Tham nhũng, tiêu cực,
suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do
quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội,
thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Thời gian qua,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam có những
bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn
thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả phòng, chống tham
nhũng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam
là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc phòng,
chống tham nhũng thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu
xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ. 1. Mới đây, RFA đăng bài
viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”. Bài viết có nhiều nội
dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống
tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình
thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay
không? Trên cơ sở đó, tác giả bài viết hồ đồ “hiến kế”, cho rằng ở Việt Nam
muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại. Với ý đồ
tương tự, một số bài viết đăng trên báo mạng nước ngoài đặt điều cho rằng, ở
Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện
ra những “ung nhọt” hạn chế, yếu kém của nhau; qua đó mới giúp công tác phòng,
chống tham nhũng chuyển biến thực chất. Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà
nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng
nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, rồi giả danh những người yêu nước để
hiến kế “một cách nghĩa hiệp”... Các bài viết trên cũng tập trung phủ nhận kết
quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chúng
rêu rao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực nhưng đều không thành công, thậm chí, tình trạng này ngày càng
gia tăng rộng khắp. Bởi “bới” chỗ nào cũng ra tham nhũng, sờ đến đâu thì kỷ
luật cán bộ đến đấy. Viện dẫn bằng chứng cho những suy diễn đó, chúng chắp vá
một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán
bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, rồi quy chụp hiện tượng
thành bản chất, quy chụp những sự vụ đơn lẻ thành lỗi hệ thống. Những lập luận,
suy diễn trên hoàn toàn thiếu cơ sở; với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin dư
luận, gây bất lợi cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị
ở Việt Nam. Bởi vì, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng
mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng,
tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa
đảng hay một đảng lãnh đạo. Có nghĩa, ở bất cứ nơi nào có quyền lực và quyền
lực chính trị mà bị tha hóa, lạm dụng thì nơi ấy sinh ra tham nhũng. Nói đến
nhà nước là nói đến quyền lực - một quyền lực to lớn và sự lạm quyền, lộng
quyền, quyền lực có nguy cơ bị “tha hóa” là điều dễ xảy ra; tham nhũng là
“khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, có
nhà nước là có tham nhũng, có chăng chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng. 2.
Lịch sử nhân loại cho thấy, chế độ một đảng lãnh đạo hoàn toàn không phải là
“cha đẻ” của tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong giới cầm quyền. Mà
thực chất, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế
giới; trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam
quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Không ít quốc gia theo chế độ đa
đảng, tình trạng tham nhũng diễn ra trong hệ thống công quyền đã trở thành mối
nguy hại lớn, thậm chí đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia. Từ năm 1995, Tổ
chức Minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng
năm (dựa trên dữ liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới, Diễn
đàn Kinh tế thế giới, rủi ro tư nhân, các công ty tư vấn và các tổ chức khác).
Đây là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một
cái nhìn tổng thể hằng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, tham nhũng là vấn nạn chung của mọi quốc gia,
chứ không thuộc bất cứ đất nước, hay bộ máy chính quyền nào. Để phòng, chống
tham nhũng hiệu quả, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những
chiến lược dài hạn với thái độ và phương thức tiến hành rất quyết liệt, mạnh
mẽ. Ví như, Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây
dựng tác phong liêm chính trong cán bộ đảng và nhà nước. Luật Chống tham nhũng
(năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ
không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức
năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký
tên hay không ký tên. Một số nước như Brazil, Colombia, Singapore... thiết lập
các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói
riêng. Thực tế đó cho thấy, dù là quốc gia nào, chế độ nào, thời kỳ nào cũng
đều sinh ra tham nhũng và tình trạng này hoàn toàn không phải là “con đẻ” của
chế độ một đảng lãnh đạo. Do đó, việc một số cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu
thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan
y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một
đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế và hòng hiện thực
những thủ đoạn chính trị thâm độc, xấu xa. Trước hết, chúng hướng đến việc tạo
nên sự hoài nghi, hoang mang, dao động, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do
chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ.
Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội; mà trực tiếp,
trước hết là sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực. 3. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho
thấy, cùng với quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước dựa trên pháp trị, các triều
đại phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến việc phòng, chống tham nhũng. Hơn một
nghìn năm trước, Triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất
cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại.
Đến Triều Lê Sơ, Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có hơn 40 điều liên
quan đến việc phòng, chống tham nhũng. Các triều đại kế tiếp, việc chống tham
nhũng được coi trọng; quan tâm ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia
đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện
những hành vi tham nhũng... Đặc biệt, trong lịch sử dân tộc Việt Nam còn lưu
truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm - Lễ hội “Thề
không tham nhũng”. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác
định tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”; một trong các nguy cơ đe dọa sự
tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên
quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta kiên định, phải chủ động
phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý kịp thời, nghiêm minh
các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham
nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi
hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham
nhũng ở Việt Nam. Đặc biệt, thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực được Đảng, Nhà nước tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết
liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện
Trung ương và địa phương quản lý đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng
tội. Kết quả đánh giá tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực (giai đoạn 2012-2022) được Bộ Chính trị tổ chức vào
ngày 30/6/2022, cho thấy: Chỉ trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp
đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có
hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện
Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng...
Đây thực sự là những con số biết nói và là minh chứng sinh động nhất cho việc
Đảng Cộng sản Việt Nam không khoan nhượng với “giặc nội xâm” và trong chế độ
một đảng lãnh đạo, tham nhũng luôn bị đấu tranh loại bỏ đến tận cùng. Quyết tâm
phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng nhiều lần bày tỏ, khẳng định: “Phải tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham
nhũng, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, với quyết tâm cao hơn, mạnh mẽ hơn,
hiệu quả hơn”. 4. Kết quả phòng, chống tham nhũng giúp Việt Nam không ngừng ổn
định, phát triển, tạo thế và lực của đất nước trên trường quốc tế. Đặc biệt, từ
kết quả phòng, chống tham nhũng, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng Cộng sản
Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa được nâng lên. Tuy nhiên, phòng, chống tham
nhũng là cuộc chiến phức tạp, còn kéo dài với nhiều gian khổ, hiểm nguy nên
tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm; đòi
hỏi sự kiên quyết, kiên trì, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân ta. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng
phải nêu cao tinh thần, dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, quyết liệt chống chủ nghĩa cá
nhân, xem đó là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống
tham nhũng như Bác Hồ từng căn dặn. Có như vậy thì Đảng mới từng bước trưởng
thành, tiến bộ, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà dân tộc giao phó. Đó cũng
chính là cách mà mỗi tổ chức, cá nhân góp phần đấu tranh đẩy lùi, tẩy trừ, thủ
tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cách mạng của các thế lực thù
địch./.