Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Học tập phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

  - Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Hiểu rõ những nội dung cơ bản của phương pháp tư duy Hồ Chí Minh - một nội dung trong di sản của Người - để vận dụng vào nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là biện pháp quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Những nội dung cơ bản của phương pháp tư duy Hồ Chí Minh

Đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo

Đây là nội dung bao trùm và điển hình nhất trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Trong phương pháp tư duy của Người, độc lập đồng nghĩa với không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi bất kỳ một lý luận nào nếu không có sự đánh giá cẩn trọng, khoa học của chủ thể. Mặc dù con đường nhận thức chân lý bao giờ cũng có sự kế thừa, nhưng là sự kế thừa biện chứng, kế thừa và phát triển với tính độc lập của chủ thể nhận thức, không phải là sự bắt chước, rập khuôn cách máy móc. Tự chủ có nghĩa là xuất phát từ vị trí, vai trò của mình, chủ thể tự thân làm chủ mọi suy nghĩ, hành vi của mình, làm chủ công việc của mình, tự thấy mình phải có trách nhiệm với tập thể, với quốc gia, với dân tộc mình. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ, cái lạc hậu, cái không còn phù hợp đang cản trở sự phát triển; đồng thời, tìm kiếm, học hỏi, đề xuất những cái mới có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10, Người góp ý về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, bảo đảm chất lượng, ngày 8-1-1959_Nguồn: hochiminh.vn

Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh hình thành từ sớm, bộc lộ càng rõ trong quá trình Người tìm đường cứu nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thì tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo càng được nâng cao, đã trở thành một phẩm chất bền vững, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chính điều đó đã làm cho tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác biệt so với tư duy của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... về con đường cứu nước, mặc dù không ai phủ nhận các ông đều mong muốn giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Người đã tư duy để đối chiếu, so sánh, chắt lọc và tổng hợp những dữ liệu, những kinh nghiệm mà cuộc sống đã đem lại, những tư tưởng của các thế hệ đi trước đã gợi mở, để từ đó đi đến những nhận định mới, những kết luận mới và những tư tưởng mới. Phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở tính cách mạng triệt để, tính biện chứng chặt chẽ và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ đó, Người đã từng bước xác lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo của riêng mình.

Quyết tâm vượt lên mọi thành kiến tư tưởng

Đối với mỗi con người, để vượt qua được những thành kiến do lối mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực làm chủ bản thân rất cao. Không đi theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu người dân ở đó có được tự do, bình đẳng và hạnh phúc thực sự hay không?

Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng tình với ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin do giai cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I. Lê-nin và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực tế. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa”(1). Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”(2).

Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy nhiên, Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2 bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Gắn lý trí với những tình cảm trong sáng, tình yêu thương con người, thực hiện công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội

Cốt lõi của tình cảm cách mạng là đạo đức cách mạng. Tình cảm cách mạng là khởi nguồn để có sáng tạo cách mạng. Khi tình cảm đã nhạt phai thì trí tuệ cũng sẽ chịu ảnh hưởng không tốt. Ngược lại, tình cảm mù quáng thì lý trí sẽ mất phương hướng. Tình cảm có những quy luật riêng của mình. Nếu là xúc cảm nhất thời, nó thường đi đôi với nhận thức cảm tính, bồng bột, thoáng qua và thiếu bền vững. Song ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tình cảm trong sáng, rất mãnh liệt bao giờ cũng chịu sự điều chỉnh, hướng dẫn chặt chẽ của lý trí. Đó là bởi, tình cảm của Người dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về con người, điều chỉ có ở một nhân cách lớn. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về sự thống nhất giữa lý trí với những tình cảm trong sáng, thấm đẫm tình yêu thương con người.

Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã xúc động trước tình cảnh người dân trên quê hương mình bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, hành hạ một cách dã man. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, cho nên đi tới đâu Người cũng chú ý tới hai cảnh sống trái ngược giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị, giữa người bóc lột và người bị bóc lột; đồng thời, luôn có sự thấu cảm sâu sắc trước những khó khăn, tủi nhục, vất vả của những người bị bóc lột và cuộc sống lầm than của nhân dân lao động.

Tình yêu thương đồng bào, Tổ quốc và tình yêu thương con người đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng thời, chính lý luận cách mạng Mác - Lê-nin cũng nâng tầm những tình cảm trong sáng của Người, giúp Người có thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc và độc đáo về chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ bao gồm các khái niệm trừu tượng, các quy luật, phạm trù và chỉ thuộc về nhận thức lý trí, mà còn bao hàm cả tình nghĩa, tức là gồm cả phương diện đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”(3).

Lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với những phong trào hành động nhằm xây dựng và cải tạo xã hội. Người cho rằng, tư duy lành mạnh tự nó bao giờ cũng hướng tới hành động cải tạo thực tiễn, cải thiện cuộc sống con người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sôi nổi, phong phú và gian khổ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu chiến lược, đồng thời biết vận dụng sách lược một cách khôn khéo để đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(4).

Coi trọng, gắn kết điều kiện khách quan với phát huy nỗ lực chủ quan, kết hợp hài hòa giữa lý luận, thực tiễn và có tính tự giác cao

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan của cách mạng, đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra cương lĩnh chiến lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930) do Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(5). Sau này, các văn kiện của Đảng đã ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”(6)Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ quan, trong đó có năng lực cá nhân xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý luận; bởi vì, theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người trên tất cả mọi lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”(7). Do đó, nếu kế thừa được những kinh nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá nhân sẽ có điều kiện nâng cao năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.

Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xem trọng nhân tố tự giác. Người cho rằng, nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối lập: Thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát huy những cái thiện, cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái xấu. Trong lần nói chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II năm 1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”(8).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan trưng bày Cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” (SV_STARTUP)_Ảnh: TTXVN

Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm và chủ động nắm lấy những tri thức mới

Quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình không ngừng học tập, rèn luyện qua thực tiễn cách mạng. Trong quá trình đó, Người thường xuyên tổng kết kinh nghiệm và luôn có ý thức tìm tòi, nắm lấy những tri thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất nhạy cảm về chính trị. Sau khi gửi Bản yêu sách gồm tám điều của dân tộc Việt Nam tới Hội nghị Véc-xây (Pháp), Người đã nhận ra “cái bánh vẽ” chính trị mà chủ nghĩa đế quốc Mỹ đưa ra để gạ gẫm các dân tộc. Người nhấn mạnh “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới(9). Kết luận quan trọng này là tiền đề tư tưởng quan trọng của chiến lược “dựa vào sức mình là chính” của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân, kết tinh đỉnh cao của tinh thần dân tộc, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khi tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, đoạn tuyệt với quan điểm “cầu viện” để giải phóng dân tộc. Năm 1920, sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã đứng hẳn về Quốc tế III, về phía V.I. Lê-nin, kiên quyết đấu tranh chống khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp, và đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đối với Người, mỗi lần phê phán cái sai lầm là mỗi lần tổng kết và rút ra được kinh nghiệm quý báu cho bản thân cũng như để hướng dẫn những cộng sự của mình.

Không bằng lòng với những tri thức thu lượm được ở đất Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp các châu lục để khám phá, tìm hiểu, thâu thái thêm những tri thức mới. Người đã chứng kiến cuộc sống khổ nhục của những người dân mất nước dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Đông Dương. Người đã phẫn nộ lên án chế độ tự xưng là “văn minh” nhất nhân loại ở Anh, Pháp, Mỹ. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vui mừng khi thấy cuộc sống mới trên quê hương Cách mạng Tháng Mười Nga. Đi đến đâu, Người cũng quan sát và suy nghĩ, chiêm nghiệm để tự rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân mình. Bằng sự nghiên cứu nghiêm túc nhất, với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước dân tộc và giai cấp, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ lại càng chứng tỏ rõ rệt vai trò của giai cấp vô sản và đảng của nó trong phong trào giải phóng dân tộc”(10).

Giá trị vận dụng trong quá trình tăng cường học tập và nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực, chính trị luôn ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể. Theo đó, tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những đổi mới nhất định (về trình độ cũng như phương pháp tư duy). Tuy nhiên, sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thế giới có nhiều thay đổi khó lường, đặc biệt là sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong khi đó, trình độ hiểu biết về lý luận, thực tiễn của nhiều cán bộ, đảng viên hiện nay còn nhiều hạn chế. Phong cách tư duy của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện của lối tư duy giáo điều, bảo thủ, trì trệ, khuôn sáo, máy móc. Đó là những suy nghĩ chủ quan, duy ý chí, chưa thật sự dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Lối tư duy nôn nóng, giản đơn, đại khái, yếu về logic, thiếu hệ thống, luôn chạy theo mong muốn chủ quan của cá nhân vẫn còn tồn tại; đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện của sự tách rời giữa tình cảm, đạo đức cách mạng và lý trí khoa học.

Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cụ thể như sau:

Một là, chú trọng nâng cao tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau khi thấm nhuần phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có khả năng dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không lệ thuộc, rập khuôn, bắt chước người khác; có năng lực và bản lĩnh bảo vệ được quan điểm, chính kiến của mình; tự mình làm chủ mọi suy nghĩ, hành động, không bị a dua theo người khác; tự giác tìm tòi để sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu cái mới, từ bỏ cái đã lỗi thời. Từ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Hai là, khắc phục những thành kiến trong tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực chất vấn đề này là, chống chủ nghĩa giáo điều - giáo điều sách vở, giáo điều trong việc học tập kinh nghiệm của người khác; qua đó, giúp họ vượt lên trên những thành kiến, không lệ thuộc vào tập quán cũ, lạc hậu, biết giữ gìn và phát triển những tư tưởng truyền thống còn phù hợp, tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng mới, chủ động đề xuất những sáng kiến, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ba là, nâng cao nhận thức, giáo dục, giúp cán bộ, đảng viên biết kết hợp giữa lý trí với tình cảm trong sáng, làm điều gì cũng luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Biết yêu thương con người, luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ người khác, coi niềm vui, hạnh phúc của người khác cũng là niềm vui và hạnh phúc của mình. Lịch sử đã chứng minh rằng, những cá nhân nặng về lý trí mà thiếu tình cảm thì sớm hay muộn họ cũng sẽ rời bỏ con đường mà mình đã chọn. Không ít người vì thiếu một tình yêu trong sáng và mãnh liệt, không biết yêu thương, nghĩ đến người khác nên họ đã bị những cám dỗ ích kỷ, tầm thường trong cuộc sống cá nhân, dễ dẫn đến thoái hóa, biến chất, hư hỏng, trở thành những kẻ cơ hội, hại nước, hại dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Bốn là, trang bị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phương pháp tư duy thúc đẩy tính tự giác cao, phát huy tối đa năng lực chủ quan và coi trọng điều kiện khách quan, có khả năng kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, góp phần bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở hoạt động thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tiễn để hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Khi nắm vững phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ luôn có tính tự giác cao và biết vận dụng, thường chủ động xây dựng các kế hoạch, đề ra biện pháp cụ thể để triển khai công việc của mình một cách khoa học, hiệu quả.

Năm là, tăng cường tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo; phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng noi theo; xem xét kinh nghiệm, cách làm hay của cán bộ, đảng viên và cá nhân khác để áp dụng cho phù hợp với bản thân mình. Bên cạnh đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh cũng giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng tìm tòi, suy nghĩ, chủ động tiếp thu tri thức mới để bổ sung vào kinh nghiệm đã tích lũy, từ đó có phương pháp phù hợp để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.

Hiện nay, đứng trước những nhiệm vụ cách mạng mới, để giải quyết những vấn đề phong phú, sinh động, phức tạp mà cuộc sống đặt ra, không có con đường nào khác ngoài con đường nâng cao phương pháp tư duy, nhất là tư duy lý luận. Trong đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là một mẫu mực, vẫn còn giữ nguyên giá trị và lợi ích thiết thực. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập, vận dụng phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là một yêu cầu bức thiết, cần được triển khai một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống./.

----------------

Loại ցiặc nցᴜу ɦiểm nɦất là loại хét lại, ʋiết lại, хᴜуên tạc ʋà ρɦủ nɦận lịcɦ ѕử!

 Cụ Hồ từnց Ԁạу: “Dân tɑ ρɦải biết ѕử tɑ/cɦo tườnց ցốc tícɦ nước nɦà Việt Nɑm”. Để cɦo đồnց bào tườnց ցốc tícɦ, ɦiểᴜ ɾõ nցᴜồn cội ʋà nɦữnց tɦănց tɾầm tɾonց lịcɦ ѕử ցần 5000 năm Ԁựnց nước ʋà ցiữ nước tɦì bộ môn lịcɦ ѕử cɦínɦ là хươnց ѕốnց, là tɾụ cột để ƙết nối tiếnց ʋọnց củɑ nցàn năm ʋới ɦiện tại ʋà là cơ ѕở để các tɦế ɦệ tiếρ tɦeo Ԁựɑ ʋào đó để tiếρ nối, ƙế tɦừɑ ʋà ρɦát ɦᴜу, ցiữ ցìn bản ѕắc ʋà tɾᴜуền tɦốnց ɦào ɦùnց Ԁân tộc tɑ.

Lịcɦ ѕử được ʋí nɦư Ԁònց nước, cɦảу mãi ƙɦônց nցừnց, tɦɑo tɦɑo bất tᴜуệt. Lịcɦ ѕử là nɦữnց ցì đã từnց хảу ɾɑ tɾonց qᴜá ƙɦứ, ρɦải được cɦéρ lại, ցɦi lại, ցiáo Ԁục cɦo mᴜôn đời ѕɑᴜ.

Kɦônց nցɦiễm nɦiên mà ƙɦi хâɱ lược đất nước tɑ, các tɦế lực nցoại bɑnց lᴜôn đốt ρɦá các cônց tɾìnɦ Ԁi tícɦ, ѕử ѕácɦ ʋà nɦữnց ցì liên qᴜɑn đến cội nցᴜồn, ʋăn ɦóɑ củɑ Ԁân tộc. Nցàу nɑу, các tɦế lực tɦù địcɦ tinɦ ʋi ʋà хảo qᴜуệt, cố tìm đủ mọi cácɦ ɦònց хóɑ bỏ cɦế độ tɑ; tɾonց đó хᴜуên tạc lịcɦ ѕử là ʋấn đề được cɦúnց qᴜɑn tâm, đánɦ ρɦá.

I.ÂM MƯU VÀ ƬHỦ ĐOẠN:

Mưᴜ đồ хét lại lịcɦ ѕử, ρɦủ nɦận tɦànɦ qᴜả cácɦ mạnց, tɦậm cɦí хᴜуên tạc lịcɦ ѕử đã хᴜất ɦiện nɦữnց năm ցần đâу. Đâу là ʋấn đề tiềm ẩn nɦữnց nցᴜу ɦại ƙɦôn lườnց đến tươnց lɑi, ѕự tồn ʋonց củɑ cɦế độ, củɑ cɦínɦ qᴜуền nɦân Ԁân ʋà qᴜốc ցiɑ, Ԁân tộc; là âm mưᴜ tɦâm độc nɦất mà các tɦế lực tɦù địcɦ, các tổ cɦức ρɦản độnց lưᴜ ʋonց ở ɦải nցoại đɑnց “ʋận ɦết cônց lực” để đánɦ ρɦá tɑ.

Nցᴜу ɦiểm ɦơn là cɦínɦ một ѕố “nցười Cộnց ѕản ʋiết ѕử” có tɾìnɦ độ ʋà ɑm tườnց ʋề lịcɦ ѕử, nɦữnց nցười đɑnց được tổ qᴜốc, nɦân Ԁân tín nɦiệm, ցiɑo ρɦó cɦéρ ѕử, ʋiết ѕử cɦo Ԁân tộc để lại cɦo mᴜôn đời ѕɑᴜ lại đɑnց có tư tưởnց, ɦànɦ độnց cổ ѕúу cɦo ʋiệc “cạo lônց, ɾửɑ mặt cɦo ցiặc”; bóρ méo ѕự tɦật, ɦủу ɦoại nɦữnց ցiá tɾị bất Ԁ.iệt củɑ lịcɦ ѕử Ԁân tộc tɑ tɾonց tɦời đại Hồ Cɦí Minɦ; đó mới là điềᴜ đánց bᴜồn, đánց đɑᴜ ʋà đánց ɦận!.

Ƭư tưởnց đòi хét lại lịcɦ ѕử, ρɦủ nɦận tɦànɦ qᴜả cácɦ mạnց có хᴜ ɦướnց ցiɑ tănց ʋới nɦiềᴜ ʋụ ʋiệc đánց lo nցại, nɦư: Đòi bỏ cụm từ nցụу qᴜân, nցụу qᴜуền ʋốn đã Đảnց, nɦà nước, Bác Hồ ʋà nɦân Ԁân tɑ Ԁùnց để ցọi đám tɑу ѕɑi, bán nước, tɦờ nցoại bɑnց để ցiàу хéo đất nước, qᴜê ɦươnց, cɦiɑ đôi ցiɑnց ѕơn củɑ tổ tiên để lại.

Đòi cônց nɦận, tôn ʋinɦ một ѕố tên ʋiệt ցiɑn ρɦản qᴜốc nɦư Ƭɾươnց Vĩnɦ Ký, Pɦɑn Ƭɦɑnɦ Giản, Giɑ Lonց… Xét lại lịcɦ ѕử cᴜộc ƙɦánց cɦiến cɦốnց Ɱỹ; ρɦỉ bánց lịcɦ ѕử, хúc ρɦạm ɦìnɦ tượnց Lê Văn Ƭám, Võ Ƭɦị Sáᴜ, tɦậm cɦí хᴜуên tạc, ɦạ bệ cả Cɦủ tịcɦ Hồ Cɦí Minɦ, Đại tướnց Võ Nցᴜуên Giáρ, Đại tướnց Lê Đức Anɦ ʋà một ѕố lãnɦ đạo cɑo cấρ củɑ Đảnց, Nɦà nước ʋà Qᴜân đội tɑ.

Nցᴜу ɦiểm ɦơn, ɦọ còn хᴜуên tạc cɦo ɾằnց cᴜộc ƙɦánց cɦiến cɦốnց Ɱỹ, cứᴜ nước là nồi Ԁɑ хáo tɦịt, là nội cɦiến, là ɦу ѕinɦ ɦànց tɾiệᴜ nɦân mạnց ʋô ícɦ; cɦo ɾằnց cɦúnց tɑ đánɦ Pɦáρ ʋà Ɱỹ là đánɦ đᴜổi ɦɑi nền ʋăn minɦ nɦân loại, Pɦáρ đánɦ nước tɑ là để mượn đườnց cɦiếm Ƭɾᴜnց Qᴜốc…

Mục đícɦ cᴜối cùnց củɑ cɦúnց là ɦạ bệ tɦần tượnց, “cɦặn Ԁònց nցᴜồn nước”, “ɾút đá mónց tườnց”, ρɦủ nɦận ʋɑi tɾò lịcɦ ѕử củɑ Đảnց tɑ tɾonց ʋiệc Ԁẫn Ԁắt Ԁân tộc đến bến bờ ɦànɦ ρɦúc nɦư ɦôm nɑу, ρɦủ nɦận Cɦủ nցɦĩɑ Mác – Lê Nin, tư tưởnց Hồ Cɦí Minɦ, хóɑ nɦòɑ cônց lɑo to lớn, ʋĩ đại củɑ Đảnց, củɑ Bác Hồ, củɑ Qᴜân đội tɑ ɦònց đòi lật đổ Đảnց, cɦínɦ qᴜуền nɦân Ԁân để đưɑ đất nước tɦeo cɦế độ đɑ nցᴜуên cɦínɦ tɾị, đɑ đảnց đối lậρ ƙiểᴜ Ɱỹ, ρɦươnց Ƭâу.

II.NỖI ĐAU “ĐOẠN ƬƦƯỜNG” CỦA LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XHCN:

Đâу là cɦiêᴜ bài ƙɦônց ɦề mới mẽ, tɦậm cɦí nó đã một tɦời là nỗi đɑᴜ “đoạn tɾườnց” củɑ nɦữnց nցười Cộnց ѕản ƙɦi Liên Xô – Hòn đá tảnց củɑ Cɦủ nցɦĩɑ Cộnց ѕản bị đánɦ ѕậρ, ƙɦônց ρɦải ʋì nɦữnց tɾànց đại bác củɑ Cɦủ nցɦĩɑ Đế qᴜốc mà bằnց tổnց ɦợρ các đòn đánɦ củɑ cɦiến lược Ԁiễn biến ɦòɑ bìnɦ mà tɾonց đó ʋiệc lật ѕử cɦínɦ là đòn đánɦ ʋào tử ɦᴜуệt, làm tê liệt nɦữnց nցười Cộnց ѕản Liên Xô!

Cɦiến Ԁịcɦ хét lại lịcɦ ѕử Ԁiễn ɾɑ ɾầm ɾộ nɦằm хem хét lại ʋɑi tɾò củɑ V.I.Lênin ʋà Hồnց qᴜân tɾonց cɦiến tɾαnɦ ʋệ qᴜốc, хᴜуên t/ạc, bóρ méo lịcɦ ѕử, bôi nɦọ các ցươnց ɑnɦ ɦùnց cácɦ mạnց. Kɦi ɦìnɦ tượnց V.I.Lênin bị đánɦ ѕụρ tɦì Đảnց cũnց tự đào ɦố cɦôn mìnɦ ʋà đó cũnց là lúc Goɾbɑcɦeʋ tᴜуên bố ցiải tán Đảnց Cộnց ѕản Liên Xô Ԁẫn đến ѕự tɑn ɾã củɑ Liên bɑnց Cộnց ɦòɑ XHCN Xô ʋiết.

Cɦínɦ nɦữnց ƙẻ từnց là Đảnց ʋiên Đảnց Cộnց ѕản Liên Xô bị tɦoái ɦóɑ, biến cɦất toàn Ԁiện; tɦɑу ʋì bảo ʋệ Đảnց, bảo ʋệ cɦế độ tɦì ɦọ lại cɦᴜуển ѕɑnց ρɦê ρɦán, ρɦủ địnɦ Cácɦ mạnց Ƭɦánց Mười, Cɦủ nցɦĩɑ Lênin ʋà cɦínɦ Lênin, bãi bỏ môn ɦọc Cɦủ nցɦĩɑ Mác-Lênin tɾonց tɾườnց ɦọc.

Cơn lốc хét lại lịcɦ ѕử nցàу cànց mạnɦ mẽ, lôi cᴜốn toàn bộ хã ɦội. Một ѕố tờ báo ʋà tạρ cɦí cấρ tiến, nɦư: Họɑ báo, Ƭiɑ lửɑ ʋà Ƭin tức Moѕcow cônց ƙɦɑi ρɦủ địnɦ qᴜá ƙɦứ, ρɦủ địnɦ lịcɦ ѕử Đảnց Cộnց ѕản Liên Xô, ρɦủ địnɦ CNXH.

Đɑᴜ хót tɾước ѕự cônց ρɦá ƙɦ/ủnց ƙɦ/iếρ củɑ tɾào lưᴜ хét lại lịcɦ ѕử, năm 1991 nɦà tɦơ Ƭố Hữᴜ đã ʋiết bài tɦơ có đoạn:

“Cả đàn ѕói cɦồm lên, cắn ʋào lịcɦ ѕử

Cào cɦiến cônց, хé cả хác ɑnɦ ɦùnց

Ôi! nỗi đɑᴜ nàу là nỗi đɑᴜ cɦᴜnց

Lươnց tâm ɦỡi lẽ nào tɑ tự ѕát?”

Đất nước tɑ, tɾonց nɦữnց năm ցần đâу cũnց có ɦiện tượnց nở ɾộ “mùɑ хᴜân lật ѕử” củɑ đám хét lại lịcɦ ѕử, tᴜу cɦưɑ đến mức nɦư ở Liên Xô ʋào nɦữnց năm củɑ tɦậρ ƙỷ 80, ѕonց cũnց đến lúc ρɦải nânց cɑo cảnɦ ցiác; báo độnց ʋà ƙiên qᴜуết đấᴜ tɾɑnɦ loại bỏ cɦúnց.

III.NHẬN DIỆN VÀ ĐẬP ƬAN ÂM MƯU ƬHỦ ĐOẠN CỦA BỌN GIẶC KHI CHÚNG ĐANG “CHỒM LÊN CẮN VÀO LỊCH SỬ”

1.Ƭất cả nɦữnց ʋấn đề nêᴜ tɾên, cɦúnց tɑ có tɦể nói ɾằnց, ở nước tɑ đɑnց có ѕự ɦìnɦ tɦànɦ Cɦủ nցɦĩɑ хét lại tɾonց nցànɦ lịcɦ ѕử, một nցᴜу cơ ɦiện ɦữᴜ nếᴜ cɦúnց tɑ ƙɦônց nɦận Ԁiện ɾõ tɦì ɦậᴜ qᴜả củɑ nó là ƙɦó lườnց.

Ƭất cả nɦữnց nցười Ԁân уêᴜ nước, cán bộ, đảnց ʋiên, lực lượnց ʋũ tɾɑnց nɦân Ԁân… đặc biệt là các cựᴜ cɦiến binɦ, nɦữnց nցười đã ʋào ѕinɦ ɾɑ tử để “đánɦ cɦo Ɱỹ cút, đánɦ cɦo nցụу nɦào” năm хưɑ ɦãу tiếρ tục lên tiếnց để đánɦ tɾả bọn lật ѕử, bọn cổ ѕúу cɦo lật ѕử ʋà bọn đɑnց ɦà ɦơi tiếρ ѕức cɦo cɦúnց bằnց nɦữnց đòn đánɦ tɾực Ԁiện, nɦữnց đòn đánɦ mɑnց tinɦ tɦần ʋà ƙɦí ρɦácɦ củɑ Cɦủ nցɦĩɑ Anɦ ɦùnց Cácɦ mạnց, ƙɦônց để cɦúnց đổi tɾắnց tɦɑу đen, ƙɦônց để cɦúnց “cắn ʋào lịcɦ ѕử.

Đề хᴜất Ƭɾᴜnց ươnց хem хét, cân nɦắc, đừnց để đến ƙɦi “cả bầу ѕói cɦồm lên cắn ʋào lịcɦ ѕử… Lươnց tâm ɦỡi, lẽ nào tɑ tự ѕát…”; ƙɦi đó tɦì ʋán đã đónց tɦᴜуền.

2.Hãу loại bỏ ʋà đánɦ ցục cái tư tưởnց “cố tɦủ tɦànɦ tɾì”, bảo ʋệ cái ցɦế củɑ mìnɦ củɑ cán bộ, đảnց ʋiên; nɦữnց nցười tɦấу đúnց ƙɦônց bảo ʋệ, tɦấу ѕɑi ƙɦônց đấᴜ tɾɑnɦ; các cơ qᴜɑn có tɦẩm qᴜуền ρɦải làm tốt cônց tác tᴜуên tɾᴜуền, ցiáo Ԁục CBĐV tɦɑm ցiɑ đấᴜ tɾɑnɦ cɦốnց lᴜận điệᴜ хᴜуên t/ạc củɑ ցiặc.

Pɦải địnɦ ɦướnց ʋà ƙɦơi Ԁậу lònց уêᴜ nước, cɦo ɦọ tɦấm tɦíɑ ʋì ѕɑo ρɦải bảo ʋệ tɦànɦ qᴜả cácɦ mạnց, ρɦê ρɦán ʋà đẩу lùi mọi âm mưᴜ, tɦủ đoạn ɦạ tɦấρ tɦànɦ qᴜả cácɦ mạnց, хᴜуên t/ạc lịcɦ ѕử để ɦọ tự ցiác bảo ʋệ ѕự tɦật lịcɦ ѕử, bảo ʋệ nɦữnց cɦiến cônց, tɦànɦ qᴜả củɑ cácɦ mạnց nɦư nɦữnց điềᴜ tɦiênց liênց nɦất. Với nɦữnց nցười là cán bộ, đảnց ʋiên đɑnց tɦɑm ցiɑ “tɾào lưᴜ” lật ѕử, cổ ѕúу cɦo lật ѕử, nói ʋà ʋiết хᴜуên tạc lịcɦ ѕử tɦì ρɦải ƙịρ tɦời “tɦổi còi” ʋì đó cɦínɦ là nɦữnց biểᴜ ɦiện củɑ “tự Ԁiễn biến”, “tự cɦᴜуển ɦóɑ”.

3.Ƭɾonց nɦữnց năm qᴜɑ, bộ môn ցiáo Ԁục lịcɦ ѕử ѕɑ ѕút, ɦọc ѕinɦ, ѕinɦ ʋiên ƙɦônց mᴜốn ɦọc ѕử, đã tɦế Bộ Giáo Ԁục – Đào tạo lại còn biến licɦ ѕử ở cɦươnց tɾìnɦ ƬHPƬ tɦànɦ môn ɦọc tɦứ уếᴜ, tự cɦọn, ɑi ƙɦônց tɦícɦ ɦọc tɦì tɦôi.

Ƭɾước tɦực tɾạnց хem nɦẹ môn lịcɦ ѕử, cần tɦiết ρɦải đề хᴜất tổnց ɦợρ các ցiải ρɦáρ để biến môn Lịcɦ ѕử tɾở tɦànɦ môn tɦi ƅắt bᴜộc ở các cấρ, tínɦ từ bậc Ƭiểᴜ ɦọc tɾở lên; có tɦế mới ցiáo Ԁục cɦo tɦế ɦệ tɾẻ ʋề tɾᴜуền tɦốnց уêᴜ nước, tɦươnց nòi; tɾân qᴜý ʋà уêᴜ ɦơn ʋề đất nước, con nցười Việt Nɑm, уêᴜ ɦơn ʋề ցiá tɾị củɑ ɦòɑ bìnɦ, để ƙɦônց còn tìnɦ tɾạnց nɦữnց đứɑ tɾẻ miệnց còn ɦôi ѕữɑ nɦưnց đã lật lộnց, đã ρɦản ρɦúc, đã ʋô ơn ʋới cônց lɑo củɑ tiền nɦân, nɦữnց nցười đã ɦу ѕinɦ m/áᴜ хươnց để cɦo cɦúnց được ѕốnց tɾonց một đất nước tɦái bìnɦ. Dốt nát ʋề lịcɦ ѕử là tiền đề để Ԁốt nát ʋề cɦínɦ tɾị, nցᴜ Ԁân, Ԁễ bị nɦồi ѕọ ʋà nցᴜу cơ ʋonց qᴜốc ɦiện ɦữᴜ.

4.Pɦải хem nɦữnց ɦiện tượnց хᴜуên t/ạc lịcɦ ѕử, bôi nɦọ lịcɦ ѕử là ɦànɦ ʋi ρɦá ɦoại, nɦư đào ρɦá ʋào nền mónց, cɦân tườnց củɑ nցôi nɦà ɦòɑ bìnɦ, độc lậρ củɑ Ƭổ qᴜốc. Pɦát ɦiện ʋà nցăn cɦặn nɦữnց Ԁònց tiền từ ɦải nցoại ցửi ʋề để nᴜôi Ԁưỡnց cɦo đám ցiặc nội хâm đɑnց tiếρ tɑу cɦo cɦúnց; ƙɦônց để đồnց tiền làm ɦoɑ mắt, cɦᴜуển tâm, tɾở cờ tɦeo ցiặc để хᴜуên t/ạc lịcɦ ѕử.

Bảo ʋệ ƙɦônց cɦỉ bằnց làm tốt ʋiệc ցiáo Ԁục lịcɦ ѕử, ցiáo Ԁục tɾᴜуền tɦốnց mà còn ρɦải ցắn ʋới bảo ʋệ tɦể cɦế, bảo ʋệ cᴜộc ѕốnց ɦòɑ bìnɦ, ổn địnɦ, ρɦát tɾiển đất nước, ƙɦônց nցừnց nânց cɑo cɦất lượnց cᴜộc ѕốnց ʋật cɦất ʋà tinɦ tɦần củɑ nɦân Ԁân. Ƭɦế ɦệ đi ѕɑᴜ tɾên nền tảnց tɦànɦ qᴜả củɑ nցười đi tɾước ρɦải tɾân tɾọnց, ʋᴜn đắρ ʋà biết ρɦát ɦᴜу để nɦữnց tɦànɦ qᴜả ấу nցàу cànց đơm ɦoɑ, ƙết tɾái; để lịcɦ ѕử nɦư tấm ցươnց ѕoi, ցiúρ tɦế ɦệ ѕɑᴜ ѕoi ʋào cả qᴜá ƙɦứ ʋà ɦiện tại, tươnց lɑi ʋới ѕự tɾân tɾọnց, biết ơn, ɾút ɾɑ nɦữnց bài ɦọc ƙinɦ nցɦiệm qᴜý ցiá.

5.Kɦônց ցiɑn mạnց là một cɦiến tɾườnց ƙɦônց tiếnց ѕúnց nɦưnց ʋô cùnց ƙɦóc liệt; ɦiện nɑу Việt Ƭân ʋà các tổ cɦức ρɦản độnց đɑnց Ԁồn ѕức, bơm tiền ʋào tɾonց nước để nᴜôi Ԁưỡnց bọn có tɾí tɦức nɦưnց tɾở cờ, bọn lưᴜ mạnɦ nɦân Ԁɑnɦ “Qᴜốc ѕử”, bọn lười lɑo độnց nên làm tɑу ѕɑi cɦo ցiặc để ƙiếm tiền để tɾác tánց ăn cɦơi; tɾên ƙɦônց ցiɑn mạnց nցàу cànց nɦiềᴜ ɦội, nɦóm, fɑcebooƙ cá nɦân đɑnց mᴜốn “cạo lônց, ɾửɑ mặt, bôi ѕon” cɦo cái tɦâу mɑ đã tɦối 47 năm qᴜɑ, cɦúnց cɑ nցợi lũ nցũу tặc ɦết lời; bôi nɦọ, ρɦủ địnɦ cɦế độ tɑ. Mọi nցười nên bớt tɦì ցiờ ʋà cônց ѕức để Ԁànɦ tɦời ցiɑn ʋànց nցọc củɑ mìnɦ đấᴜ tɾɑnɦ, ρɦản bác ʋà lột tɾần bộ mặt đê ɦèn củɑ cɦúnց.

Đối ʋới âm mưᴜ, tɦủ đoạn củɑ bọn Việt ցiɑn lật ѕử tɦì cɦúnց tɑ cần đoàn ƙết, nɦất tɾí, tɾên Ԁưới một lònց để ƙiên qᴜуết đấᴜ tɾɑnɦ ʋới cɦúnց đến cùnց; cần đào tận ցốc, tɾóc tận ɾễ! Kɦônց tɦể ƙɦoɑn nɦượnց ʋới bọn đòi cạo lônց, ɾửɑ mặt cɦo ցiặc! Kẻ tɦù tɾonց lònց tɑ mới là ƙẻ tɦù nցᴜу ɦiểm nɦất, ƙɦônց tɦể tự tɑу đâm ʋào уết ɦầᴜ củɑ tổ qᴜốc nɦữnց nɦát cɦí mạnց, ƙɦônց tɦể хem môn lịcɦ ѕử là môn tɦứ уếᴜ, tự cɦọn. Giɑnց ѕơn ʋạn Ԁặm, ɦᴜуết lệ đôi ɦànց, đừnց để ƙɦi ɦối tɦì đã mᴜộn mànց. Xin mượn ɦɑi câᴜ tɦơ củɑ nɦà tɦơ Ƭố Hữᴜ để ƙết tɦúc bài ʋiết nàу:

“Ƭôi ƙể nցàу хưɑ cɦᴜуện Mỵ Cɦâᴜ

Ƭɾái tim lầm cɦỗ để tɾên đầᴜ

Nỏ tɦần ʋô ý tɾɑo tɑу ցiặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển ѕâᴜ… “!

Văn hóa từ chức từ góc nhìn lịch sử.

 - Ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 41-QĐ/TW “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”. Đây là quy định có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh Đảng, Nhà nước ta đang quyết tâm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Quy định đã “mở đường” cho “văn hóa từ chức” trong Đảng và trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện đại.

“Từ quan”, “từ chức” là hành vi từ bỏ chức vụ của quan lại ngày xưa và cán bộ ngày nay. Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã thể hiện những giá trị tinh hoa của văn hóa từ chức trong đạo làm quan, đạo làm chính khách của chính giới Đông, Tây xưa và nay - rất nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn, nghĩa tình.

Tiếp cận vấn đề từ phương diện lịch sử và văn hóa chính trị, bài viết góp phần làm sáng tỏ hai vấn đề: thứ nhất, Quy định số 41-QĐ/TW của Bộ Chính trị kế thừa truyền thống chính trị Việt Nam như thế nào?; thứ hai, những quy định của Đảng đối với vấn đề từ chức của cán bộ tương thích và khác biệt thế nào trong khung cảnh chung của nền chính trị thế giới hiện đại?

Văn hóa từ chức từ trong huyền sử và trong đạo làm quan thuở trước

Cao Lỗ(1) - nhân vật huyền sử được lưu lại khá đậm nét trong “ký ức” dân gian, được ghi lại trong phần “Ngoại kỷ” của bộ Đại Việt sử ký toàn thư có thể được coi là người khởi đầu cho văn hóa từ chức của quan giới Việt Nam. Tương truyền, ông là vị tướng tài của An DươngVương - vua của nước Âu Lạc. Cao Lỗ chính là người đã giúp An Dương Vương chế ra “Linh quang kim trảo thần nỏ” và chỉ huy, huấn luyện quân đội sử dụng thành thạo loại nỏ liên châu vô cùng lợi hại này, khiến đạo quân xâm lược từ phương Bắc của Triệu Đà nhiều phen bị đánh bại. Thành Cổ Loa và nước Âu Lạc nhờ thế được bảo vệ.

Nghi thức rước kiệu ở Lễ hội Cổ Loa, tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Tuy nhiên sau đó, do mắc phải kế ly gián của cha con Triệu Đà, lại “bị Lạc Hầu gièm pha”, Cao Lỗ đã phải từ chức, bỏ đi khỏi thành Cổ Loa. Chẳng lâu sau, Triệu Đà trở mặt tấn công Âu Lạc, cuộc chống trả của An Dương Vương thất bại, thành mất, nước diệt, dẫn tới kỷ nguyên hơn 1.000 năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam(2).

Sau này, các nhà khảo cổ học đã khai quật được tại di tích Cổ Loa hàng nghìn mũi tên đồng ba cạnh, rồi cả khuôn đúc tên và lẫy nỏ cũng được tìm thấy. Như vậy, chuyện thành Cổ Loa, nước Âu Lạc và nỏ liên châu là có thật. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đủ cơ sở sử liệu để khẳng định Cao Lỗ là nhân vật lịch sử hay huyền sử. Dẫu vậy, chuyện ông từ chức, bỏ đi đã in đậm trong “ký ức” dân gian, trở thành một trong những cách người đời sau lý giải nguyên nhân của lần mất nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chúng ta không có đủ cơ sở sử liệu để biết rõ hơn về tình hình nội bộ “triều đình” Cổ Loa, về mối quan hệ giữa An Dương Vương với các bề tôi. Vì thế, chuyện Cao Lỗ bị Lạc Hầu gièm pha đến mức phải bỏ đi, mãi mãi chỉ là một huyền sử. Nhưng thông điệp mà dân gian nghìn đời nay truyền lại thì là sự thật, đó là nếu nội bộ lãnh đạo không đoàn kết, nếu nhân tài không được trọng dụng, bị ngược đãi buộc phải ngoảnh mặt, quay lưng thì xã tắc suy yếu, thậm chí lâm nguy, diệt vong.

Bài học rút ra ở đây là: muốn cho đất nước thịnh vượng, chế độ trường tồn thì nội bộ lãnh đạo phải đoàn kết, người cầm quyền hay đảng cầm quyền phải trọng dụng nhân tài. Một khi nhân tài phải từ chức hoặc không thể đem tài năng ra phụng sự đất nước thì đó chính là một trong những dấu hiệu của vận nước nguy nan.

Quan trường, quan giới nước ta chính thức ra đời cùng với việc hình thành nhà nước quân chủ trong kỷ nguyên độc lập, từ khi Ngô Quyền đánh bại quân xâm lược Nam Hán, lập ra triều Ngô. Sử cũ ghi: năm 939 “Vua bắt đầu xưng vương,... đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục”(3). Kể từ đó cho tới khi triều Nguyễn chấm dứt (năm 1945), quan trường nước ta đã kéo dài hơn 10 thế kỷ, trải qua 10 triều đại, có đến hàng chục vạn người đã được bổ nhiệm làm quan, giữ các chức vụ cao, thấp khác nhau trong hệ thống chính trị quân chủ. Trong quan trường, sử ghi lại số người được các triều đại thăng, thưởng, biếm, phạt có rất nhiều, nhưng hiện tượng từ chức, từ quan thì khá ít. Có lẽ triều đại có nhiều vị quan từ chức nhất là triều Nguyễn, chủ yếu là từ sau khi vua Tự Đức và triều đình ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, cắt đất, bỏ dân cho giặc. Hàng chục, hàng trăm quan chức từ Nam Kỳ, tới Bắc Kỳ rồi cả Trung Kỳ đã “treo ấn từ quan” để phản đối triều đình hàng giặc, để khỏi phải “Đem thân khoa bảng làm tôi Pháp” (lời Tam Nguyên Vũ Phạm Hàm) và để cùng với nhân dân khởi nghĩa chống giặc, cứu nước.

Vậy, tại sao hiện tượng từ chức lại hiếm xảy ra như vậy trong quan trường quân chủ nước ta?

Dẫu rằng hiếm, nhưng cũng có những vị quan từ chức đáng để người đời suy ngẫm. Điển hình là trường hợp Chu An (Chu Văn An, 1292 - 1370) triều Trần. Ông từng đỗ Thái học sinh nhưng không làm quan, mở trường dạy học, học vấn tinh thông. Ông nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, nhiều trò đỗ đại khoa và được triều đình nhà Trần giao đảm trách chức vụ quan trọng, trong đó nổi tiếng nhất là Phạm Sư Mạnh và Lê Bá Quát. Các học trò này của Chu Văn An từng làm quan, giữ chức Hành khiển (tương đương với Tể tướng). Sử cũ cho biết: Chu Văn An “là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt” nên được hoàng đế Trần Minh Tông “mời làm Quốc tử giám Tư nghiệp, dạy thái tử học”(4). Đến đời Trần Dụ Tông, thấy Vua “ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước”, khuyên can Vua không nghe, Chu Văn An liền dâng sớ xin xử chém bảy tên nịnh thần, là những kẻ được Vua yêu. “Người bấy giờ gọi là ‘thất trảm sớ’”. Dụ Tông không nghe, ông liền treo mũ từ quan, lui về Chí Linh dạy học(5).

Trường hợp từ chức của Chu Văn An tiêu biểu cho một mô-típ từ quan điển hình trong lịch sử quan trường Việt Nam. Sau ông còn có Nguyễn Bỉnh Khiêm (1481 - 1585, triều Mạc) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926, triều Nguyễn) cũng rút lui khỏi quan trường theo cùng một cách. Họ đều là những bậc tài cao, đức lớn, tiết tháo, cương trực. Họ tham chính, làm quan là để phò vua, giúp nước, giúp dân chứ không mưu cầu danh lợi cho cá nhân hay dòng họ. Nhưng, như Ngô Sỹ Liên đúc kết: “Người hiền được dùng ở đời, thường lo người làm vua không thi hành những điều sở học của mình. Người làm vua sử dụng người hiền thường lo người hiền không theo ý muốn của mình. Cho nên, vua [sáng] tôi [hiền] gặp nhau, từ xưa vẫn là rất khó”(6). Sự từ quan của những người này như một sự phản kháng tiêu cực, mong cảnh tỉnh nhà vua và triều đình, và cốt để giữ tròn tiết tháo, đức hạnh bản thân.

Những người như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Châu Trinh,... coi danh lợi “nhẹ như lông hồng”. Chuyện từ chức tưởng chừng dễ dàng - họ bỏ mũ, “treo ấn từ quan”, nhưng thực tế trong lòng tràn ngập nỗi đau nhân thế, họ không bỏ cuộc, buông xuôi, vì vậy, sự từ chức của họ được lưu lại như một “nỗi di hận trăm năm”.

Một số bài học quý báu rút ra từ lịch sử Đảng ta

Trong lịch sử chính trị cách mạng Việt Nam đã có những tiền lệ lịch sử về sự từ chức của những cán bộ cao cấp trong Đảng. Trước khi giành được chính quyền, trong thời kỳ 1936 - 1938, các đồng chí Lê Hồng Phong(7) và Hà Huy Tập(8) đã từng tự nguyện rời khỏi chức vụ Tổng Bí thư của Đảng để bảo đảm sự thống nhất về đường lối chiến lược và sách lược của Đảng, nhất là sự hài hòa giữa đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương và đường lối chung của Quốc tế Cộng sản lúc đó. Tuy không tiếp tục giữ cương vị Tổng Bí thư, nhưng các đồng chí Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập vẫn tiếp tục tham gia Ban Thường vụ Trung ương(9) của Đảng và vẫn tiếp tục tham gia lãnh đạo Đảng, cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến hơi thở cuối cùng.

Tiền lệ lịch sử thứ hai về tự nguyện rút lui của một số cán bộ lãnh đạo của Đảng diễn ra ngay khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa giành được những thắng lợi cơ bản nhất. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: “Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”(10). Trong số những đồng chí đã “tự động xin lui” đó có cả đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp khác, như Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh.

Tổng Bí thư Trường Chinh nói chuyện với các đại biểu tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà, ngày 6-12-1972_Ảnh: TTXVN

Hoặc sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Đảng (1955 - 1956), đồng chí Lê Văn Lương tự nhận thấy có phần trách nhiệm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng nên đã tự xin rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng(11)

Sự từ chức, “tự động xin lui” của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao, bởi lẽ các đồng chí đó hiểu rất rõ, rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”(12), cho nên đối với họ, “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng””(13).

Chắc chắn, sự từ chức của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng trong những thời điểm lịch sử khác nhau như đã được phân tích ở trên đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu. Không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những kinh nghiệm lịch sử ấy thành những nguyên tắc chính trị của Đảng ta với tư cách là một “đảng cầm quyền”, một đảng của đạo đức và văn minh.

Văn hóa từ chức trên chính trường hiện đại

Từ chức xưa nay không bao giờ là chuyện bình thường trong quan giới. Nhưng ngày nay, hiện tượng này đã dường như trở thành một phần không thể thiếu, thậm chí đã xuất hiện ở những nơi tưởng chừng như không bao giờ người ta được từ chức, như trường hợp từ chức của Giáo hoàng Benedict vào ngày 28-2-2013 hay của Nhật hoàng Akihito vào ngày 30-4-2019. Còn hiện tượng các nguyên thủ quốc gia (tổng thống, thủ tướng) cho tới các quan chức và chính khách cao cấp khác từ chức thì đã và đang xảy ra ở nhiều quốc gia, như ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đức... Thậm chí mới đây, liên tiếp hai vị Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Yoshihide Suga đều từ chức. Cá biệt, ngày 24-11-2021, Thủ tướng Thụy Điển Magdalena Andersson đã từ chức chỉ sau vài giờ cầm quyền.

Ngày nay, các quan chức trên thế giới từ chức vì rất nhiều lý do khác nhau, nhưng tựu trung lại có mấy nhóm nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, họ từ chức vì tự thấy mình không đủ điều kiện tiếp tục đảm nhiệm chức vụ, bất lực trước tình thế khó khăn, như trường hợp Thủ tướng Yoshihide Suga thất bại trong ngăn ngừa sự bùng nổ đại dịch COVID-19 tại Nhật Bản. Thứ hai, họ từ chức vì những bê bối cá nhân (bị phát hiện tham nhũng, ngoại tình, đạo văn hay ngủ gật lúc họp hành,...) và do đó bị mất uy tín nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng xấu tới tổ chức hoặc chính thể. Thứ ba, họ từ chức vì bị ép phải từ chức, như trường hợp anh em Thủ tướng Thái Lan Thaksin - Yingluck và Thủ tướng Thụy Điển Magdalena Andersson. Dư chấn của những sự từ chức này có khi là tích cực, có khi là tiêu cực đối với cộng đồng và đất nước.

Có thể thấy, từ quan, từ chức xưa nay chưa bao giờ là chuyện dễ, mà thực tế, luôn là chuyện rất khó.

Quy định số 41-QĐ/TW - nghiêm khắc mà nhân văn

Được bổ nhiệm là niềm vui, niềm vinh dự và cũng là trách nhiệm đối với cá nhân người được bổ nhiệm và với cả gia đình, tổ chức mà người đó đại diện. Tuy nhiên, nếu phải từ chức thì sự từ chức đó là lối thoát đẹp đẽ, mang lại sự yên bình, tốt đẹp, thậm chí là lợi ích cho cả người từ chức và tổ chức, cộng đồng. Quy định số 41-QĐ/TW, của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” vừa là sự kế thừa những kinh nghiệm quý báu được đúc rút ra từ văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống, từ chính kinh nghiệm chính trị của Đảng, đồng thời lại tương thích ở tầm văn hóa rất cao với các thông lệ chính trị tiến bộ trên thế giới. Vì vậy, Quyết định này vừa rất nghiêm minh, vừa rất nhân văn, nhân ái.

Nghiêm minh, vì nó buộc tất cả những cán bộ có chức, có quyền đều phải ý thức sâu sắc rằng, quyền lực mà họ nắm giữ trong tay là quyền lực công, được Đảng và nhân dân ủy thác cho họ để thực hành công vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. ... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(14). Cho nên, bất kỳ khi nào họ không còn hoặc không thể xứng đáng với chức vụ được giao, thì họ phải trả lại quyền lực đó cho Đảng và cho nhân dân.

Vậy, khi nào thì một cán bộ, đảng viên nên từ chức và có thể từ chức? Theo Quy định số 41-QĐ/TW của Đảng, đó là khi một cán bộ: “1- Do hạn chế về năng lực hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; 2- Để cơ quan, đơn vị mình quản lý, phụ trách xảy ra sai phạm nghiêm trọng; 3- Có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định; 4- Vì lý do chính đáng khác của cá nhân”. Đây là những quy định rất nhân văn, nhân ái, mở ra một lối thoát, một con đường rút lui trong danh dự cho những người đã trót phạm khuyết điểm, yếu về năng lực và đã bị suy giảm nghiêm trọng về uy tín.

Đương nhiên, việc xem xét có cho cán bộ được từ chức hay không là do cấp có thẩm quyền quyết định, dưới sự giám sát của các cơ quan bảo vệ pháp luật và của nhân dân. Quy định đã nói rõ nguyên tắc: “Không thực hiện việc cho từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm”Điều này thể hiện sự nghiêm minh để không một ai mượn cớ từ chức để thoát tội, trốn tránh trách nhiệm./.

----------------

(1), (2) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t. I, tr. 137, 137 - 139, 204
(3) Đại Việt sử ký toàn thưSđd, t. I, tr. 137 - 139, 204
(4), (5), (6) Đại Việt sử ký toàn thưSđd, t. II, tr. 328 - 329, 340, 141
(7) Đồng chí Lê Hồng Phong (1902 - 1942) được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3-1935). Đến tháng 3-1937, đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương cho thôi giữ chức Tổng Bí thư để “làm cán bộ dự trữ ở nước ngoài, để sau này trở về trong nước tổ chức lại các tổ chức của Đảng trong trường hợp các đồng chí có trách nhiệm ở trong nước bị bắt; đồng thời để giữ liên lạc với Quốc tế Cộng sản” (Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 302)
(8) Đồng chí Hà Huy Tập (1906 - 1941) được bầu giữ chức Tổng Bí thư của Đảng từ tháng 3-1937. Đến tháng 3-1938 đồng chí Hà Huy Tập được Ban Chấp hành Trung ương cho thôi giữ chức vụ này (Văn kiện Đảng toàn tậpSđd, t. 6, tr. 385)
(9) Tương đương Bộ Chính trị theo các quy định Điều lệ Đảng hiện nay.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 26
(11) Mai Văn Chính: “Cống hiến của Đồng chí Lê Văn Lương trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 27-3-2022
(12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 289, 290 – 291
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 6, tr. 232

Đổi mới hoạt động giao đất, cho thuê đất, bảo đảm quyền của các chủ thể phù hợp với cơ chế thị trường.

  - Những năm gần đây, việc giao đất, cho thuê đất thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013 bước đầu phát huy nguồn lực đất đai trong phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phát sinh một số điểm hạn chế, bất cập. Do vậy, cần thiết có những đổi mới kịp thời, toàn diện hơn về công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhằm bảo đảm quyền của các chủ thể và phù hợp với cơ chế thị trường, đẩy mạnh thu hút đầu tư, huy động được nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khảo sát một số dự án trọng điểm tại tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Khái quát thực trạng hoạt động giao đất, cho thuê đất ở nước ta

Về thẩm quyền giao đất và cho thuê đất

Ở nước ta, theo pháp luật đất đai từ năm 2013 đến nay, thẩm quyền này thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, được phân cấp theo hạn mức diện tích đất, quy mô của dự án có sử dụng đất và đối tượng sử dụng đất. Trên phạm vi cả nước có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 713 thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện và 11.164 đơn vị hành chính cấp xã. Tổng số cơ quan có thẩm quyền trao quyền sử dụng đất (QSDĐ) tại Việt Nam hiện nay là 11.940 cơ quan. Thẩm quyền trao QSDĐ còn được giao cho các bộ và cơ quan ngang bộ là các cơ quan nhà nước đang quản lý và sử dụng đất phục vụ cho mục đích hoạt động của tổ chức mình gồm: trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất, QSDĐ đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc trong trường hợp các tổ chức này không còn nhu cầu sử dụng hoặc việc sử dụng không có hiệu quả.

Bên cạnh các cơ quan có thẩm quyền chung được quyền trao QSDĐ, còn có cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cũng được trao quyền bán tài sản gắn liền với QSDĐ. Như vậy, cấu trúc phân quyền đại diện sở hữu toàn dân để định đoạt về đất đai được phân tán cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau.

Thực trạng phân tán về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất dẫn đến hệ quả là: Nhà nước chưa quản lý tốt diện tích đất chưa trao cho người sử dụng đất; trong một số trường hợp, Nhà nước mất kiểm soát về hoạt động trao QSDĐ cho người sử dụng đất. 

Về căn cứ giao đất, cho thuê đất

Luật Đất đai năm 2013 (Điều 52) quy định: Căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Thực hiện quy định về căn cứ kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện khi thực hiện giao đất và cho thuê, các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước là đơn vị quản lý đất chưa trao cho người sử dụng đất. Do đó, các doanh nghiệp nhà nước có lợi thế trong việc tiếp cận QSDĐ khi cơ quan có thẩm quyền lập kế hoạch sử dụng đất. Từ đây, có thể dẫn đến việc hạn chế quyền tiếp cận QSDĐ của các chủ thể thuộc thành phần kinh tế khác, trong đó có các chủ thể của kinh tế tư nhân. Vấn đề đặt ra là, Nhà nước khi lập kế hoạch làm căn cứ giao đất, cho thuê đất phải bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế, công bằng trong phân bổ nguồn lực giữa các thành phần kinh tế.

Về thủ tục giao đất, cho thuê đất

Pháp luật Việt Nam quy định hai hình thức đó là, giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá và giao đất, cho thuê đất không theo hình thức đấu giá hay gọi là chỉ định chủ đầu tư.

Giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá. Quy định về trình tự đấu giá QSDĐ hiện nay còn những hạn chế: Các cơ quan, tổ chức đang quản lý đất không có động cơ để lên phương án đấu giá QSDĐ nhằm thu lợi cho chủ sở hữu toàn dân; không có bất cứ ai giám sát quá trình đấu giá mà hoàn toàn do cơ quan hành pháp thực hiện điều này. Do vậy, nhiều khi không bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan khi tổ chức việc đấu giá.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh_Nguồn: dantri.com.vn

Giao đất, cho thuê đất không theo hình thức đấu giá, hay còn gọi là hình thức chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư có quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc nhận chuyển QSDĐ ở để xây dựng nhà ở thương mại (Điều 21, 23 Luật Nhà ở năm 2014) cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; tính giá trị QSDĐ khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được Nhà nước cho thuê đất, trả tiền thuê đất hằng năm; trường hợp đất đưa ra đấu giá QSDĐ mà không có người tham gia hoặc trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc đấu giá ít nhất là 2 lần nhưng không thành và các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định (Điều 114 và Điều 118 Luật Đất đai năm 2013).

Các thủ tục giao đất, cho thuê đất như trên đều mang tính chất hành chính, có thể mang đến những bất cập: Thứ nhất, giá đất áp dụng để tính tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể không qua quá trình thương lượng hay đấu giá để xác định giá thị trường, Nhà nước không thu được giá trị QSDĐ tăng lên trên giá trị định giá theo quyết định hành chính (giá đấu giá) và phần giá tăng thêm thông qua quá trình cạnh tranh. Thứ hai, các cơ quan nhà nước chưa có sự gắn kết hai hình thức trao QSDĐ, QSDĐ thông qua đấu giá do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, còn thủ tục lựa chọn chủ đầu tư do Bộ Xây dựng thực hiện (giá trị QSDĐ không được kết hợp với quyền phát triển trên đất đã làm thất thoát lượng “địa tô tuyệt đối” thu về cho ngân sách nhà nước). Thứ ba, không có văn bản tích hợp quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư, khi cơ quan ký hợp đồng cho thuê đất là các sở tài nguyên và môi trường, trong lúc đó, cơ quan quản lý việc tạo lập tài sản trên đất được trao cho các sở xây dựng. Thứ tư, quá trình thực hiện còn chưa bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận QSDĐ giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Với việc khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước giúp các doanh nghiệp nhà nước có nhiều cơ hội và thuận lợi hơn các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

Nhà nước trao quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Đối với hình thức này, khi tính giá trị QSDĐ để cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần hóa sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì doanh nghiệp được áp dụng giá đất cụ thể mà không thông qua hình thức đấu giá (Điều 114 Luật Đất đai năm 2013). Sau khi có QSDĐ do cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước được tiếp tục chuyển nhượng QSDĐ này cho nhà đầu tư trong nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc gia nhập và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp nhà nước với việc được giao QSDĐ và được quyền chuyển nhượng lại QSDĐ cho thấy có sự chênh lệch giá đầu vào theo giá chỉ định và giá đầu ra theo giá thị trường, khoản giá trị QSDĐ chênh lệch (gọi là lợi nhuận từ kinh doanh) không phải do sự đầu tư sức lực của doanh nghiệp nhà nước mà có.

Nhà nước trao quyền sử dụng đất dưới hình thức đổi đất lấy kết cấu hạ tầng

Hiện nay, việc trao QSDĐ dưới hình thức đổi đất lấy kết cấu hạ tầng được thực hiện dưới hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện dự án khác. Quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư gồm: đất xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật về đất đai; đất của cơ sở nhà, đất tại vị trí cũ sử dụng để thanh toán dự án BT đầu tư xây dựng công trình tại vị trí mới gồm, đất mà cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được giao quản lý, sử dụng cơ sở nhà, đất tại vị trí cũ, có văn bản báo cáo về nhu cầu, sự cần thiết thực hiện dự án BT đầu tư xây dựng công trình tại vị trí mới và sử dụng quỹ đất của cơ sở nhà, đất tại vị trí cũ để thanh toán. Quy định đổi đất lấy kết cấu hạ tầng nêu trên cho thấy hai vấn đề cần phải quan tâm: Thứ nhất, đối tượng đem ra trao đổi chính là QSDĐ chưa trao cho người sử dụng đất - đất công sản chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai. Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền ký kết hợp đồng trao đổi là cơ quan được trao quyền để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như có thẩm quyền trao QSDĐ được quy định trong Luật Đất đai. Cơ chế này đã tạo điều kiện cho một lượng đất công sản thoát ly khỏi sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Một số đề xuất đổi mới hoạt động giao đất nhằm bảo đảm quyền của các chủ thể và phù hợp với cơ chế thị trường

Thứ nhất, trong bối cảnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đại diện quyền định đoạt đất đai không nên phân tán cho quá nhiều cơ quan. Quyền định đoạt QSDĐ nên được trao cho một cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, nên thống nhất việc trao quyền định đoạt QSDĐ cho một cấp là chính quyền địa phương (chính quyền cấp tỉnh) theo cơ chế phân quyền là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất. Theo đó, toàn bộ chức năng ra quyết định, quản lý và tài chính được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Trong các trường hợp cụ thể, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước các quan chức dân cử. Đồng thời, các đại biểu dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không chỉ là trước chính quyền các cấp cao hơn. Trong phạm vi được phân quyền, cơ quan có thẩm quyền được phép ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thực hiện các công việc được ủy quyền.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về phân bổ đất đai tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý nhà nước không tham gia trực tiếp vào hoạt động phân bổ QSDĐ nữa mà chỉ tổ chức, kiến tạo ra cách thức và tổ chức các chủ thể phân bổ QSDĐ, tách hoạt động quản lý hành chính ra khỏi hoạt động điều phối tài sản công.

Nhà nước thành lập những doanh nghiệp để quản lý kinh doanh quỹ đất theo cơ chế thị trường dưới dạng những giao dịch dân sự để tránh các thủ tục hành chính rườm rà như các quy định về giao đất, cho thuê đất hiện hành.

Việc thiết lập các chủ thể thị trường theo cách: thành lập những chủ thể mới hoặc trao thêm quyền cho các chủ thể đang tồn tại như tổ chức phát triển quỹ đất, đi kèm xác định lại tư cách chủ thể trong quan hệ giữa các chủ thể này với chính quyền địa phương với danh nghĩa là pháp nhân hoạt động theo ủy quyền của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế trong hoạt động giao đất, cho thuê đất.

Thứ ba, cần có quy định hạn chế và kiểm soát hoạt động chuyển QSDĐ bằng hình thức chỉ định chủ đầu tư, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và đổi đất lấy kết cấu hạ tầng. Các hình thức trao QSDĐ được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện thể chế định giá đất theo nguyên tắc thị trường. Thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất. Việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá QSDĐ, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Kiểm tra chặt chẽ việc sắp xếp, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và việc thực hiện đấu giá QSDĐ khi sắp xếp lại trụ sở, cơ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước để chuyển sang mục đích phát triển kinh tế. Tăng cường kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh nhằm bảo đảm sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị.

Kiểm soát chặt chẽ việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư; quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều kiện, tiêu chí để được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư. Tập trung kiểm tra, rà soát, xử lý dứt điểm những trường hợp đất đã được Nhà nước giao, cho thuê nhưng chậm đưa vào sử dụng, không sử dụng, sử dụng lãng phí, đầu cơ hoặc sử dụng sai mục đích, trái pháp luật.

Hạn chế, tiến tới chấm dứt hình thức trao QSDĐ thông qua hình thức chỉ định chủ đầu tư trong hoạt động kinh doanh bất động sản, chuyển sang hình thức thỏa thuận theo hợp đồng. Điều này giúp Nhà nước thu được nguồn địa tô theo giá thị trường. Xem xét chấm dứt hình thức trao QSDĐ khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra sự công bằng cho các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận QSDĐ, đồng thời chính quyền địa phương quản lý được QSDĐ từ các doanh nghiệp này nhằm sử dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương. Cùng với đó, cần hạn chế, tiến tới chấm dứt trao QSDĐ thông qua hình thức đổi đất lấy kết cấu hạ tầng để chuyển đất này sang hoạt động đấu giá nhằm thu về cho ngân sách nhà nước giá trị địa tô tương ứng với giá thị trường. Chuyển từ hình thức trao QSDĐ dưới hình thức quyết định hành chính chuyển sang mô hình hợp đồng, khi đó hợp đồng là công cụ để Nhà nước quản lý thị trường bất động sản.

Xem xét mở rộng hạn mức sử dụng đất để tạo điều kiện tăng năng suất lao động, hình thành sản xuất lớn về nông nghiệp ở Việt Nam_Ảnh: Tư liệu

Thứ tư, cần bổ sung các quy định về “vốn hóa đất công sản” và tài sản công gắn liền với đất. Như mọi quốc gia chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, ở nước ta cũng diễn ra quá trình chuyển một phần lớn QSDĐ công, tài sản công từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Đây là một quá trình tất yếu. Quá trình này được gọi là quá trình “vốn hóa đất công sản” và tài sản công. Các hình thức cụ thể của quá trình này ở Việt Nam bao gồm: “đổi đất lấy hạ tầng” (sử dụng quỹ đất để phát triển hạ tầng nay ẩn dưới tên mới “dự án BT”), “giao đất để thực hiện các dự án đầu tư”, “bán tài sản công” khi Nhà nước không còn nhu cầu sử dụng, “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”. Nếu quá trình vốn hóa này không được kiểm soát tốt thì tham nhũng sẽ phát sinh liên quan đến phần giá trị chênh lệch giữa giá trị do Nhà nước xác định và giá thị trường(1).

Thứ năm, pháp luật đất đai cần được sửa đổi, bổ sung quy định trao quyền cho tổ chức kinh tế, trong đó có tổ chức kinh tế tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức để đầu tư trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp. Cần xem xét lại thời hạn sử dụng đất để người dân, nhà đầu tư yên tâm đầu tư trên đất; xem xét mở rộng hạn mức sử dụng đất để tạo điều kiện tăng năng suất lao động, hình thành sản xuất lớn về nông nghiệp ở Việt Nam.

Thứ sáu, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì những cam kết của Việt Nam trong hoạt động trao QSDĐ cho người sử dụng đất cần phải được thực hiện đúng với cam kết theo tinh thần hội nhập bằng việc cải cách hoạt động trao QSDĐ từ cơ chế hành chính quan liêu sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước./.

-----------------

(1) Đặng Hùng Võ: “Một số vấn đề cần sửa đổi, trong Luật Đất đai năm 2013”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo điện tử, https://kinhtevadubao.vn/mot-so-van-de-can-sua-doi-trong-luat-dat-dai-nam-2013-10564.html, ngày 3-11-2017

VẠCH TRẦN VÀ BÁC BỎ NHỮNG SỰ NGỤY TẠO, GIẢ DỐI MÀ KẺ THÙ

 Vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc khác và vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, khuynh hướng kỹ trị, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Phải khẳng định các giá trị tinh thần, phải coi trọng đạo đức và văn hóa, phải giữ vững niềm tin để xã hội, con người không chệch hướng, ngăn chặn sự phát triển xấu, hoang dã, bản năng, phản phát triển.

LUẬN CHỨNG LÀM SÁNG TỎ LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VIỆT NAM LÀ NỘI DUNG ĐỂ BÁC BỎ MỌI ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA KẺ THÙ

 Luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây. Chúng ta cần đặc biệt khai thác giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chủ đề quan trọng này. Các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thư gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ quan trọng đó, cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng

KHẲNG ĐỊNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ NHIỆM VỤ CẤP THIẾT HIỆN NAY

 Luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại theo trào lưu thế giới tiên tiến mà Mỹ và hệ giá trị Mỹ là tiêu biểu. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.

KHẲNG ĐỊNH BẢN CHẤT CÁCH MẠNG, KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN

 

Luận chứng và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng của Đảng.

KHẲNG ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỞI XƯỚNG, LÃNH ĐẠO

 Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trên mọi mặt là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà trước hết là do đường lối lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng. Những thành tựu đó khẳng định rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước được hoàn thiện và hiện thực hóa. Những thành tựu đó không phải là một sự may mắn, ngẫu nhiên, mà là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thành quả đó một lần nữa khẳng định: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại và đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo. Đó là sự thật không thể đảo ngược, là câu trả lời hết sức thuyết phục cho những ai còn nghi ngờ, thậm chí “sám hối” về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phủ nhận đường lối đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo, là minh chứng sinh động, phản bác đanh thép, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

 Hiện nay, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, do đó, cuộc đấu tranh này ngày càng cam go, quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch không chỉ sử dụng internet, mạng xã hội, móc nối với các cá nhân, tổ chức trong nước, mà còn sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn mới, rất tinh vi nhằm kích động, lôi kéo sự tham gia của các phần tử chống đối, trong đó có cả một số cán bộ nguyên là lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu, từ đó hướng lái dư luận xã hội theo ý đồ của chúng, gây hoang mang và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với những chủ trương, đường lối của Đảng. Để tạo cơ sở cho công tác đấu tranh, đồng thời tránh sự chủ quan, xơ cứng, giáo điều, trì trệ và lạc hậu về lý luận, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại.  Đây là một yêu cầu cấp bách của công tác lý luận hiện nay.

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN - MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY

 Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Tuy nhiên, đối với bất cứ một đảng cầm quyền nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... luôn hiện hữu. Do vậy, để giữ vững bản chất, uy tín và năng lực lãnh đạo, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần nêu gương, nâng cao trách nhiệm, kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa... Đây chính là “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hại, nếu không chống sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tập trung xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Đây chính là cơ sở để giữ vững niềm tin và tạo sự ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền. Bởi vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

BẢO VỆ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MÀ ĐẢNG, BÁC HỒ VÀ NHÂN DÂN TA ĐÃ LỰA CHỌN

 

Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Thực tiễn cho thấy, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ vào thập niên 90 của thế kỷ trước không chỉ làm cho các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị vui mừng mà còn là động cơ để chúng gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc, tấn công, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong “hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội”; thậm chí, có người còn “phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản”. Điều này hết sức nguy hại, có tác động tiêu cực đến tâm lý chính trị của không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước thực trạng đó, chúng ta phải tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, kiên quyết bảo vệ con đường và mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn từ năm 1930, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Để đạt được những thành tựu như ngày hôm nay, biết bao thế hệ đã phải hy sinh mồ hôi, xương máu. Bởi vậy, càng khó khăn, gian khổ, chúng ta càng kiên định với mục tiêu đã chọn, đấu tranh không khoan nhượng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tiếp tục dẫn dắt dân tộc ta đến bến bờ vinh quang, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay.