Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng
khối đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý
luận và giá trị thực tiễn đặc biệt quan trọng. Có đến 40% các bài nói và viết của
Người đề cập đến vấn đề này. Đặc biệt, có những bài Người nhấn mạnh rất nhiều
lần như: “Sửa đổi lối làm việc” (16 lần); “Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội
thống nhất Việt Minh - Liên Việt” (17 lần); “Diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 1957”
(19 lần). Tư tưởng của Người được thể hiện trên những nội dung
sau:
Một là, Đại đoàn kết dân tộc
là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là
tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được,
nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ
thù dân tộc và giai cấp. Đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là
vấn đề sống còn của cách mạng, mặc dù trong từng thời kỳ của cách mạng, có thể
và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với
những đối tượng khác nhau. Hồ Chí minh đã rút ra những luận điểm có tính chân
lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”[1];
“Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”;
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”
[2].
Hai là, đoàn kết là một mục
tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với
cách mạng Việt Nam. Người nói, “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm
trong tám chữ là “đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Nói về cách mạng xã hội
chủ nghĩa, Người xác định: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Người còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân
tộc không chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục
tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Nghĩa là đại đoàn kết dân tộc
chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu
tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần
chúng.
Ba là, đại đoàn kết dân tộc
là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con
dân nước việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi,
dân tộc, tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”. Như vậy,
dân hay nhân dân vừa là đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại
đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp
trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức. Ngay từ năm 1941, trong bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời
muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này
quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu
quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần
trách nhiệm...”[3]. Do
đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại. Người dùng
khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Bốn là, đại đoàn kết dân tộc
phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức
Đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, lời
kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng. Nó phải biến thành sức
mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức để tạo nên sức mạnh to lớn
đưa cách mạng đến thắng lợi. Để đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ phải có nhiều
hình thức, biện pháp và tổ chức, trong đó “Mặt trận dân tộc thống nhất” là một
trong những tổ chức cơ bản, quan trọng để tập hợp mọi lực lượng trong xã hội. Theo
Người, cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức
mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức thành
một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu
không thế, quần chúng dù có đông đến hàng triệu cũng chỉ là số đông không có
sức mạnh.
Năm là, Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống
nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận xây dựng khối đoàn kết toàn dân ngày
càng vững chắc.
Đảng ta vừa là Đảng của giai cấp công nhân vừa là Đảng của nhân dân lao
động và của cả dân tộc, vì Đảng ra đời trong lòng giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc. Trong cách mạng giải phóng
dân tộc, Đảng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết. Trong cuộc đấu
tranh đó, quần chúng nhân dân là người quyết định, Đảng là một thành viên của
Mặt trận dân tộc thống nhất nhưng lại là người lãnh đạo Mặt trận và xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng vững mạnh.
Sáu là, đại
đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân
chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân
Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới, cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết
chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Trong
những năm chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã nêu rõ: “Phải có
đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc
với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”[4]. Tư tưởng
của Người về đoàn kết quốc tế ngày càng phát triển trong thực tiễn cách mạng
nước ta. Người đặc biệt coi trọng xây dựng
khối đoàn kết Việt - Miên - Lào. Trong hai cuộc kháng chiến, tư
tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng mặt trận: Mặt trận
đại đoàn kết toàn dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân
dân thế giới đoàn kết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét