Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương
đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có
lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới (Trung quốc có khu tự trị dân
tộc riêng).Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc
giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng
cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo,
tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột
dân tộc Dân số các dân tộc ở Việt Nam không đều:(tính từ 0 giờ ngày 1/4/2019,
theo Tổng cục Thống kê), dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân
tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. 53, thiểu số có 6 dân
tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me;
33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc dưới 10 nghìn
người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc: Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm...Hiện nay
có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường,
Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất
hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị; Một số dân tộc có trình độ phát triển
thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung,
tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du
canh, du cư...Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có
ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến
trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa
đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét