trình độ, kỹ năng, thử nghiệm khả năng hoạt động của các khí tài quân sự. Ở Việt Nam chúng tôi rất hoà đồng, bạn quen biết đến nhà thì chào mừng, bạn không biết cũng tiếp đón. "VIệt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy" với mọi quốc gia, nhưng nó không đồng nghĩa với việc chấp nhận cho bất kỳ quốc gia hay lãnh thổ nào có hành động quân sự hoá xâm phạm trái phép chủ quyền của đất nước. Lãnh thổ đất liền, vùng biển, hải đảo Việt Nam là bất khả xâm phạm, nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng chống trả để bảo vệ nó. Chúng tôi đề nghị các quốc gia có liên quan trong tương lai không tái hiện tình trạng tương tự; vì nó gây mất an ninh, mất ổn định cho tuyến đường biển; xâm phạm trái phép vùng biển và đảo thuộc Việt Nam!

Phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta

 


 Thời gian qua, các thế lực thù địch đã công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó họ nêu những "đề xuất", "kiến nghị" đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bài viết phân tích làm rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn để phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong chính sách quốc phòng "bốn không" của Đảng, Nhà nước ta.

1. Nhận diện quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Nam

Những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam tập trung vào các vấn đề sau:

(1) Các thế lực thù địch cho rằng: “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Họ cho rằng chính sách “không liên minh quân sự” không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông vào tay Trung Quốc mà còn đe dọa an ninh tổng thể của Việt Nam trong trường hợp chiến tranh xâm lược năm 1979 được lặp lại. Họ lý giải rằng, Việt Nam thực hiện chính sách “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh, như: Mỹ, Nga hay Nhật,... thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Chúng kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được nước trước xâm lược Trung Quốc mà cũng không giữ nổi chế độ cộng sản, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, chúng cho rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông vào tay Trung Quốc cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi ngày ấy” (!?).

(2) Chúng đưa ra luận điệu: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”.

Với quan điểm “Không liên minh với nước này để chống nước kia” trong sách trắng quốc phòng, họ cho rằng, “Một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc’’. Theo chúng, không liên minh quân sự là lỗi thời, lạc hậu; là “đường lối sai lầm”, “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi. Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thực chất đây là thủ đoạn thâm độc nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, làm cho chúng ta dao động và ngả sang một bên nào đấy để chống lại bên kia.

(3) Chúng cho rằng “Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên định chính sách “bốn không” là sẽ không có bạn chí cốt nên dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm”.

Họ cho rằng việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” sẽ cản trở hoặc làm mất đi cơ hội để Việt Nam kết bạn với các nước, thậm chí sẽ làm mất đi những người bạn chí cốt đã từng keo sơn gắn bó với Việt Nam trước đây. Từ đó suy diễn rằng chúng ta “dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm”(!).

2. Luận cứ phê phán

(1) Phải chăng muốn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc?

Một là, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc.

Chúng ta không phủ nhận vai trò, tác dụng tích cực của liên minh trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc nào. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước bạn bè, nhưng chúng ta không tham gia khối liên minh quân sự nào của Liên Xô và Đông Âu. Chúng ta tham gia thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia (13-3-1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai, giành độc lập hoàn toàn, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa trong vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Xuyên suốt lịch sử quân sự Việt Nam, cho đến nay, không có quan điểm lý luận liên minh quân sự để chống lại nước khác, hoặc như là một giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ không tham gia liên minh quân sự với cường quốc.

Trong điều kiện hòa bình hiện nay, khi mà xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chủ đạo thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay.

Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh.

Trên thế giới có ba kiểu liên minh phổ biến là: (1) Nước lớn liên minh với nước lớn; (2) Nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc nước nhỏ liên minh với nước lớn; (3) Nước nhỏ liên minh với nước nhỏ. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Nói như vậy không có nghĩa là hoài nghi, nghi kị đồng minh, mà muốn nói tới một thực tế, một khía cạnh của luật chơi trong quan hệ quốc tế hiện nay. 

Thực tế lịch sử thế giới từ trước tới nay, nhất là gần đây cho thấy không phải cứ có liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là các nước nhỏ. Các cường quốc luôn xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong thực tế, không ít đồng minh của các cường quốc đã bị “lạnh nhạt”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với đối thủ của cường quốc đồng minh. Gần đây, trường hợp của Philíppin, một đồng minh thân cận của Mỹ, khi bị một cường quốc khác đe dọa, xâm phạm chủ quyền trên bãi cạn Scaborough (Hoàng Nham, năm 2012), nhưng siêu cường Mỹ cũng không làm gì trước sự cầu cứu của đồng minh nước nhỏ. Bởi tại Điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ - Philíppin (năm1951) chỉ xem các cuộc tấn công vũ trang trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán (jurisdiction) của cả hai ở khu vực Thái Bình Dương là mối đe dọa chung đối với an ninh của cả hai và Mỹ có trách nhiệm phải bảo vệ. Mỹ sẽ không có trách nhiệm phải bảo vệ Philíppin khi bãi cạn Scarborough bị tấn công. Mặt khác, Mỹ cũng không muốn phải vướng vào một cuộc chiến không đáng có ở Biển Đông. Điều này cũng đúng với thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào đó lại hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của một dân tộc khác. Từ đó, có thể rút ra một hệ luận: trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là phải tự lực, từ cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, trên cơ sở thực lực sức mạnh của quốc gia - dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam không nghiêng hẳn về một bên nào; không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. 

Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, có những trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta đã biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh.

Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì trong 5 năm gần đây, Việt Nam luôn ở trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất trên thế giới. Cụ thể là, năm 2016, Việt Nam xếp ở vị trí số 17/126 nước; năm 2017, ở trí số 16/127 nước; năm 2018, ở vị trí số 20/133 nước; năm 2019, ở vị trí số 23/137 nước; năm 2020, ở vị trí thứ 22/137 nước.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, trở thành điểm thu hút đầu tư và du lịch hấp dẫn của thế giới.

Về xây dựng Quân đội, chúng ta đã và đang thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ  trong mọi tình huống.

Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, không thể tách rời được. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo nên bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đủ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường và thực hiện thắng lợi “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại.

Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. 

Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. 

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) của Đảng khẳng định: Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định.

Chủ động hợp tác về quốc phòng, an ninh là tạo điều kiện củng cố và phát triển quốc phòng, an ninh, để hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Tính đến nay, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Bên cạnh việc coi trọng quan hệ hợp tác về an ninh và quốc phòng với các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Thái Lan, Philíppin, Xinhgapo...), Việt Nam cũng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, các khối nước, như Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ixraen, Cuba, Ấn Độ, Italia, Liên minh châu Âu (EU),... đặc biệt chú trọng tới quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước lớn, có ảnh hưởng chi phối trong khu vực và trên thế giới, như Nga, Trung Quốc và Mỹ.

Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

(2) Phải chăng không liên minh với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại, là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

Một là, có phải xu thế thời đại hiện nay là liên minh với nước này để chống nước khác?

Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là “thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là “quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới”. Toàn cầu hóa từ một xu thế đã trở thành một quá trình hiện thực của sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với quá trình toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Những người ủng hộ toàn cầu hóa liên kết với nhau và những người chống toàn cầu hóa cũng liên kết với nhau. Hai nhóm người này đấu tranh với nhau, căn nguyên của cuộc đấu tranh này chính là những bất đồng về lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Trong đó, có nhóm được hưởng lợi và nhóm bị thiệt thòi. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh/liên kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây, nếu có, chỉ là để chống hoặc ủng hộ toàn cầu hóa chứ không phải là liên minh với nước này để chống nước kia hay ngược lại. Vì trong nội bộ mỗi nước, kể cả các nước nhỏ lẫn siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia.

Cho nên, nói rằng không liên minh với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại” là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu hướng và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”. Chính trong bối cảnh ấy mà Việt Nam liên minh quân sự với nước nào, nhất là liên minh với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm.

Hai là, có phải không liên minh quân sự “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

Trước hết, cần phải thống nhất rằng, liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh, các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, xung đột chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Và chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự nhưng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình báo, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc...); hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma túy... Hiện nay, Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh nội khối như hợp tác công nghiệp quốc phòng ASEAN; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị như: Hội nghị người đứng đầu quân đội ASEAN (ACDFIM), Hội nghị Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM) và Hội nghị Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC), Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM)... 

Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã đóng góp vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Quân đội ta.

Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, “không liên minh quân sự”, “không liên kết với nước này để chống nước khác “không phải là “tự trói buộc mình”, mà nó giúp chúng ta độc lập, tự chủ, không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức là không bị “người khác trói mình”. 

Ba là, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là nước thành viên của Phong trào Không liên kết, cho nên chủ trương không liên minh với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của Phong trào.

Phong trào Không liên kết được thành lập vào năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, trở thành tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân. 

Việt Nam chính thức tham gia Phong trào Không liên kết năm 1976 và từ đó đến nay luôn tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và phát triển. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của Phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của Phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp cho “đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước”, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta.

(3) Phải chăng kiên định quan điểm “bốn không” sẽ không có bạn chí cốt, nên dễ bị cô lập trước các tình huống nguy hiểm?

Trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách quốc phòng không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Trong thời kỳ chiến tranh trước đây, Việt Nam đã xử lý rất tốt mối quan hệ giữa chính trị, quân sự và ngoại giao; kết hợp “vừa đánh, vừa đàm” hết sức uyển chuyển, nhịp nhàng và hiệu quả. Ngày nay, những kinh nghiệm quý báu đó được đúc kết, vận dụng vào giải quyết quan hệ kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. 

Việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, vì thế không cản trở quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước và các đối tác, trái lại, chính sự minh bạch, rõ ràng và sòng phẳng về mặt quan điểm này lại là cơ sở cho các quốc gia, các đối tác xem xét, cân nhắc để thiết lập một mối quan hệ hợp tác bền chặt lâu dài với Việt Nam.

Hai là, trên thực tế, Việt Nam thực hiện đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra. Chính điều này đã đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Nhờ đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn, góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác như châu Phi, Mỹ Latinh...

Ba là, cũng cần phải nói rằng, Việt Nam chủ trương chính sách quốc phòng “bốn không” là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình. Trên thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện đồng bộ các nội dung: (1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức của toàn Đảng toàn dân, toàn quân, nhất là các lực lượng chấp pháp trên biên giới, vùng biển, đảo về chính sách quốc phòng của Việt Nam; (2) Thực hiện có hiệu quả việc tăng cường hợp tác, đối ngoại quốc phòng theo chiều sâu và bền vững; (3) Quan tâm đầu tư xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng chủ trương “bốn tránh”: (1) Tránh xung đột về quân sự; (2) Tránh bị cô lập về kinh tế; (3) Tránh bị cô lập về ngoại giao; (4) Tránh bị lệ thuộc về chính trị. Có thể nói đây là hệ thống đồng bộ các quan điểm chiến lược của Việt Nam về chính sách quốc phòng và đối ngoại nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, góp phần huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 


- Bài viết nêu các giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là: thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết Trungương về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc,vi phạm đạo đức, lối sống; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Trong cấu trúc nhân cách của con người nói chung, người cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức luôn được coi là thành tố quan trọng nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Người giải thích: có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi, mà còn có hại cho xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.

Trung thành với những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức. Trong công tác cán bộ, Đảng ta luôn “Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc”.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng đề cao, “đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Đại hội XIII đánh giá công tác xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn những hạn chế: việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng - nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ, chưa nêu cao ý thức và trách nhiệm trước nhân dân. Việc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Đặc biệt, có một số cán bộ bị kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình có nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra; một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tự giác nhận khuyết điểm và thiếu trách nhiệm trong công việc. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên còn thụ động, hiệu quả thấp.

Để đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức,và cán bộ, khắc phục tình trạng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,đáp ứng yêu cầu cách mạng, đòi hỏi Đảng phải “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ… có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu”. Do đó, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là,thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên bằng các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ. Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.

Biểu dương những điển hình tiên tiến là một trong những giải pháp hết sức quan trọng để nâng cao đạo đức cách mạng. C.Mác chỉ ra “khi ra đời, con người ta không phải đã mang theo một cái gương và cũng không phải đã là nhà triết học theo kiểu Phi-stơ để nói: “Tôi là tôi”, cho nên người ta lúc đầu phải nhìn vào người khác, như nhìn vào một cái gương mới nhận thấy mình được”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trong giáo dục đạo đức bằng phương pháp nêu gương. Người cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.

Vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong giáo dục đạo đức, Đảng ta đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương; Quy định Số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.

Để tiếp tục đưa các quy định về nêu gương đạo đức đi vào cuộc sống, Đại hội XIII chủ trương: “Kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống”(11). Đại hội nhấn mạnh, trước mắt phải thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng ta hiện nay.

Ba là, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. “Xây dựngcác chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”(12). Điều này sẽ tạo ra hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị đạo đức để mọi người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên lấy đó làm tiêu chí để đánh giá ý thức cũng như hành vi, quan hệ đạo đức của mình, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác”(13),góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bốn là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, của đảng viên để xem xét, đánh giá về ưu điểm, khuyết điểm hay các vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng và là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi… Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích… Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”(14). Do đó, cần tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chuyển biến chưa đều; công tác phòng ngừa chưa được quan tâm đúng mức… việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”(15).

Đại hội XIII chủ trương: tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Trước mắt, tập trung hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; tăng cường phối hợp giữa giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả(16).

Năm là, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nhận định: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(18). Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần chủ động, tích cực phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.