Trước việc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”.
Cùng với Trung ương Đảng, Bác đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền
cách mạng.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến
thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954.
Chiến thắng này không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam,
mà còn cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành độc lập, đánh đổ chế độ thực
dân, đế quốc.
Trong 15 năm lãnh đạo sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (từ năm 1954 đến tháng 9/1969), Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng
Việt Nam, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng là đưa miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến
tới thống nhất nước nhà.
Ngay cả khi chuẩn bị đi vào cõi vĩnh hằng, Người vẫn khẳng
định: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy
sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn."
Với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ,” “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; thực
hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - trên cơ sở đường lối đúng
đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại, quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc
Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối, hoàn thành sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đưa cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét