Dân tộc được
hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất: Thứ nhất, Dân tộc theo nghĩa tộc người. Thứ
hai, Dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc. Với ý nghĩa thứ nhất, dân tộc là một
bộ phận của quốc gia. Ví dụ: dân tộc Tày, Thái, Mường, Kinh của Việt Nam; dân
tộc Choang, Hán của Trung Quốc. Với ý nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân
dân của quốc gia đó. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ.
(Trong chuyên đề này dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất).
Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc
thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc
vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những
dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác
như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ... sang làm
việc, sinh sống tại Việt Nam.
Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn
kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một
quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam. Dân
tộc Việt Nam đoàn kết bởi hai lý do: Thứ nhất: Là mộtt quốc gia luôn phải đương
đầu với thiên nhiên khắc nghiệt và trải qua các cuộc chiến tranh. Thứ hai: Con
người Việt nam rất yêu nước và nhân ái, bao dung.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét