Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG 10 NĂM QUA

 


Hội nghị tổng kết 10 năm về PCTN-TC đã chỉ ra: Các cấp ủy Đảng đã tập trung chỉ đạo công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, kết hợp giữa xử lý hành chính, xử lý kỷ luật của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể với xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng được thực hiện trước, mở đường, tạo điều kiện cho kỷ luật của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Trong 10 năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/33.868 bị can, truy tố 16.699 vụ/33.037 bị can, xét xử sơ thẩm 15.857 vụ/30.355 bị cáo về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; trong đó tội phạm về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 2.657 vụ/5.841 bị can, truy tố 2.628 vụ/6.199 bị can, xét xử sơ thẩm 2.439 vụ/5.647 bị cáo. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). 

Nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và PCTN được ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đi vào cuộc sống, vừa có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm, tham nhũng.

 Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều đổi mới, nhất quán, rõ ràng, chỉ đạo giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trước đây trong công tác cán bộ; “không chạy chức, chạy quyền” đã trở thành tuyên ngôn mạnh mẽ với nhiều quy định được ban hành đồng bộ, khả thi. Kiểm soát tài sản, thu nhập; thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia... 

Chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng PCTN; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về PCTN, từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra khu vực ngoài nhà nước.

Những kết quả của công tác phòng chống tham nhũng đó đã tạo nên tiền đề, điều kiện và chứng minh rằng chống tham nhũng ở Việt Nam không có “vùng cấm” hay “thanh trừng” phe phái như một số kẻ cơ hội, bất mãn hằng rêu rao. Ai có tội thì phải xử, có công thì thưởng, không trừ một ai. Việc làm đó làm nức lòng nhân dân và khẳng định tính đúng đắn, quyết tâm chính trị của Đảng, nhà nước với nhiệm vụ bài trừ “giặc nội xâm”. Nhân dân ta hãy quyết tâm ủng hộ quan điểm đúng đắn đó của Đảng, đồng thời phê phán những kẻ đi ngược, nói xấu, chia rẽ đoàn kết dân tộc./.

NẮM VỮNG VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

 


"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".

Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay đang là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi liền với bổ sung và phát triển dựa trên những vấn đề thực tiễn đặt ra. Sự nghiệp đổi mới đang đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới như kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế... cần được nghiên cứu, giải đáp về lý luận và thực tiễn. Đại hội X của Đảng xác định: tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Muốn vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nắm vững hệ thống các quan điểm tư tưởng của Người, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn, gắn chặt với tổng kết thực tiễn. Phải hiểu sâu sắc quá trình hình thành hệ thống quan điểm tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Chỉ thông qua quá trình đó, chúng ta mới có thể phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn và khoa học.

 

THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, THƯỚC ĐO CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHÙ HỢP VÀ ĐÚNG ĐẮN

 


Sau 35 năm đổi mới, công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa về mặt lịch sử, điều đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của đường lối sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một số kết quả cụ thể:

 Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực.

Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng 9 tháng vẫn đạt 2,12%, cả năm ước đạt 2 - 3%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới nhờ nội lực, tận dụng tốt các cơ hội và khả năng đa dạng hoá, thích ứng linh hoạt của nền kinh tế.

 Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN); GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD.

 Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%).

 Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng…, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong vấn đề tạo việc làm và cải thiện đời sống của người dân.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tập trung nguồn lực đầu tư; nhiều công trình, dự án quan trọng, quy mô lớn đã hoàn thành không chỉ tạo động lực cho phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho Nhà nước tập trung đầu tư, phát triển nhiều hơn cho các mục tiêu giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn…

Phát triển văn hoá, xã hội đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. 

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm từ gần 10% năm 2015 xuống dưới 3% năm 2020. Hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; năng lực giám sát, dự báo, phát hiện và khống chế dịch bệnh được nâng lên. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% năm 2015 lên 90,7% năm 2020. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quan tâm hơn giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam có những chuyển biến tích cực; nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc được phát huy. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người cao tuổi, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng…

Với những kết quả đã được như hiện nay, chúng ta luôn tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí, điều hành của nhà nước, với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị và toàn dân, chúng ta sẽ sớm hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, ăn minh”.  

 

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM-SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG!

         Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và lịch sử phát triển của dân tộc.
     Con đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn: chính trị-xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định./.




Môi trường ST.

NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 


 

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đó là một kiểu kinh tế thị trường mớitrong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

 

NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

 


Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo. Trong lịch sử, các tín ngưỡng tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) cũng luôn góp phần tích cực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Trên cơ sở quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhất quán nguyên tắc:

Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, Đảng và nhà nước thực hiện chính sách nhất quán tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của nhân dân .

 

 

ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU TRONG BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 


Quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại trong công tác lãnh đạo. Nó được ví như giặc nội xâm làm suy yếu Đảng và đạo đức cách mạng của Đảng. Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thoả hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó làm băng hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh đã trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước. Quan liêu làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, làm cho những tổ chức này xa dân, đứng trên nhân dân và có những chủ trương, chính sách không sát hợp lòng dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Kết quả là “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là hỏng việc lại mất lòng người. Quan liêu, xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là căn bệnh tồn tại khá phổ biến và gây hại trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, nhận diện căn bệnh này và tìm cách khắc phục nó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, Nhà nước, Nhân dân ta xác định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
     Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng, khoa học, triệt để; tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận soi sáng, chỉ đường cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
     Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, wĐảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang từng bước vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội và góp phần vào sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân loại cần lao. Chính thực tiễn này cũng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ta./.



Môi trường ST.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Chín mươi năm - một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thêm tự hào về những kỳ tích vĩ đại mà không có Đảng, sẽ chẳng bao giờ có được, một thực tế không ai có thể phủ nhận. Trước khi có Đảng, nhân dân ta sống trong cảnh nước mất, nhà tan. Có Đảng lãnh đạo, cách mạng Việt Nam ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, đánh đuổi thực dân, phát xít, xóa bỏ phong kiến, tay sai, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – chín năm kháng chiến, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu rồi đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, kết thúc gần 80 năm cai trị của thực dân Pháp và hơn 20 năm can thiệp của đế quốc Mỹ, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đảng lãnh đạo nhân dân bước vào công cuộc kiến thiết, xây dựng nước nhà với vô vàn khó khăn, gian khổ. Nhưng bằng trí tuệ, niềm tin và bản lĩnh, với đường lối đúng đắn, sáng tạo, lại được nhân dân hết lòng tin theo, ủng hộ, Đảng đã lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta vượt qua khó khăn, thử thách hoàn thành những mục tiêu cách mạng đặt ra. Bước vào thời kỳ đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Đảng tiếp tục chèo lái lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế tăng trưởng bền vững; cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý, sản xuất công nghiệp và xây dựng chuyển biến tích cực; sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch vụ phát triển tốt. Chính trị - xã hội ổn định; an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; hoạt động đối ngoại được tăng cường, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng, chúng ta càng tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, luôn giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, luôn kiên định và vững vàng trước mọi thử thách, sáng suốt lãnh đạo sự nghiệp cách mạng tiến lên. Từ đó càng làm cho chúng ta thêm tự hào và khẳng định niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ đưa con thuyền Cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh để đến bến bờ: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới.

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

 


 

Đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.

Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Thực tiễn xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam, ngay khi có Đảng

 


Từ khi có Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc được xây dựng ngày càng rộng rãi, bền vững, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối chiến lược của Đảng, một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.  Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã chỉ đạo tổ chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với mục tiêu đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự do cho dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn đặc biệt quan trọng. Có đến 40% các bài nói và viết của Người đề cập đến vấn đề này. Đặc biệt, có những bài Người nhấn mạnh rất nhiều lần như: “Sửa đổi lối làm việc” (16 lần); “Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt” (17 lần); “Diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 1957” (19 lần). Tư tưởng của Người được thể hiện trên những nội dung sau:

Một là, Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp. Đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng, mặc dù trong từng thời kỳ của cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau. Hồ Chí minh đã rút ra những luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”[1]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” [2].

Hai là, đoàn kết là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam. Người nói, “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là “đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Nói về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người xác định: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Người còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Nghĩa là đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng.

Ba là, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con dân nước việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi, dân tộc, tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”. Như  vậy, dân hay nhân dân vừa là đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Ngay từ năm 1941, trong bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm...”[3]. Do đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại. Người dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.

Bốn là, đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức

Đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức để tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng đến thắng lợi. Để đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ phải có nhiều hình thức, biện pháp và tổ chức, trong đó “Mặt trận dân tộc thống nhất” là một trong những tổ chức cơ bản, quan trọng để tập hợp mọi lực lượng trong xã hội. Theo Người, cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức thành một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu không thế, quần chúng dù có đông đến hàng triệu cũng chỉ là số đông không có sức mạnh.

Năm là, Đảng Cộng sản  vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận xây dựng khối đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.

Đảng ta vừa là Đảng của giai cấp công nhân vừa là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc, vì Đảng ra đời trong lòng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết. Trong cuộc đấu tranh đó, quần chúng nhân dân là người quyết định, Đảng là một thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất nhưng lại là người lãnh đạo Mặt trận và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng vững mạnh.

Sáu là, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân

Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Trong những năm chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã nêu rõ: “Phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”[4]. Tư tưởng của Người về đoàn kết quốc tế ngày càng phát triển trong thực tiễn cách mạng nước ta. Người đặc biệt coi trọng xây dựng  khối đoàn kết Việt - Miên - Lào. Trong hai cuộc kháng chiến, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t7, tr392

[2] Sđd, t10, tr350

[3] Sdd, t3, tr 198

[4] Sdd: tập 2, tr267- 268

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau, có dân số, trình độ không đều, có bản sắc văn hóa riêng


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới (Trung quốc có khu tự trị dân tộc riêng).Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc Dân số các dân tộc ở Việt Nam không đều:(tính từ 0 giờ ngày 1/4/2019, theo Tổng cục Thống kê), dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. 53, thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc dưới 10 nghìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm...Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị; Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...

  

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết

 


Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất: Thứ nhất, Dân tộc theo nghĩa tộc người. Thứ hai, Dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc. Với ý nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia. Ví dụ: dân tộc Tày, Thái, Mường, Kinh của Việt Nam; dân tộc Choang, Hán của Trung Quốc. Với ý nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ. (Trong chuyên đề này dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất).

 Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ... sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam.

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam. Dân tộc Việt Nam đoàn kết bởi hai lý do: Thứ nhất: Là mộtt quốc gia luôn phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt và trải qua các cuộc chiến tranh. Thứ hai: Con người Việt nam rất yêu nước và nhân ái, bao dung.

ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH HIỆN NAY

 


Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu xóa bỏ CNXH ở nước ta; Vì vậy, hiện nay và trong những năm tới đấu tranh chng “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập;  “phi chính trị hóa” quân đội …vẫn và luôn là mặt trận nóng bỏng, quyết liệt và vô cùng khó khăn, phức tạp.

Để chống phá ta, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng các vấn đề môi sinh, môi trường, những bức xúc của người dân một số địa phương trong giải phóng mặt bằng, tai nạn trong huấn luyện quân sự và giao thông..., để xuyên tạc, bóp méo sự thật, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đôi với Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Họ kích động tâm lý, tập hợp đông người ký đơn, khiếu kiện tập thể, tổ chức biểu tình, lãn công, bãi công, làm rối loạn trật tự an toàn xã hội, gây mất ôn định chính trị, tạo áp lực lốn lên Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương.

Chúng tiến công, phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng tư sản. Họ xuyên tạc: Con đưòng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn, đang đi là không phù hợp, chỉ đưa đất nước “luẩn quẩn trong cảnh đói nghèo”...; và cho rằng, cần tiến hành cuộc cách mạng dân chủ theo kiêu phương Tây, tạo ra “cuộc chuyển giao quyền lực êm thâm, không đổ máu”. Họ chống phá Đảng, Nhà nưốc, chế độ ta rất quyết liệt với mọi thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, với đa dạng hình thức, biện pháp: sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông; không gian mạng, in ấn…sách báo,...truyên truyền, xuyên tạc, kích động…. nhằm làm cho một bộ phận người dân hoài nghi về tính đúng đắn của lý luận Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, dao động, hoang mang vê' tư tưởng, dẫn đến mất phương hướng chính trị, cả về tư tưỗng, lý luận và văn hóa. Đó là cách chúng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, phá võ trận địa tư tưỏng vô sản, thiết lập sự thống trị của hệ tư tưởng tư sản trong xã hội ta.

Chống phá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Họ xuyên tạc, phê phán các vấn đề cốt lõi trong  học thuyết như phủ nhận lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác; Xuyên tạc học thuyết giá trị thặng dư; phê phán lý luận về thời đại ngày nay, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các nguyên lý về Đảng kiểu mới của Lê-nin; bôi nhọ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – lênin; cổ súy, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm đổi mới hiện nay ở nước ta…thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ Đảng viên và nhân dân.

Vì vậy, đấu tranh với âm mưu DBHB,BLLĐ là nhiệm vụ hết sức quan trọng cần thiết lúc này……….Nếu không chống được thì sẽ bất ổn chính trị…..không tập trung cho phát triển kinh tế….Làm rối loạn xã hội…..

 

BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 


 

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.

Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa;

Bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.

 

Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết dân tộc

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, cách mạng muốn thành công thì đoàn kết dân tộc là nhân tố cực kỳ quan trọng, là vấn đề sinh tử của cách mạng. Bởi lẽ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì trước hết phải tự mình trở thành dân tộc. Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Lênin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh công nông là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Nếu không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó - tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. Đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở lý tưởng, mục tiêu cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản đồng thời thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại khỏi mọi ách áp bức, bóc lột. Do đó, xét về cơ bản lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích của dân tộc là thống nhất với nhau. Sự thống nhất về những lợi ích cơ bản đó là điều kiện, cơ sở xây dựng và phát huy đoàn kết dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng Cộng sản mỗi nước trước hết phải xây dựng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác làm cơ sở, nền tảng của khối đoàn kết toàn dân tộc.

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM


Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Do vậy, đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước; là một trong những nhân tố quyết định sự trường tồn của dân tộc và là bài học lớn của cách mạng nước ta. Cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới nhằm thực hiện mục tiêu: "Phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tình hình thế giới đang thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giải phóng mọi tiềm năng, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và ý chí kiên cường của người Việt Nam.

 

 

 

 

 

 PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Do vậy, đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước; là một trong những nhân tố quyết định sự trường tồn của dân tộc và là bài học lớn của cách mạng nước ta. Cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới nhằm thực hiện mục tiêu: "Phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tình hình thế giới đang thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giải phóng mọi tiềm năng, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và ý chí kiên cường của người Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 


  

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU BẢO ĐẢM CHO THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

 


 Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò của Đảng, cách mạng Việt Nam chỉ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mới giành được thắng lợi. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng hơn 35 năm qua đã khẳng định đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Hiện nay, không thể có lực lượng chính trị nào đủ sức gánh vác sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đổi mới ở nước ta. Đảng là nhân tố chủ quan năng động, sáng tạo ở tầm chiến lược có thể biến khả năng khách quan thành hiện thực. Thông qua sự lãnh đạo của Đảng mà khơi dậy, quy tụ và nhân lên sức mạnh nội lực của đất nước, tranh thủ được sức mạnh ngoại lực, liên kết và giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là công cụ chính trị mạnh mẽ nhất của nhân dân ta đang chứng minh trên thực tế hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế xã hội. Vấn đề là phải khắc phục những yếu kém của bộ máy nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, đồng thời phải tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia và xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tổ chức quản lý, phát huy tiềm năng to lớn về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên, quy mô dân số, nguồn nhân lực, phẩm chất con người và sự ổn định chính trị xã hội, để, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển.

 

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

 


Bằng thế giới quan cách mạng, phương pháp luận biện chứng, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra: Tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người là quá trình vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, bao hàm cả sự phát triển tuần tự đối với lịch sử phát triển toàn thế giới, cả sự phát triển “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế xã hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội mang tính phong phú, nhiều vẻ, đa dạng, phức tạp, bao gồm cả những bước quanh co, thậm chí những bước thụt lùi lớn; bao gồm cả khả năng rút ngắn, bỏ qua những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

 Con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với tính quy luật của việc “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội trong sự phát triển lịch sử, là phù hợp với quy luật phát triển rút ngắn trong lịch sử loài người. Chúng ta tin tưởng rằng; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và bằng sự nỗ lực cố gắng của toàn dân tộc, nhất định mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta sẽ thắng lợi hoàn toàn.