Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

KẾT QUẢ CỦA SỰ ĐỔI MỚI VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC


           Những năm đổi mới, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã được thực hiện đầy đủ; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Kinh tế vùng dân tộc và miền núi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao (trung bình 8% năm). Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn. Đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày càng được quan tâm với nhiều chính sách ưu tiên. Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi được tăng cường và củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững.

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


          Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em. Theo số liệu Tổng cục Thống kê ngày 01/4/2019, người Kinh chiếm 85,3% dân số, 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số. Đảng và Nhà nước ta xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị. Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến vấn đề dân tộc và công tác dân tộc như Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX). Ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới”.

                                                                                 

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 


“Mọi người phải ra sức trau dồi đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc ngày 8-6-1959. Thời kỳ này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ thành xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp lâu dài, vất vả, nhưng rất vẻ vang. Do đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải có ý thức giác ngộ cách mạng cao, một lòng một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tự phê bình một cách nghiêm túc, từ trong cấp ủy ra ngoài đảng bộ, từ trên xuống dưới để loại bỏ tư tưởng cũng như chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi con người.

Thực hiện lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên đã ra sức học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức, mục tiêu lý tưởng cách mạng; tích cực lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân sa vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, sùng bái quyền lực và đồng tiền; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống… làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải đấu tranh, lên án.

Do vậy, học tập và làm theo lời Bác dạy về đạo đức cách mạng càng có giá trị thực tiễn sâu sắc, là cơ sở để cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, một lòng, một dạ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

HAIVAN

MỘT “HOÀNG TỘC” KHÔNG BIẾT XẤU HỔ?

     Xưa nay, thói “con hát mẹ khen hay” luôn bị chê cười là trơ trẽn, không biết xấu hổ, là tự bôi nhọ bản thân mình theo cách ngu ngốc nhất của hạng người vô liêm, vô sĩ có tính ích kỉ chỉ biết bản thân. Tưởng đó là thói xấu của số ít người hay đố kị, thích hơn thua hay háo danh và hám lợi… nhưng lạ là cái “thói” này lại “cả gan” xuất hiện vào cái thời mà văn hoá phê phán xã hội phát triển, chủ nghĩa cá nhân bị cả xã hội lên án là yếu tố cản trở sự phát triển của xã hội. 

Người ta sẵn sàng lôi “cả họ làm quan” ra phê phán như là “đã là họ hàng với nhau thì không được cùng làm quan” dù quy tắc xã hội chẳng có quy định nào như vậy, hay chẳng có ai hay chính quyền nào cấm người cùng họ thì không được cùng nhau “làm quan”. Nói thế để thấy, sức mạnh tự do ngôn luận ở Việt Nam ngày nay mạnh cỡ nào, chẳng ai mà dân không chửi được, cứ thấy sai là chửi, nhẹ hơn thì phê phán với phê bình… từ cán bộ Đảng viên và Nhà nước, sai là bị chửi từ báo chí cách mạng tới các kiểu mạng xã hội.

Gia Long thì chỉ là tên bán nước với đầy đủ chứng cứ chứ có phải anh hùng đánh giặc bảo vệ bờ cõi nước nhà đâu mà dân không phê phán, chửi! 

Từ thời Gia Long bán nước cho Tây dân đã không ưa, dân chửi rồi. Dân chửi từ đó đến tận giờ chứ có phải chuyện gì bất ngờ, bất thường đâu… chuyện thường tình: CHỬI CHA BỌN BÁN NƯỚC CẦU VINH!

Nếu Gia Long làm vua tốt, dân chẳng phải lầm than thì chẳng có chuyện Quang Trung với dân nổi dậy lật đổ. Xưa nay là vậy, “dân là nước”, “nước dâng thuyền thì cũng nước lật thuyền” chứ chẳng phải dân làm loạn mà lật đổ Gia Long. 

Nhưng Gia Long thì sao?

Làm vua để dân sống lầm than, đến khi bị dân lật đổ thì lại vì sự ích kỉ của bản thân, vinh / nhục “hoàng tộc” mà bất chấp an nguy quốc gia, bất chấp sống còn của con dân đất Việt mà cầu viện hết thế lực ngoại bang này tới thế lực ngoại xâm khác, chấp nhận mất dân - mất đất đai bờ cõi Việt để chỉ hả hê trả thù, giữ lại cái “ngai vàng” thối tha mà nhân dân oán ghét.

Tưởng cái nhục của Gia Long nên bị thời gian chôn vùi đi, để dân tộc không phải nhắc đến nỗi nhục khi có một hoàng đế táng tận lương tâm bán nước, hại dân… vậy mà đám hậu duệ chẳng biết nhục của Gia Long lại “đào mồ” hắn lên cho dân tộc Việt sau hơn trăm năm lại phải chửi rủa cái hành vi bán nước, hại dân của hắn.

“Nhà sử học” hậu duệ của Gia Long quả thật là kẻ không biết nhục, không biết đến liêm sĩ, không rõ lòng dân hận Gia Long và “hoàng tộc” của hắn thấu xương. Hay là “nhà sử học” hậu duệ của Gia Long giả ngu để dân tộc Việt lại có cớ chửi Gia Long và “hoàng tộc nhà Nguyễn”, hay “nhà sử học” hậu duệ của Gia Long không cần “học” mà thành “nhà sử học” nên không biết rằng: đã mất lòng dân thì đòi dân ca ngợi là điều “kẻ mất não” mới làm.

Vốn dĩ, học hàm - học vị chẳng có cái nào là “nhà sử học” cả, thích thì cứ tự phong nhau là “sử gia” hay “nhà sử học” vậy. Xã hội này vốn nhiều “nhà không có nóc” kiểu “nhà sử học” nên nghe thêm “nhà sử học” là hậu duệ của Gia Long thở ra mấy câu “hôi Long” cũng chẳng sao, cũng chỉ là mấy đứa con nít hát với nhau rồi chờ mẹ chúng khen hay mà thôi./.

Yêu nước ST.

CẦN THIẾT VÀ QUAN TRỌNG!

Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã tán thành Tờ trình của Bộ Chính trị về chủ trương thành lập ban chỉ đạo (BCĐ) cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC). Lợi dụng sự kiện trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC SỰ THẬT

Lâu nay, mỗi khi Đảng ta quyết định xử lý những cán bộ cấp cao do vi phạm pháp luật, điều lệ Đảng, lập tức xuất hiện những suy luận hàm hồ, vô căn cứ của các phần tử phản động, thù địch nhằm chống phá, cố tình gây hiểu sai về công tác cán bộ của Đảng.

NHỮNG KẺ LỢI DỤNG GIẪM ĐẠP LỊCH SỬ

Việc Bộ GD&ĐT xếp Lịch sử thành môn tự chọn trong chương trình trung học phổ thông mới, dự kiến triển khai với lớp 10 từ năm học 2022-2023 đang trở thành tâm điểm của dư luận với nhiều ý kiến trái chiều. Nhân sự việc này, những phần tử cơ hội, phản động lại nhỏ “nước mắt cá sấu”. Họ diễn trò “trăn trở, lo lắng”, nhưng thực chất những việc làm của họ lại chính là giẫm đạp lên lịch sử cũng như môn Lịch sử của chúng ta.

TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

Trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Đó cũng là việc người đứng đầu chủ động công khai thông tin và chịu trách nhiệm đối với các kết quả thực thi công vụ của mình và của nhân viên dưới quyền quản lý, phụ trách.

BẮT TẠM GIAM ÔNG NGUYỄN THANH LONG VÀ ÔNG CHU NGỌC ANH

Tối 7/6, Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang điều tra vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Đưa hối lộ, Nhận hối lộ xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và các đơn vị, địa phương.

BÃI NHIỆM CHỨC VỤ CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHU NGỌC ANH

Chiều 7-6, tại trụ sở HĐND - UBND thành phố Hà Nội, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVI tổ chức kỳ họp thứ sáu để xem xét, quyết định công tác nhân sự thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố.

CÁCH CHỨC BỘ TRƯỞNG Y TẾ ĐỐI VỚI ÔNG NGUYỄN THANH LONG

Sáng 7/6, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bãi nhiệm đại biểu Quốc hội khóa XV và phê chuẩn đề nghị cách chức Bộ trưởng Y tế đối với ông Nguyễn Thanh Long.

 PHÂN BIỆT CÁC CHÚA NGUYỄN VỚI VUA NHÀ NGUYỄN. KHÔNG ĐÁNH BÙN SANG AO HÒNG RỬA TỘI CHO NGUYỄN ÁNH.

----------------

Những năm gần đây, nước Việt đang xuất hiện một trào lưu mới, trào lưu xét lại lịch sử. Họ cố tình bóp méo sự thật lịch sử theo hướng hạ bệ hoặc tôn vinh những nhân vật lịch sử vốn đã ăn sâu trong tiềm thức trong mỗi người dân Việt Nam. Khi nói đến Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long của triều Nguyễn) thì người ta nghĩ ngay đến một tên cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ. Ấy vậy mà không hiểu tại sao lại có những kẻ nhân danh là nhà sử học, học hàm, học vị cũng đến mức “tột đỉnh của vinh quang” lại cố tình phá hoại lịch sử, cố tình “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và cả vương triều Nguyễn - Một vương triều đồi bại nhất lịch sử nước Việt ta. 


Tai hại hơn, họ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi, khai phá miền Nam; thậm chí đặt ngang hàng với người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hiện nay người ta còn đòi vinh danh Nguyễn Ánh, đòi đặt tên đường ông ta. Xin có đôi lời như sau:


PHÂN BIỆT CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN:


Những người được coi là nhà sử học, nhà nghiên cứu lịch sử há lại không phân biệt được giữa các Chúa Nguyễn và nhà Nguyễn? Có chăng là họ đã cố tình đánh tráo khái niệm, đánh bùn sang ao hòng che đậy cho những mục đích không trong sáng của họ. Đời các Chúa Nguyễn khởi đầu là Chúa Tiên - Nguyễn Hoàng (con trai của tướng nhà Hậu Lê là Nguyễn Kim), vào cai quản đất Thuận Hóa từ năm 1558. Nguyễn Hoàng vì sợ Trịnh Kiểm (anh rể) sát hại nên sau khi nghe lời khuyên của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời. Các Chúa Nguyễn trị vì được 9 đời kể từ lúc Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng cho đến năm 1777, khi Nguyễn Phúc Thuần thua quân Trịnh, phải chạy vào Gia Định và bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Lịch sử là trung thực, là khách quan. Vậy nên không ai phủ nhận công lao mở mang bờ cõi vào phía Nam của các Chúa Nguyễn. Đó là sự thật lịch sử! 


Nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn, khi đó thì cương vực, lãnh thổ của nước ta đã có như ngày hôm nay. Vậy nên, nói nhà Nguyễn đã có công khai phá và mở rộng lãnh thổ đất phương Nam, là lý luận của kẻ bất trí, phản trắc.  Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 - 1945), có 13 vua thì có đến 8 tên bán nước, hoặc là thần phục ngoại bang. Chỉ có vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân là 3 người yêu nước. Minh Mạng, Thiệu Trị là 2 vua có thực quyền). Kể từ năm 1862, Vua tôi Tự Đức hèn hạ ký Hiệp ước Nhâm Tuất, dâng Nam Kỳ lục tỉnh cho Pháp và đến 1884 thì chính thức vong quốc, làm bù nhìn cho Pháp để tàn hại dân lành. 


Lịch sử là phải công tâm, trung thực, khách quan, không thể ngụy biện. Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm. Quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán các vua: Gia Long đã nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn, cầu viện quân Xiêm đánh nước ta, tiếp tế cho quân Thanh; đến các vua: Minh Mạng tiếp tục sự nghiệp do Gia Long để lại. Thiệu Trị chưa làm gì nhiều ở ngôi được 7 năm thì mất; đến các vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại đã hoàn toàn bán nước ta cho Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. 


Vậy nên, không vì bất kỳ lý do nào để vinh danh Nguyễn Ánh. Không thể đánh bùn sang ao. Khách quan với lịch sử, vậy nên nếu có xem xét thì nên xem xét các Chúa Nguyễn, chọn người thật sự có công lao với đất nước để đặt tên đường./.

------------


 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ.


   Mặc dù các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian.


    Thực tiễn xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện tại cho thấy, danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá-nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Quân đội ta. Từ thực tiễn công tác huấn luyện, SSCĐ, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời sống xã hội.


   Nét nổi bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH, được nhân dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất, truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.


   Thực tế đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội và công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam với QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam-Bộ đội Cụ Hồ. 


   Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng.


  Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu, không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. 


   Một trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập, SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ, hạ bệ hay phủ nhận những thành quả đã đạt được .

NGÀY CỦA KHÁT VỌNG DÂN TỘC!

         Cách đây 110 năm, ngày 05/6/1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng với hai bàn tay trắng để ra đi tìm đường cứu nước, Người đã phát hiện ra một chân lý “muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”,. Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, năm 1941 Người trở về cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị gần 90 năm của thực dân Pháp , khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà

Thế nhưng những năm gần đây, đã có một số kẻ cơ hội, phản động đặt dấu hỏi: Con đường mà Nguyễn Ái Quốc lựa chọn có thực sự là con đường đúng đắn hay không? Từ đó, họ “”loạn bàn” về con đường khác tốt hơn, rồi đặt vấn đề: Hai cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ trong thế kỷ 20 có thực sự cần thiết hay không? Chúng ta không cần phải trả lời về những câu hỏi như vậy, vì thực tiễn đã bác bỏ mọi câu hỏi của họ nêu ra.

Gần đây, tác giả Mawuna Remaque Koutonin đăng trang “Silicon Africa” bài báo “Pháp buộc 14 nước châu Phi phải trả thuế thuộc địa” đã bộc lộ sự thực về “nền độc lập không cần kháng chiến”. Thiết tưởng cũng nên nêu ra để các nhà “dân chủ được biết: 

1. Các quốc gia này (14 nước cựu thuộc địa của Pháp ở châu Phi) hàng năm phải trả một khoản nợ thuộc địa ( trả tiền mà thực dân Pháp đã xây dựng cơ sở hạ tầng trong thời kỳ thống trị của họ) mà không có thời hạn kết thúc .

2. Phải nộp 85% dự trữ ngoại tệ của nước mình vào kho bạc của chính phủ Pháp . Và đến nay các nước này chỉ biết một cách chung nhất là có khoản trên 500 tỷ USD mà họ không có quyền đụng đến mà chỉ được vay lại từ kho bạc của Chính phủ Pháp với số tiền không quá 20% thu nhập quốc dân của năm trước đó, nếu quá 20% thì chính phủ Pháp sẽ phủ quyết.

3. Pháp được quyền đầu tư khai thác bất cứ nguồn tài nguyên của các nước này . Chỉ khi nào Pháp nói không cần thì các nước mới được quyền mời gọi các nhà đầu tư khác ngoài nước Pháp.

4. Trong các hợp đồng đầu tư mua sắm công, Pháp được độc quyền trong mua sắm hoặc ưu tiên đấu thầu công khai.

5. Pháp được độc quyền trong mua sắm, cung cấp các thiết bị quân sự và đào tạo cán bộ cho Quân đội của các nước này.

6. Pháp được quyền triển khai quân đội và can thiệp quân sự khi lợi ích quốc gia của Pháp bị xâm phạm.

7. Phải sử dụng tiếng Pháp là ngôn ngữ quốc gia chính thức và là ngôn ngữ giáo dục phổ thông.

8. Phải tham gia và sử dụng hệ thống tiền tệ thuộc Liên hiệp Pháp.

9. Phải có nghĩa vụ gửi báo cáo hàng năm về dự trữ và cân đối thu chi tài chính, , thu nhập quốc dân để làm cơ sở cho Pháp quyết định việc cho vay không quá 20% thu nhập quốc dân và theo dõi nguồn dự trữ khi gửi vào kho bạc của Pháp.

10. Không được tham gia bất cứ liên minh quân sự nào nếu không được Pháp đồng ý.

11. Có nghĩa vụ liên minh với Pháp trong hoàn cảnh chiến tranh hay khủng hoảng toàn cầu.

Và chính từ cách “độc lập” đó đã làm cho các nước châu Phi là cựu thuộc địa của Pháp không có quyền quyết định về phát triển kinh tế và xây dựng quân đội . Hai vấn đề chủ yếu trong xây dựng và bảo vệ đất nước của một quốc gia độc lập, đã đẩy các nước này nằm trong nhóm nước chậm phát triển nhất trên thế giới và bất cứ nước nào muốn vươn lên độc lập gần như sẽ bị tác động để thay đổi người cầm quyền hoặc cả một chế độ. Chính vì vậy mà châu Phi trở thành nơi bất ổn chính trị nhất, nội chiến, chia rẽ, mâu thuẫn sắc tộc và chiến tranh triền miên chưa có hồi kết.
Từ đó ta có thể khẳng định:Nếu không “đem sức ta mà giải phóng cho ta” theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì Việt Nam không có nền độc lập thực sự: đồng thời nếu không có Việt Nam - Hồ Chí Minh “Chặt đứt” một mắt xích thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa thực dân, truyền cảm hứng cho các nước thuộc địa đứng lên giành độc lập thì khó có thể hình dung ra một trật tự thế giới ngày nay ra sao.

 “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”, Khẳng định đó của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII là điều khiến tất cả chúng ta tự hào. Với tất cả sự khiêm tốn của người Việt Nam ngày nay, chúng ta có quyền nói rằng ngày 05/6/1911 là ngày khởi đầu cho một khát vọng lớn lao của toàn dân tộc. Khát vọng Hồ Chí Minh, khát vọng “độc lập, tự do, hạnh phúc” đang được thực hiện hóa một cách sinh động trên đất nước Việt Nam- đất nước đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính “Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non song đất nước ta”./.


Yêu nước ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

MISTEN - Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Hệ thống quan điểm, luận điểm của Người về xây dựng các thành tố của hệ thống chính trị vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Bài viết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Nhà nước và Mặt trận trong xây dựng các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

 


Để xây dựng hệ thống chính trị theo mục tiêu của Đại hội XIII cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Công tác xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

Đánh giá tổng quát về thành tựu xây dựng hệ thống chính trị giai đoạn 2016-2020, Đại hội XIII khẳng định: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường”(1).

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên có chuyển biến tích cực; công tác cán bộ có nhiều đổi mới, đạt một số kết quả quan trọng; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng có nhiều đổi mới, có hiệu quả, nhất là ở cấp Trung ương; phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ(2).

Nhà nước “tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(3). Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực; bộ máy nhà nước bước đầu được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn gắn với tinh giản biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoạt động của Quốc hội được nâng cao; hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới; hoạt động của Chính phủ và các bộ, ngành chủ động, tích cực(4).

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị(5).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra nhiều hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta như:

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số bất cập, hạn chế: việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng đảng ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực chưa cao(6).

Xây dựng Nhà nước có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước; vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở một số lĩnh vực còn chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; hệ thống pháp luật chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chưa đổi mới mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn hạn chế(7).

Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên một số phương diện chưa theo kịp yêu cầu; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đều; quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn một số biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật(8).

Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong xây dựng hệ thống chính trị giai đoạn 2016-2020 cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng với tư cách là ba thành tố trụ cột của hệ thống chính trị nước ta.

Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(9); muốn cách mạng thắng lợi, Đảng phải giác ngộ, tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thống nhất ý chí và hành động, phấn đấu cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sau khi cách mạng thắng lợi, Đảng trở thành Đảng cầm quyền “quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo”(10) để xây dựng xã hội mới, đồng thời xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là vấn đề hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng thật sự vững mạnh phải thường xuyên chú ý xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định vị trí quan trọng của việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; nhà nước hoạt động theo nguyên tắc phục vụ nhân dân một cách vô tư, các cơ quan của Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”(11). Nhà nước của dân và do dân lập nên, vì vậy phải làm cho dân hiểu biết về địa vị của mình để nhân dân đề cao trách nhiệm làm chủ trong xây dựng Nhà nước. Nhà nước vì dân là nhà nước mà mọi hoạt động đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân, là nhà nước mà việc gì lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, phải hết sức tránh. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đều hướng tới làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.

Để có Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài, vì muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; phải phòng, chống những khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là nạn đặc quyền, đặc lợi và bệnh “quan cách mạng”; phải tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ ba, Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất vững chắc, rất rộng rãi và thiết thực; chính sách Mặt trận phải phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn thể đồng bào. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là quan điểm xuyên suốt, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhất quán, quyết định thành công tiến trình cách mạng và xây dựng xã hội mới vì hạnh phúc của nhân dân. Để Mặt trận có thể đoàn kết rộng rãi và thiết thực phải tin tưởng, tôn trọng nhân dân, phải yêu dân, tin dân, dựa vào dân.

Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị, bài viết đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc biệt coi trọng xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân

Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm: “rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(12); sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân. Hồ Chí Minh cho rằng: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(13) và “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(14). Do đó, việc xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với xây dựng hệ thống chính trị.

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân”(15). Để phục vụ tốt nhân dân, các thành viên của hệ thống chính trị phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Đại hội XIII chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; cụ thể hóa phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(16). Theo đó, phương hướng là cần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng; khắc phục triệt để bệnh quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mặt khác, để tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với nhân dân, phải bồi dưỡng nhận thức cho nhân dân về Đảng cầm quyền, về Nhà nước, về vai trò, vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, Đảng phải giúp nhân dân nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ đối với đất nước, hiểu rõ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách của Mặt trận; phải định hướng nhân dân xác lập niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng lòng thực hiện sự nghiệp của Đảng và xây dựng Nhà nước vững mạnh.

Đại hội XIII đúc kết bài học kinh nghiệm quý báu là: Trong mọi công việc, Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa(17).

Hai là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vững mạnh thì mới lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng một cách hiệu quả. Xây dựng Đảng vững mạnh có ý nghĩa quyết định đối với xây dựng hệ thống chính trị. Sự vững mạnh của Đảng “là do mỗi một chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm tròn nhiệm vụ”(18).

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ “xây dựng Đảng là then chốt”(19) trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước. Đại hội XIII đề ra yêu cầu: Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn tình trạng suy thoái "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu(20).

Là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ thống tổ chức của Đảng; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thông qua tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của Đảng, do đó phải đổi mới bộ máy của Đảng và đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, “Với một đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không thế lực nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”(21).

Ba là, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước - thành tố trung tâm của hệ thống chính trị   

Nhà nước là thành tố trung tâm của hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, thể hiện trực tiếp nhất bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Vì vậy, xây dựng Nhà nước mạnh là sự phản ánh quan trọng nhất hiệu quả lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với hệ thống chính trị.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, việc thường xuyên phải làm là: “Kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ”(22) việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước phải gắn với đổi mới phương thức làm việc: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”(23).

Đại hội XIII của Đảng đề ra quan điểm chỉ đạo là “xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(24); định hướng của Đại hội XIII là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.

Bốn là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết, đồng thuận xã hội; có chức năng giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.   

Đại hội XIII của Đảng chủ trương: tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động; nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hướng mạnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội về cơ sở, địa bàn dân cư. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội chú trọng thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng(25).

Như vậy, để xây dựng hệ thống chính trị theo mục tiêu của Đại hội XIII cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

__________________

(1) (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (15), (16), (17), (19), (20), (21), (24), (25) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.77-78, 75-77, 71, 72-73, 70, 93, 89-90, 88-89, 165, 248-249, 96-97, 33, 40-41, 35.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 289.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, sđd, tr.274.

(11), (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, sđd, tr.258, 362.

(12), (13), (14), (23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, sđd, tr.278, 668, 335, 636.

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, sđd, tr.242.

Ngô Thị Khánh - 14.05.2022 - lyluanchinhtri.vn

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

 

MISTEN - Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

 


Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

---------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị quốc gia-Sự  thật, Hà Nội, tr. 21

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.7-8

(3) C.Mác và Ph.Ănghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.105.

(4) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.312

(5) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.289

(6) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.12, tr.11

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.88

(8) Lê Hữu Nghĩa, “Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay”, trong sách Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.23

                                                                                                       Đặng Viết Đạt - qdnd.vn - 16.05.2022