Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng nhiệm vụ cho thời gian tới.

 - Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022 đã diễn ra với gần 500 đại biểu dự họp trực tiếp và hơn 80.000 đại biểu dự họp trực tuyến tại hơn 4.000 điểm cầu trong cả nước. Tổng Bí thư nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dự và có bài phát biểu quan trọng với tiêu đề: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng nhiệm vụ cho thời gian tới”. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:

Tổng Bí thư nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu tham dự hội nghị _Ảnh: TTXVN

“Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các vị đại biểu,
Thưa toàn thể các đồng chí,

Hôm nay, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2012 - 2022 và định hướng hoạt động cho giai đoạn tới. Đây là một hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng, bàn về những vấn đề liên quan đến “chống giặc nội xâm”, giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; được cán bộ, đảng viên và nhân dân rất quan tâm, đặt nhiều kỳ vọng. Sự có mặt đông đủ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành Trung ương và toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với gần 500 đại biểu dự họp trực tiếp và hơn 80.000 đại biểu dự họp trực tuyến tại hơn 4.000 điểm cầu trong cả nước (nhiều tỉnh, thành phố kết nối đến cấp huyện, xã) đã thể hiện ý thức trách nhiệm, tinh thần nghiêm túc và quyết tâm cao của toàn Đảng ta trong việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nghiêm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về vấn đề này, cũng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiệt liệt hoan nghênh, chào mừng và cảm ơn các đồng chí đã tham dự hội nghị đông đủ và đóng góp nhiều ý kiến rất quan trọng, tâm huyết, sâu sắc, mang đến cho hội nghị một tinh thần phấn chấn, đoàn kết, trách nhiệm và thống nhất cao. Tôi cũng xin gửi đến các vị đại biểu và các đồng chí có mặt ở các điểm cầu lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị của chúng ta đã nghe đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trình bày tóm tắt báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và ý kiến phát biểu của một số đại biểu. Tất cả các ý kiến phát biểu đều bày tỏ sự thống nhất cao với nội dung báo cáo, đồng thời bổ sung, phân tích, làm rõ thêm nhiều vấn đề; nêu thêm một số kinh nghiệm quý, cách làm hay trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất, kiến nghị, nhấn mạnh thêm một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm làm tốt hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. Để kết thúc hội nghị, tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất khái quát lại những kết quả chủ yếu đã đạt được và làm rõ, nhấn mạnh thêm một số vấn đề để chúng ta cùng thống nhất cao lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện trong thời gian tới. Tôi xin nói hai vấn đề:
- Nhìn lại công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2012 - 2022.
- Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.

I- Nhìn lại công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2012 - 2022

Như chúng ta đều biết, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới và với mong muốn, quyết tâm tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ, rõ rệt hơn nữa trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (tháng 5-2012) đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban để chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi cả nước. Thực hiện chủ trương này, ngày 1-2-2013, Ban Chỉ đạo đã chính thức được thành lập và bắt đầu triển khai các hoạt động, với thành phần gồm những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan có liên quan của Đảng và Nhà nước.

Qua báo cáo tổng kết và nghe các ý kiến phát biểu; qua kết quả cụ thể trong thực tế và qua điều tra dư luận xã hội, sự đánh giá của các tổ chức quốc tế, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng: Phát huy kết quả và rút kinh nghiệm về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng trong các giai đoạn trước, trong 10 năm gần đây, với việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí (trực thuộc Bộ Chính trị) đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Tham nhũng từng bước đã được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười. Đó là thành công lớn trong công tác phòng, chống tham nhũng của chúng ta trong thời gian qua. Nổi bật là ở 5 điểm sau:

1. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

- Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Cấp ủy đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động, tăng cường chỉ đạo, tập trung kiểm tra, xử lý các tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; xử lý cả cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao và cán bộ trong lực lượng vũ trang; làm một cách nghiêm minh từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm; kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho kỷ luật hành chính và cho công tác thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần kiên quyết, mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm tra xuống đến cả cấp ủy cấp huyện và cơ sở; xử lý dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII), trong đó có 8 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Đây là một bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng.

Các ngành thanh tra, kiểm toán có nhiều cố gắng, công tâm, khách quan, làm rõ các sai phạm; đã xử lý và kiến nghị xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có liên quan, thu hồi nhiều tài sản cho Nhà nước. Nhất là đã tập trung vào các lĩnh vực có nhiều dư luận về tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm và công khai các sai phạm liên quan đến nhiều dự án gây thất thoát, thua lỗ lớn, dư luận xã hội quan tâm(1). Từ năm 2012 đến nay, qua công tác thanh tra, kiểm toán, đã xử lý, thu hồi được hơn 975 nghìn tỷ đồng, gần 76 nghìn héc-ta đất; xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân; chuyển cho cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu phạm tội; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản, trong đó có nhiều văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp.

- Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được tiến hành một cách kiên trì, kiên quyết, không khoan nhượng, không nương nhẹ, không làm oan, sai; không bỏ lọt tội phạm; rất nghiêm minh, nhưng cũng rất nhân văn, nhân ái, có lý, có tình; hầu hết các đối tượng bị xử lý đều nhận thức rõ sai phạm của mình và tâm phục, khẩu phục, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, xin lỗi Đảng, Nhà nước và nhân dân; có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa mạnh mẽ, được dư luận, nhân dân rất đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; tạo bước đột phá trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng. Đã xử lý dứt điểm nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, cả những vụ tồn đọng, kéo dài từ nhiều năm trước(2), với nhiều cán bộ cấp cao bị xử lý hình sự, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, thứ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Trong 10 năm qua, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm gần 16.000 vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế với hơn 30.300 bị cáo. Riêng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ(3); trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, đã đưa ra xét xử sơ thẩm 120 vụ án, 1.083 bị cáo, trong đó có 37 cán bộ diện Trung ương quản lý, bị xử lý hình sự (1 Ủy viên Bộ Chính trị, 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 6 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...).

Kết quả phát hiện, điều tra và xử lý tham nhũng trong thời gian qua càng chứng tỏ chúng ta đã thực hiện rất nghiêm tư tưởng chỉ đạo và quan điểm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sự tác động, sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”. Tôi đã nhiều lần nói rằng: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm, là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng; nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người; và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây”.

Cùng với việc tập trung chỉ đạo xử lý nghiêm các sai phạm, công tác thu hồi tài sản tham nhũng cũng có nhiều chuyển biến tích cực; việc kê biên, thu giữ tài sản trong nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế tăng lên rõ rệt (Nếu như năm 2013, tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trong giai đoạn thi hành án chỉ đạt dưới 10%, thì giai đoạn 2012 - 2022, bình quân đạt tỉ lệ 34,7%). Công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở cũng được quan tâm hơn, từng bước khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”; nhiều địa phương, bộ, ngành đã chú ý ngăn chặn, xử lý tệ “tham nhũng vặt”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị _Ảnh: TTXVN

2. Đi đôi với việc tập trung chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, công tác xây dựng, hoàn thiện cơ chế, thể chế về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được chú trọng đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp, quy định mới, mạnh mẽ, ngày càng quyết liệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhiều quy định, nghị quyết được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống; khắc phục được một bước những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng(4). Có thể khẳng định, cho đến nay, các chủ trương, quy định của Đảng, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta cơ bản đã tương đối đầy đủ; cái cần nhất lúc này là sự tự giác, sự thống nhất cao về ý chí và hành động, là tổ chức thực hiện. Vừa qua chúng ta đã làm tốt, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm và phải làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.

3. Công tác cán bộ, cải cách hành chính bảo đảm tính công khai, minh bạch; xác định rõ trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực cũng đã được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cách quyết liệt và đạt kết quả tốt.

Công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch hơn; đúng nguyên tắc, đúng quy trình, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng. Nhiều quy định được ban hành đồng bộ, khả thi, đã giải quyết được không ít vấn đề tồn tại trước đây trong công tác cán bộ; tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, “thân quen”, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm” đã giảm hẳn.

Việc Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII mới đây ban hành và chỉ đạo triển khai thực hiện Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; và Quy định mới về những điều đảng viên không được làm là chủ trương rất đúng và cũng là một bài học kinh nghiệm quý trong công tác cán bộ của chúng ta.

Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Công tác tiếp nhận, xử lý, giải đáp, phản hồi những ý kiến phản ánh, kiến nghị của người dân và đối thoại với các tầng lớp nhân dân cũng được quan tâm. Tăng cường việc kiểm soát tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác, xử lý trách nhiệm người đứng đầu; thanh toán không dùng tiền mặt; sửa đổi, ban hành chế độ, định mức, tiêu chuẩn; cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức,... cũng đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.

4. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và báo chí, truyền thông trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được phát huy tốt hơn. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh; nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được nâng lên. Việc công khai kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế; chủ động cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm, dư luận quan tâm, cũng đã góp phần định hướng tốt dư luận xã hội và thể hiện sự công khai, minh bạch trong xử lý tham nhũng. Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội tăng cường giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; không chỉ giám sát thường xuyên tại các kỳ họp, mà tần suất giám sát chuyên đề về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được tăng lên. Hội đồng nhân dân các cấp quan tâm giám sát nhiều hơn đối với công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên tăng cường giám sát các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, gây nhiều bức xúc trong nhân dân; giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các thông tin do báo chí nêu về tiêu cực, tham nhũng; tích cực tham gia phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

5. Chú trọng việc kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng; tích cực hợp tác quốc tế và từng bước mở rộng nội dung, phạm vi hoạt động phòng, chống tham nhũng. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII mới đây, ở một số địa phương, ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được thành lập và nhanh chóng đi vào hoạt động, đạt được những kết quả bước đầu. Chức năng, nhiệm vụ, Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cũng đã được sửa đổi, bổ sung, với nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động. Phạm vi hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và địa phương mới đây đã được mở rộng, bao gồm cả “tiêu cực” cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của ban chỉ đạo. Trước đây, chỉ nói “chống tham nhũng, lãng phí”, điều đó không sai; nhưng dẫu sao lãng phí cũng chỉ là một việc cụ thể; còn tiêu cực có nội dung và phạm vi rộng hơn, căn cốt hơn, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc, cái nguy hiểm nhất, dẫn đến tham nhũng, hư hỏng; không chỉ làm mất tiền, mất của, mà còn mất người, thậm chí mất cả chế độ. Ban Chỉ đạo Trung ương đã lựa chọn khâu yếu, việc khó để tập trung chỉ đạo khắc phục; làm việc rất nghiêm túc, trách nhiệm, bài bản, nền nếp, có sự phối hợp rất nhịp nhàng, chặt chẽ, quyết tâm cao và hiệu quả ngày càng tốt; thực sự là “tổng chỉ huy”, là “nhạc trưởng” của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo cấp tỉnh cũng đã, đang và sẽ triển khai hoạt động theo hướng này. Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy được tái lập đã bước đầu có nhiều nỗ lực, cố gắng, nâng cao hiệu quả tham mưu về công tác phòng, chống tham nhũng. Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng - đã chủ động, sâu sát, kiên quyết, kiên trì, có bản lĩnh trong thực hiện nhiệm vụ tham mưu, đề xuất, giúp Ban Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch công tác, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; xử lý nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trong công tác phòng, chống tham nhũng cũng được chú trọng, tăng cường, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra; giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán với cơ quan điều tra; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương, địa phương và các bộ, ngành chức năng ngày càng chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả hơn (hầu như không còn tình trạng “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây” như trước). Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng cũng đã được tăng cường; hoạt động phòng, chống tham nhũng cũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước (Vụ án “Việt Á” vừa làm gần đây là một ví dụ điển hình).

Thưa các đồng chí,

Nhìn lại chặng đường 10 năm kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đến nay, nhất là sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với ý chí và tinh thần trách nhiệm cao, với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta đã thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao ý chí, niềm tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ta ngày càng giàu mạnh, ngày càng phát triển, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Không phải như một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước; mà hoàn toàn ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, làm trong sạch Đảng và bộ máy của Nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm.

Qua tổng kết, chúng ta có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lại được thực hiện một cách mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, bài bản và hiệu quả như thời gian gần đây; để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Vậy một câu hỏi được đặt ra là vì sao lại có được những kết quả đó? Trong báo cáo đã nêu khá rõ, cụ thể. Tôi xin nhấn mạnh mấy nguyên nhân cơ bản, đó là: (1) Trước hết là sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, với nhiều quyết sách đúng đắn, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, trực tiếp nhất là của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. (2) Sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm của các cơ quan tham mưu và cấp ủy, tổ chức đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương, nhất là sự nỗ lực rất cao của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương. (3) Sự cộng hưởng của những kết quả tích cực, rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. (4) Sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; sự đồng lòng, ủng hộ, khích lệ của nhân dân; sự chủ động vào cuộc rất tích cực của các cơ quan thông tấn, báo chí, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Ở đây, tôi xin nhấn mạnh rằng, chúng ta đã phát huy được vai trò vô cùng quan trọng của nhân dân, như lời căn dặn của Bác Hồ: Phải “động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia mới chắc chắn thành công!”.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng: Công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn những hạn chế, tồn tại như trong báo cáo đã nêu. Đó là: Một số bộ, ban, ngành, địa phương chưa có quyết tâm cao, chưa có sự chuyển biến mạnh. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng, thất thoát còn thấp; việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn là khâu yếu. Tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Tham nhũng trên một số lĩnh vực vẫn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, xảo trá, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những “kẻ thù hung ác”, nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.

Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc tính chất nghiêm trọng của tình hình tham nhũng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực mình quản lý; chưa thực sự gương mẫu, quyết liệt, nói chưa đi đôi với làm; thiếu bản lĩnh, dĩ hoà vi quý, nể nang, né tránh, thậm chí còn bao che cho người vi phạm. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm đúng mức; luật pháp, cơ chế, chính sách còn nhiều kẽ hở, dễ để bị lợi dụng; việc thực thi pháp luật nói chung và các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng nói riêng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa nghiêm. Tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn, phương tiện, điều kiện làm việc của các cơ quan, đơn vị chức năng phòng, chống tham nhũng vẫn còn hạn chế, bất cập; năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; thậm chí có trường hợp còn sa vào suy thoái, mắc vào tiêu cực, tay đã "nhúng chàm", không dám đấu tranh hoặc tiếp tục tiếp tay cho tham nhũng.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị _Ảnh: TTXVN

Thưa các đồng chí,

Từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tôi xin mạnh dạn thử gợi mở, nêu ra một cách khái quát mấy vấn đề cốt yếu sau đây:

1) Trước hết, cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để từ đó có quyết tâm chính trị rất cao, biện pháp rất trúng và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung, thống nhất của Đảng, mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; Ban Nội chính Trung ương là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo. Phải biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng. Tham nhũng thường diễn ra trong nội bộ, do người có chức, có quyền thực hiện. Phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; liên quan đến lợi ích, chức vụ, danh vọng, uy tín của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, phải có thái độ thật kiên quyết, không khoan nhượng và hành động thật quyết liệt, cụ thể, hiệu quả. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những yếu kém, sai phạm về tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn. Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm. Nói phải “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế là với ý nghĩa như vậy.

2) Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, tức là chống những thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; tiền tài, của cải, vật chất,... do người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ,... với động cơ không trong sáng. Nó thường diễn ra đối với những người có chức, có quyền. Vì vậy, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”. Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa  sự tồn vong của chế độ. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa ngay tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không thể chủ quan, nóng vội, thoả mãn; không được né tránh, cầm chừng; trái lại, phải rất kiên trì, không “ngừng”, không “nghỉ”; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng, vừa phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

3) Phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh các hành vi tham nhũng; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là đột phá, quan trọng. Để chủ động, tích cực phòng ngừa, cần phải tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về kinh tế - xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Trong phát hiện, xử lý, phải quán triệt nguyên tắc: Có vụ việc thì phải xác minh làm rõ; tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó; xử lý cả hành vi tham nhũng và hành vi dung túng, bao che cho tham nhũng; can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Có dấu hiệu phạm tội thì phải khởi tố, điều tra; kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật; vụ việc chưa đến mức xử lý hình sự thì xử lý kỷ luật nghiêm theo quy định của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Phải tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, đoàn thể và xử lý hình sự. Kỷ luật của Đảng thực hiện trước, tạo tiền đề để xử lý kỷ luật hành chính của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự. Việc xử lý phải lấy giáo dục, răn đe, phòng ngừa làm chính, kết hợp giữa trừng trị với khoan hồng; đồng thời bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung.

4) Phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên; của nhân dân, cơ quan truyền thông và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân trong phòng, chống tham nhũng. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân là gốc”; dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc, tiếp thu cái đúng, nhưng không đơn giản “theo đuôi”, chạy theo dư luận. Triển khai có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài Nhà nước; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

5) Kiểm soát cho được việc thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng. Ban Chỉ đạo phải thực sự là trung tâm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động, là chỗ dựa vững chắc để các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng thực thi nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng phải có bản lĩnh vững vàng, có dũng khí đấu tranh; phải trung thực, liêm chính, “chí công vô tư”, thực sự là “thanh bảo kiếm” sắc bén của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kiểm soát quyền lực và thực hành liêm chính trước hết phải được tiến hành có hiệu quả trong các cơ quan này, phải chống tham nhũng ngay trong các cơ quan làm công tác phòng, chống tham nhũng.

6) Các giải pháp phòng, chống tham nhũng phải phù hợp với bối cảnh yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài. Đồng thời, phải xây dựng được văn hoá công vụ của mỗi ngành, cơ quan, đơn vị. Văn hoá công vụ sẽ bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ. Trong từng giai đoạn khác nhau, phải xác định những nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá, phù hợp với tình hình của đất nước, của địa phương để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả.

Toàn cảnh hội nghị _Ảnh: TTXVN

II- Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

Thưa các đồng chí,

Trong thời gian tới, với mục tiêu tổng quát là “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa…; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định và bổ sung một số định hướng lớn cho công tác phòng, chống tham nhũng thời gian tới là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền, tạo sự tự giác, thống nhất cao về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kiên trì giáo dục, rèn luyện đức tính liêm khiết; xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội; về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kiên trì giáo dục, rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có biểu hiện nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm thật sự liêm chính, trong sạch; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ...

Quán triệt mục tiêu và những định hướng lớn nêu trên, trong những năm tới, chúng ta, trước hết là Ban Chỉ đạo Trung ương, các ban chỉ đạo cấp tỉnh và các cơ quan nội chính Trung ương cũng như địa phương, cần tiếp tục phát huy mạnh hơn nữa, tốt hơn nữa những kết quả, thành tích to lớn và những bài học kinh nghiệm quý báu của 10 năm qua; nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa trên con đường đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong giai đoạn phát triển mới.

Với tinh thần đó, hội nghị của chúng ta đã đồng tình, thống nhất cao về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới mà báo cáo đã nêu, cũng như ý kiến phát biểu tham luận đầy trách nhiệm và tâm huyết của các đại biểu. Tôi chỉ nhấn mạnh, lưu ý thêm một số vấn đề sau:

Một là, phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đây là nhiệm vụ không mới, nhưng rất quan trọng. Bởi tuyên truyền, giáo dục là một trong những biện pháp căn bản để nâng cao nhận thức, tinh thần, ý thức, đạo đức, xây dựng liêm chính, chống tha hoá, biến chất. Phải quán triệt, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, quy định của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về sự nguy hại của tham nhũng, tiêu cực,... tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.

Phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Mọi cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ sâu sắc lời căn dặn của Bác Hồ rằng: Đảng ta là đảng cầm quyền; Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm và làm cho bằng được; ngược lại, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Việc gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Cha ông ta đã dạy: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài; có tài mà cậy chi tài; chữ “Tài” liền với chữ “Tai” một vần!”. Tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê, Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “Thượng bất chính thì hạ tắc loạn!”; “Cấp trên ở chẳng chính ngôi, cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!”.

Phải tăng cường phối hợp, chủ động công khai, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng. Chú trọng thông tin tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt; khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang. Bảo vệ, khen thưởng, động viên kịp thời những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; đồng thời kiên quyết vạch trần, phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước ta; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu.

Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”; ngăn chặn nguy cơ nẩy sinh tham nhũng, tiêu cực ngay từ khi xây dựng chính sách, luật pháp. Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực; và bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện và công khai, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, có nhiều dư luận về tham nhũng, tiêu cực, về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi vì hai mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phải kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu các hành vi sai phạm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Mọi cán bộ, đảng viên vi phạm đều phải bị xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh, công khai.

Đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế đã khởi tố theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước; chú trọng phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng mới; không có vùng cấm, không có ngoại lệ; không chịu sự tác động không đúng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Tạo chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn nữa trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở; xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng vòi vĩnh, nhũng nhiễu, “gợi ý”, “lót tay”, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.

Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng; chú trọng truy tìm, kịp thời áp dụng các biện pháp đồng bộ để thu hồi triệt để tài sản bị tham nhũng ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và trong giai đoạn thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Cùng với “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế, thể chế, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị “tha hoá”. Vì vậy, phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật. Phát huy vai trò giám sát việc thực thi quyền lực thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử, của cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, của nhân dân và xã hội.

Năm là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là các ban chỉ đạo cấp tỉnh và các cơ quan nội chính từ Trung ương đến địa phương.

Xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định để ngăn ngừa có hiệu quả sự tác động tiêu cực, không lành mạnh vào hoạt động của các cơ quan này. Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch; không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào của tổ chức, cá nhân; bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội. Có chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nỗ lực phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Tôi đã nhiều lần nói: Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực!

Thưa các đồng chí,

Từ những kết quả và kinh nghiệm đạt được trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới sẽ có bước tiến mới, mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và đạt hiệu quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và xứng đáng với niềm tin yêu, sự mong đợi của nhân dân. Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Nhận thức phải chín; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng; góp phần từng bước làm chuyển biến tình hình, thực sự có kết quả rõ ràng, cụ thể.

Nhân dịp này, một lần nữa, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khoẻ và hạnh phúc. Mong tất cả các đồng chí, những cán bộ “rường cột” của Đảng và Nhà nước, những “Bao Công” của thời đại ngày nay, hãy nêu cao tinh thần trách nhiệm và dũng khí trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, gương mẫu, đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là tập trung chỉ đạo cụ thể hoá, thể chế hoá, hiện thực hoá các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với tình hình, đặc điểm của bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị mình, góp phần đắc lực vào việc củng cố, xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống, được nhân dân tin yêu, mến phục; lãnh đạo và tổ chức thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Thưa các đồng chí,

Chẳng mấy khi được dự một hội nghị có quy mô lớn với nội dung rất quan trọng và có ý nghĩa về nhiều mặt như thế này; lại được gặp mặt thân mật và trang trọng với hầu hết các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở trong cả nước, tôi rất vinh dự, xúc động và muốn giãi bầy một đôi điều có tính chất tâm sự, tâm tình thêm bằng cách nhắc lại một câu nói đầy ấn tượng và rất sâu sắc của nhân vật Pa-ven Coóc-xa-ghin - nhân vật chính trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn nổi tiếng Liên Xô Ni-cô-lai Ốt-xtơ-rốp-xky - một cuốn sách “gối đầu giường” của lớp thanh niên cỡ tuổi chúng tôi thời những năm 1959 - 1960. Đại ý thế này: Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ty tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời - sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự trường tồn của dân tộc, sự vẻ vang của giống nòi và hạnh phúc của nhân dân!

Tôi xin trân trọng cảm ơn!”./.

---------------------------

(1) Như vụ việc Mobifone mua 95% cổ phần của AVG; việc cổ phần hoá Cảng Quy Nhơn; các dự án, gói thầu liên quan đến Đinh Ngọc Hệ; Dự án mở rộng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn II; Dự án đầu tư cải tạo, mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2,...

(2) Điển hình là: (1) Vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm. (2) Vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm. (3) Vụ án Vũ Việt Hùng và đồng phạm. (4) Vụ án Vũ Quốc Hảo và đồng phạm. (5) Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm. (6) Vụ án Phạm Thị Bích Lương và đồng phạm. (7) Vụ án Giang Kim Đạt và đồng phạm. (8) Vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm. (9) Vụ án Hà Văn Thắm và đồng phạm. (10) Vụ án Châu Thị Thu Nga và đồng phạm. (11) Vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm. (12) Vụ án Trần Phương Bình. (13) Vụ án Phan Văn Anh Vũ. (14) Vụ án Đinh Ngọc Hệ. (15) Vụ án Nguyễn Văn Dương và Phan Sào Nam. (16) Vụ ánHứa Thị Phấn. (17) Vụ án xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone. (18) Vụ án xảy ra tại Công ty Hải Thành, Quân chủng Hải Quân…; và mới đây là vụ Việt Á, Cục Lãnh sự; FLC, Tân Hoàng Minh.

(3) Gồm: Cấp độ Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo là 180 vụ án, 133 vụ việc; cấp độ Ban Nội chính Trung ương theo dõi, đôn đốc là 31 vụ án, 5 vụ việc; cấp độ tỉnh uỷ, thành uỷ, ban cán sự đảng bộ, ngành chỉ đạo xử lý là hơn 600 vụ án, vụ việc.

(4) Từ năm 2012 đến nay, Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của Đảng đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội ban hành hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.600 nghị định, quyết định, chỉ thị; cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương ban hành hơn 45.000 văn bản; các bộ, ngành, địa phương ban hành gần 100.000 văn bản để cụ thể hoá, hướng dẫn thi hành, tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng


Với hàng nghìn năm hình thành và phát triển, Việt Nam là một trong những quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời. Chính văn hóa đã góp phần làm nên sức mạnh, làm cho tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Vì vậy, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, thành động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Một trong những nội dung quan trọng của định hướng xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được Đại hội XIII của Đảng đề ra là “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”(1).

Hiểu một cách khái quát, sức mạnh mềm là khả năng đạt được những gì mà một quốc gia mong muốn thông qua việc gây ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi những yếu tố tạo nên sức mạnh mềm. Đó là hệ giá trị văn hóa; hệ giá trị chính trị - xã hội; mô hình nhà nước và chính sách (đối nội cũng như đối ngoại) của quốc gia đó. Trong đó, hệ giá trị văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó “thẩm thấu” vào hệ giá trị chính trị - xã hội, mô hình nhà nước và chính sách quốc gia. Khác với sức mạnh cứng (uy hiếp về quân sự, ép buộc bằng kinh tế, áp đặt bằng luật, lệ...) để buộc người khác, quốc gia khác đi theo thì đặc trưng cơ bản của sức mạnh mềm là sự hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút, thuyết phục, cảm hóa đối tác để họ thay đổi nhận thức, hành vi và tự nguyện, tự giác hợp tác, đi theo chủ thể sở hữu.

Sức mạnh mềm không nhất thành bất biến, mà phụ thuộc vào bối cảnh tiếp nhận và chủ thể sở hữu. Chủ thể sở hữu sức mạnh mềm có đại biểu cho xu hướng phát triển, tiến bộ hay không? khả năng làm cho sức lan tỏa, ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội như thế nào? giá trị văn hóa cũng như các giá trị căn bản của quốc gia hay mô hình nhà nước và chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia đó được các nước khác biết đến ít hay nhiều... Điều này phụ thuộc rất lớn vào công tác truyền thông, quảng bá, khả năng thuyết phục, chấp nhận thông tin do chủ thể sở hữu nắm giữ.

Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam

Có thể hiểu, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là khả năng đạt được những gì mà dân tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn thông qua việc gây dựng ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi giá trị văn hóa Việt Nam, hệ giá trị chính trị - xã hội và mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính sách đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Như nhiều quốc gia - dân tộc khác, Việt Nam cũng có nền văn hóa của riêng mình. Đó là “thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm  hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”(2). Văn hóa Việt Nam - như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh - là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước; “chất văn hóa... là tinh hoa của dân tộc, của quý nhất mà ngày nay mọi người Việt Nam chúng ta tự hào là người thừa kế và phát triển(3).

Trải qua biết bao biến cố và thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, nhưng văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa, mà vẫn giữ vững bản sắc và thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong khả năng tiếp biến linh hoạt và đầy sáng tạo. Khả năng “Việt hóa” hay sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là những minh chứng cho sự tiếp biến đầy sáng tạo và sức sống mãnh liệt của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhất là sau khi công bố Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943) và triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng. “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy”(4), góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè thế giới.

Chương trình nghệ thuật khai màn Tuần lễ Festival Huế 2022 với chủ đề "Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển" _Ảnh: VGP

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, văn hóa Việt Nam càng có nhiều cơ hội để lan tỏa ra thế giới. Cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ, trong âm nhạc, trong các loại hình nghệ thuật Việt Nam hay tính nhân văn trong văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp... của người Việt Nam không chỉ là sức mạnh nội sinh đối với sự phát triển bền vững của đất nước, mà còn có sức lan tỏa đến nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia, thu hút hàng triệu trái tim, khối óc của người dân đến từ nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau trên thế giới. Không ít đoàn nghệ thuật của Việt Nam đi công diễn ở nước ngoài được đón nhận một cách nồng nhiệt; không ít tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng, như thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài...

Đến nay, Việt Nam có hàng chục di sản văn hóa được UNESCO vinh danh. Trong đó, không ít loại hình nghệ thuật, nhất là nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, được UNESCO vinh danh là kiệt tác truyền khẩu, là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, như: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận năm 2005; Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận năm 2008; Dân ca Quan họ, Ca trù được công nhận năm 2009; Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội được công nhận năm 2010; di sản Thực hành hát Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được công nhận năm 2019. Các di sản văn hóa này có sức lan tỏa và hấp dẫn lớn đối với người dân nhiều nước trên thế giới, góp phần làm phong phú thêm văn hóa, văn minh nhân loại, đúng như C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng: “Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc... và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới”(5).

Từ chỗ chưa có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục khác nhau. Tham gia và tham gia ngày càng tích cực vào nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực và toàn cầu, trong đó có Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEAN, Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA),  Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Tổ chức thành công nhiều hội nghị, đàm phán tầm quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEM; đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà của APEC năm 2006 và 2017; Hội nghị Cấp cao ASEAN năm 2010; hay cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên năm 2019... Qua kênh ngoại giao văn hóa và nhiều kênh khác, thế giới biết nhiều hơn về một Việt Nam giàu đẹp, hiếu khách, kiên cường, hòa hiếu, thủy chung với hàng nghìn năm văn hiến; uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng; dấu ấn Việt Nam ngày càng sâu đậm; sức mạnh mềm của Việt Nam nói chung, của văn hóa Việt Nam nói riêng ngày càng được nhân lên gấp bội, trở thành một trong những động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội Việt Nam ngày càng phát triển. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Có thể khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, bao vây cấm vận hay hội nhập, sức sống Việt Nam nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng không ngừng phát triển và lớn mạnh, luôn luôn trỗi dậy với một sức mạnh phi thường. Với lợi thế của mình, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam đã góp phần làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn, hun đúc nên tâm hồn, cốt cách, khí phách, bản lĩnh con người Việt Nam, tô thắm lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Tuy nhiên, so với những thành tựu mà chúng ta đạt được trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng. “Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước”(6). Mức đầu tư cho văn hóa mới chỉ bảo đảm duy trì hoạt động “ổn định”, chứ chưa thực sự có sự đột phá ưu tiên. So với tổng chi thường xuyên của ngân sách Trung ương, chi cho văn hóa (trong cả giai đoạn 2010 - 2017) cũng chỉ chiếm trung bình 1,16% và bằng khoảng 0,1% GDP, tức là bằng khoảng 1/5 - 1/6 mức chi cho sự nghiệp kinh tế và bảo vệ môi trường(7). Một số cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa còn thiếu cụ thể, chưa rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa nhìn chung còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Đặc biệt, chúng ta vẫn còn có ít tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; chưa có nhiều tác phẩm có sức lan tỏa lớn ra cộng đồng thế giới.

Những kết quả tích cực và kinh nghiệm trong thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở tỉnh Lào Cai.

 - Những năm qua, việc triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở tỉnh Lào Cai có sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp; sự tham gia, phối hợp tích cực của các ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Những kết quả đạt được từ phong trào này góp phần quan trọng để tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đồng chí Đặng Xuân Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai thăm hỏi, động viên các lực lượng làm nhiệm vụ phòng dịch COVID-19 tại cao tốc Nội Bài - Lào Cai_Nguồn: vietnamhoinhap.vn

Những kết quả tích cực từ phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”

Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); diện tích tự nhiên 6.384km2, dân số trên 750.000 người với 25 dân tộc (trong đó, dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 64,15%); có trên 182km đường biên giới trên đất liền tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng trở thành một điểm sáng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Trung du và miền núi phía Bắc trong thời kỳ hội nhập. Những năm qua, các phong trào thi đua được tỉnh không ngừng đẩy mạnh, trong đó, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” có bước phát triển đã góp phần quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia.

Ngược dòng lịch sử, ngày 5-3-1947, Đảng bộ tỉnh Lào Cai được thành lập. Đây là sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại trong tiến trình cách mạng của tỉnh. Trong suốt 75 năm, 16 kỳ đại hội đã đánh dấu bước trưởng thành và lớn mạnh của Đảng bộ tỉnh. Ra đời trong những ngày vô cùng khó khăn, nạn thổ phỉ hoành hành dọc tuyến biên giới, Tỉnh ủy Lào Cai đã lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, tăng cường công tác tuyên truyền, góp phần kháng chiến chống thực dân Pháp, đấu tranh tiễu phỉ, ổn định chính trị, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Chính quyền và các đoàn thể cứu quốc tuyên truyền, phát động phong trào tăng gia sản xuất, thi đua diệt giặc đói bằng các biện pháp khai hoang, phục hóa, động viên thanh niên gia nhập đội du kích và đăng ký gia nhập bộ đội chủ lực. Nhân dân tích cực tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong, xây dựng các tổ, đội du kích và hoạt động địch vận, tăng cường đưa cán bộ vào vùng bị địch chiếm đóng, chi viện hậu cần và phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực đẩy mạnh đánh địch. Ngày 1-11-1950, tỉnh Lào Cai được giải phóng, chấm dứt hàng thập niên nhân dân các dân tộc trong tỉnh chịu cảnh áp bức, đô hộ của thực dân Pháp.

Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhất là sau hơn 30 năm tái lập, đổi mới và phát triển, trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tập trung chỉ đạo từng bước thực hiện đổi mới toàn diện công tác bảo đảm an ninh, trật tự, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Qua các kỳ đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành các đề án về bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn; quán triệt, triển khai nội dung chỉ thị, kết luận của Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới đến các cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng chương trình hành động và kế hoạch triển khai thực hiện. Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cụ thể hóa nội dung các chỉ thị, kết luận, đề án để triển khai thực hiện phong trào. Nhờ đó, nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân của tỉnh ngày càng được củng cố, tăng cường, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững.

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân được đẩy mạnh và đổi mới, đa dạng hóa cả về nội dung, hình thức, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Trong 10 năm (2011 - 2021), toàn tỉnh đã tổ chức trên 33.000 buổi tuyên truyền cho hơn 2 triệu lượt người; biên soạn, phát hành hàng nghìn cuốn tài liệu “Hỏi - đáp về nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự nông thôn”, “Bản tin xây dựng phong trào”; xây dựng các chuyên mục, phóng sự, đăng tải tin, bài, phát hành tranh, ảnh, tờ rơi, tờ dán về đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; xây dựng phim phóng sự “Ảo tưởng Nhà nước Mông”; tổ chức nhiều cuộc thi, như “Công an xã giỏi”, “Công tác dân vận khéo”...

Chú trọng xây dựng các mô hình tổ chức quần chúng tự quản về an ninh, trật tự gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có nhiều mô hình đã phát huy hiệu quả, được duy trì, củng cố và nhân rộng. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 65 mô hình tự quản tại 1.334 điểm, điển hình như các mô hình: “Dòng họ tự quản về an ninh, trật tự”, “Điểm sinh hoạt tôn giáo bình yên”, “Thôn, bản bình yên, gia đình hạnh phúc”, “Tổ tự quản đường biên, mốc giới”, “Cổng trường an toàn giao thông”, “Tam giác tự quản”, “Tổ công nhân tự quản”, “5 không, 3 giảm”... Thông qua các mô hình, nhân dân đã phát hiện, cung cấp trên 7.000 nguồn tin có giá trị, giúp điều tra, khám phá 5.221 vụ việc, bắt 4.043 đối tượng, 388 đối tượng bị truy nã, thu giữ tài sản trị giá hàng chục tỷ đồng. Vận động người dân giao nộp trên 5.000 súng tự chế; cảm hóa, giáo dục hàng nghìn đối tượng tại cộng đồng; tuyên truyền xóa bỏ các tổ chức bất hợp pháp, các hoạt động trái thuần phong mỹ tục, chuẩn mực đạo đức xã hội, vi phạm pháp luật, điểm nóng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.

Việc tăng cường các lực lượng tham gia củng cố, chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự gắn với giúp đỡ địa phương xây dựng nông thôn mới được chú trọng thực hiện. Theo đó, tăng cường 648 công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã, duy trì 1.214 tổ an ninh nhân dân, 1.568 tổ hòa giải, 1.626 tổ liên gia tự quản, 1.502 người có uy tín. Từng bước nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng an ninh ở cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Hoạt động của ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm - tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” các cấp được tăng cường. Công tác phối hợp giữa lực lượng công an với lực lượng quân đội, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được duy trì, mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó, triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng; giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ việc liên quan đến an ninh, trật tự. Việc tổ chức Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được chỉ đạo triển khai sâu rộng, thu hút đông đảo cán bộ và nhân dân tham gia, có sức lan tỏa trong cộng đồng. Tỉnh còn phát động các phong trào thi đua về bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng và củng cố quốc phòng - an ninh vững chắc. Từ năm 2011 đến năm 2021, có trên 60 tập thể được Bộ Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Cờ thi đua xuất sắc, trên 1.200 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc và hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được tặng bằng khen, giấy khen các cấp,... Hằng năm, có từ 75% đến 80% số đơn vị đạt loại khá, xuất sắc; trên 85% số đơn vị đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”. Với những kết quả đạt được, tỉnh được Trung ương đánh giá là địa phương thuộc tốp đầu cả nước trong thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Có thể nói, kết quả từ phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã góp phần quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở tỉnh Lào Cai, khơi dậy và phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của tỉnh ngày càng vững mạnh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Phong trào được tổ chức triển khai có hiệu quả từ tỉnh đến cơ sở, nội dung phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tạo tiền đề để Lào Cai từ chỗ là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước, đã vươn lên đứng tốp đầu trong các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh liên tục duy trì ở mức cao, bình quân giai đoạn 1991 - 2020 đạt 10,4%/năm. So với năm 1991, quy mô GRDP gấp hơn 18 lần, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn gấp 252 lần, thu nhập bình quân đầu người gấp trên 100 lần, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đang từng bước trở thành cực tăng trưởng của vùng.

Lĩnh vực giáo dục có bước phát triển vượt bậc. Nếu như ngày đầu tái lập, 60% số trẻ em trong độ tuổi đi học chưa được đến trường thì đến năm 2000, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học (xóa mù chữ); năm 2007 hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; năm 2013 hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Mạng lưới trường, lớp được rà soát, sắp xếp theo hướng thực chất, cơ bản xóa được lớp học tạm; hệ thống nhà ở nội trú, bán trú, nhà ở cho giáo viên cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực tế. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt kết quả toàn diện, đạt tỷ lệ 11,2 bác sĩ/vạn dân; có 9 bệnh viện tuyến huyện, 152 trạm y tế xã, phường, thị trấn, 3 bệnh viện tuyến tỉnh và 1 bệnh viện đa khoa tỉnh với quy mô 700 giường bệnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 54,8% (năm 1991) xuống còn 8,46% (năm 2020), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Diện mạo nông thôn ngày càng được đổi mới với 61/127 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 100% số xã, thôn, bản có đường giao thông kiên cố và điện lưới quốc gia; 95% số hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; cơ bản đã xóa được nhà tạm. Mạng lưới đô thị có sự phát triển nhanh chóng, đến nay, có 1 đô thị loại II, 1 đô thị loại IV và 7 đô thị loại V.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh không ngừng được cải thiện, nhiều năm đứng trong tốp 10 của cả nước, là tỉnh đầu tiên công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp huyện (DCI). Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội vừa có tính kế thừa, vừa có tính sáng tạo; quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại được nâng tầm, mở rộng hợp tác với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trên nhiều lĩnh vực, nhất là có quan hệ hợp tác song phương, đa phương với nhiều tổ chức quốc tế và trong nước, một số vùng lãnh thổ trên thế giới và các tỉnh, thành phố trong cả nước. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, dân chủ được phát huy, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm.

Một số kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào

Cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Lào Cai tuyên truyền, vận động bà con thực hiện tốt việc giữ gìn an ninh, trật tự_Nguồn: baodantoc.vn

Từ thực tiễn triển khai phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của tỉnh qua từng giai đoạn, Đảng bộ tỉnh Lào Cai rút ra một số kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo như sau:

Thứ nhất, công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp. Thực tiễn cho thấy, sức mạnh của nhân dân là rất lớn, nhưng sức mạnh đó chỉ được phát huy khi được tổ chức thành phong trào, hành động cụ thể. Để phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đạt được hiệu quả cao không thể tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền địa phương, từ đó, tạo sự thống nhất và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Vì thế, các cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng công an phải luôn quán triệt, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của phong trào này, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào sát đúng với tình hình thực tế; xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

Thứ hai, phát huy có hiệu quả vai trò của các cơ quan báo chí - truyền thông; chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác vận động nhân dân trong triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Công tác tuyên truyền, vận động phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để nâng cao ý thức của mỗi người, mỗi gia đình, khu dân cư và cả cộng đồng. Các hoạt động của phong trào phải mang tính thiết thực, được lồng ghép với các cuộc vận động và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Coi trọng và làm tốt việc xây dựng các mô hình mới, nhân rộng các mô hình này theo hướng “Tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải”; tổ chức ký cam kết xây dựng khu dân cư, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường an toàn về an ninh, trật tự; đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”; làm tốt công tác tổng kết, kịp thời động viên, khen thưởng những điển hình tiên tiến trong phong trào.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc trên cơ sở phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập quốc tế. Tập trung xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, coi đây là nhân tố quyết định để xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Việc xây dựng phong trào được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, với nhiều đối tượng khác nhau, do đó, lực lượng chuyên trách và lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ nhất định. Mặt khác, âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải không ngừng củng cố, xây dựng lực lượng chuyên trách và lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Mỗi cá nhân trong đội ngũ này phải thường xuyên tự rèn luyện, tự phấn đấu, học hỏi nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm, những cách làm hay để vận dụng vào thực tiễn công tác; luôn nêu cao tinh thần khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực trong công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với những địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng tập trung đồng bào các dân tộc thiểu số, phức tạp về an ninh, trật tự, cần lựa chọn, bố trí cán bộ công an chính quy có năng lực, trình độ giữ chức danh trưởng, phó trưởng công an xã; đồng thời, thu hút những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; kết hợp chặt chẽ giữa vận động nhân dân với tổ chức tấn công trấn áp tội phạm. Khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế - xã hội; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong nhân dân, các vụ khiếu kiện ngay từ cơ sở, gắn với chăm lo cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thứ năm, lực lượng công an các cấp, nhất là cấp xã, phải làm tốt công tác dự báo, nắm tình hình để tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương kịp thời xử lý các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự. Tập trung xây dựng mô hình tự phòng, tự quản, xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, xây dựng thôn, xã, cơ quan, đơn vị an toàn về an ninh, trật tự, tổ chức tốt Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; làm tốt công tác đánh giá, phân loại phong trào và công tác thi đua, khen thưởng. Chú trọng công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng phong trào trong thời gian tiếp theo./.

Vạcɦ mặt lᴜận điệᴜ cɦo ɾằnց Cᴜộc cɦiến tại Việt Nɑm (1954 – 1975) là “Hɑi mươi năm nội cɦiến từnց nցàу”

 Vừɑ qᴜɑ, nցɑу tɾonց bᴜổi lưᴜ Ԁiễn đầᴜ tiên tại Đà Lạt, Kɦánɦ Lу đã ƙɦiến Ԁư lᴜận ƙɦônց ƙɦỏi bức хúc ƙɦi lựɑ cɦọn cɑ ƙɦúc Giɑ Ƭài Củɑ Mẹ – nɦạc ѕĩ Ƭɾịnɦ Cônց Sơn ʋới đoạn “20 năm nội cɦiến từnց nցàу” để biểᴜ Ԁiễn tɾước ѕự cɦứnց ƙiến củɑ ɦànց nցɦìn ƙɦán ցiả.

Cɦúnց tɑ ɦãу cùnց хem qᴜɑ nɦận địnɦ củɑ các qᴜɑn cɦức, nɦà báo, ѕử ցiɑ, tướnց tá Ɱỹ ʋà cả cɦế độ VNCH:

Qᴜɑn điểm củɑ tướnց lĩnɦ, chính quyền ngụy VNCH:

Ƭổnց tɦốnց Dươnց Văn Minɦ nói ʋới ƙý ցiả Pɦáρ Fɾɑncoiѕ Vɑnᴜхem ƙɦi được ônց nàу ƙɦᴜуên ɾút ʋề Vùnց 4 cɦiến tɦᴜật để cɦờ Ƭɾᴜnց Qᴜốc cɑn tɦiệρ nɦằm tìm một ցiải ρɦáρ tɾᴜnց lậρ ɦóɑ Miền Nɑm:

“Hết Ƭâу (Pɦáρ) ɾồi đến Ɱỹ, cɦẳnց lẽ bâу ցiờ còn đi làm tɑу ѕɑi cɦo Ƭàᴜ nữɑ ѕɑo!”

Năm 2005, ƙɦi ʋà tɾả lời ρɦỏnց ʋấn củɑ báo Ƭɦɑnɦ Niên, cựᴜ ρɦó tổnց tɦốnց VNCH Nցᴜуễn Cɑo Kỳ nɦận địnɦ ɾằnց:

“Ɱỹ lᴜôn lᴜôn đứnց ɾɑ tɾước ѕân ƙɦấᴜ, làm “ƙéρ nɦất”. Vì ʋậу ɑi cũnց cɦo ɾằnց đâу là cᴜộc cɦiến tɾαnɦ củɑ nցười Ɱỹ ʋà cɦúnց tôi cɦỉ là nɦữnց ƙẻ đánɦ tɦᴜê…”

Cɦᴜẩn tướnց Nցᴜуễn Hữᴜ Hạnɦ tɦì nói:

“Ƭôi nói tɦật, tɾonց tất cả các đời tổnց tɦốnց VNCH, ɑi mà Ɱỹ ƙɦônց ưɑ tɦì nցười ấу bị ɦất đổ nցɑу… Nցười Ɱỹ ɦọ có đườnց lối củɑ ɦọ: đó là ɦọ ρɦải nắm cɦỉ ɦᴜу ở miền Nɑm nàу. Họ cɦỉ ɦᴜу tɾonց mọi lĩnɦ ʋực, từ cɦínɦ tɾị, ƙinɦ tế tới nցoại ցiɑo Ɱỹ đềᴜ nắm ɦết.”

Đại tướnց Cɑo Văn Viên ʋiết tɾonց ɦồi ƙý:

“Cɦúnց tɑ ƙɦônց có tɾácɦ nɦiệm ʋề cɦiến tɾαnɦ. Ƭɾácɦ nɦiệm ʋề cᴜộc cɦiến ở đâу là củɑ nցười Ɱỹ. Cɦínɦ ѕácɦ đó Ԁo ɦọ đề ɾɑ, cɦúnց tɑ cɦỉ tɦeo ɦọ mà tɦôi !”

Nցᴜуễn Văn Nցân, cựᴜ tɾợ lý đặc biệt củɑ Ƭổnց tɦốnց Ƭɦiệᴜ, đã nɦận хét:

“Nցười Ɱỹ đã tɦɑу tɦế nցười Pɦáρ ʋới cɦínɦ ѕácɦ tɦực Ԁân mới. Vào tɦế ƙỷ XX, nցười Pɦáρ nɦân Ԁɑnɦ ƙɦɑi ɦóɑ để ƙɦɑi tɦác tài nցᴜуên tɦᴜộc địɑ, nɑу nցười Ɱỹ nɦân Ԁɑnɦ Ԁân cɦủ để ƙɦɑi tɦác хươn.ց má.ᴜ nցười Việt tɾonց ʋiệc tɦiết lậρ một “tiền đồn cɦốnց Cộnց” tại Đônց Nɑm Á…

Nền Ԁân cɦủ mà nցười Ɱỹ tán Ԁươnց ƙɦi cɑn tɦiệρ ʋào Việt Nɑm là nền Ԁân cɦủ được địnɦ nցɦĩɑ tɾonց qᴜуền lợi củɑ Ɱỹ, một tɦứ ρɦó ѕản được Ԁùnց làm bìnɦ ρɦonց để tɦực ɦiện cɦínɦ ѕácɦ cɦiɑ để tɾị, tɦiết lậρ đạo qᴜân tɦứ năm, ƙɦᴜуến ƙɦícɦ tìnɦ tɾạnց ʋô cɦínɦ ρɦủ, nội loạn… để Ԁễ bề ƙɦᴜуnɦ loát ʋà ƙɦi cần tɦiết để tɦực ɦiện các cᴜộc đảo cɦínɦ ʋà á.m ѕ.át lãnɦ tụ qᴜốc ցiɑ bằnց bàn tɑу củɑ các tɑу ѕɑi bản хứ…”

Ônց Hồ Nցọc Nɦᴜận, một Ԁân biểᴜ tɦời VNCH tɾả lời ρɦỏnց ʋấn năm 2009:

“Nցàу хưɑ tôi ցọi đâу là cɦiến tɾαnɦ củɑ Ɱỹ tại ʋì ổnց (Ɱỹ) ʋô tɾonց nàу từ cấρ lớn đến cấρ nɦỏ ổnց đềᴜ ở tɾên đầᴜ, ổnց làm cố ʋấn ɦết. Ƭừ tɾên хᴜốnց Ԁưới là củɑ ảnɦ ɦết, ѕúnց cũnց củɑ ảnɦ, ɦànɦ qᴜân cũnց củɑ ảnɦ, đánɦ ցì cũnց củɑ ảnɦ ʋà tɾácɦ nɦiệm cũnց củɑ ảnɦ…”

Qᴜɑn điểm củɑ cɦínɦ qᴜуền Ɱỹ:

Ƭɾᴜnց tướnց BeɾnɑɾԀ Ƭɾɑinoɾ, ρɦục ʋụ ở Việt Nɑm ɦɑi lần, củɑ ɦɑi loại ɦìnɦ Cɦiến tɾαnɦ đặc biệt ʋà Cɦiến tɾαnɦ cục bộ, ѕo ѕánɦ cᴜộc cɦiến ở Việt Nɑm ʋới cᴜộc cɦiến tɾαnɦ ցiànɦ độc lậρ Ɱỹ:

“Ƭôi tɦấу cᴜộc ƙɦánց cɦiến củɑ Việt Nɑm có nét tươnց đồnց ʋới cᴜộc Cácɦ mạnց củɑ Ɱỹ. Cũnց nɦư các nɦà cácɦ mạnց Ɱỹ tɦời đó, nցười Việt qᴜуết cɦiến đến cùnց. Nɦữnց nցười Ԁân Ɱỹ ɦồi đó đã đi tới một qᴜуết địnɦ ɾằnց độc lậρ là tɦiết уếᴜ. Họ đặt cược tínɦ mạn.ց ʋà củɑ cải củɑ mìnɦ ʋào ѕự nցɦiệρ ցiànɦ độc lậρ…

Hу ʋọnց bɑn đầᴜ là tɦᴜ ρɦục tɾái tim ƙɦối óc củɑ nցười Ԁân, nɦưnց ɦу ʋọnց nàу đã bị tɑn tànɦ bởi ѕự tɦất bại củɑ cɦínɦ qᴜуền Sài Gòn tɾonց ʋiệc ցiànɦ tín nɦiệm củɑ nցười Ԁân ʋà cɦiến lược Ƭìm ʋà Ԁiệ.t củɑ WeѕtmoɾelɑnԀ…”.

Ƭại cᴜộc ɦọρ Ԁo Hội “Ameɾicɑn FɾienԀѕ of Vietnɑm”, một tổ cɦức ʋận độnց ủnց ɦộ tổnց tɦốnց Diệm ở Wɑѕɦinցton D.C. nցàу 1/6/1956, Joɦn F. KenneԀу (ʋề ѕɑᴜ là Ƭổnց tɦốnց Ɱỹ) tᴜуên bố:

“Nếᴜ cɦúnց tɑ ƙɦônց ρɦải là cɦɑ mẹ củɑ nước Việt Nɑm bé nɦỏ [cɦỉ VNCH] tɦì cɦắc cɦắn cɦúnց tɑ cũnց là cɦɑ mẹ đỡ đầᴜ củɑ nó. Cɦúnց tɑ cɦủ tọɑ lúc nó ɾɑ đời, cɦúnց tɑ ʋiện tɾợ để nó ѕốnց, cɦúnց tɑ ցiúρ địnɦ ɦìnɦ tươnց lɑi củɑ nó (…).

Đó là con cái củɑ cɦúnց tɑ – cɦúnց tɑ ƙɦônց tɦể bỏ ɾơi nó, cɦúnց tɑ ƙɦônց tɦể ƙɦônց biết tới nɦữnց nɦᴜ cầᴜ củɑ nó”.

Ƭài liệᴜ được ցiải mật củɑ Lầᴜ Năm Góc ʋào năm 2010 cũnց ʋiết: “Kɦônց có ѕự уểm tɾợ củɑ Hoɑ Kỳ, Diệm ɦầᴜ nɦư cɦắc cɦắn ƙɦônց tɦể đứnց ʋữnց được ở miền Nɑm… Nɑm Việt Nɑm, ʋề bản cɦất, là một ѕánց tạo củɑ Hoɑ Kỳ”.

Ƭɦậm cɦí ѕɑᴜ nàу tổnց tɦốnց Niхon tɾonց lúc tức ցiận ʋới ʋiệc tổnց tɦốnց Ƭɦiệᴜ ƙɦônց cɦịᴜ ƙý ʋào ɦiệρ địnɦ Pɑɾiѕ, nói ʋới Kiѕѕinցeɾ: “Kɦônց tɦể để có cái đᴜôi c.ɦó ρɦản lại cái đầᴜ con c.ɦó được.”

Ƭiến ѕĩ Dɑniel Ellѕbeɾց, ѕĩ qᴜɑn Lầᴜ Năm Góc ʋà là cố ʋấn Bộ Qᴜốc ρɦònց Hoɑ Kỳ tɾonց bᴜổi ρɦỏnց ʋấn ʋới CNN ʋà tɾonց qᴜуển ѕácɦ “Nɦữnց Bí mật ʋề Cɦiến tɾαnɦ Việt Nɑm” đã ʋiết:

“Kɦônց ɦề có cɦiến tɾαnɦ Đônց Dươnց tɦứ nɦất ʋà tɦứ nɦì, cɦỉ có một cᴜộc хųṅց đột nối tiếρ tɾonց một ρɦần tư tɦế ƙỷ. Dùnց nցôn từ tɦực tế, đứnց ʋề một ρɦíɑ (Ɱỹ), nցɑу từ đầᴜ nó đã là một cᴜộc cɦiến củɑ Ɱỹ: mới đầᴜ là Pɦáρ-Ɱỹ, ѕɑᴜ đến toàn là Ɱỹ.

Ƭɾonց cả ɦɑi tɾườnց ɦợρ, nó là một cᴜộc đấᴜ tɾɑnɦ củɑ nցười Việt Nɑm – ƙɦônց ρɦải là tất cả nցười Việt Nɑm nɦưnց cũnց đủ để Ԁᴜу tɾì cᴜộc đấᴜ tɾɑnɦ – cɦốnց cɦínɦ ѕácɦ củɑ Ɱỹ ʋà nɦữnց ƙinɦ ʋiện, ủу nɦiệm, ƙỹ tɦᴜật ցiɑ, ɦỏɑ lực, ʋà cᴜối cùnց, qᴜân đội ʋà ρɦi cônց, củɑ Ɱỹ.

Một cᴜộc cɦiến mà tɾonց đó một ρɦíɑ (VNCH) ɦoàn toàn được tɾɑnց bị ʋà tɾả lươnց bởi một qᴜуền lực nցoại qᴜốc – một qᴜуền lực nắm qᴜуền qᴜуết địnɦ ʋề bản cɦất củɑ cɦế độ địɑ ρɦươnց ʋì nɦữnց qᴜуền lợi củɑ mìnɦ – tɦì đó ƙɦônց ρɦải là một cᴜộc nội cɦiến…”

Ƭɾonց một bᴜổi ɦọρ ʋới các tướnց tá VNCH, tướnց Ɱỹ Joɦn W. O’Dɑniel đã nói toạc ɾɑ là: “Ai cɦi tiền tɦì nցười đó cɦỉ ɦᴜу (Wɦo ρɑуѕ, commɑnԀѕ)…”

Qᴜɑn điểm củɑ ցiới ѕử ցiɑ ρɦươnց Ƭâу:

Nɦiềᴜ nɦà ѕử ɦọc ρɦươnց Ƭâу tɦì хem cɦínɦ tɦể VNCH nɦư là ѕản ρɦẩm củɑ cɦínɦ ѕácɦ cɑn tɦiệρ tɦực Ԁân mới mà Ɱỹ tiến ɦànɦ tại Đônց Nɑm Á.

Cɾɑiց A. LocƙɑɾԀ nɦận хét ɾằnց:

“Ƭɾonց ѕự ƙɦin.ɦ tɦườnց củɑ nɦữnց nցười Ɱỹ mà ɦọ ρɦục ʋụ, VNCH cɦỉ là một tɦứ cônց cụ để ɦợρ tɦức ɦóɑ ʋiệc ρɦê cɦᴜẩn, nếᴜ ƙɦônց ρɦải là tɦườnց bị loại ɾɑ ƙɦỏi ѕự cɦỉ đạo củɑ Ɱỹ.

Việt Nɑm Cộnց ɦòɑ ɦiếm ƙɦi đưɑ ɾɑ cɦínɦ ѕácɦ lớn, ɦọ tɦậm cɦí còn ƙɦônց được tɦɑm ƙɦảo ý ƙiến ʋề qᴜуết địnɦ củɑ Ɱỹ năm 1965 đưɑ một lực lượnց lớn qᴜân ʋào tɦɑm cɦiến tɾên bộ.”

Nɦà ѕử ɦọc Fɾɑnceѕ FitzGeɾɑlԀ ʋiết:

“Cɦiến tɦắnց củɑ ɦọ (MƬDƬGPMN) là cɦiến tɦắnց củɑ Ԁân tộc Việt Nɑm – nցười Bắc cũnց nɦư nցười Nɑm.

Kɦác хɑ ʋới một cᴜộc nội cɦiến, cᴜộc đấᴜ tɾɑnɦ củɑ MƬDƬGPMN là một ѕự ƙɦẳnց địnɦ nցᴜуên tắc tɦốnց nɦất Ԁân tộc mà cɦínɦ qᴜуền Sài Gòn đã tᴜуên bố ủnց ɦộ ɾồi ρɦản bội.”

Lời ƙết: Cɦỉ cần bằnց ʋài nɦận địnɦ củɑ cá.c nɦân lịcɦ ѕử nói tɾên cũnց có tɦể ƙɦẳnց địnɦ: Cᴜộc cɦiến từ năm 1954 đến năm 1975 ở Việt Nɑm ƙɦônց ρɦải là “nội cɦiến”, mà là cᴜộc ƙɦánց cɦiến củɑ nɦân Ԁân Việt Nɑm cɦốnց lại ѕự хâɱ lược củɑ đế qᴜốc Ɱỹ.