Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2023

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc./.

TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC - HÀNH TRÌNH MANG TẦM THỜI ĐẠI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước của vùng đất xứ Nghệ “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống cách mạng, với trí thông minh và sự mẫn cảm về chính trị, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra cảnh đất nước lầm than đắm chìm trong nô lệ. Thuở ấu thơ được bê nước hầu cha và các bạn của cha đàm đạo việc nước, Nguyễn Tất Thành đã sớm có những suy nghĩ khác biệt về tư tưởng so với nhiều người bạn cùng trang lứa và cả với một số bậc cha chú đương thời về con đường cứu nước.

Ý chí quyết định đi ra nước ngoài tự mình tìm con đường cứu nước, cứu dân đã hình thành trong tư tưởng của người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Năm 1905, Nguyễn Tất Thành được cha là ông Nguyễn Sinh Huy (tức ông Nguyễn Sinh Sắc) xin cho theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh. Tại ngôi trường này, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” và tìm thấy sức hấp dẫn của những mỹ từ đó mà người Pháp đã tuyên truyền. Đi đâu, đến nước nào để tìm con đường cứu nước, cứu dân là những câu hỏi luôn đau đáu trong suy nghĩ của Nguyễn Tất Thành. Và Người đã tìm được câu hỏi trả lời từ chính trong cuộc sống xã hội mà Người đã trải qua. Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn giấu đằng sau nhiều mỹ từ ấy. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào” rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho Nhân dân là mục đích, là “ham muốn tột bậc” của Người, là nguồn gốc và động lực sâu xa để ngày 5/6/1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn ra nước ngoài, thực hiện cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước, cứu dân.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành đã lên tàu Admiral Latouche-Tréville rời Sài Gòn đi Mác-xây (Pháp). Người đã đi nhiều nước, tiếp xúc nhiều nền văn hóa ở nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau. Đi đến đâu Người cũng hòa mình vào phong trào quần chúng nhân dân lao động, chứng kiến nhiều cảnh người nô lệ, hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân và nhận ra đâu là bạn, đâu là thù.

Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã trải qua gần 30 quốc gia của 4 châu lục, phải làm rất nhiều nghề cực nhọc khác nhau để kiếm sống, Người đã luôn tự học tập, học hỏi trong bất cứ hoàn cảnh nào và luôn quan sát, độc lập suy nghĩ để tìm ra lời giải cho riêng mình. Hành trình tìm đường cứu nước của Người có những đặc điểm riêng biệt khác với các thế hệ tiền bối và cũng tạo lập ra những nét đặc sắc riêng trong nhận thức, tư tưởng so với các thanh niên, trí thức du học phương Tây cùng thời.

Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua thực tiễn học tập, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã nhận thấy vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng con người là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà với tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động bị áp bức trên trên toàn thế giới.

Tháng 7/1920, Người được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của V.I.Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo (Pháp). Người lập tức đã bị cuốn hút và đã đọc đi, đọc lại nhiều lần. Qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vì nó đã đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử và Người đã vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu phong kiến và các nhà hoạt động cách mạng có xu hướng tư sản đương thời.

Nhiều nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh đều có chung quan điểm, một trong những điểm nổi trội và độc đáo nhất của Người so với nhiều danh nhân văn hóa khác trên thế giới là ở chỗ Người đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc. Hồ Chí Minh luôn coi chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam được sinh ra từ lòng yêu nước muôn đời, rồi qua hàng ngàn năm thử thách, kết tinh thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một văn hóa vĩnh hằng của dân tộc.

Từ tình thương yêu con người đã trở thành khát vọng giải phóng con người, Nguyễn Ái Quốc luôn nung nấu và theo đuổi ý chí tìm đường giải phóng không chỉ cho dân tộc mình mà còn với mọi tầng lớp cùng khổ trên khắp các châu lục. Từ chủ nghĩa yêu nước dân tộc chân chính, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa cộng sản.

Xác định con đường của cách mạng Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác - Lênin là điểm khác về chất của Người so với nhiều nhân vật yêu nước cùng thời. Khi nước nhà mất độc lập cũng là truyền thống yêu nước có điều kiện thể hiện rõ ràng nhất, sinh động nhất, nhưng yêu nước nhiệt thành thì không chỉ có duy nhất là Nguyễn Ái Quốc. Có chí lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm, lấy lại đà chấn hưng cho dân tộc Việt Nam không phải chỉ có riêng ở Người. Bằng sự dấn thân và trải nghiệm của cá nhân Người, Người đã khước từ phong trào Đông Du, Duy Tân để tìm thấy ở Chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước và con đường phát triển cho dân tộc một cách đúng đắn.

Với ý chí kiên cường và nghị lực phi thường, sau 30 năm bôn ba vất vả để tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc tìm được đường đi cho dân tộc theo đi, Người đã về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ một nước thuộc địa nửa thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, dân tộc Việt Nam đã đứng lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám mùa Thu 1945, nở hoa, độc lập, kết trái tự do, làm nên thắng lợi của 2 cuộc khámg chiến trường chinh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập cho dân tộc, thống nhất non sông.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ của lịch sử đã là thực tiễn sinh động minh chứng hùng hồn con đường mà Nguyễn Ái Quốc tìm ra, giới thiệu cho lịch sử và để lịch sử lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng tính cách mạng và khoa học con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy không chỉ đã khai thông sự bế tắc đường lối giải phóng dân tộc mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của dân tộc Việt Nam đã trao cho Người với trách nhiệm là người tìm đường, người mở đường và là người dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam sau nhiều phen sóng gió, thăng trầm của lịch sử.

Tròn 111 năm (5/6/1911 - 5/6/2022) Ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn ra nước ngoài thực hiện cuộc hành trình vĩ đại mang tầm thời đại: cứu nước, cứu dân. Lịch sử ngày càng lùi xa nhưng với tất cả những cống hiến lớn lao của Người trong hành trình đặc biệt đó vì nước, vì dân đã trở thành một tài sản tinh thần to lớn và vô giá của dân tộc Việt Nam.

Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử đã đặt ra cho dân tộc hai nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết là đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc và canh tân đất nước. Hai nhiệm vụ này gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng và hỗ trợ cho nhau không thể tách rời. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa 2 vấn đề này thì giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ cấp bách, phát triển đất nước là nội dung quan trọng nhưng mục tiêu này chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập, nhân dân được tự do. Hồ Chí Minh đó có công lao vô cùng to lớn trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam kiên trì, kiên định con đường Người đã tìm ra và lựa chọn, ra sức vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để đưa sự nghiệp cách mạng của Người để lại vươn những tầm cao mới, thực hiện mong muốn cuối cùng của Người là “đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA "LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Ngày 19-12-1946, Bác Hồ đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đó là một áng thiên cổ hùng văn trong thời đại mới, có giá trị lịch sử như một Cương lĩnh kháng chiến, chứa đựng những quan điểm cơ bản về đường lối chiến tranh nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, truyền thống anh hùng, bất khuất, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh… Năm tháng đã qua đi, nhưng âm hưởng hào hùng của Lời kêu gọi vẫn còn mãi với thời gian, để lại cho Đảng và sự nghiệp cách mạng nước ta những bài học hết sức quý báu, có ý nghĩa to lớn và thiết thực, nhất là bài học quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay.

Thực hiện lời nguyện thề thiêng liêng trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi ngắn gọn, giản dị, đanh thép để hiệu triệu toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên chống thực dân Pháp, bảo vệ Tổ quốc.

Toàn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ với 197 chữ nhưng là một bản cương lĩnh kháng chiến súc tích với những nội dung hết sức quan trọng định hướng và chỉ đạo cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam. Ra đời trong thời khắc cam go của lịch sử, lời hịch cứu nước của Hồ Chí Minh đã chạm tới điều sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam, đó là lòng yêu nước và khát vọng tự do, đã thổi bùng lên ngọn lửa chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cuộc chiến đấu mà kẻ thù buộc dân tộc Việt Nam phải bước vào, lại chính là nấm mồ chôn chủ nghĩa thực dân cũ và phế truất vai trò cường quốc quân sự của nước Pháp trên phạm vi toàn thế giới.

Vừa giành được độc lập, nhân dân ta với truyền thống nhân nghĩa, yêu hòa bình, khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam là muốn có hòa bình để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trên thực tế, để cứu vãn hòa bình, tránh cuộc chiến tranh xảy ra, Đảng, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hết sức, làm tất cả những gì cần thiết và có thể, kể cả nhân nhượng từng bước với giặc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Trước tình hình đó, không còn lựa chọn nào khác, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí chống xâm lược, với ý chí: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”. Một lần nữa, ngọn lửa truyền thống, khí phách chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc ta lại bừng cháy trong những ngày toàn quốc kháng chiến.

Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, chấn động địa cầu, mở đầu thời kỳ sụp đổ của chế độ thực dân trên toàn cầu.

Thành công của cuộc kháng chiến chống Pháp là nhân tố quan trọng, tạo tiền đề cho thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm của quân và dân ta.

Bảy mươi sáu năm đã trôi qua, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cùng với những sự kiện mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người Việt Nam, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Sự kiện đáng tự hào đó có giá trị lịch sử và giá trị hiện thực sâu sắc, để lại nhiều bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy nền kinh tế phát triển chưa bền vững, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra; các thế lực thù địch chống phá quyết liệt bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hết sức thâm độc, nguy hiểm. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta vì thế có nhiều cơ hội những cũng đứng trước nhiều thách thức.

Tình hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đoàn kết, thống nhất, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tận dụng tốt thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Tập trung thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo là kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhằm đạt mục tiêuNâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

Trong bối cảnh đó, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ vẫn còn nguyên giá trị, để lại những bài học quý báu đó là:

Một là, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong những lúc khó khăn nhất. Cụ thể, trong tình tình dịch bệnh COVID-19 như một cơn bão gây thương vong cho hàng triệu con người và tổn thất nặng nề đối với nền kinh tế. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra lời kêu gọi: “Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài… Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”. Sau lời kêu gọi của Tổng Bí thư, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết, thống nhất triển khai quyết liệt nhiều biện pháp đồng bộ, vừa ngăn chặn, hạn chế tốc độ lây lan của dịch bệnh, vừa bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, an toàn xã hội; từng bước đạt kết quả tích cực, thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc, sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc chiến đấu chống đại dịch.

Học tập và làm theo Bác Hồ, Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp nội lực và ngoại lực để phát triển đất nước ta ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đặc biệt là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để khơi dậy trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hai là, trong mọi hoàn cảnh, Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ để giải quyết những khó khăn của đất nước như: xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế… Thực sự xác định “dân làm gốc”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân ….những giá trị đó phải được thể hiện ở việc lao động sáng tạo phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ba là, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, quan điểm về chiến tranh nhân dân, giúp Đảng ta chủ động phát huy mọi lực lượng, quan tâm phát triển mọi mặt của đất nước, không nóng vội đốt cháy giai đoạn, chủ động phát huy nội lực, kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, xây dựng phát triển hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới. Chú trọng đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí với những hành vi ngày càng tinh vi, gây bức xúc xã hội. Chủ động công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Khắc phục những mặt còn tồn tại trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bởi lẽ nhân dân chỉ tin tưởng và theo Đảng khi Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”.

76 năm đã đi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nhưng âm hưởng hào hùng của quá khứ cùng những tư tưởng sâu sắc của Người trong Lời kêu gọi vẫn thức dậy trong mỗi chúng ta lòng tự hào dân tộc, khát vọng hiến dâng cho Tổ quốc và trang bị cho chúng ta những giải pháp đúng đắn để hành động vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong thời đại mới./.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Sinh thời, Bác luôn căn dặn: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", để giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Thực hiện lời dạy của Người, Đảng ta luôn chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đó là "một việc hết sức quan trọng và rất cần thiết".

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, trong đó giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên là cơ sở, nền tảng để xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có đời sống vật chất tinh thần lành mạnh, trước hết, phải là người có lập trường kiên định, vững vàng trước mọi thử thách, luôn nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Là người biết lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, biết tôn trọng quyền làm chủ tập thể của quần chúng nhân dân. Họ là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, nói đi đôi với làm, có ý thức phê bình và tự phê bình, tác phong giản dị, lối sống trong sạch, lành mạnh. Trong cuộc sống gia đình, họ là những người biết lo toan, tổ chức một gia đình hạnh phúc.

Phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên được biểu hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách được phân công, giữ gìn kỷ luật; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân mình; hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân. Họ là những người luôn vì Đảng, vì Dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc; luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ. 

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta đã nhiều lần chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm chưa được khắc phục triệt để trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Có những cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực, thiếu tính chiến đấu, giảm sút ý chí, lòng tin, phai nhạt lý tưởng. Một số ít có biểu hiện bất mãn, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng, làm giảm sút lòng tin, uy tín, thanh danh của Đảng, tổn thương mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trước hết, những cán bộ, đảng viên này mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân, mọi thói hư tật xấu, tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên đều từ căn bệnh này mà ra. Trong khi đó công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của một số tổ chức đảng với cán bộ, đảng viên có biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng. Mặt khác, cấp ủy và tổ chức đảng có lúc, có nơi chưa coi trọng đúng mức, chưa có những biện pháp hữu hiệu để giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, một số chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chậm đổi mới, hoặc đổi mới chưa đồng bộ đã tạo ra những kẽ hở cho căn bệnh chủ nghĩa cá nhân sinh sôi, nảy nở. Mặt trái của cơ chế thị trường chưa được ngăn chặn, đẩy lùi đã kích thích lòng ham muốn cá nhân, tiền tài, địa vị, lối sống thực dụng, hưởng thụ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên… Trong khi đó các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước luôn tận dụng triệt để mọi sai lầm, khuyết điểm, dùng mọi thủ đoạn tinh vi, nham hiểm để lôi kéo làm tha hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ những biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của “một bộ phận không nhỏ” này đã làm ảnh hưởng đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Đất nước ta đã bước sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là cuộc cách mạng toàn diện nhất, sâu sắc nhất và triệt để nhất, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để làm theo lời Bác, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đối với công tác bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu giữ vai trò quyết định đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi mọi hoạt động của con người đều bắt đầu từ nhận thức, trên cơ sở nhận thức, chỉ có nhận thức đúng mới có cơ sở cho hành động đúng. Do vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị cần tổ chức quán triệt, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cho mọi tổ chức, mọi lực lượng. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp trong bồi dưỡng, giáo dục, định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để thực hiện có hiệu quả, chất lượng công tác này, cần phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đồng thời, cần có những biện pháp kịp thời khắc phục triệt để những tư tưởng, nhận thức và hành động chưa đúng, chưa đầy đủ, trách nhiệm chưa cao trong công tác này. 

Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức phương pháp bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mục đích cao nhất của việc đổi mới nội dung bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên là hướng vào nâng cao nhận thức cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần làm cho họ có động cơ phấn đấu rèn luyện đúng đắn, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có trách nhiệm cao với công việc, với đơn vị và bản thân. Do vậy, nội dung bồi dưỡng, rèn luyện cần hướng trọng tâm vào nâng cao năng lực quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của đảng viên.

Đổi mới nội dung, hình thức phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên trước hết là đổi mới nhận thức và tư duy của các lực lượng, các đối tượng. Cùng với đó là đổi mới cách thức quán triệt và tổ chức thực hiện kế hoạch học tập lý luận chính trị theo quy định, học tập và triển khai thực hiện nghị quyết, các chuyên đề thông báo chính trị - thời sự, các đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng… Tổ chức tốt hoạt động thực tiễn gắn với thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị; đưa đội ngũ đảng viên vào hoạt động thực tiễn để thử thách, rèn luyện và đánh giá kết quả khách quan, chính xác. Cùng với đó đội ngũ cán bộ chủ chốt, bí thư cấp uỷ và những đảng viên lâu năm có uy tín trong đơn vị thường xuyên gần gũi, động viên, giáo dục, thuyết phục đội ngũ đảng viên khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày, những điển hình tiên tiến trong đội ngũ đảng viên để giáo dục lẫn nhau. Duy trì thực hiện nghiêm các nền nếp chế độ sinh hoạt, nhất là sinh hoạt tự phê bình và phê bình; thực hiện tốt việc phân loại đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm. Thông qua đó các cấp ủy, cán bộ chủ trì cơ quan chức năng nắm chắc điểm mạnh, điểm yếu, kết quả phấn đấu rèn luyện của từng tổ chức đảng và đảng viên; chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót, đề ra nội dung biện pháp, giúp tổ chức đảng và từng đảng viên khắc phục hạn chế, khuyết điểm kịp thời góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính tự giác, tích cực chủ động trong tự bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống.

Tự bồi dưỡng, rèn luyện là nhân tố bên trong đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc củng cố, hoàn thiện và phát triển phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên. Trong thực tiễn công tác cán bộ, đảng viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện. Với tư cách là chủ thể của quá trình đó, đòi hỏi từng cán bộ, đảng viên phải xác định đúng động cơ, đề cao tính tự giác, tích cực chủ động trong tự học tập, tu dưỡng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự nhận thức, phân tích, đánh giá đúng, khách quan, toàn diện về bản thân, nhất là những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục kịp thời, không ngừng phấn đấu vươn lên; gương mẫu trong học tập, rèn luyện, có sức đề kháng với những tác động tiêu cực nảy sinh từ mặt trái xã hội; luôn tiếp nhận thông tin, tri thức, kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của đơn vị; chống bệnh chủ nghĩa cá nhân. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, trước hết là động viên mọi người trong gia đình, người thân thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mọi cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ việc thực hiện các nghị quyết của Trung ương với đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên cần quán triệt sâu sắc và nhận diện đúng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tích cực, chủ động, thực hiện có hiệu quả quan điểm, phương châm, chủ trương, giải pháp của Đảng về đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Từng cán bộ, đảng viên cần có thái độ kiên quyết trong đấu tranh với những biểu hiện vi phạm; đề cao tính tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong công tác và trong cuộc sống hằng ngày; kết hợp chặt chẽ đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần xây dựng trận địa tư tưởng vững chắc trong đơn vị, xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Năm là, thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát và phân tích đánh giá chất lượng đảng viên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Thực tiễn cho thấy, có làm tốt việc kiểm tra đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, cấp ủy, chi bộ mới xem xét, đánh giá, phân tích, kết luận chính xác về trình độ, năng lực của cán bộ, đảng viên. Thông qua kiểm tra, giám sát là biện pháp giáo dục, góp phần chủ động ngăn ngừa vi phạm và cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên; ngăn ngừa, hạn chế vi phạm kỷ luật đảng, làm trong sạch đội ngũ. Chính vì thế, công tác này có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên, công tâm, khách quan, gắn với thi hành kỷ luật đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, đạo đức con người đang chịu những ảnh hưởng to lớn bởi các lợi ích kinh tế, lợi ích cá nhân. Vấn đề đặt ra đối với các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, sàng lọc, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, xử lý nghiêm minh những đảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị, vi phạm đạo đức, lối sống, tham nhũng, cố tình vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tạo nền tảng cho việc bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên hiện nay, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện./.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM ĐỂ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Tinh thần trách nhiệm là một giá trị văn hóa, được gọi là văn hóa trách nhiệm hay văn hóa bổn phận. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”.

Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Người cũng chỉ rõ, muốn làm tròn bổn phận, chúng ta nên lợi dụng mấy khẩu hiệu của người Trung Hoa: “1. Khổ cán (làm việc hết sức mình). 2. Hạnh cán (làm việc chất lượng). 3. Thực cán (làm việc có hiệu quả, có năng suất)”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”.

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam, trong đó, Điều 2 quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ Nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước”. Theo đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Còn nhiều tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân… Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cá nhân và các ngành có liên quan.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Trong thời gian tới, để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”, nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc./.

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 

Thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Trước hết với mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa.

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

Với phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.  

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC HÌNH TƯỢNG CAO QUÝ BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 

Các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian.

Thực tiễn ở Việt Nam danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân như cá với nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Từ thực tiễn công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời sống xã hội.

Nét nổi bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), được nhân dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất, truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

Thực tế đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội và Công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam - Bộ đội Cụ Hồ.  

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng.

Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu, không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. 

Một trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập, SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ hay phủ nhận./.

DU LỊCH CẦN SỰ VĂN MINH

 

        Những ngày qua dư luận, cộng đồng mạng vô cùng bức xúc trước hình ảnh một vị khách người nước ngoài ngồi trên tấm bia có khắc hình Quốc huy và thông tin điểm cột cờ Lũng Cú, được cho là chụp tại điểm cột cờ Lũng Cú, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn.
        Đây là hành động không chỉ gây mất an toàn cho du khách mà còn vi phạm điều 351 trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội Xúc phạm đến Quốc huy. Thêm một lần nữa chúng ta cần có biện pháp để xử lý đối với những hoạt động du lịch mà không chỉ gây mất an toàn đối với du khách mà còn làm ảnh hưởng đến văn hoá, lịch sử dân tộc.
      Trước đó, nhiều điểm du lịch không chỉ ở Hà Giang hay các địa phương khác thì nhiều du khách cũng ăn mặc phản cảm tại nơi linh thiêng, di tích lịch sử, văn hoá của dân tộc. Cũng không ít lần báo chí, truyền thông có đăng tải để cảnh báo nhưng dường như điều đó vẫn chưa mang lại hiệu quả khi mùa du lịch đang rơi vào cao điểm, lượng du khách trong và ngoài nước đến ngày càng lớn. Mong rằng mỗi chúng ta, các đoàn du lịch, những người làm nghề du lịch cần nhận thức rõ điều này và đừng để phải nhận những lời chỉ tr.ích lên án của dư luận thêm nữa.