Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”

 

Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.
Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc
Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.
Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.
Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.
Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).
Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.
Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.
Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.
Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.
Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.
Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).
Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.
Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.
QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Đại tá, PGS, TS LƯU NGỌC KHẢI (Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Học viện Chính trị)
………………………………
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.108.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.160.
(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 14, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.435.
(4) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 11, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.365.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.65.

ANGOLA ĐẶT TÊN ĐẠI LỘ HỒ CHÍ MINH TẠI THỦ ĐÔ LUANDA


Tại thủ đô Luanda của Angola, đại lộ to nhất, đẹp nhất có tên “Avenida Ho Chi Minh” (có nghĩa là đại lộ Hồ Chí Minh). Con đường này nối liền với đường Cách mạng tháng 10, hướng ra sân bay Luanda.Năm 1975, Việt Nam là quốc gia thứ 2 trên thế giới công nhận nền độc lập của Angola.
Và Việt Nam là nước truyền cảm hứng cho các nước bị áp bức để đứng lên đấu tranh giành lại độc lập trên toàn thế giới. 


BÀN GIAO ĐỐI TƯỢNG BỊ YÊU CẦU DẪN ĐỘ CHO BỘ NỘI VỤ LIÊN BANG NGA

Thực hiện quy định Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga năm 1998, ngày 03/6/2022, ại Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp thuộc Bộ Công an Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức bàn giao đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov bị yêu cầu dẫn độ cho Bộ Nội vụ Liên bang Nga theo Quyết định giải quyết yêu cầu dẫn độ để đảm bảo công tác thi hành án số 01/2020/DĐHS-DĐ ngày 02/3/2020 và Quyết định thi hành Quyết định dẫn độ số 01/2020/QĐ-CA ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov (tên gọi khác: Serebryakov Dmitrii, sinh ngày 05/03/1982, quốc tịch: Nga) bị cơ quan có thẩm quyền của Liên bang Nga ra lệnh truy nã quốc tế để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối hoặc lợi dụng tín nhiệm, được thực hiện bởi nhóm tội phạm có thỏa thuận trước (khoản 2 Điều 159 Bộ luật hình sự Liên bang Nga)…
Trước đó, đối tượng đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử và kết án 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/10/2019, được đưa đến Cơ sở lưu trú số 2 thuộc Trại giam Long Hòa.
Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã ra quyết định thi hành dẫn độ đối với đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov từ năm 2020, tuy nhiên, do tình hình COVID-19 nên việc bàn giao đối tượng đến nay mới thực hiện được.
Phát biểu tại buổi bàn giao, đại diện Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an - đơn vị đầu mối của Bộ Công an về công tác dẫn độ cho rằng việc dẫn độ thành công là một minh chứng cho sự quyết tâm của Việt Nam và Liên bang Nga trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Liên bang Nga nói riêng và quan hệ giữa hai quốc gia nói chung. Đồng thời, bày tỏ hy vọng trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền của hai nước sẽ tiếp tục duy trì và phát triển hơn nữa trong việc giải quyết các yêu cầu dẫn độ.
Kết thúc Buổi bàn giao, đại diện hai Bên đã ký Biên bản bàn giao đối tượng và Đoàn công tác Liên bang Nga đã áp giải đối tượng về Liên bang Nga bằng đường hàng không. 
- Cổng thông tin Chính phủ-


KHAI TRỪ RA KHỎI ĐẢNG ĐỒNG CHÍ CHU NGỌC ANH VÀ ĐỒNG CHÍ NGUYỄN THANH LONG!

         Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã họp bất thường để xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Chu Ngọc Anh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và đồng chí Nguyễn Thanh Long, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế.
Sau khi xem xét đề nghị của Bộ Chính trị, căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm; theo quy định của Đảng về kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thi hành Khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí Chu Ngọc Anh và đồng chí Nguyễn Thanh Long.
Yêu cầu các cơ quan chức năng khẩn trương xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính theo đúng quy định đối với cá nhân đã bị kỷ luật đảng./.
Môi trường ST.

BẦM ƠI!


Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...
Bầm ơi có rét không bầm!
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!
Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
Con ra tiền tuyến xa xôi
Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.
Nhớ thương con bầm yên tâm nhé
Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.
Con đi xa cũng như gần
Anh em đồng chí quây quần là con.
Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí
Bầm quý con, bầm quý anh em.
Bầm ơi, liền khúc ruột mềm
Có con có mẹ, còn thêm đồng bào
Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!
Bao bà cụ từ tâm như mẹ
Yêu quý con như đẻ con ra.
Cho con nào áo nào quà
Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.
Con đi, con lớn lên rồi
Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!
Nhớ con, bầm nhé đừng buồn
Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.
Mẹ già tóc bạc hoa râm
Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con...
(1948)

TỐ HỮU 

VUA GIA LONG- NGUYỄN ÁNH, ĐỂ VUA YÊN NGHỈ HAY BỚI LÊN TRUY TỘI?

      Quả thật tôi không Đọc nhiều về thời, giai đoạn Nguyễn Ánh làm Vua vì lúc còn học đã nghe rằng Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà rồi. Tuy nhiên tôi đọc nhiều về "thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ", do đó từ góc nhìn lý luận quân sự tôi thấy:
1, Công lớn của Nguyễn Ánh là nguyên nhân ghi danh vào sử sách trận "Rạch Gầm - Xoài Mút", đặc biệt, khiến cho "người Xiêm mà nghe đến Tây Sơn (người Việt) là sợ như sợ cọp" (Hoàng lê thống nhất chí".

2, Việc dành ngôi Vua thì giết cả cha mình người ta cũng làm, cho nên việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm, quân Pháp cũng không có gì là lạ, tuy nhiên, phải khẳng định đó là hành động "cõng rắn cắn gà nhà" như đã truyền tụng trong dân gian là đúng hoàn toàn, cấm cãi.
3, Có cái lão "sử học" nào đó muốn đề nghị cả nước vinh danh Nguyễn Ánh (dòng họ của nhà "sử học"). OK! Vậy thì lão hãy giải quyết các mâu thuẫn sau đây:
*** Phủ nhận trận Rạch Gầm-Xoài Mút là một chiến công hiển hách chống quân xâm lược của dân tộc Việt Nam (cả trăm họ chiến đấu ngoại trừ gia tộc họ Nguyễn Ánh)...

*** Công nhận Pháp lã "Mẫu quốc" là quốc gia đi "khai phá văn minh cho dân tộc Việt gần một thế kỷ" (đến 1975, dân tộc Việt đổ không biết bao xương máu mới đuổi được 2 nên "văn minh" ấy đi). Bở vì sau khi Pháp "mượn đường để xâm lược nhà Thanh" thì thấy con gái tộc Nguyễn Ánh đẹp quá nên ngủ lại gần 100 năm...tất cả đều liên can đến dòng tộc Nguyễn Ánh cả.

*** Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ là kẻ thù không đội trời chung, trong khi đó, Nguyễn Huệ, toàn bộ dân tộc Việt, từ cổ chí kim đều coi là người anh hùng dân tộc, áo vải cờ đào chống quân xâm lược; là niềm từ hào của giới quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, là vị tướng bách chiến bách thắng trong lịch sử quân sự NHÂN LOẠI.

Nguyễn Huệ và Nguyên Ánh như 2 thái cực, nếu phủ nhận người này là công nhận người kia. Vây ông (nhà sử học kia) định dìm cái người mà cả trăm họ (dân tộc Việt) tôn sùng, ghi nhớ để đưa tộc của ông làm Vua lại ư?

Nói thì nói vậy thôi chứ không ai đào mồ tiên tổ để trách cứ, vì đó là lịch sử. Không có Nguyễn Ánh thì không có Rạch Gầm-Xoài Mút; có Nguyễn Huệ, hay Nguyên Huệ sống thọ hơn thì không bao giờ Pháp đặt chân nổi lên Đà Nẵng 1858 và cũng không xuất hiện Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh. 

Người ta nói: "Nếu bắn vào lịch sử một viên đạn thì lịch sử sẽ đáp trả lại một phát đại bác" lại rất đúng với con cháu dòng họ nhà Nguyễn Ánh. Đừng thấy đám lật sử nổi lên như nấm vừa qua mà tưởng dễ rồi a dua lật lại sử, gia phả dòng họ. Hãy để các bậc tiên tổ yên nghỉ và lên thiên đường hay địa ngục theo công tội của mình. Trăm họ dân Việt thờ ai, suy tôn ai không phải là chuyện chơi, không phải là từ những kẻ dở hơi đề nghị, quảng bá....
Yêu nước ST.

NÓI VỀ NGUYỄN ÁNH!

     Nguyễn Ánh là một kẻ "cơ hội chính trị" nói cho ra vẻ một chút con người vô đạo quân tướng, hèn hạ của Ánh vậy. Nguyễn Ánh là đại diện cho cái tàn lực thoi thóp, còn ngo ngoe, cựa quậy cuối cùng của tập đoàn phản động phong kiến Đàng Trong.

Thế nhưng nhờ vận dụng tối đa những chính sách quỳ gối cầu viện khắp lân bang và đến tận trời Tây. Ánh "chẳng quản nhọc nhằn" khom lưng, quỳ gối cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ. 

Ánh thắng triều đại Tây Sơn trước hết là lợi dụng sự kiện vua Quang Trung qua đời sớm và đột ngột; Quang Trung chúng ta đã được biết là lãnh tụ thiên tài về quân sự, chính trị của phong trào khởi nghĩa nông dân, người anh hùng dân tộc, Tây sơn áo vải, cờ đào.

Thứ hai là Ánh nhờ hoàn toàn vào nguồn lực dồi dào của người Pháp, một lực lượng lớn cố vấn huấn luyện, một lượng binh lính Pháp tinh nhuệ, lương thuyền, đường dây cung cấp mua sắm các vũ trang hiện đại bấy giờ, tàu to súng lớn.v.v

Ánh chạy trốn chui trốn nhủi như kỳ nhông, kỳ đà, từ đất liền ra biển.v.v Đến khi cùng đường thì cầu viện quân Xiêm để mong còn chỗ trụ xứ, dung thân. Cũng như khi nghe tin nhà Thanh đem 25 vạn quân Thanh sang đánh nước ta, nhờ vào sự trù phú, dồi dào lương thực ở phía nam, con cù chết gió chờ cơ hội ở đất Gia Định đã lập tức cho người chở mấy mươi vạn hộc lương thạnh ra Thăng Long ủng hộ quân Thanh.v.v 

Ánh nhờ giám mục Bá Đa Lộc - Pigneau de Behaine "làm công tác ngoại giao" đưa hoàng tử Cảnh sang Pháp để làm con tin, xin vua Luis XV hỗ trợ ngay bước đầu với nhiều nghìn quân, nhiều tàu thuyền, đại bác, đặc biệt là nhiều cố vấn huấn luyện với binh lính tinh nhuệ, trang bị tận răng bấy giờ.v.v 
Sự hỗ trợ của người Pháp dựa trên những đánh giá đảm bảo cho sự đạt đến chiến thắng trước nhà Tây sơn chứ không phải giới hạn dừng theo các điều kiện.

Đổi lại sự viện trợ là Ánh chấp nhận mọi điều kiện của Tông tòa Ki tô và những chính sách thông thương tự do buôn bán ở lãnh thổ Đàng Trong, người Pháp được tự do buôn bán thông qua người của các giáo xứ Đàng Trong cũng như được tham chính vào việc kinh tế.v.v Hành động bán nước, tự nguyện làm tay sai, chư hầu tuân phục người Pháp của Nguyễn Ánh có thể cho ta thấy được "tính chất phát triển" về lâu về dài của sự xâm lược Pháp, tất cả được hiển minh rõ, thông qua hòa ước Versailles đã được ký kết với vua Luis Pháp.

Nhắc lại Ánh chỉ là biểu thị của sự tàn lực, "tinh khô huyết kiệt" của quyền lợi một hệ thống giai tầng vua quan, quý tộc phản động còn đang cố gắng gượng thoi thóp những thời khắc cuối. Hệ thống bóc lột ấy đã bị phong trào khởi nghĩa Tây sơn với sức mạnh chính nghĩa, tinh thần đấu tranh quả cảm của người nông dân đánh cho tan tành, đổ quỵ không còn chỗ đứng mà Ánh là kẻ đang cố lăn lê, gượng dậy củng cố cái uy quyền, thế lực cát cứ của một tập đoàn phản động, ngụy quyền phong kiến, củng cố lại những sự tàn bạo, hà khắc thống trị, chuyên cầu viện từ bên ngoài của bao đời chúa Nguyễn Đàng Trong.
Ngẫm xem về vị trí con cháu dòng tộc họ Nguyễn, vai trò lãnh đạo cả nước, tài lược nhân tâm hiệu triệu và được toàn dân ủng hộ của Ánh có hay không. Ánh chẳng có danh chính gì đáng nói và tạm gọi là để "xứng tầm" lên làm vua toàn cõi Đại Việt. Ánh thành lập nên Ngụy Triều dựa vào "hơi nồng" của các tập đoàn thương cảng, giặc trời truyền đạo của phương Tây như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha...

Sự trả thù của Ánh đối với nhà Tây Sơn thì không thể nói hết được sự dã man và hèn hạ của một đấng dòng nòi, phản quốc thượng thặng. Lịch sử trên thế giới không có sự trả thù nào mà "cạn tàu ráo máng" về tính chất và mức độ của sự dã man hết cách, độc ác vô song, hèn hạ đến như vậy. Những việc làm mà Ánh đoạn tuyệt tình người, thi hành sự dã man và độc ác với người thân và những kẻ khăn gói trung thần từ thuở còn bôn ba, tìm mưu sự lớn thì phải nói Ánh rất "vô cảm" không có đức tính loài người, không có nhân bản trong con người. 

Ánh cho người Pháp và phương Tây tự do truyền giáo về đạo, xâm thực về văn hóa đội lốt ki tô.v.v, tha hồ lũng đoạn kinh tế thương mại.

Đến đời con Ánh là Minh Mạng vì sợ giảm uy quyền của sự chuyên chế, độc tài phong kiến.
Nên quý tử Minh Mạng mới bày ra cái "bế quan tỏa cảng" để nhằm giảm sự ảnh hưởng của người phương Tây nhưng thực chất Ngụy triều đã bán đứng nước ta cho Pháp từ khi Ánh chạy tháo thân, mất dép, "tha phương cầu thực", phải tạm trốn nơi biển đảo cực nam...

Đối với người Pháp thì Ngụy triều lúc này, bởi nói mà chẳng nghe, bất tuân thượng lệnh, vâng mệnh ý chúa mà các giám mục, y thầy mắt xanh, mũi lõ đã "mặc khải" hướng dẫn nói ra. Nên chẳng bao lâu sau, Ngụy Triều phải uống rượu phạt, ăn đòn. Tháng 8/ 1958, các tay súng của Liên quân người Pháp và Tây Ban Nha đã tấn công biển Đà Nẵng, chỉ vài tuần sau, đã nhanh chóng tiến chiếm Sài gòn và đưa ra tuyên bố Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp.v.v 

Thế rồi thời gian ngắn ngủi, Ngụy Triều bạc nhược, cũng đành phơi bày bản chất tay sai, ăn trên ngồi trốc quen khai thác bóc lột, hưởng thụ trên xương máu cực nhục của nhân dân... Trung Kỳ và Bắc Kỳ đều chấp nhận sự "bảo hộ, khai xứ" cai trị của người Pháp.

Như vậy nói về bản chất tay sai, phản động của Nguyễn Ánh cũng chính là bản chất của cả một triều đại. Ở đây là Ngụy Triều phong kiến nhà Nguyễn, đã hình thành trong bối cảnh giao thời, chịu nhiều ảnh hưởng của sự mở rộng truyền bá về Thiên chúa giáo của phương Tây La Mã.v.v giai đoạn chuyển tiếp bước sang thời kỳ hiện đại với nhiều sự phức tạp, mở rộng sự lũng đoạn, thao túng về quyền lực (thực hiện các giai đoạn xâm lược) của các thế lực tư sản mại bản từ giới quý tộc, chủ nghĩa tài phiệt đang hình thành của thế giới, cả phương Đông và phương Tây.v.v mà Nguyễn Ánh là kẻ "cơ hội chính trị" biết thức thời, đầu cơ tội ác, trong cái nghiệp vụ tay sai, nham hiểm của hành vi bán nước.

 Nói về Ánh chẳng có một chút gì để gọi là bậc tiền nhân lập quốc, khai triều, có công của đất nước mà Ánh chỉ là một tặc đồ, "gian đạo lộng hành" đã gây bao tổn hại, tạo ra cả một giai đoạn lịch sử bán nước đen tối, chấp nhận làm nô lệ, chư hầu ngoại bang, kìm hãm sự phát triển đối với sự chuyển biến đi lên của lịch sử dân tộc. Ánh chỉ xếp ngang hàng cùng hạng thảo khấu võ biền, gian tặc lắm nét xấu xí về nhân bản, được thời nhờ giặc nâng đỡ, lên "làm sang" tô họa vương quyền vậy thôi.

Cái bọn, đám nào đòi đem Ánh ra đặt tên đường, vinh danh cho Ánh cũng như tự trét cư**t vào mặt không biết thối mà còn cứ tưởng mình đẹp lắm và có dáng "phong cách" đạo học, sử gia lắm nhỉ ? Có chăng thì cũng hạng hội nhóm tri thức ấu độn gắn viết./.
Yêu nước ST.

MỸ! HỌC SINH CẤP 3 ĐƯỢC DẠY THẾ NÀO VỀ "CHIẾN TRANH VIỆT NAM"?

         "Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Hồ Chí Minh - một người cộng sản đã đứng lên lãnh đạo người dân chống lại sự xâm lăng của người Nhật. Hồ Chí Minh là một lãnh đạo đi đầu trong chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam và có được sự ủng hộ mạnh mẽ của người lao động Việt thời bấy giờ. Với chiến thuật du kích, Việt Nam đã thành công đẩy lùi những cố gắng của Pháp trong việc thuộc địa hóa Đông Dương một lần nữa. Pháp đã phải rời khỏi năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ với sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp.

Tuy nhiên, sự đối đầu căng thẳng giữa Liên Xô và Mỹ trong chiến tranh Lạnh lại ngăn cản độc lập của nước Việt. Học thuyết Truman và Chính sách Ngăn chặn đã khiến Mỹ nhập cuộc để có cái cớ gọi là “ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản” một cách hết sức vô lý. Các nước Đông Dương non trẻ, do hoàn cảnh, đã rơi vào cuộc chiến tranh Lạnh.

Sau khi Việt Nam giành chiến thắng trước Pháp vào năm 1954, các nước phương Tây và Liên Xô đã chấp thuận về một ranh giới tạm thời giữa Việt Nam, từ đó dẫn đến một cuộc tổng tuyển cử tự do vào năm 1956. 

Eisenhower đã thành lập chính phủ "BÙ NHÌN” tại miền Nam, được đứng đầu bởi Ngô Đình Diệm. Với sự tin tưởng vào học thuyết domino, các nước phương Tây, Mỹ và chính phủ Diệm đã lo sợ nếu Bắc Việt Nam chiến thắng cuộc tổng tuyển cử dẫn đến việc khu vực Đông Nam Á sẽ trở thành đồng minh Liên Xô. Chính phủ Mỹ nhận ra Hồ Chí Minh sẽ thành công, vì vậy, cuộc tổng tuyển cử đã bị ngăn chặn.

Hồ Chí Minh muốn thống nhất Việt Nam, nên ông đã hỗ trợ những người cộng sản tại miền Nam - hay được gọi là Việt Cộng. Việt Cộng là những du kích chống lại chính phủ “dân chủ” bù nhìn tại miền Nam.

Để củng cố cho chính phủ Diệm, Mỹ đã viện trợ rất nhiều cố vấn quân sự và hàng hóa. Cuộc tranh đấu ngày càng căng thẳng dẫn tới sự can thiệp gia tăng của quân đội Mỹ tại Việt Nam và thậm chí vào năm 1964, đã có nhiều cuộc ném bom vào các thành phố miền Bắc và phá hoại rừng của Việt Nam.

Tuy vậy, sức mạnh khổng lồ của Mỹ vẫn không thể cản lại Hồ Chí Minh và lực lượng của mình. Trong năm 1960, đã có gần 500.000 lính Mỹ được gửi tới Việt Nam. Hồ Chí Minh nhận viện trợ từ Liên Xô, nhưng không có một quân đoàn Liên Xô nào được gửi tới Việt Nam. Sức mạnh chính của Hồ Chí Minh vẫn chính là người dân Việt Nam với mong muốn hòa bình. "Các ông có thể giết 10 người của tôi và có thể hơn nữa... nhưng các ông vẫn sẽ thua và chúng tôi sẽ thắng". Dù Mỹ có cố gắng như thế nào ở Việt Nam, quân đoàn của Hồ Chí Minh vẫn vững vàng và không bị đánh bại.

Vào năm 1968, Robert McNamara đã nói về "ánh sáng ở cuối con hầm", hay chiến thắng tại Việt Nam đã tới gần. Tuy nhiên chiến dịch Tết đã chứng minh câu nói này sai khi hơn 100 thành phố đã bị Bắc Việt Nam tấn công, bao gồm Sài Gòn, thậm chí cả đài phát thanh và trụ sở CIA cũng đã bị chiếm đóng. Đã có một bằng chứng cho rằng tướng Westmoreland phải tự phòng thủ bằng một khẩu súng lục. Người Mỹ đã nghĩ rằng quân đội Mỹ kiểm soát được các đô thị, nhưng họ đã thấy rõ rằng người Việt Nam có thể tổ chức một cuộc tấn công quy mô ngay tại thành phố. Chiến dịch Tết 1968 đã khiến phe phái của Johnson chao đảo và chính phủ Mỹ nhận ra cuộc chiến này là không-thể-thắng.

Đầu những năm 1970, thương vong lớn của Mỹ đã thay đổi quan điểm của người dân về cuộc chiến này. Tổng thống Nixon đã đồng ý ngừng chiến và ký một hiệp định hòa bình vào năm 1973. Đến năm 1975, thủ đô Nam Việt Nam là Sài Gòn đã sụp đổ và được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh."

- Bảo tàng lịch sử Việt Nam -

P/s: Và trong thời gian qua chúng ta thấy rất rõ rằng một số vị trong viện sử học của ta đã sao chép rồi cố tình bao biện bảo vệ cho quan điểm sai trái đó một cách hệ thống và bài bản. Họ đang cố tình bao biện bảo vệ quan điểm cho rằng chế độ tay sai ngụy quyền là hợp pháp chính danh không phải ngụy, cố tình ngụy biện đánh lận cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mỹ xâm lược của quân và dân ta chỉ là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, là cuộc tranh chiến ý thức hệ và cho rằng chiến tranh Việt Nam chỉ là nội chiến mà thôi. Quan điểm sai trái của chúng không những không được lên án vạch trần mà trái lại còn được một bộ phận truyền thông tích cực ủng hộ, vô tư chọn và đưa họ lên sóng truyền thông như một tấm gương sáng để rao giảng đạo đức cách mạng cho thế hệ sau như thật mới lạ và ngược đời!
Yêu nước ST.

TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT ĐỒNG BÀO TÔN GIÁO VÀ KHÔNG TÔN GIÁO

          Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt và nhất quán trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo.

Đây là chủ trương mang nhiều ý nghĩa nhằm không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc tăng cường đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau phải được quan tâm thường xuyên và phải dựa trên những yêu cầu, nguyên tắc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

         Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau phải trên cơ sở lợi ích của quốc gia, dân tộc và vì mục tiêu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử khẳng định, chính sự đoàn kết ấy tạo nên sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù, xóa bỏ mọi áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta xác định khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và sự đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nói riêng là động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo và cả hệ thống chính trị đều phải có trách nhiệm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau, tin cậy ở nhau để chung sức, chung lòng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương nhất là vùng đồng bào tôn giáo, theo chức năng nhiệm vụ của mình phải ra sức củng cố, tăng cường mối đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

Đi đôi với thực hiện đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau chúng ta phải kiên quyết đấu tranh vạch trần và làm thất bại mọi hành động lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” gây chia rẽ mất đoàn kết, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân nói chung và đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo nói riêng. Trong mọi trường hợp, chúng ta cần phân biệt rõ ràng đâu là vấn đề thuộc về tín ngưỡng, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chia rẽ, chống phá để có thái độ và hành động đúng đắn.

Thực tế đã chứng minh, những thành tựu mà đất nước ta đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong thời gian qua là hết sức to lớn, không những chỉ dư luận trong nước mà bạn bè quốc tế cũng thừa nhận. Những thành quả ấy được tạo bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, cũng như đồng bào theo các tôn giáo khác nhau luôn gắn bó trên nền tảng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, trên thực tế còn có nơi này, nơi kia, người này, người khác chưa hiểu rõ và thực hiện chưa tốt chính sách tôn giáo, trước hết là chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết người có tôn giáo với nhau, đoàn kết người khác tôn giáo với nhau, đoàn kết người có tôn giáo với người không tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Không ít người, trong đó có cả chức sắc tôn giáo chưa gương mẫu trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Một số đối tượng đã lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động âm mưu lợi dụng tôn giáo để kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ đồng bào tôn giáo với đồng bào không tôn giáo và giữa đồng bào các tôn giáo với nhau nhằm chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo theo quan điểm, chủ trương mà Đảng ta đã xác định, chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Nhưng vấn đề đặc biệt quan trọng, có tính chiến lược lâu dài là phải thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân ta nói chung, các tín đồ, chức sắc tôn giáo nói riêng hiểu rõ và thực hiện đúng quan điểm, tư tưởng, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước hiện nay.

Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho mọi người dân, các chức sắc và tín đồ tôn giáo nhận thức rõ về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

 Giải quyết được hai việc ấy, sức đề kháng của quần chúng nhân dân nói chung và đồng bào tôn giáo nói riêng sẽ được nâng lên. Khi quần chúng nhân dân nhận thức đúng vấn đề họ sẽ đề cao cảnh giác, xác định rõ trách nhiệm trong chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động./.  

                                                                            Nguồn - FB Nhân văn Hà Nội

ĐẢO ĐÁ HÒN HẢI - HÒN ĐÁ KHỔNG LỒ GIỮA BIỂN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VIỆT NAM

 

Đảo Hòn Hải là điểm A6 đánh dấu đường cơ sở Việt Nam. Đây được xem như điểm xa nhất của đường viền nội thủy của nước ta ở vùng nam Biển Đông.

Hòn Hải cách đảo Phú Quý (Bình Thuận) 60 km về phía đông nam, là điểm A6 trên đường cơ sở để tính lãnh hải Việt Nam, điểm xa nhất của đường nội thủy của nước ta ở vùng nam Biển Đông.

Đảo dài khoảng 130 m, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 60 m, điểm cao nhất là 113 m tính từ mặt biển.

Trước năm 2000, đảo hoang vu do không ai trèo lên được. Còn ngư dân, khi ra đánh cá mùa biển lặng, cũng chỉ ngước nhìn khối đá khổng lồ giữa biển, không có nước ngọt, cây cối và kể với nhau về “hòn đá khổng lồ” là nơi sinh sống của các loài chim biển, đông đến nỗi chỉ vỗ tay cũng bay túa lên, đen đặc vùng trời...

Năm 1999, Bộ Quốc phòng giao Bộ Tư lệnh công binh khảo sát và xây dựng hạ tầng trên đảo Hòn Hải. Đoàn công tác của công binh, Đoàn đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (Quân chủng Hải quân) ra Hòn Hải phải bơi vào đảo và căng bạt, làm lán trại để thực hiện nhiệm vụ. Để lên mặt đảo, bộ đội phải đóng cọc sắt vào vách núi và bám tay trèo lên.

Giám đốc công ty bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ Bùi Đức Thắng lắc đầu: “Chỉ có bộ đội công binh mới chinh phục được Hòn Hải!” và liệt kê những khó khăn trong quá trình thi công: Năm 2001 phải nghỉ thi công 5 tháng vì sóng; năm 2002, việc thi công đình trệ trong 4 tháng; hết quý 1/2003 mới đưa được công binh lên đảo và 2 tháng mới bốc được một chuyến hàng; năm 2002, gần 540 tấn vật tư các loại bị sóng cuốn xuống biển và 1 trụ neo tàu bị phá hủy; hàng chục công nhân bị thương, suýt bị cuốn trôi..

Gần 5 năm, những người lính công binh đã hoàn thành căn nhà kiên cố dưới chân đảo, bến cập tàu rộng và nhất là đường hầm lên đảo. Ban đầu, công binh định làm đường chạy thẳng lên đảo, tuy nhiên do vách núi dựng đứng nên phải chuyển sang phương án đào hầm.

Ròng rã khoan đá, ăn ngủ trong lòng núi với những phương pháp thi công “độc nhất vô nhị”, con đường hầm dài 170 m đã trổ lên mặt đảo và tiếp tục được gia cố bằng bê tông cốt thép có mái vòm chống đá rơi.

Ngay sau đó, từng xẻng cát, viên gạch, bao xi măng, can nước ngọt cũng được gùi cõng trên lưng bộ đội, lên xây dựng con đường bê tông trên mặt đảo dài 107 m và các công trình phục vụ ngọn hải đăng có kết cấu bền vững, cao vút...

Cuối năm 2004, trạm hải đăng Hòn Hải được chuyển giao cho công ty bảo đảm hàng hải Nam Trung Bộ quản lý - vận hành.

Đến nay, các công nhân hải đăng làm việc, sinh hoạt trên đảo với thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm. Mọi lương thực thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt cho các cán bộ công nhân đều phải chuyển ra từ đất liền theo các tàu tiếp tế hậu cần./.

NỰC CƯỜI CÂU CHUYỆN “VIỆT TÂN” LẬP QUỸ GIÚP DÂN

 

Nghe câu chuyện tổ chức kh.ủ.n.g b.ố “Việt Tân” tổ chức dạ tiệc để lập quỹ giúp dân thì khác nào việc trao bảng trinh tiết cho bà Phó Đoan. Từ lúc tôi biết dùng facebook đến giờ, tôi chả thấy bao giờ tổ chức kh.ủ.n.g b.ố “Việt Tân” làm được bất kỳ việc gì (kể cả việc nhỏ con con) giúp ích của đất nước và nhân dân Việt Nam cả. Nếu “Việt Tân” mà là tổ chức hữu ích, thiện chí với Việt Nam thì đã không là tổ chức kh.ủ.n.g b.ố rồi.

Tôi thấy ở Việt Nam các cơ quan, ban ngành khi tổ chức buổi gây quỹ từ thiện thường tổ chức các buổi giao lưu, cuộc họp, tổ chức văn nghệ… chứ chả thấy ai tổ chức liên hoan, đánh chén để gây quỹ cả. Đúng là cách làm của “Việt Tân” là đời, ngược với người dân Việt Nam.

Tổ chức đánh chén bù khú vẫn lòe bịp tiền của những người ở hải ngoại để phục vụ mục đích cá nhân, mưu đồ chống phá đất nước, phá rối an ninh trật tự, bình yên của tổ quốc thì kể ra “Việt Tân” cũng biết làm kinh tế đấy. Khôn như “Việt Tân” quê tớ bị xích hết rồi!

Thực tế thấy rằng “Việt Tân” không hề sử dụng tiền để hỗ trợ những người dân gặp hoàn cảnh khó khăn ở trong nước như những gì tổ chức k.h.ủ.ng b.ố này vẫn thường rêu rao. Cái gọi là “giúp đỡ người dân” thực chất là việc “Việt Tân” sử dụng tiền để đào tạo, tuyển lựa những “chân rết”; hậu thuẫn cho những kẻ chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống chính quyền; lừa bịp, kêu gọi người dân tham gia biểu tình phá rối an ninh, trật tự mà thôi. Những gương mặt mà “Việt Tân” “tài trợ” chính là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam như Nguyễn Văn Hóa, Châu Văn Khảm, Lê Đình Lượng,...

Cựu Phó Tổng thống ngụy Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ từng nói về cái gọi là quyên góp của “Việt Tân” rằng: “Ở cái xứ hải ngoại này nó buồn cười lắm... kinh nghiệm hơn 30 năm cho thấy: Nếu mà tất cả tiền tụ lại cho một anh thì anh ấy ôm tiền đi... TRỐN LUÔN”.

Bản chất của “Việt Tân” như thế nào thì chắc chẳng cần phải bàn nữa làm gì cả. Bà con ở Hải Ngoại nên cảnh giác với chiêu trò bịp bợm của “Việt Tân” tránh bị những trò mèo này lừa bịp thì chỉ thiệt thân mà thôi.

                                                                                                <Hoa Xuân>

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SUY DIỄN QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT GIỮA NGA - UKRAINE

 

Ngay từ khi xảy ra xung đột Nga - Ukraine, trên các diễn đàn quốc tế và phương tiện thông tin đại chúng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ quan điểm chính thức của mình. Thế nhưng, trên internet, mạng xã hội, thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đưa ra những suy diễn xuyên tạc. Đây là chiêu trò nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín và phá hoại quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, thế giới lại được phen dậy sóng trước những căng thẳng giữa Nga và Ukraine mà đỉnh điểm là khi Tổng thống Nga Putin phát động chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine (ngày 24/02/2022). Lợi dụng tình hình đó, ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”,… tung ra những luận điệu xuyên tạc, suy diễn, hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực,… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, dù cho ngay sau khi sự việc xảy ra, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga và Ukraine.

Cần khẳng định rõ: đây là một trong những chiêu bài “cũ rích” mà các thế lực thù địch vẫn thường sử dụng. Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine,… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Điển hình là: ngày 02/3/2022, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên Liên hợp quốc thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine. Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, họ đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”; một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Không những thế, họ còn cố tình “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”.

Có trang mạng dùng thủ đoạn tạo bình luận thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn phương án theo chủ ý của người đặt bình chọn. Từ đó, lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hòa bình.

Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp thì các luận điệu nêu trên cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch” với mục đích nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ “đen tối” của họ.

Quan điểm của Việt Nam về vấn đề xung đột giữa Nga - Ukraine

Trước hết, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm nhất quán đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine. Ngày 01/3/2022, phát biểu tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI của Đại hội đồng Liên hợp quốc thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với cuộc xung đột tại Ukraine. Đồng thời, tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. Như vậy, quan điểm của Việt Nam là rất rõ ràng, thẳng thắn, mong muốn hai bên hướng về hòa bình và cuộc sống an toàn của người dân để nối lại đàm phán, chấm dứt leo thang căng thẳng.

Thứ hai, Việt Nam nêu rõ tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm các nguyên tắc về tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam luôn kiên định quan điểm “Bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Ngày 03/3/2022, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”. Điều đó minh chứng rõ rằng: Việt Nam không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ súy chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Thứ ba, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Trên con đường hội nhập và phát triển, với tất cả các nước, trong đó có cả Nga và Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một thế giới hòa bình, ổn định. Việt Nam là một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Trong ngày thứ hai của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Việt Nam luôn kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã minh chứng cho vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, ngày 13/5/2022 vừa qua, phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng. Thông điệp này của Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa khẳng định rằng: với tinh thần hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua nói riêng, không chỉ thể hiện sự tiến bộ, cách mạng của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước đã phải chịu quá nhiều khổ đau, mất mát do chiến tranh, dân tộc Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh, bạo lực. Như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Việt Nam không chỉ gửi đi thông điệp đó mà còn có rất nhiều hành động, nhiều đóng góp cụ thể, thiết thực cho việc ngăn chặn xung đột, ngăn chặn chiến tranh, vì hòa bình bền vững trên thế giới. Đó là sự thực không thể bác bỏ!

Hiện nay quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam đã “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam ngày càng rộng mở; hiện có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 05 châu lục, đặc biệt Việt Nam có quan hệ quốc phòng với tất cả 05 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn nhất quán và kiên trì thực hiện những quan điểm về đường lối đối ngoại của mình, bảo đảm vừa tuân thủ các nguyên tắc vừa khéo léo, linh hoạt, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc. Nhờ đó, đã góp phần khẳng định vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế trên là minh chứng sống động, chân thực đập tan những luận điệu xuyên tạc, suy diễn của các thế lực thù địch lợi dụng cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine để chống phá cách mạng Việt Nam.

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

Bệnh giấu khuyết điểm

 

“Bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Sở dĩ khẳng định như vậy vì Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ban hành từ tháng 10-2016 đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đồng thời yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, trong đó có “bệnh thành tích", che giấu khuyết điểm, thiếu thành khẩn...

Thế nhưng, hơn 5 năm trôi qua, “bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên! Thiết nghĩ, những ví dụ, bằng chứng, biểu hiện, cũng như hậu quả nghiêm trọng của “bệnh giấu khuyết điểm”-hầu hết chúng ta đều biết, bởi nếu không ở trong cuộc, trực tiếp chứng kiến thì cũng đã được đọc, được nghe hàng vạn bài nói, bài viết về bệnh này. Tiếp tục liệt kê ra đây lại mắc khuyết điểm viết dài, viết lại, kiểu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Nhưng có điều nguy hại đặc biệt mà “bệnh giấu khuyết điểm” gây ra cần thiết phải nhắc lại, đó là: Gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin nghiêm trọng-một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến hủy hoại uy tín, sức mạnh của tổ chức cũng như từng cá nhân, thậm chí sụp đổ cả chế độ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng khoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

Lại chiêu trò xuyên tạc của Freedom House

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!...

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó. (trích báo CAND)

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng". Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, với bút danh C.B. đăng trên Báo Nhân dân, số 460, ngày 6-6-1955.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước bước vào thời kỳ kiến thiết, xây dựng chế độ xã hội mới - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa đặt ra rất nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc xây dựng đạo đức mới - đạo đức xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Bác có ý nghĩa sâu sắc, nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và phải giữ được đạo đức, thuần phong, mỹ tục. Đây cũng là tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng đạo đức mới; đồng thời khẳng định giá trị đạo đức ẩn chứa trong mỗi công việc, gắn liền với phẩm chất năng lực của mỗi người; nhắc nhở mỗi người phải luôn giữ gìn đạo đức trong sáng dù trong hoàn cảnh nào, làm bất cứ công việc gì, mới là người cao thượng. Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

Ngày này năm xưa: ngày 6 tháng 6

 

Theo dấu chân Người

* Ngày 6-6-1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hồng Kông bất ngờ vây bắt tại ngôi nhà số 168 đường Tam Lung, Khu Cửu Long. Khi đó Người mang tên Tống Văn Sơ. Những đồng chí cách mạng người Việt Nam ở đây đã cấp báo với luật sư tiến bộ người Anh Francis Henri Loseby, Giám đốc Công ty luật RUSS ở Hồng Kông, đề nghị giúp can thiệp. Kể từ đây, bắt đầu một sự kiện được gọi tắt là “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”.

Đế quốc Anh đã mật giam Nguyễn Ái Quốc trong một xà lim riêng ở Hồng Kông, vu cho Người là "Tay sai của Nga-Xô", "có âm mưu phá hoại chính quyền Hồng Kông". Mùa xuân nǎm 1933, với sự giúp đỡ của luật sư Loseby, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.

* Ngày 6-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 58 đặt ba loại huân chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập, do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra sắc lệnh tặng (hoặc truy tặng) cho đoàn thể và những người có công với nước, với dân, hoặc các nhân vật người nước ngoài có công với nước Việt Nam.

Mạch sống của Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.

BÀI CŨ CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA-XÃ HỘI

 

BÀI CŨ CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG TRONG

LĨNH VỰC VĂN HÓA-XÃ HỘI

Hoạt động lợi dụng các vấn đề VH-XH chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Trong lĩnh vực văn hóa chúng cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình  để đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Thật đúng là bài cũ của những kẻ tư duy cũ!

 

CÁC TỔ CHỨC TÍN NHIỆM QUỐC TẾ ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆT NAM


Theo đó, từ khi đại dịch bùng phát đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới được cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm đồng loạt nâng triển vọng lên Tích cực rồi nhảy vọt lên Ổn định. Điều này một lần nữa khẳng định sự đánh giá cao của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối với thành công của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Bất ổn từ đại dịch Covid-19 kéo theo bất ổn xã hội, suy thoái kinh tế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong năm 2020, đã có 124 lượt hạ bậc và 133 lượt hạ triển vọng tín nhiệm quốc gia trên toàn thế giới. Tính đến ngày 21/5/2021, đã có 16 quốc gia bị hạ bậc xếp hạng tín nhiệm trên toàn thế giới từ kết quả đánh giá của ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn toàn cầu là Moody’s, S&P và Fitch.
Tuy nhiên, Việt Nam lại một lần nữa trở thành ngoại lệ, là quốc gia duy nhất trên thế giới được cùng lúc 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm: Moody’s, S&P và Fitch nâng triển vọng lên Tích cực. Đặc biệt nhất, hôm qua (26/5), Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P Global Ratings đã bất ngờ nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+, triển vọng “Ổn định”.
Từ năm 2013 đến năm 2021, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam luôn nằm trong có xu hướng tốt lên. Cụ thể là tăng từ B2 lên Ba3 theo đánh giá của Moody’s, từ BB- lên BB theo đánh giá của S&P và mới nhất là BB+, tiếp đến là từ B + lên BB theo đánh giá của Fitch Ratings.
Theo các chuyên gia kinh tế, việc đánh giá Việt Nam có triển vọng tích cực và điều này phản ánh rất đúng về triển vọng tăng trưởng dài hạn cũng như sự phục hồi như kỳ vọng của nền kinh tế mặc dù phải chịu đựng những khó khăn từ đại dịch COVID-19.
Triển vọng tích cực giúp Việt Nam có một vị thế tốt hơn rất nhiều vào thời điểm hiện tại để hướng tới mục tiêu đạt mức xếp hạng đầu tư trong tương lai gần. Tuy nhiên, thường có thể mất từ 4-10 năm để đạt được mức xếp hạng đầu tư (BBB) từ mức xếp hạng BB. Thời gian nhanh hay chậm tùy thuộc vào các cải cách tổng thể về cơ cấu và kinh tế do chính phủ thực hiện.
Những lần nâng hạng tín nhiệm trong 8 năm qua đã cho thấy, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đánh giá rất tích cực đối với các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Đặc biệt nhất là việc Moody’s nâng 2 bậc tín nhiệm với Việt Nam vào năm 2021 là chưa từng có tiền lệ trước đó. Từ đó cho thấy Việt Nam có một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, tốc độ tăng trưởng GDP cao và khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Mới đây nhất, S&P Global Ratings nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+, triển vọng “Ổn định” chỉ trong chưa đến 1 năm đã cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phục hồi vững chắc trong bối cảnh Chính phủ gỡ bỏ các hạn chế di chuyển trong nước và xuyên biên giới, tỷ lệ tiêm chủng được cải thiện ấn tượng và bước chuyển linh hoạt trong chính sách kiểm soát COVID.
Sự cải thiện rõ rệt về quy trình, thủ tục hành chính của Chính phủ, đặc biệt liên quan đến chất lượng quản trị các khoản nợ được bảo lãnh, cùng với triển vọng kinh tế mạnh mẽ, vị thế đối ngoại vững vàng và thu hút dòng vốn FDI bất chấp gián đoạn do đại dịch được cho là những yếu tố quan trọng khiến S&P quyết định nâng hạng cho Việt Nam.
Triển vọng “Ổn định” thể hiện dự báo của S&P trong vòng 12-24 tháng tiếp theo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phục hồi, vượt qua các khó khăn, thách thức do đại dịch trong hai năm qua, góp phần củng cố vị thế đối ngoại và kiềm chế thâm hụt ngân sách.
Việc tổ chức S&P nâng định mức tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động và thách thức là hết sức tích cực, thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về các nỗ lực chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam để ổn định và phục hồi kinh tế vĩ mô, củng cố nền tảng chính trị – xã hội; nỗ lực của Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan trong việc truyền tải các chính sách, thành tựu của Việt Nam đến các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và tổ chức quốc tế.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp và tác động sâu sắc từ đại dịch dẫn đến 30 lượt hạ bậc tín nhiệm trên thế giới, Việt Nam là một trong hai quốc gia ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương được nâng bậc tín nhiệm kể từ đầu năm đến nay, và là quốc gia duy nhất trên thế giới được cả 3 tổ chức nâng bậc tín nhiệm liên tục mặc cho những thách thức từ đại dịch.

ĐỘC LẬP CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ TIỀN


Vậy là đã 111 năm kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, 05/06/1911. Tôi nhớ mãi câu chuyện kể về cuộc gặp giữa anh Thành và một người bạn là Lê. Khi anh Lê hỏi anh Thành rằng nếu đi thì lấy tiền ở đâu, người thanh niên yêu nước đã giơ hai bàn tay ra và nói quả quyết: tiền ở đây. Ngay từ lúc đó, một ý chí độc lập đã phát toả rất mạnh mẽ từ trái tim yêu nước vô cùng tận của người thanh niên ấy. Độc lập khi ấy là khát vọng.
35 năm sau, năm 1946, nước nhà khi đó đã giành được chính quyền và đang trong cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" khi chịu sự vây ép từ nhiều phía. Trong chuyến sang Pháp (từ 31/5 - 20/10), một mặt chính quyền thực dân Pháp khi đó vẫn gây sức ép trên bàn đàm phán, nhưng họ đã thất vọng tràn chề khi chứng kiến sự khôn khéo nhưng vẫn giữ vững lập trường kiên định đến cùng là bảo vệ nền độc lập của đoàn chính phủ Việt Nam DCCH. Vậy là một kênh bí mật khác đã được mở ra, ngân hàng của Pháp ở Thuỵ sĩ tìm cách kết nối và rất nhanh đưa ra số tiền là gần 30 tỉ fance để thương thảo với ý định làm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhượng bộ trong vấn đề độc lập. Nhưng không....kênh "tiền" cũng thất bại nốt khi thái độ rất rõ ràng đc phát đi từ Lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta: Độc lập chứ không phải là tiền.
Thật dễ hiểu khi 35 năm ngược về trước thời điểm đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường giành độc lập cho non sông, đất nước chỉ với hai bàn tay trắng nhưng lại có một trái tim yêu nước cháy bỏng và một khối óc quyết chí đến cùng. Lẽ đương nhiên ý chí ấy không bao giờ suy giảm, dù người Pháp có đưa ra số tiền lớn hơn nhiều lần, như đã từng đưa ra "chào mời" vào năm 1946 thì câu trả lời vẫn luôn là như vậy.
Thế mới thấy " “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” tất sẽ trường tồn mãi mãi.