Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

 Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. 

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

10.7

Ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa

 Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam một số cán bộ nguyên là cán bộ đầu ngành và địa phương ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

11.7

Tăng cường đấu tranh với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch

 Thời gian qua, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội; lợi dụng việc bắt, xử lý một số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động trong nhân dân.

Thậm chí chúng còn móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá, gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí; cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động…

Vì vậy, việc kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, LLVT Quân khu 1 xác định: Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo động lực để các địa phương trên địa bàn Quân khu đẩy nhanh phát triển kinh tế, xã hội, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh vững chắc.

Tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó, tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ, bình luận, hưởng ứng bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật.

Thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy vai trò của ban chỉ đạo 35 các đơn vị, địa phương và các lực lượng tích cực đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước.

Đồng thời đẩy mạnh vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản như Báo Quân khu 1 và báo, đài các địa phương trên địa bàn Quân khu trong việc xây dựng những chuyên trang, chuyện mục, chương trình đấu tranh chống các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động; đẩy mạnh tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, tập thể điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đặc biệt chủ động tham mưu cho cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, ban chỉ đạo 35 các cấp xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả với các trang mạng phản động; xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

11.7

Âm mưu không dễ nhận ra

 

    Anh Ba làm nghề kinh doanh nhỏ, có nhiều thời gian giao tiếp với bạn bè. Biết tôi đang tích góp mua mảnh đất làm nhà nên anh bảo:

- Chú cố vay mượn để mua đất sớm đi, thậm chí vay mà mua vài suất. Sắp sửa đổi Luật Đất đai, khi đó giá đất tăng cao thì khó mà mua được đất xây nhà. Nghe nói cán bộ xã, huyện đã dồn tiền mua nhiều lô rồi đấy.

- Anh nghe thông tin đó ở đâu vậy?

Anh Ba đưa điện thoại cho tôi xem một số bài viết và nói:

- Mấy anh bạn làm bất động sản chia sẻ với anh. Chú thấy không, tranh thủ đón đầu sửa đổi Luật Đất đai, lãnh đạo các địa phương đã vẽ ra nhiều dự án và gom đất để sau này bán rồi. Mình nhanh chân theo các ông ấy thì cũng kiếm được.

Tôi đọc kỹ nội dung các bài viết đó thì mới tá hỏa bởi toàn những luận điệu sai sự thật, bèn nói với anh Ba:

- Anh ơi, đây là những trang mạng không chính thống, toàn đăng bài không có căn cứ để kích cầu mua đất và cả kích động, chống phá, câu view, như: "Sửa luật sẽ khiến giá đất tăng khủng khiếp", "Luật đất đai là vấn đề căn cơ của nạn tham nhũng”; "sửa đổi luật vì lợi ích nhóm, vì nhiều quan chức đã ôm đất nên phải tìm cách giải quyết"; "sửa luật do đã vẽ dự án hòng thâu tóm đất đai, trục lợi"... Anh để ý kỹ sẽ thấy, hầu hết các nội dung này đều là cắt ghép, hình ảnh thì cóp nhặt vụng về; các thông tin đưa ra sai sự thật. Mục đích của chúng hòng gây nhiễu loạn thông tin, tìm cách đẩy giá đất lên nhằm trục lợi, đồng thời cản trở chủ trương sửa đổi Luật Đất đai và nói xấu chế độ, Nhà nước ta thôi anh ạ.

Anh Ba ngờ hoặc:

- Thế anh hỏi chú, không vì lợi ích nhóm thì sao phải sửa đổi Luật Đất đai?

Tôi tiếp tục giải thích:

- Do một số quy định của Luật không còn phù hợp với thực tế, dễ bị lợi dụng để trục lợi, ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh nên cần nghiên cứu, sửa đổi để quy định pháp lý về đất đai chặt chẽ hơn. Ở đây không hề có lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân của quan chức mà chính là vì quyền lợi của nhân dân; phòng, chống lũng đoạn, thâu tóm đất. Anh phải cẩn thận kẻo mắc mưu những kẻ đầu cơ đang tìm cách bán đất giá cao để trục lợi; đồng thời, sâu xa hơn là kẻ xấu lợi dụng vấn đề đất đai để lan truyền những thông tin sai sự thật, chống phá nước ta. Những âm mưu này nhiều người không nhận ra nên đã hùa theo.

Anh Ba hiểu ra và thủ thỉ:

- Anh không ngờ lại phức tạp thế. Hóa ra anh vẫn rất ngây thơ khi tin vào những trang mạng không chính thống, không ai chịu trách nhiệm về sự chính xác của thông tin.

ST

“Chủ nghĩa cá nhân” Mối nguy hại từ một căn bệnh


Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể).

Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác.

Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”.

CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN.

Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN.

Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước.

Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ.

Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài.

Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng cũng nhất quán cho rằng, CNCN là một trở ngại lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN.

Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất.

Để khắc phục căn bệnh trên, chỉ cần mỗi cán bộ, đảng viên có dũng khí đứng lên phất cao ngọn cờ chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về chủ nghĩa tập thể, nghĩ nhiều đến chủ nghĩa tập thể, gây một phong trào làm việc nhiều cho tập thể, tổ chức đông đảo quần chúng hành động theo khẩu hiệu “ta vì mọi người, mọi người vì ta”, nhất định chúng ta sẽ thắng lợi./.

10.7

 CẢNH GIÁC VỚI Ý ĐỒ  PHÁ HOẠI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM


Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, xử lý một số cá nhân thuộc các tập đoàn, doanh nghiệp kinh tế lớn vì có các hành vi vi phạm pháp luật như Tập đoàn FLC, Tập đoàn Tân Hoàng Minh… Điều đó cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật nước ta nhằm đem lại một xã hội công bằng, thượng tôn pháp luật, xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh cho các tổ chức và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, mới đây, một số trang mạng, trong đó tiên phong, hào hứng nhất vẫn là Việt Tân tung tin về việc tỷ phú Phạm Nhật Vượng, ông chủ của Tập đoàn VinGroup bị cấm xuất cảnh. Ngay sau đó, Bộ Công an đã lên tiếng khẳng định tin đồn trên là sai sự thật, đập tan mọi đồn đoán vô căn cứ và sẽ truy tìm, xử lý nghiêm những kẻ tung tin đồn thất thiệt, gây ảnh hưởng đến nền an ninh kinh tế, tiền tệ nước nhà.

Không phải ngẫu nhiên mà các “anh chị rân chủ”, các trang mạng chống phá đất nước đều hào hứng, nhanh nhạy chạy theo những tin đồn kiểu như trên, bởi bất kỳ một thông tin vụ việc tiêu cực, bất lợi nào cho Việt Nam đều được chúng vui mừng lan tỏa nhằm làm hoang mang trong dư luận và cộng đồng mạng.

Việc Tỷ phú Phạm Nhật Vượng bị tung tin đồn ác ý với ý đồ tấn công vào Tập đoàn Vingroup, cũng như các công ty khác của Việt Nam, ý đồ làm mất lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm Việt, triệt hạ uy tín, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, kinh doanh, có thể khiến cho hàng ngàn người lao động đối mặt với việc thất nghiệp, qua đó phá hoại nền kinh tế nước nhà.

Rất mong cơ quan chức năng vào cuộc truy tìm, xử lý nghiêm những kẻ tung tin đồn thất thiệt, để các doanh nghiệp Việt tự tin phát triển, đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc!

 TỎA SÁNG PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" TRÊN TRẬN TUYẾN PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY


Giữa thời bình nhưng nhiều cán bộ, chiến sĩ BĐBP thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với tội phạm ma túy luôn phải đối mặt với ranh giới giữa sự sống và cái chết. Nhiều người đã anh dũng hy sinh hoặc mang thương tật suốt đời. Bị thương nặng trong khi truy bắt tội phạm ma túy nguy hiểm, Trung tá Lê Tuấn Hải, Trợ lý Phòng Trinh sát, BĐBP Thanh Hóa vẫn tiếp tục nỗ lực, mưu trí, dũng cảm, lập nhiều thành tích, tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trên trận tuyến phòng, chống tội phạm ma túy.


🇻🇳Dũng cảm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy


Sau khi tốt nghiệp Học viện Biên phòng, năm 2000, Lê Tuấn Hải được điều động về công tác tại BĐBP Thanh Hóa - đơn vị đứng chân trên địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng-an ninh và đối ngoại, có tiềm năng phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội. Nhưng đây cũng là tỉnh có khu vực biên giới với địa hình hiểm trở, các loại tội phạm triệt để lợi dụng để hoạt động. Xác định rõ nhiệm vụ và tư tưởng luôn vững vàng, anh đã không ngừng nỗ lực học hỏi và áp dụng những kiến thức được học tập trên ghế nhà trường vào thực tiễn công việc.

Từ năm 2005, khi thành lập Phòng Phòng, chống ma túy và tội phạm, BĐBP Thanh Hóa cho đến nay, trên các cương vị khác nhau, Trung tá Lê Tuấn Hải đã cùng tập thể đơn vị chủ động đấu tranh thành công nhiều chuyên án, vụ án, bắt giữ hơn 100 đối tượng phạm tội về ma túy, thu giữ gần 100 bánh heroin và các loại vũ khí, tang vật có liên quan...

Nhớ nhất về những ngày tháng “nếm mật, nằm gai”, lăn lộn trên các tuyến biên giới, đối với anh có lẽ là lần thực hiện kế hoạch về đấu tranh với hoạt động mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy và tiêu thụ tiền giả trên địa bàn huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Trong trận đánh ác liệt đó, anh Hải đảm nhận trọng trách bắt giữ đối tượng chính.


“Trong quá trình truy bắt đối tượng, lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở, đêm tối, các đối tượng chống trả quyết liệt. Tôi và đồng đội đã kiên quyết nổ súng khống chế bắt giữ được đối tượng. Trong lần thực hiện nhiệm vụ này, tôi đã bị thương ở phần vai bên phải, được đồng đội đưa đi cứu chữa với 3 lần phẫu thuật và điều trị dài ngày ở Viện 5, Quân khu 3. Năm 2012, với kết luận của Hội định giám định y khoa Bộ Quốc phòng, tỷ lệ thương tật của tôi là 23% thương tật vĩnh viễn, được công nhận thương binh loại 4/4” - Trung tá Hải kể lại.


🇻🇳Phát huy bản lĩnh, nỗ lực cống hiến


Sau khi bị thương, được sự quan tâm của Bộ Chỉ huy BĐBP Thanh Hóa, Trung tá Lê Tuấn Hải từ trực tiếp đấu tranh trực diện với tội phạm sang gián tiếp trên các vị trí công tác là Phó Đồn trưởng nghiệp vụ Đồn Biên phòng Trung Lý và Đồn Biên phòng Sầm Sơn. Với kinh nghiệm thực chiến dày dạn của mình, tại 2 đơn vị mới, anh tiếp tục phát huy được bản lĩnh, kinh nghiệm và sở trường của mình trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.


“Mặc dù hoàn cảnh gia đình khó khăn, vết thương thường xuyên tái phát, nhưng cũng như các đồng chí khác với tinh thần “Thương binh tàn nhưng không phế”, tôi đã vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trên cương vị mới tại Phòng Trinh sát, BĐBP Thanh Hóa, tôi tiếp tục tham mưu, cùng tập thể đơn vị vận dụng tốt các biện pháp nghiệp vụ, kịp thời nắm, dự báo sớm, sát, đúng tình hình, phục vụ tốt cho công tác tham mưu, chỉ đạo của cấp trên” - Trung tá Lê Tuấn Hải chia sẻ.


Đồn Biên phòng Trung Lý thuộc huyện Mường Lát, đây là huyện biên giới có địa hình hiểm trở, thuận lợi cho hoạt động của tội phạm. Trung tá Lê Tuấn Hải đã cùng cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Trung Lý đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự địa bàn đơn vị phụ trách. Thời gian công tác tại Đồn Biên phòng Trung Lý, Trung tá Lê Tuấn Hải đã trực tiếp chỉ đạo đơn vị và phối hợp với lực lượng đặc nhiệm của Phòng Phòng, chống ma túy và tội phạm, BĐBP Thanh Hóa đấu tranh thành công 1 chuyên án về mua bán người, bắt 2 đối tượng, giải cứu 1 nạn nhân; 2 chuyên án về ma túy và 12 vụ án về ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội.


Điển hình, thực hiện kế hoạch đấu tranh Chuyên án 217L, ngày 22/10/2016, ngay sau khi nhận được tin báo từ tổ tuần tra của Đồn Biên phòng Trung Lý, lực lượng đánh án tiến hành tuần tra, kiểm soát trên quốc lộ 15C thuộc địa phận bản Táo, xã Trung Lý, huyện Mường Lát. Khi phát hiện có 2 đối tượng đi trên 2 xe gắn máy có nhiều biểu hiện nghi vấn, lực lượng đánh án đã phát tín hiệu yêu cầu dừng lại, song 2 đối tượng đã cố tình bỏ chạy. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng đánh án đã áp sát, tiếp cận và khống chế được 2 đối tượng.

Tại hiện trường, các trinh sát và phát hiện trong hành lý của 2 đối tượng có 69 bánh heroin, 2 xe máy, 2 điện thoại di động, 600.000 đồng, 153.000 kíp Lào. 2 đối tượng bị bắt là Lự Tho, sinh năm 1975 và Vàng Tụa Tho, sinh năm 1984, đều trú tại bản Huội Són, cụm Mường Hạm, huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, Lào. Chúng được một người đàn ông ở Việt Nam thuê vận chuyển số ma túy trên từ Lào sang Việt Nam với giá 40 triệu đồng.


Tiếp tục phát huy kinh nghiệm và bản lĩnh, từ năm 2016 đến 2021, Trung tá Lê Tuấn Hải được điều động công tác tại Đồn Biên phòng Sầm Sơn. Địa bàn đơn vị phụ trách gồm 14 xã, phường khu vực biên giới biển. Nhận thấy địa bàn tuyến biên giới biển khác biệt so với tuyến biên giới đất liền, Trung tá Lê Tuấn Hải đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt những kinh nghiệm, kiến thức vốn có và chỉ đạo lực lượng nghiệp vụ đấu tranh thành công 3 chuyên án về buôn bán, vận chuyển trái phép vật liệu nổ, bắt 3 đối tượng, thu giữ 34kg thuốc nổ, 120 kíp nổ; 9 vụ án về ma túy. Anh cũng trực tiếp chỉ đạo phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, áp dụng các biện pháp ngăn chặn làm giảm thiểu hoạt động xuất cảnh sang Trung Quốc lao động trái phép

 Đấu tranh với âm mưu chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay


 Thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, nhiều năm qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, hòng xoá bỏ nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các thế lực thù địch tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác- Lê nin, chúng coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng việc Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê nin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm. Chúng dựng chuyện, bôi nhọ về thân thế, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Cần phải khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và với trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng đó là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Trong những năm qua, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc ta đó là thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý không thể phủ nhận, Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mệt mỏi cho hòa bình, tiến bộ của nhân loại; Người là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân.


Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc và nhân loại, với tấm gương đạo đức sáng ngời, Hồ Chí Minh đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng mộ. Chính vì lẽ đó, những luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Người chỉ là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và vô giá trị mà thôi.



Những vấn đề cơ bản về giải thoát và Niết bàn ở Phật giáo

 


Cứa khổ, giải thoát vừa là nội dung vừa là chủ đích của giáo thuyết Phật giáo. Phật Thích Ca đã từng nói rằng: Trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và lý giải về nỗi khổ đau và giải thoát nỗi khổ đau,... Cũng như nước đại dương chỉ có vị mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt (giải thoát). Phật giáo cho rằng sự giác ngộ, giải thoát là công việc của chúng sinh, do bản thân mỗi chúng sinh thực hiện và tùy thuộc vào quá trình tu tập của từng người. Nếu ai tu dưỡng rèn luyện tốt thì nhanh chóng giác ngộ, giải thoát. Niết bàn là trạng thái tinh thần đã đoạn trừ được những ràng buộc trần thế, những khổ đau, phiền não vô minh, tham dục gây ra, một tâm hồn hoàn toàn an lạc, giải thoát. Phật giáo cho rằng còn vô minh, còn tham lam dục vọng thì còn luân hồi sinh tử. Chỉ khi diệt trừ vô minh, tham dục thì mới hết luân hồi sinh tử, cảnh giới được Niết bàn. Nói cách khác, nếu vô minh tạo ra nghiệp, là nguồn gốc của mọi sự khổ đau, gắn liền với tham lam và dốt nát thì Niết bàn là chấm dứt đau khổ, gắn liền với diệt dục, hiểu biết và giác ngộ. Niết bàn là giải thoát, tịnh diệt và không còn sinh tử.

 

Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về tôn giáo

 


Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng. Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Thứ ba, Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

Đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.  Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

Sở dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ: Các dân tộc, tôn giáo là lực lượng to lớn của cách mạng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong cộng đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam  phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật.

Khổ và con đường cứu khổ của Phật giáo

 


Một trong những nội dung rất cơ bản của giáo lý Phật giáo khi lý giải về con người là lý thuyết về khổ và con đường cứu khổ. Nội dung khổ và con đường cứu khổ được thể hiện trong Tứ diệu đế (hay Tứ thánh đế), tức là bốn chân lý cao siêu: Khổ đế, Tập đế, Diệt đếy Đạo đế. Cụ thể: Khổ đế: Khổ đế là chân lý nói về sự khổ của người đời. Phật giáo quy cái khổ của con người vào tám điều khổ (gọi là bát khổ). Đó là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử; Cầu bất đắc khổ (mong ước mà không được là khổ); Ái biệt ly khổ (phải xa lìa người mình yêu thương là khổ); Oán tăng hội khổ (phải sống với người mà mình oán ghét là khổ); Ngũ ẩm xí thịnh khổ (mang thân ngũ ẩm che lấp trí tuệ không nhận thức được thực tướng của sự vật, bản chất của thế giới là khổ). Phật giáo cho rằng đòi là bể khổ. Khổ đau là vô tận và tuyệt đối. Cuộc đời ngoài khổ đau không còn tồn tại nào khác. Ngay cả cái chết cũng không phải chấm dứt sự khổ, mà là tiếp tục sự khổ mới. Phật Thích Ca đã ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước đại dương.Tập đế: Tập đế là chân lý nói về nguyên nhân tạo ra sự khổ. Thông thường Phật giáo giải thích nguyên nhân của sự khổ là do thập kết sử; tức là do mười điều tập hợp lại dẫn con người vào khổ đau. Cụ thể là: tham lam, giận dữ, si mê, kiêu ngạo nghi ngờ, thân kiến (cho rằng có cái ta thật - chấp ngã), biên kiến (hiểu biết không đến noi đến chốn, hiểu một mặt), tà kiến (hiểu sai), kiến thủ (bảo thủ cho mình là đúng), giới cấm thủ (tu hành không chính đạo). Nói về nguyên nhân của sự khổ đau, sách Phật còn dùng lý thuyết Thập nhị nhân duyên, tức là 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người, gồm: vô minh - hành thức - danh sắc - lục nhập - xúc - thụ - ái - thủ - hữu - sinh - lão tử, trong đó đặc biệt quan tâm đến vô minh. Diệt đế: là chân lý nói về sự diệt trừ cái khổ để đặt đến sự an lạc, không còn luân hồi sinh từ. Như trên đã nêu, Phật giáo quan niệm nguồn gốc sâu sa của khổ đau là sư vận hành của Thập nhị nhân duyên, trong đó gốc rễ sâu xa là vô minh. Vì vậy muốn diệt khổ phải quay trở lại, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất của tồn tại, thực tướng của thế giới và con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa. Tức là đã thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nói cách khác là khi nào diệt trừ vô minh, tham dục thì hoạt động của ngũ uẩn dừng lại, khi ấy mdi hết luôn hồi sinh tử. Đạo đế: là chân lý nói về con đường tụ tập phải theo, Phật giáo chủ trương vừa lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luôn hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục để chuyển nghiệp, đạt đến sự giải thoát. Phật giáo đặt ra nhiều pháp tu tập thực tiễn. Có đến cả ngàn pháp môn tu hành nhưng tập trung nhất là 37 phẩm trợ đạo, gồm: Tứ niệm xứ là bốn nơi cần hướng sự suy nghĩ vào: thân, thụ, tâm, pháp; Tứ chính cần là bốn điều siêng năng chân chính trong tu tập để bỏ điều ác, làm điều thiện, nhằm chế ngự những hành vi bộc lộ ra ngoài; Tứ như y túc là bốn chỗ nương tựa để định tâm: thiền, niệm, tinh tiến, tuệ; Ngũ căn là năm cái gốc sinh ra các thiện pháp: tui căn, tinh tiến căn, niệm căn, định căn, tuệ căn; Ngũ lực là ngũ căn đạt đến mức đối trị được phiền não, diệt trừ các ác pháp; Thất giác chi là bảy điều tu tập đạt trí tuệ ở mức cao,... Đặc biệt Phật giáo quan tâm đến tu hành theo Bát chính đạo: là tám con đường tu hành chân chính: Chính ngữ; Chính nghiệp; Chính tinh tiến; Chính mệnh; Chính niệm; Chính định; Chính tri kiến; Chính tư duy.

Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về dân tộc

 


Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh.

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và  phía tây các tỉnh Miền Trung. Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam. Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện, các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện. Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

 

Quan niệm về con người của Phật Giáo

 


Phật giáo cho rằng con người không phải do - Thượng đế hay một Đấng thiêng liêng nào sinh ra. Con người là một pháp đặc biệt của thế giới vạn pháp. Con người bao gồm hai phần: phần sinh lý, phần tâm lý, và là sự kết hợp của Ngũ uẩn, gồm năm yếu tố: sắc, thụ, tưởng, hành, thức được chia làm hai phần: Phần sinh lý- sắc uẩn: là thân tướng, hình sắc, được giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da được tạo thành bởi bốn yếu tố vật chất, sách Phật gọi là tứ đại: địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió). Phần tâm lý hay tinh thần, ý thức, gồm: thụ uẩn, tướng uẩn, hành uẩn, thức uẩn được biểu hiện bằng “thất tình”, tức là bảy trạng huống tình cảm, cụ thể là: ai (thương), ái (yêu), (ghét), hỷ (vui), nộ (giận), lạc (sướng), dục (muốn). Phần tâm lý bao giờ cũng nhờ dựa vào phần sinh lý, hay nói cách khác, không thể có tinh thần ý thức ngoài cơ thể vật chất. Theo giáo lý Phật giáo, con người cũng như mọi sự vật hiện tượng khác trong vũ trụ phải tuân theo quy luật: sinh - trụ - dị - diệt. Con người thực chất chỉ là sự giả hợp của ngũ uẩn. Khi ngũ uẩn kết hợp lại thì gọi là sinh, khi ngũ uẩn tan rã thì gọi là diệt. Phật giáo không cho rằng con người sau khi chết là hết - sách Phật gọi là chấp đoạn, hoặc sau khi chết có linh hồn bất tử tiếp tục đầu thai vào kiếp khác - sách Phật gọi là chấp thường. Phật giáo giải thích con người sau khi chết bằng các thuyết Nhân quả, Nghiệp báoLuân hồi.

Những thành tựu thực hiện quyền con người ở Việt Nam

 


Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục. Đại hội XIII của Đảng xaccs định: “ Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh than yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân”

Quyền con người được bảo đảm trên thực tế.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau. Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người như: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp... Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.

Thành tựu trong phát huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn. Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Dân chủ được thực hiện tốt hơn trong thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Quan niệm về thế giới của Phật giáo có hệ thống và mang tính triết học sâu sắc

 


 Phật giáo cho rằng thế giới là thế giới vật chất. Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ hay nói cách khác là “vạn pháp” không phải do một Đấng thiêng liêng nào tạo tác bằng những phép màu nhiệm, mà được tạo nên bởi những phần vật chất nhỏ bé nhất. Phần nhỏ bé nhất đó chính là cội gốc, là “bản thể”, của sự vật, hiện tượng, và rộng ra là thực tướng của thế giới vạn pháp. Mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn chuyển động, biến đổi, sách Phật gọi là vô thường. Sự vận động biến đổi đó đi theo một chu trình: thành - trụ - hoại - không, hay: sinh - trụ - dị - diệt tức là tiến trình phát sinh, trưởng thành, hư hoại và tan rã của sự vật, hiện tượng. Các sự vật hiện tượng trong vũ trụ chuyển động, biến đổi đều bị chi phối bởi quy luật nhân duyên. Nhân duyên hòa hợp là sự vật sinh, nhân duyên tan rã là sự vật diệt. Phật giáo cũng đưa ra quan niệm về không gian và thời gian. Nói chung, Phật giáo cho rằng thời gian là vô cùng, không gian là vô tận; không gian và thời gian đều vô thủy vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc.

Nói tóm lại, Phật giáo cho rằng thế giới là thế giới vật chất, luôn chuyển động và biến đổi, vô thủy, vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc. Sự biến đổi của thế giới, sự sinh diệt của vạn pháp không phải do phép lạ từ bên ngoài, mà là tự nó, sách Phật gọi là “tự kỷ nhân quả”.

Dân chủ ở Việt Nam được thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


 Dân chủ ở Việt Nam được thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Dân giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế; tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội. Đại hội XIII: Đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao. Về văn hóa - xã hội, mọi người dân có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...; quyền được có việc làm, đảm bảo an sinh xã hội... Về quốc phòng, an ninh, mọi người dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

Một số nội dung biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược DBHB trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên LLVT tỉnh, thành phố hiện nay

 

Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược DBHB trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên nói chung và của LLVT tỉnh, TP nói riêng, cần tiến hành tổng hợp nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào một số nội dung biện pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng; giáo dục, phổ biến cho mọi cán bộ, đảng viên hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch.

Để chất lượng hoạt động đấu tranh ngày càng đi lên, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng, nâng cao trình độ đấu tranh phản bác lại các luận điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Thường xuyên quán triệt vị trí, ý nghĩa nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên toàn đơn vị trong cuộc đấu tranh chống DBHB nói chung, trên không gian mạng nói riêng. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện và tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cho mọi cán bộ, đảng viên về các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; tạo sức đề kháng cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình khai thác, sử dụng mạng Internet.

Chúng ta có thể nói rằng chiến lược DBHB trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động có đạt được mục đích hay không hoàn toàn phụ thuộc vào bản lĩnh chính trị, khả năng, hiểu biết và sức đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, trước những thông tin thật giả, đúng sai lẫn lộn. Do đó, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải tạo được sức đề kháng cho mỗi cán bộ, đảng  viên; đồng thời phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, mọi lực lượng trong cơ quan, đơn vị. Để làm được điều này cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí, quyết tâm cho cán bộ, đảng viên. Công tác giáo dục chính trị cần tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở để cán bộ, đảng viên quán triệt đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng thù địch.

Chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, môi trường Internet trong sạch là chính. Để tạo nên sức đề kháng cho mọi cán bộ, đảng viên trước các âm mưu thủ đoạn DBHB trên không gian mạng, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Ngoài việc tập trung phản bác, chống lại các quan điểm sai trái, phải vừa xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên, đồng thời vừa phải quan tâm đến việc xây dựng môi trường văn hóa, môi trường Internet trong cơ quan, đơn vị một cách trong sạch, lành mạnh.

Cùng với đó, phải huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức tự giác, hành động tích cực trong phê phán, đấu tranh chống quan điểm sai trái. Tổ chức lực lượng trong cơ quan, đơn vị, thực hiện thường xuyên nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Kiện toàn và phát huy vai trò của các lực lượng chuyên trách trong đấu tranh với những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch.

Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, đa dạng hóa hình thức đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng.

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB rất đa dạng, tinh vi và thường xuyên thay đổi, để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng thực sự đem lại chất lượng, hiệu quả đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên có sự đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp đấu tranh. Trong tình hình hiện nay, cần chủ động viết và đăng tải các bài viết đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái trên mạng Internet. Quá trình tham gia mạng Internet, truy cập các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Youtube, Instagram… mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần thể hiện quan điểm, thái độ đúng đắn, có những bình luận, chia sẻ, phân tích, tuyên truyền những thông tin chính thống, phản bác những thông tin, hình ảnh, video sai lệch, phản động. Tiến hành truy cập, tìm kiếm các trang thông tin chính thống, các trang, blog cá nhân có nội dung bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chống DBHB …từ đó tiến hành các nội dung bình luận thể hiện quan điểm đúng đắn của bản thân và chia sẽ rộng rãi trên không gian mạng, tạo thành diễn đàn cho nhiều người cùng cơ quan, đơn vị tham gia chống các quan điểm sai trái thù địch… Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tham gia vào mạng Internet, khi phát hiện các trang web, blog mang tính chất phản động, cần kêu gọi mọi người tẩy chay, cảnh giác, tuyệt đối không truy cập, không chia sẽ, không bình luận, không tải về máy tính, ... đồng thời báo cáo chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng có biện pháp tháo gỡ, vô hiệu hóa các trang mạng này.

Bốn là, đảm bảo tốt các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật trong quá trình đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng.

Đây là giải pháp nâng cao tính bảo mật và an toàn thông tin khi truy cập Internet. Cần trang bị đầy đủ các phần mềm, chương trình chống mã độc, quản lý việc truy cập sử dụng Internet trong nội bộ đơn vị, sử dụng phần mềm chuyên dụng, tự động cập nhật, phát hiện và ngăn chặn những trang mạng độc hại không để các chương trình, trang mạng độc hại xâm nhập vào các hệ thống máy tính trong cơ quan, đơn vị, quản lý nghiêm ngặt không để các máy tính quân sự kết nối mạng Internet. Quản lý, theo dõi chặt chẽ cán bộ, đảng viên sử dụng các trang thiết bị lưu trữ thông tin như USB, ổ cứng di động,... trong quá trình khai thác, sử dụng mạng Internet. Nâng cao chất lượng quản lí, khai thác tốt cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình khai thác sử dụng, bảo quản máy tính và hệ thống mạng Internet. Đồng thời, tiến hành bồi dưỡng nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho cán bộ, đảng viên về kỹ năng sử dụng mạng Internet trong đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng, trong đó tập trung bồi dưỡng khả năng sử dụng và bảo mật trên mạng Internet, cách phát hiện và xử lý khi phát hiện những trang web, blog độc hại, cách dùng các chương trình, phần mềm chuyên dụng trong quản lý sử dụng Internet, các phần mềm diệt virút, chống gián điệp trên hệ thống máy tính...

 Nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng trong cán bộ, đảng viên nói chung và LLVT tỉnh, TP nói riêng là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cơ quan, đơn vị, nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho mọi cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.