Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

Kỷ niệm 133 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước ta.

 Nhân dịp kỷ niệm 133 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực Quốc hội (5/6/1889 - 5/6/2022) - người cộng sự, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh những cống hiến to lớn của Cụ đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, với Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Những phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Văn Tố, nhất là lòng nhiệt thành cách mạng, không ngại gian khổ hy sinh, sẵn sàng cống hiến hết mình vì nước, vì dân chính là tấm gương sáng giáo dục tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc để mỗi chúng ta soi chiếu và học tập.

Cụ Nguyễn Văn Tố đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp khoa học, nhất là khoa học xã hội nhân văn; chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Tên tuổi của cụ Nguyễn Văn Tố gắn liền với sự nghiệp Hội Truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Trí Tri.


Chính phủ VNDCCH năm 1946: Hàng đầu, từ trái sáng phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng. (Ảnh tư liệu)


Cụ Nguyễn Văn Tố là một điển hình về tự học, là tấm gương mở đường cho đội ngũ nhân sĩ, trí thức đem tài năng, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đặc biệt, Cụ đã đóng góp công lao trong việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, tạm thời hòa hoãn thực dân Pháp, giúp Đảng và Chính phủ có thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài... Ở cụ Nguyễn Văn Tố bộc lộ rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo cần mẫn, mẫu mực. Trên cương vị công tác nào Cụ cũng mang hết tài năng, tâm huyết và kinh nghiệm để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và kháng chiến kiến quốc. Cụ Nguyễn Văn Tố là tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, kiên trung bất khuất trước kẻ thù, hết lòng vì nước, vì dân. Cụ Nguyễn Văn Tố là một nhân cách lớn, là người hiền tài có đủ nhân - trí - dũng - liêm. 

Cụ Nguyễn Văn Tố (bút hiệu Ứng Hòe) sinh ngày 5/6/1889 trong một gia đình nhà nho, thuộc làng Đông Thành nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Thịnh một nhà nho yêu nước, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Kim, quê gốc ở Hà Đông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện tư chất thông minh và học giỏi. Năm mới lên 4 - 5 tuổi, tự học chữ nho tại nhà, Nguyễn Văn Tố đã đạt ở trình độ Tam tự kinh - bậc khởi đầu của Nho học; rồi sau đó, lần lượt đạt qua các bậc “Nhất trường”, “Nhị trường” và “Tam trường”. 

Lớn lên giữa lúc đất nước đang trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân ta trên khắp cả nước như: phong trào Duy Tân (1906-1908) do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo; vụ “Hà Thành đầu độc” (1908)... đã ảnh hưởng đến tình cảm và ý chí của Nguyễn Văn Tố.

Năm 16 tuổi (1905), Nguyễn Văn Tố đỗ đầu cuộc thi ngạch Phán sự - Thông dịch do Tòa Thống sứ Bắc Kỳ tổ chức. Năm 17 tuổi (1906), Nguyễn Văn Tố được chính thức vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) của Pháp tại Hà Nội và từng bước thăng tiến, giữ chức Chủ sự dưới quyền giám đốc EFEO cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.

Từ tháng 3 năm 1907, Nguyễn Văn Tố tham gia giảng sách tại Hội Trí Tri bằng tiếng Pháp, tiếng Việt về các đề tài lịch sử, địa lý, văn học, y khoa, khoa học thủy nông. Vào những năm 1910, Nguyễn Văn Tố đã trở thành một học giả nổi tiếng, có nhiều sáng tạo kết hợp văn hóa phương Đông và phương Tây; tham gia giảng dạy tại Hội Trí Tri và được cử là Trưởng ban biên tập Tập san Trí Tri.  
Ngày 16/3/1930, Nguyễn Văn Tố được Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Mỹ thuật Pháp bổ nhiệm là Viên chức Hàn lâm của EFEO.

Năm 1933-1936, Nguyễn Văn Tố được Giám đốc EFEO bổ nhiệm trợ lý hạng 3 và được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri. Năm 1938, Nguyễn Văn Tố được cử là Hội trưởng Hội truyền bá học chữ Quốc ngữ Bắc Kỳ. Năm 1940, Nguyễn Văn Tố được Triều đình nhà Nguyễn sắc phong là “Trung nghĩa đại phu Quang Lộc Tự Khanh” tương ứng với Tòng Tam phẩm và đến năm 1941, Ông tham gia sáng lập Tạp chí Tri Tân.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Nguyễn Văn Tố làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội của Chính phủ lâm thời trong bối cảnh cấp thiết chống đói, chống dốt cho nhân dân.

Ngày 6/1/1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), cụ Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội, là đại biểu của tỉnh Nam Định. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường trực của Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội hiện nay).

Từ tháng 11/1946, cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.

Ngày 19/12/1946, cụ Nguyễn Văn Tố cùng Chính phủ cách mạng rút lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp. 

Ngày 25/10/1947, trong đợt tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc, Cụ bị chúng bắt tại Bắc Kạn khi chưa kịp di chuyển về nơi an toàn. Mặc dù bị tra tấn dã man, nhưng Cụ vẫn thể hiện tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù và anh dũng hy sinh. 

Ghi nhận và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn Tố đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể truy tặng cụ Nguyễn Văn Tố Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất và cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

 

 

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đại hội XIII đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, và trong mỗi bài học kinh nghiệm, đại hội đều có những nhận thức mới. 

Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng, Đại hội xác định: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Điểm mới của bài học này so với các đại hội trước là xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nhấn mạnh xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; nhấn mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Bài học thứ hai về dân, Đại hội xác định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điểm mới của bài học này là phải thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; nhấn mạnh lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Bài học thứ ba về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, Đại hội xác định: Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối, kết hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.

Điểm mới của bài học này là trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, có bước đi phù hợp; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế.

Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết các mối quan hệ: tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng, phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.

Điểm mới của bài học này là nhấn mạnh tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển (cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại).

Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Đại hội xác định: chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ; phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Sau hơn 35 năm Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Kết quả đó là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho sự nghiệp đổi mới của Đảng

2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp khó lường, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện và bằng nhiều biện pháp, đã đặt ra cho Đảng, Nhà nước những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết cần phải tiếp tục khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Muốn vậy, cần nhận thức đúng và chú trọng một số vấn đề cụ thể sau:

 

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp lý luận mác xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu có tính nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng, then chốt đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

 

Hai là, tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn đất nước. Tiếp tục nghiên cứu các học thuyết xã hội hiện đại, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới của thời đại để tiếp thu tinh hoa văn hóa, trí tuệ của nhân loại, bổ sung và làm giàu thêm hệ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, đấu tranh không khoan nhượng với mọi quan điểm thù địch, bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần thúc đẩy khoa học và thực tiễn phát triển đúng hướng.

 

Ba  là, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Cần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ. Việc học tập lý luận chính trị phải được tiến hành thường xuyên, trở thành nhu cầu, nguyện vọng của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình công tác.

 

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, bằng nhiều hình thức và biện pháp phù hợp, sáng tạo; đấu tranh trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, tính lý luận và giàu sức thuyết phục. Muốn vậy, phải đào tạo, rèn luyện đội ngũ chuyên gia, cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

 

 

NGĂN CHẶN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ

 


 

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống. Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người gọi đó là các căn bệnh: “Óc hẹp hòi - Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ra uất ức và mình thành ra cô độc”23; và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”24. “Còn có những đồng chí chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”25.

Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”26.

Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi”, vì “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, .v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”27. Người giải thích về “Địa phương chủ nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”28.

Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù những biểu hiện “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” chưa phổ biến, nhưng biểu hiện của bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi, đã bị Người chỉ ra và phê phán, như các bệnh: “Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”29. “Bệnh “hữu danh, vô thực” - Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyên, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”30. “Bệnh kiêu ngạo - Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”31.

Người cũng đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm: “Báo cáo thì chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái hay. Báo cáo bề bộn – chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên văn chép lại gửi lên, v.v.”32.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh có các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:

- “Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”33.

- “Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của đoàn thể cho chu đáo… Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được hình tình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”34.

- “Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động”35.

Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên còn ở dưới nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng mà chống nhân dân mà quan liêu, hạ mệnh lệnh”36.

Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… cũng được Người chỉ ra từ rất sớm trong một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, như: “Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”37.

Người cũng kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với các đối tượng khác để trục lợi. Người chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”38.

Ngay từ đầu năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu và kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thao túng trong công tác cán bộ, mà Người gọi là: “Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”39 và “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ”40.

“Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”41.

Nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái có nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”.

 

ĐƯA CHỈ THỊ 05-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VÀO THỰC TIỄN CUỘC SỐNG

 


 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trên cơ sở quán triệt Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chủ đề toàn khóa “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, các cấp công đoàn trong toàn hệ thống cần triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, coi trọng việc tổ chức tuyên truyền, học tập nội dung chuyên đề toàn khóa đảm bảo nghiêm túc, sâu rộng đến cán bộ, đoàn viên trong toàn hệ thống. Phải đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành hoạt động thường xuyên, hành động tự giác trong các cấp Công đoàn; tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp công đoàn, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên công đoàn và người lao động; các cấp công đoàn coi đây là giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, các văn bản chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, của BTV Liên đoàn Lao động tỉnh hàng năm.

Hai là, làm tốt việc lựa chọn nội dung cụ thể để đăng ký việc làm theo Bác của các tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo với chủ đề “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào Nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2018 - 2023 và gắn với các phong trào thi đua của tổ chức Công đoàn. Hướng dẫn các cấp công đoàn tổ chức học tập, sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề bằng các hình thức phù hợp, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị để tổ chức làm theo; lựa chọn những vấn đề trọng tâm, những vấn đề đoàn viên, người lao động quan tâm để tập trung giải quyết có hiệu quả giúp cho việc làm theo Bác mang tính thiết thực, dễ nhớ, dễ làm, hết sức tránh hình thức.

Ba là, coi trọng việc phát huy việc làm gương của người đứng đầu các đơn vị trong toàn hệ thống công đoàn toàn tỉnh đối với những nội dung đăng ký làm theo Bác gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Tiếp tục chỉ đạo duy trì việc viết tin, bài đăng tải trên chuyên mục “Học tập và làm theo Bác” trang thông tin điện tử (WEBSITE) của Liên đoàn Lao động tỉnh đảm bảo kịp thời, thiết thực, hiệu quả. Qua đó, tạo sự lan tỏa và hiệu ứng tích cực cổ vũ toàn thể cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức, người lao động trên toàn địa bàn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để cùng với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Bốn là, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cấp CĐCS và cán bộ, đoàn viên CNVCLĐ. Kịp thời phát hiện nhân diện những tập thể, cá nhân tiêu biểu có cách làm sáng tạo, hiệu quả đồng thời có biện pháp uốn nắn, xử lý những đơn vị thực hiện không nghiêm túc, vi phạm khuyết điểm.

Năm là, định kỳ tiến hành đánh giá sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm gắn với việc tổ chức tôn vinh khen thưởng các điển hình tiến tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống nhân dịp chào mừng kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu (19/5) hàng năm đảm bảo theo đúng quy định./.

 

RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ” THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Hồ Chí Minh là người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ nêu ra và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và rèn luyện những phẩm chất “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, hướng lòng mình đến “chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà Người còn chính là hiện thân của những phẩm chất cao quý đó.

CẦN “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”; “cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được”, bởi “Cần chẳng những có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai” mà còn “có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần”. Hiểu đúng về Cần nghĩa là luôn chăm chỉ, cố gắng không phải một sớm một chiều mà thường xuyên và liên tục. Hiểu sâu sa hơn thì Cần cũng có nghĩa là làm để nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc lâu dài, để đạt được mục đích đề ra, bởi: “Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồ thì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ. Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ… Cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công”[4].

KIỆM “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và không phải là bủn xỉn. Trong đó, Cần phải đi đôi với Kiệm “như hai chân của con người”; vì “KIỆM mà không CẦN thì không tăng thêm, không phát triển”. Tiết kiệm về vật chất phải đi đôi với tiết kiệm về thời giờ, bởi “của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”[5]. Vì thế, thời giờ cần tiết kiệm và đó cũng là Cần; “tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người”, cũng giống như “khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”[6]. Đặc biệt, muốn tiết kiệm tốt thì phải khéo tổ chức, vì “không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm” và phải “kiên quyết không xa xỉ”. Từ đó, “một mặt, chúng ta thi đua KIỆM. Một mặt, chúng ta thi đua CẦN” thì cộng lại là “nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công”…

LIÊM “là trong sạch, không tham lam” và “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”[7]. Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM, cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN, vì “có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. Tham lam sẽ dẫn đến BẤT LIÊM, cho nên, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Cũng theo Hồ Chí Minh, “trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”1) và “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM’’. Vì, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”, cho nên “cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”…

CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc của CHÍNH. Nhưng một cây cần phải có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”[10]. Tiếp đó, Hồ Chí Minh viết tiếp “trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC. Trong xã hội, có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc Chính là người Thiện. Làm việc Tà là người Ác. Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác”…

Để là CHÍNH, mỗi người, ĐỐI VỚI MÌNH, phải “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điêmmr, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”[12], vì “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. ĐỐI VỚI NGƯỜI, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái”. ĐỐI VỚI VIỆC, “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to. Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định nhiều hạnh phúc. Ai chẳng muốn cho tự mình thành một

Những điều Người nói, những việc Người làm và tấm gương đạo đức cách mạng “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của Người không chỉ được khẳng định trong thực tiễn mà còn mang ý nghĩa, giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại, dù thế giới đã đi qua bao thăng trầm, thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người nói, những việc Người đã làm với tâm hồn thanh cao là biểu hiện sự dung hợp hài hòa những phẩm chất tuyệt vời của một vị lãnh tụ của nhân dân, thuộc về nhân dân trong thời đại mới.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội đã có những đổi mới phù hợp với tình hình thực tế của đất nước 

Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng là một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Vai trò của công tác giáo dục chính trị tư tưởng thể hiện thông qua nhận thức, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Tình hình thực tế công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội trong bối cảnh hiện nay

Trước yêu cầu cấp thiết về xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác giáo dục chính trị tư tưởng dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư luôn kịp thời, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong toàn quân.

Bên cạnh đó các tổ chức Đảng ở cơ sở luôn đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, hệ thống tài liệu nghiên cứu, học tập luôn luôn được bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp với từng đối tượng.

Hình thức, phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng đã được các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cán bộ chính trị các cấp vận dụng linh hoạt, đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy đối tượng giáo dục làm trung tâm.

Vai trò của các cơ quan, cán bộ chính trị các cấp được phát huy. đã gắn công tác giáo dục chính trị tư tưởng với thực hiện phong trào thi đua, các cuộc vận động và huấn luyện quân sự, xây dựng nền nếp chính quy.

Cấp ủy các cấp thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả được đổi mới theo hướng gắn khả năng nhận thức lý luận với năng lực xử lý, vận dụng thực tiễn theo chức tránh, nhiệm vụ được giao.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau

Một là: Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng toàn diện về phẩm chất và năng lực, nhất là bản lĩnh chính trị, trình độ sư phạm

Hai là: Nâng cao chất lượng các hình thức, tiếp tục đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục chính trị như: học tập chính trị; sinh hoạt chính trị, tư tưởng; thực hiện ngày chính trị và văn hoá tinh thần; tổ chức nội dung thông báo chính trị - thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; xác định lấy đối tượng giáo dục làm trung tâm. Tiếp cận và vận dụng thận trọng hình thức học tập, giáo dục chính trị tư tưởng trên môi trường mạng internet, mạng xã hội.

Ba là: Đầu tư, quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng trang bị, phương tiện giáo dục chính trị tư tưởng, bảo đảm nguồn kinh phí để bảo đảm tài liệu, phương tiện kỹ thuật, sơ đồ, tranh, ảnh, phim, băng đĩa hình...  góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay./.

NỀN TẢNG CỦA SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

 


Xây dựng thế trận lòng dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc là vấn đề then chốt, có tính chất cơ bản, phức tạp lâu dài; cần phát huy vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó Quân đội Nhân dân có vai trò là nòng cốt

Bộ đội Cụ Hồ-một biểu tượng cao đẹp của người quân nhân cách mạng, một nét văn hóa độc đáo, đặc sắc riêng của QĐND Việt Nam. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một hệ thống chuẩn mực, có giá trị tư cách đạo đức cao đẹp, quý báu của người quân nhân cách mạng, phẩm chất đó tựu trung ở lời khen ngợi của Bác Hồ: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấm đượm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân là Bộ đội Cụ Hồ; đã trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam, và ngày càng thêm tô thắm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới.

Cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên; xây dựng các tổ chức trong cơ quan, đơn vị vững mạnh. Cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, thống nhất cao, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; tích cực vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ... qua đó củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt quân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 


Đạo đức cách mạng, làm nên giá trị nhân văn cao quý của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Trong tình hình mới, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng không chỉ ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, mà còn phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.     

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” danh hiệu cao quý này là sự tin tưởng, yêu mến của nhân dân dành tặng Quân đội ta, một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, là sự kết tinh những giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức của thời đại, do các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công vun đắp, xây dựng nên, xứng đáng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong bất luận hoàn cảnh nào, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là đặc biệt cần thiết. 

Ngược lại, chủ nghĩa cá nhân là sự đối lập, là kẻ thù của những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chính là “giặc nội xâm”, nó có thể phá sập mọi thành quả cách mạng. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Trung ương khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân”. Hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân là vô cùng nguy hại, bởi đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự suy thoái, biến chất, làm giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong Đảng. Đó là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của quân đội.

Trước những yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới, một trong những điểm nhấn tại Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2020-2025 đó là nội dung xây dựng “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới đã được đưa vào văn kiện đại hội, đây là giải pháp nền tảng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vì vậy mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quân đội luôn giữ vững phẩm chất người quân nhân cách mạng, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, những hành vi tham nhũng, tiêu cực làm trong sạch nội bộ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy.

Song song với gìn giữ và phát huy phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, nghiên cứu Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng, thấy được vai trò quan trọng của việc kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ngày càng tinh vi và nguy hiểm. Đó là sự mưu cầu cho lợi ích của mình mà quên đi tập thể; sống ích kỷ, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình; là sự háo danh, tự cao, tự đại, tham vọng quyền lực; là chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích; là sự thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tranh công, đổ lỗi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để trục lợi; cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân; phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng...

Trên thực tế, còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, làm việc cầm chừng, xa rời thực tiễn. Trong số đó, có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ".

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đã tiến hành xử lý và đề nghị Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Tại các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, những vi phạm của các tổ chức đảng, các tập thể, cá nhân đều được nghiêm túc nhìn nhận, phân tích làm rõ và kết luận những vi phạm bảo đảm chặt chẽ, đúng nguyên tắc.

Phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân phải trở phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và tỏa sáng trong đời sống xã hội. Đây cũng là cơ sở vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 


Quân đội Nhân dân Việt Nam có chức năng: đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất là thực tế khách quan; vậy mà thời gian gần đây, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục diễn biến phức tạp; chúng triệt để lợi dụng các Bộ đội giúp đỡ Nhân dân chống dịch Covid – 19 để xuyên tạc, công kích với đủ các luận điệu ấu trĩ, kém văn hóa.

Về “đội quân chiến đấu” đã được bàn nhiều, có lẽ không cần nói thêm. Trong việc thực hiện chức năng đội quân công tác, quân đội ta luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của Đảng và Nhà nước với nhân dân. Sống trong lòng dân, bộ đội ta luôn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đoàn kết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, khám chữa bệnh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những ngày qua, hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm kề vai sát cánh với Nhân dân chống Dịch Covid - 19 củng cố mối quan hệ máu-thịt với nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, thêm một lần nữa in đậm trong trái tim đồng bào cả nước. Các anh luôn là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của người dân trong những lúc nguy nan nhất, quân đội luôn làm điểm tựa vững chắc trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

Tiếp  tục phát huy vai trò Quân đội trong phòng chống dịch bệnh, ứng phó sự cố thiên tai, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

 

 

PHÒNG CHỐNG THỦ ĐOẠN K ÍCH ĐỘNG KÊU GỌI BIỂU TÌNH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Mạng xã hội đã trở nên phổ biến, gần như đã trở thành một xã hội tồn tại song song với xã hội thực tại, chính vì vậy mà các thế lực phản động đã lợi dụng mạng xã hội để kêu gọi biểu tình, lập những hội nhóm bất mãn, lôi kéo người nhẹ dạ cả tin để gây rối trên môi trường không gian mạng.

Mỗi lần có sự kiện trọng đại của đất nước hay trước những khó khăn, thách thức, các sự kiện nhạy cảm, các thế lực thù địch luôn coi đó là cơ hội để chống phá Nhà nước. Qua theo dõi mạng xã hội chúng ta dễ dàng nhận thấy có một số thủ đoạn, phương thức mà các thế lực phản động, chống đối sử dụng.

Đây là phương thức rất mới, là thủ đoạn rất nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường, có thể tập hợp lực lượng đông đảo, đặc biệt là giới trẻ; trước tiên tạo thành một tổ chức để từng bước truyền bá kích động, lôi kéo, làm cơ sở để thực hiện mục đích chống Đảng, Nhà nước.

Trong bối cảnh hiện nay trong nước và trên thế giới chưa có những chế tài cụ thể, để thực hiện biện pháp mạnh đủ sức răn đe. Đồng thời môi trường không gian mạng thường sử dụng các tài khoản ảo, và xuất phát từ nhiều nhiều nước trên thế giới, nên vấn đề đấu tranh sẽ gặp nhiều khó khăn.

Trước tiên đòi hỏi lực lượng đấu mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng cần phải sớm phát hiện và kịp thời tuyên truyền, đi đôi với tăng cường giáo dục nhận thức cho thanh thiếu niên, để người dùng mạng xã hội ở Việt Nam có đủ sức đề kháng miễn nhiễm với các thông tin xấu độc.

Bottom of Form

 

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ CHO HỌC SINH, SINH VIÊN

 


Xuất phát từ vai trò của tầng lớp sinh viên, học sinh. Tuổi trẻ là mầm non và

tương lai của đất nước, là trụ cột quốc gia trong tương lại. trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại, lớp trẻ thường xuyên được tiếp xúc với môi trường mạng, đủ các loại văn hóa phẩm độc hại từ bên ngoài tràn vào. Nếu không có sự quản lý chặt chẽ, định hướng của gia đình, nhà trường thì thanh niên, thiếu niên dễ mất phương hướng và dễ dàng bắt chước qua sách báo, phim ảnh và trên mạng in-tơ-nét.

 Xuất phát từ thủ đoạn của các thế lực phản động

Các thế lực phản động  đang ra sức đầu độc người Việt Nam bằng “văn hoá” xấu độc. thông qua nhiều phương thức, thủ đoạn. đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chúng thường lợi dụng không gian mạng, nhất là trên internet và mạng xã hội như: sử dụng các trang web, blog, các tài khoản mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo, các diễn đàn, báo điện tử, đài phát thanh để, cổ xúy các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai, cùng những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi người  với mục tiêu không thay đổi chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Xuất phát từ tính chất lâu dài của sự nghiệp xây dựng và đấu tranh

Trước thực tế không thể coi nhẹ, xem thường đó, vấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi dưỡng, vun đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho các cấp, các ngành và toàn xã hội. Sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta. Lịch sử đã minh chứng rằng, sức đề kháng văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu sức đề kháng văn hóa non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các “vi rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mòn tâm hồn, cốt cách văn hóa dân tộc. Ngược lại, nếu sức đề kháng văn hóa mạnh mẽ, cường tráng sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các tạp chất gây hại cho môi trường văn hóa dân tộc.

Giải pháp

xây dựng chương trình hành động gia đình cần quan tâm, gần gũi, giáo dục con cái giữ vững nền nếp gia phong, phát huy đạo lý và truyền thống đạo đức của dân tộc. Chính quyền các cấp, các ngành, đoàn thể, nhất là nhà trường cần quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho xã hội, đẩy mạnh việc Học tâp và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, cần tiến hành một cách quyết liệt ngăn chặn, xóa bỏ  mọi sản phẩm phản văn hóa, xấu, độc, đồng thời trang bị cho lớp trẻ bản lĩnh sống đẹp, làm việc có ích cho bản thân, gia đình, cộng đồng nhằm loại trừ   ảnh hưởng ngay từ đầu của mọi loại tệ nạn xã hội.

Kết hợp thường xuyên đấu tranh vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị là một việc làm thường xuyên, quan trọng. Là phải phê phán quan điểm sai trái, luận điệu phản khoa học, nâng cao sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta.

Đại tướng Phan Văn Giang tiếp xã giao Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Lào

 


 

Sáng 2-6, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp xã giao Trung tướng Khamlieng Outhakaysone, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Lào đang ở thăm chính thức Việt Nam. Cùng dự có Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng, nhân văn

 

 

Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), đã được ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân trang trọng kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI SÁNG SUỐT ĐỀ RA ĐƯỜNG LỐI ĐÚNG ĐẮN CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Trước việc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”.

CHUYỆN CHO NGHÌN NĂM SAU

 Vào đầu năm 1963, Hồ Chủ tịch tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Tổng Bí thư Đảng cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản.

LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ CHỌN CÁN BỘ CÓ TÂM, CÓ TẦM


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác cán bộ. Người khẳng định: 'Cán bộ là cái gốc của mọi công việc'; 'Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém'. Bác không chỉ đề cập một cách rõ ràng, giản dị, dễ hiểu về vị trí, vai trò của cán bộ, cũng như công tác cán bộ, mà còn lãnh đạo Trung ương Đảng thực hành lý luận trong thực tiễn. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ chính là nền tảng, là kim chỉ nam để Đảng ta kế thừa, vận dụng linh hoạt, đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn cách mạng...
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có thể chia thành các nội dung quan trọng: Đánh giá cán bộ; huấn luyện cán bộ; sử dụng cán bộ; chính sách cán bộ; chống các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. Người cho rằng: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”.
Không chỉ so sánh giàu hình ảnh về vị trí, vai trò của cán bộ, cũng như công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến tầm quan trọng của việc đào tạo đội ngũ cán bộ, để dây chuyền, cũng như bộ máy có thể vận hành trơn tru, hiệu quả. Người đúc kết: “Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc rất phát triển. Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm…”.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng 6 nội dung quan trọng. Về vấn đề cán bộ, Người viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Người chỉ rõ những biện pháp tiến hành công tác huấn luyện cán bộ, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ, chính sách cán bộ. Người đặc biệt chú ý chống các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, nổi bật là 4 vấn đề phải tránh. Đó là: Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bạn bè; ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mà ghét những người chính trực; ham dùng những người tính tình hợp với mình và không dùng những người không hợp với mình, bất kể người đó có năng lực ra sao; hiện tượng cục bộ địa phương…
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là những chỉ dẫn hết sức cụ thể, dễ hiểu, dễ hình dung và có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Tư tưởng ấy được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn cách mạng vô cùng phong phú của Người và chính Người thường xuyên gương mẫu thực hành. Tin yêu, độ lượng, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nghiêm khắc với cán bộ vi phạm kỷ luật. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ, đảng viên”.
Khi cán bộ vi phạm kỷ luật, tha hóa biến chất, cho dù ở vị trí công tác nào, Người cũng kiên quyết xử lý. Tiêu biểu là năm 1950, Người chỉ đạo xử lý nguyên Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và 2 đồng phạm vì tội: “Biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến”. Nghiêm khắc khước từ đơn xin tha tội chết của tử tù Trần Dụ Châu, Người nói: “... nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo xử lý nghiêm minh một cán bộ cao cấp tha hóa, biến chất - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng. Khi được Tòa án nhân dân Tối cao xin ý kiến về vụ án liên quan đến nhân vật này, sau khi cân nhắc, Bác Hồ đã đi đến quyết định, đồng thời nêu quan điểm: "Thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt".
Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là sự kết tinh của nghệ thuật dùng người của cha ông truyền lại, đồng thời được phát triển cho phù hợp với điều kiện cách mạng trong tình hình mới. Chính nhờ đó, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ðảng ta đã quy tụ được nhiều hiền tài đoàn kết một lòng, một dạ vì lý tưởng cách mạng, không quản ngại hy sinh. Thành quả và minh chứng sống động, thuyết phục nhất cho tính thực tiễn và tính cách mạng của tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ chính là thành công của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Đại thắng mùa xuân năm 1975 và những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước.
Không chỉ thấm nhuần tư tưởng về công tác cán bộ của Người, Đảng ta còn không ngừng phát triển nhận thức lý luận, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả vào thực tiễn phù hợp với tình hình cụ thể ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau…
Với quyết tâm chính trị, cùng kinh nghiệm kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào thực tiễn, chắc chắn Trung ương và các cấp ủy Đảng sẽ có quyết sách phù hợp để tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, làm nòng cốt xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nguồn: Hà nội mới

HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG


 Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng, kết tinh của tinh hoa văn hóa Việt Nam. Người không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc về văn hóa, sáng tạo ra một nền văn hóa mới, văn hóa cách mạng Việt Nam, kiến tạo ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nền văn hóa dân tộc, mà chính

TUẦN LÀM VIỆC THỨ 2 CỦA KỲ HỌC THỨ 3 CỦA QUỐC HỘI

 

Tuần làm việc thứ 2 của Kỳ họp thứ 3 (từ 30/5-3/6), Quốc hội thảo luận nhiều vấn đề quan trọng; trong đó dành cả ngày đầu thảo luận việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác quy hoạch.

Trong tuần làm việc thứ 2 của Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV (từ 30/5-3/6), Quốc hội thảo luận nhiều vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự.

Quốc hội dành cả ngày đầu tiên của tuần làm việc để thảo luận tại hội trường về việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác quy hoạch kể từ khi Luật Quy hoạch có hiệu lực thi hành.

Ngày 1/6, Quốc hội thảo luận cả ngày tại hội trường về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2021; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2022; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và việc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017. Nội dung này sẽ tiếp tục được thảo luận trong sáng ngày 2/6.

Trong phiên họp chiều cùng ngày, các đại biểu thảo luận về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2020; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2021. Các nội dung này được phát thanh và truyền hình trực tiếp để cử tri và nhân dân quan tâm theo dõi.

Trong tuần, các đại biểu sẽ nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra Chủ trương đầu tư các dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Châu Đốc-Cần Thơ-Sóc Trăng (giai đoạn 1); Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột (giai đoạn 1); Biên Hòa-Vũng Tàu (giai đoạn 1); Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về Chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 4 vùng thủ đô Hà Nội và Dự án đường Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh và thảo luận tại tổ về các nội dung này.

Quốc hội sẽ nghe trình các dự án: Luật Dầu khí; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện và thảo luận tại hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; thảo luận tại tổ về dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) và dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Quốc hội nghe trình dự thảo Nghị quyết về thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam và thảo luận nội dung này tại hội trường.

 

Tiến hành tác thi đua, khen thưởng theo tư tưởng Bác Hồ

 “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.