Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2023

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 

Vừa qua, Hội nghị Trung ương 5 đã thống nhất thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong quá trình diễn ra Hội nghị cũng như lợi dụng việc thành lập BCĐ trên, nhiều tổ chức và cá nhân ở nước ngoài và một số đối tượng ở trong nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá Việt Nam.

Trên nhiều trang mạng xã hội của các tổ chức, như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại RFI, RFA, VOA đã phát tán nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc tập trung công kích, đả phá việc Trung ương quyết định cho thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Họ đưa ra luận điệu sai trái khi quy kết việc Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ là “mị dân” với lập luận hết sức ngụy biện rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam”; quy kết “tham nhũng do chế độ độc đảng cầm quyền”! Họ cho rằng, chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng là “không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân”, rằng việc làm này là “giả tạo”, vẽ ra câu chuyện làm cho “ta đánh ta” mà thôi và từ đó khái quát lên “cộng sản thì ai cũng tham nhũng” để phủ nhận chế độ xã hội… Mục đích của các tin, bài nhằm thực hiện ý đồ vô cùng thâm độc của họ nhằm quy kết tham nhũng là “bản chất của chế độ cộng sản” và kêu gọi mọi người muốn chống được tham nhũng có kết quả thì dứt khoát phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải tiến hành “xã hội dân sự” như ở các nước có chế độ tư bản chủ nghĩa… Đây thực chất là chiêu trò chống phá của họ khi cố gắng vẽ ra bức tranh tối màu về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam, bỏ qua những kết quả tích cực của cả hệ thống chính trị và gieo rắc tâm lý bất an, gây ra sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác này. Từ đó họ làm xói mòn niềm tin của nhân dân, kích động gây rối an ninh, trật tự và tạo ra sự đối lập, bất ổn ngay từ bên trong để tăng tính chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ trong nội bộ của Việt Nam.

Ở Việt Nam, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập năm 2006 do Thủ tướng đứng đầu và năm 2012 chuyển sang Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu đã chứng minh hiệu quả rõ rệt. Điều đó được thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII và XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện và xử lý tăng lên rất nhiều theo tinh thần như Tổng Bí thư nhấn mạnh: “không có vùng cấm”. Song hiện nay tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, ở nhiều ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong phòng, chống tham nhũng. Ở nhiều địa phương đã bộc lộ bất cập trong phát hiện và xử lý nên nhiều tỉnh, thành đề nghị thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh để tạo cơ chế thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Do vậy, đứng về phương diện lý luận và thực tiễn thì việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là chủ trương hoàn toàn cần thiết và đúng đắn phù hợp với tình hình đất nước hiện nay./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua. Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam. Trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Một số hãng truyền thông nước ngoài có phát tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Chính vì vậy, chúng ta phải luôn đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động phát hiện và xử lý kịp thời theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước. Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

 

Thời gian gần đây, lợi dụng việc xử lý một số đối tượng hoạt động “Phá hoại chính sách đoàn kết”, “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” như Nay Y Blang (cốt cán “Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”, thường gọi là Ma Tương; sinh năm 1976; trú tại tỉnh Phú Yên), Y Krễc Byă (sinh năm 1978, trú tại tỉnh Đắk Lắk), số phần tử xấu, cá nhân, tổ chức phản động đăng tải bài viết xuyên tạc, cho rằng Nhà nước Việt Nam không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đàn áp, sách nhiễu tín đồ tôn giáo.

Trước hết, đây là những đối tượng cầm đầu, cốt cán của tổ chức “Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”, là một tổ chức phản động trong nước do đối tượng A Ga (ở Mỹ) cầm đầu, thành lập vào tháng 9/2020, hoạt động dưới danh nghĩa là một tổ chức tôn giáo tìm cách phá hoại các chính sách đại đoàn kết, gây chia rẽ dân tộc, từng bước xây dựng lực lượng, kêu gọi kích động bạo loạn, thành lập nhà nước tự trị riêng. Y Krễc tự xưng mình là “mục sư”, là đầu mối tiếp nhận chỉ đạo từ đối tượng A Ga; thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn “nhân quyền”, cách thức viết “báo cáo vi phạm”, cách đối phó với lực lượng Công an; là đối tượng chính lôi kéo và củng cố niềm tin cho các đối tượng khác.

Thực tế, Đảng và Nhà nước ta luôn coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo, với chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nhờ đó, cộng đồng tôn giáo ở nước ta không ngừng được củng cố, phát triển trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngày càng khẳng định vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự.

Nhà nước Việt Nam luôn coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo, với chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Mỗi công dân, đều có quyền theo hoặc không theo tôn giáo nhưng phải trên cơ sở pháp luật, không ai được phép sử dụng tôn giáo làm vỏ bọc để thực hiện mưu đồ chính trị. Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo, sai mục đích đều sẽ bị pháp luật xử lý. Chính vì vậy, mỗi người dân cần tỉnh táo xác định rõ đâu là tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, đâu là tổ chức phản động đội lốt tôn giáo, tránh bị kẻ xấu lợi dụng để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

HOẠT ĐỘNG TRÁI PHÉP CỦA CÁC TỔ CHỨC TIN LÀNH

 

Tin lành là một trong số các tôn giáo có tốc độ phát triển tín đồ nhanh nhất tại Việt Nam do quá trình mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa. Tính đến tháng 4/2019, tại Việt Nam có hơn 1,12 triệu người theo đạo Tin lành, trong đó có trên 855.000 người thuộc hơn 40 dân tộc thiểu số như Mông, Êđê, Jrai, K’ho, S’Tiêng… Tuy nhiên, trong số hơn 80 tổ chức Tin lành đang hoạt động, chỉ có 10 Tổ chức Tin lành có pháp nhân, 3 tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Còn lại, khoảng 70 tổ chức, nhóm Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động, nghĩa là hoạt động bất hợp pháp như: Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ và giáo phái Tân Thiên Địa. Đây là 2 tổ chức Tin lành có nguồn gốc từ Hàn Quốc, hoạt động phức tạp thời gian qua tại Việt Nam.

“Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2001 nhưng đến năm 2016 mới bắt đầu phát triển mạnh. Tổ chức này sử dụng nhiều cách để truyền giáo một cách trái pháp luật như: phân công người đi các địa phương truyền đạo, sử dụng danh nghĩa công ty kinh doanh, giới thiệu việc làm để truyền giáo và đã lôi kéo được khoảng 5000 người tham gia. Từ năm 2017-2018, tổ chức này phát triển mạnh tại Việt Nam và có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, phức tạp tình hình an ninh, trật tự.

Địa phương phản ánh sớm nhất về những biểu hiện cực đoan liên quan đến tổ chức này là tỉnh Thái Nguyên, tiếp đến là Thành phố Hà Nội. Từ năm 2016, Ban Tôn giáo Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) các tỉnh phía Bắc tổ chức tuyên truyền phổ biến về pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo để mọi người hiểu đúng và chấp hành pháp luật; đồng thời hướng dẫn xử lý theo pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật, như hành vi tuyên truyền về ngày tận thế gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, xúi giục ứng xử không hiếu kính với cha mẹ, đập phá bàn thờ tổ tiên của gia đình, xem người thân như ma quỷ, cổ vũ cho việc từ bỏ công việc, học tập để đi truyền đạo, trục lợi ... trái với luân thường đạo lý và những giá trị nền tảng của gia đình và xã hội.

Giáo phái "Tân Thiên Địa" do ông Lee Man Hee sáng lập năm 1984, tổ chức này hoạt động lén lút, bí mật; thường lấy danh nghĩa của các tổ chức phúc lợi, hoạt động công cộng, hỗ trợ nhân đạo để truyền giáo, lôi kéo tín đồ của các tổ chức Tin lành hợp pháp. Những người sau khi tin theo phải đóng 40% thu nhập cá nhân, nếu không sẽ bị phạt. Để có cuộc sống vĩnh cửu, các tín đồ không được coi trọng gia đình, phải tập trung vào nhà thờ, có thể từ bỏ luật pháp, luân lý, đạo đức, gia đình và cả thể xác nhưng phải tin tưởng và tuyệt đối chấp hành các quy định của giáo phái. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, Tân Thiên Địa vào Việt Nam từ năm 2016, thông qua số người Hàn Quốc sang Việt Nam dạy tiếng Hàn tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP HCM, đã sử dụng nhiều phương thức hoạt động để phát triển đạo. Điển hình như thành lập trung tâm ngoại ngữ và mở các lớp học tiếng Hàn miễn phí, lồng ghép truyền đạo; sử dụng vật chất để lôi kéo người tham gia Tân Thiên Địa đi du lịch và bố trí việc làm lương cao tại Hàn Quốc…

Ngay sau khi phát hiện các hoạt động này, Công an địa phương đã phối hợp với lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý và giải tán trung tâm. Hiện không còn tụ điểm hoạt động của Tân Thiên Địa tại Việt Nam.

Trong các tôn giáo ở Việt Nam, đạo Tin lành là một trong những tôn giáo có nhiều văn bản chỉ đạo nhất từ phía Đảng, Nhà nước. Tinh thần của các văn bản trên là “tôn trọng niềm tin tôn giáo của tín đồ”, dần đưa sinh hoạt của đạo Tin lành theo khuôn khổ pháp luật, quản lý bằng pháp luật. Tuy nhiên, các tổ chức Tin lành chưa được công nhận và một số nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam hiện nay nằm gần như bên ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, công tác quản lý nhà nước đối với khu vực các tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được Nhà nước cấp đăng ký hoạt động cũng rất hạn chế, chủ yếu mới dừng ở các hoạt động: tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động sinh hoạt tại gia, hướng dẫn và cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm.

Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật tôn giáo, phức tạp về an ninh, trật tự của các tổ chức tà giáo dưới danh nghĩa Tin lành, lực lượng chức năng cần chủ động tuyên truyền để quần chúng nhân dân hiểu bản chất tà giáo của các tổ chức này cũng như đẩy mạnh tuyên truyền để trấn an dư luận, không để các thông tin sai lệch kích động tư tưởng cực đoan trong quần chúng nhân dân đối với các tổ chức tà giáo gây ra. Bên canh đó, phải thường xuyên bám sát cơ sở, kịp thời phát hiện những hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành để áp dụng các quy định pháp luật xử lý để giải tán tổ chức./.

TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM - SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Đảng, Nhà nước ta đã có tầm nhìn xa khi cho mở cửa kết nối Interet ra toàn cầu. Từ năm 1997 đến nay, Internet ở Việt Nam đã có một bước phát triển vượt bậc, từ một nước lạc hậu về công nghệ thông tin đến nay Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, trở thành một nước mạnh về viễn thông – Internet với công nghệ hiện đại, mức phổ cập Internet cao.

Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc, đã ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về quyền tự do ngôn luận. Tại Điều 25 Hiến pháp nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã chỉ rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tính đến cuối năm 2022 số lượng người dùng internet tại Việt Nam khoảng 70 triệu người, số người sử dụng mạng xã hội khoảng 76 triệu người, với số liệu này Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet đứng thứ 12 trên toàn thể giới.

Trong hơn 25 năm qua, sự phát triển và lợi ích mà Internet tại Việt Nam mang lại là không thể phủ nhận. Internet đã giúp Việt Nam thay đổi thần tốc trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Có thể nói Internet đã len lõi vào mọi nhà, mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của mỗi người dân Việt Nam. Và chúng ta cảm nhận rõ ràng sự thay đổi của công nghệ viễn thông, internet xoay quanh cuộc sống của chúng ta mỗi ngày. Mỗi người dân Việt Nam có thể truy cấp Internet mọi nơi, mọi lúc, thậm chí là miễn phí. Internet tại Việt Nam được phủ sóng khắp cả nước từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, biên giới, hải đảo. Mỗi người Viêt Nam đều có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, tra cứu tài liệu, quan điểm cá nhân thông qua internet, nhất là qua mạng xã hội. Đó là sự thật không thể chối cãi về quyền tự do thông tin, tự do internet tại Việt Nam.

Vậy nhưng, đáng buồn thay vẫn có những cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, cố tình không công nhận những thành quả, chủ trương đúng đắn về phát triển internet tại Việt Nam, cố tình xuyên tạc, bóp méo thành tựu của Việt Nam, xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia không có tự do Internet. Mới đây tại báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House công bố đã xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thể giới. Đây là đánh giá phiến diện, sai sự thật về tự do internet tại Việt Nam. Phủ nhận đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về phát triển Internet tại Việt Nam; phủ nhận những thành tựu, nổ lực của Việt nam trong đảm bảo quyền con người trên không gian mạng; bôi nhọ hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam, hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu phiến diện, không có cơ sở, không phản ánh đúng thực tế Internet tại Việt Nam./.

HIỂU ĐÚNG VỀ TỰ DO TÔN GIÁO

 

Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, Hiến pháp 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người. Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Trên thực tế, quyền tự do, tín ngưỡng quy định trong pháp luật đã được thực thi đầy đủ. Bằng chứng là đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 4 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Hiện cả nước có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự; hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Như vậy, các tôn giáo đã được tạo điều kiện tối đa để phát triển đáp ứng nhu cầu của các tín đồ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những hội nhóm, tổ chức nhân danh tôn giáo để hoạt động trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc, xâm phạm lợi ích Nhà nước, cộng đồng và các cá nhân nên không được pháp luật công nhận. Có thể kể đến như tà đạo Hà Mòn ở một số tỉnh Tây Nguyên, tà đạo Giê Sùa, bà cô Dợ ở một số tỉnh Tây Bắc… Các đối tượng chủ chốt của các tà đạo này tuyên truyền chủ yếu những nội dung mê tín dị đoan, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của đồng bào, tuyên truyền về ngày tận thế, kích động li khai tự trị… nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Chính vì vậy, những ý kiến cho rằng Việt Nam chưa đảm bảo được tự do tôn giáo chỉ có thể là cố tình xuyên tạc. Như Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng mới đây đã khẳng định: Việt Nam ghi nhận việc Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đề cập đến những nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo và thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Tuy nhiên, Báo cáo vẫn đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam. Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở và trên tinh thần xây dựng với Hoa Kỳ về những vấn đề còn có sự khác biệt để tăng cường hiểu biết và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước./.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng các dự án luật là yêu cầu khách quan. Theo đó, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu, đảm bảo các chính sách được đề xuất sau khi luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Thực hiện kế hoạch của Chính phủ, Bộ Công an được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật quan trọng gồm: Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân; Luật Căn cước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ... Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động đã đưa ra đủ luận điệu xuyên tạc, vu cáo rằng, Việt Nam muốn hạn chế các quyền tự do dân chủ rồi ban hành luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân.

Lướt qua các mạng xã hội Facebook, Youtube… hay các phương tiện truyền thông nước ngoài phát bằng tiếng Việt như đài BBC, RFA, VOA cho thấy những chiêu trò chống phá khi liên tiếp đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung xuyên tạc các dự án luật. Chẳng hạn, khi nói về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các đối tượng tung ra bài viết cho rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi hạch sách, nhũng nhiễu… gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng gây bất an cho dân... Từ đó hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn...".

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải các bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án luật. Từ việc xuyên tạc nội dung trong dự án luật, các đối tượng hướng đến bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang, bôi nhọ chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cho rằng cách làm như vậy là sai lầm, làm mất vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế! Cùng với việc vu khống, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, các đối tượng tìm cách tâng bốc những người bất mãn, cơ hội chính trị, cổ vũ tư tưởng chống đối nhằm tới mục tiêu "cách mạng đường phố", "cách mạng màu" để thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm, luận điệu lệch lạc, sai trái, chống phá việc nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội ban hành các dự luật để có cách thức đấu tranh, ngăn chặn kịp thời./.

CHIÊU TRÒ KÍCH ĐỘNG GIỚI TRẺ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HÌNH BIỂN, ĐẢO

 

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, những năm qua, đặc biệt là thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, luận điệu sai trái nhằm chống phá công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta. Trên các mạng xã hội như Facebook, YouTube,… có nhiều tổ chức, hội, nhóm chống đối, của những người tự xưng là “nhà báo”, “nhà dân chủ”, “công dân yêu nước”,... đưa ra các thông tin xấu, độc, luận điệu sai trái, xuyên tạc về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các tổ chức phản động lưu vong như: “Việt Tân”, “Triều Đại Việt”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”…, hội nhóm trá hình trong nước như: “Lập Quyền Dân”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Tập hợp Quốc dân Việt”… Các trang mạng “Tin tức hàng ngày”, “Báo tiếng dân”, “Thời báo”, “Chân trời mới”; các trang báo nước ngoài: “BBC”, “RFA”, “VOA”, RFI” và các tài khoản mạng xã hội như: “Thanh Hieu Bui”, “Nguyễn Văn Đài”, “Phạm Chí Dũng”,… đã phát tán nhiều bài viết, tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình trên Biển Đông.

Chúng lợi dụng các sự kiện như: Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014; sự kiện nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép khu vực bãi Tư Chính năm 2019; việc Trung Quốc đưa hàng trăm tàu xâm nhập phạm vi lãnh hải của đảo Sinh Tồn Đông, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam tháng 3/2021… và vụ việc gần đây nhất cách đây ít ngày tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hải cảnh, tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam cùng việc Trung Quốc cho lắp đặt các phao đèn báo hiệu tại các thực thể ở quần đảo Trường Sa trên Biển Đông mà không được sự đồng ý của Việt Nam để kích động biểu tình, gây bạo loạn lật đổ. Các đối tượng chống đối đã viết, đăng tải nhiều bài đưa ra các luận điệu xuyên tạc như: “Đảng, Nhà nước Việt Nam yếu hèn không dám sử dụng vũ lực”, “lãnh đạo Việt Nam vẫn im tiếng trong căng thẳng Bãi Tư Chính với Trung Quốc”, “Chính phủ Việt Nam luôn tìm cách bịt miệng báo chí”,… để kêu gọi biểu tình, bạo loạn lật đổ.

Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền là những người thường xuyên sử dụng mạng xã hội, nhưng trọng tâm, trọng điểm là các thành phần bất mãn và các nhóm thanh niên, sinh viên “nhẹ dạ, cả tin”,… Từ đó, chúng mong muốn tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Dưới danh nghĩa “đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, các đối tượng ở nước ngoài cấu kết với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội, nhóm bất hợp pháp.

Trước thông tin xấu, độc với các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, chúng ta cần nhận diện rõ và phê phán “luận điệu muốn giữ vững độc lập, chủ quyền biển, đảo hiện nay thì phải “chống Trung”, “bài Trung” triệt để, phải “tẩy chay khách Trung Quốc”, “tẩy chay hàng hóa Trung Quốc”, hay các luận điệu phải “thân Mỹ”, “liên minh quân sự”… với các nước lớn. Đây là những tư tưởng và hành động gây kích động hận thù dân tộc, cần kiên quyết đấu tranh để loại bỏ./.

ĐỪNG ẢO TƯỞNG!!!!

 


Cái tên Nguyễn Phương Uyên mà Việt tân và các thế lực thù địch, phản động đang đưa trên mây trong mấy ngày qua cũng chỉ là một kẻ đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam.

Uyên sinh năm 1992, quê tại Bình Thuận, từng là sinh viên của trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP.HCM. Tuy hình thức ưa nhìn nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tư tưởng lệch lạc, ăn chơi đua đòi, háo danh, thi thoảng lại được một số anh chị "cò mồi làng dân chủ cuội" bơm cho ít tiền, thế là Y đã trượt dài trên con đường chống phá Nhà nước Việt Nam.

Ngày 19/10/2012, Uyên cùng với Đinh Nguyên Kha bị bắt, điều tra và bị tuyên phạt 3 năm tù (án treo) và 52 tháng thử thách về "tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam".

Ngày 30/11/2017, Uyên đã được đám thù địch phản động nước ngoài lôi sang Mỹ dưới chiêu bài cấp học bổng sinh viên Việt Nam. Chúng hy vọng Uyên là cái mầm có thể "nhân giống chống cộng" lâu dài, nhưng nhìn những gì mà  mấy năm qua Bùi Hằng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga... diễn cũng chẳng khác gì các nhân vật tấu hài chứ làm được gì có ích cho bọn chống Cộng. Uyên hay những kẻ như Uyên rồi cũng chỉ là nhân vật đóng thế những ông già khõm như Đào Minh Quân, Trần Dần, Lisa Phạm... đang chân đập tay run bên nước Mỹ mà thôi.

Thực ra, đó cũng chỉ là sự lừa bịp, dụ dỗ người Việt đưa sang Mỹ đào tạo hạt nhân lật đổ chế độ rồi đưa về chống lại Tổ quốc mình, không thành công như Ucraina, Iraq, Lybia...  thì chúng cũng thỏa mãn các hoạt động phá hoại, kích động gây rối tiến trình phát triển, hòa bình của đất nước hiện nay... Song, kết cục thì dù Việt tân hay đám phản động có làm đủ thứ trò gì đi chăng nữa thì cũng chỉ là một trò hề. Người Việt không bao giờ tin, nghe, làm theo kẻ phản bội Tổ quốc. Đã mấy chục năm rồi, đã thấy kẻ phản bội nào, nhận vật chống Cộng nào thành công với cái nghề chống cộng đâu. Ôm thùng đi xin, đi tài trợ ồn ào đình đám thế nhưng rồi kẻ thì ôm tiền bỏ chạy, kẻ hổ báo cáo chồn, ăn tục nói phét chẳng thiếu thứ gì trên mạng xã hội, trên truyền thông, thậm chí cắn nhau như một mớ rạm, mớ cua thì làm nên kèn trống gì!

Đừng ảo tưởng rằng có thể chống phá được đất nước này. Nếu các bạn nghĩ Việt Nam là Ucraina, Việt Nam là Iraq, Lybia hay đang nghèo đói như Yemen thì đó là một sự ngộ nhận, một sự hoang tưởng quá mức. Việt Nam là một quốc gia mà bộ máy chính quyền từ cơ sở đến Trung ương thống nhất như một khối bê tông, không một kẽ hở cho thế lực thù địch chen chân phá hoại. Đến cả chính quyền Mỹ còn phải bất lực thì mấy anh chị ảo tưởng thay đổi thể chế chính trị đất nước này là quá viễn vông. Đâu xa, Hoàng Cơ Minh - ông trùm của tổ chức khủng bố Việt tân còn phải bỏ mạng trước mưu trí của An ninh Việt Nam, đến cả Bùi Tín, là một nhà báo giỏi... nhưng khi phản bội Tổ quốc, phản bội Nhân dân đều nhận kết cục nhục nhã; phần thì bọn chống cộng chửi cho không còn thứ gì, phần thì dân Việt Nam nhổ phỉ thậm chí chết rồi người ta còn đào lên để nhục mã cho vì cái tội phản bội Tổ quốc. Tổ quốc linh thiêng lắm đấy!

Phàm thì những kẻ không trung thành ở chính quốc gia mình thì làm sao có thể trung thành với quốc gia ăn nhờ ở đậu được phải không? Phàm, khi là kẻ phản bội thì chẳng ai tin, ngay cả làng xóm, quê hương gia đình mình.

Thế nên, Nguyễn Phương Uyên hay là ai, khi đã theo Việt tân thì cũng chẳng khác gì tự kết liễu đời mình. Một cuộc đời sinh viên lẽ ra biết trân trọng sự hy sinh xương máu của ông cha để có đất nước vẹn toàn độc lập cho Uyên ăn học; và lẽ ra nếu Uyên biết phấn đấu rèn đức, luyện tài thì chắc chắn cũng sẽ có cuộc sống sung túc, có địa vị xã hội, đúng nghĩa công dân, đúng nghĩa làm người như bao người khác đang sống bình yên hưởng thụ trên đất nước Việt Nam. Mù đường, ảo vọng, lao vào con đường chống phá đất nước thì không còn lối thoát, cuộc đời Nguyễn Phương Uyên rồi cũng cùng Việt tân ngáp gió bên kia bán cầu Tây mà thôi!!!

ĐẤU TRANH, ĐẨY LÙI LỐI SỐNG THỰC DỤNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo có một bộ phận cán bộ, đảng viên mang biểu hiện: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể”.

Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường.

Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không.

Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai.  

Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân.  

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng là"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng. Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.

Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.

Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.

Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.

Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay./.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Những tư tưởng vĩ đại về Đảng, về giai cấp công nhân và chủ nghĩa Xã hội, về kinh tế mới của chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự là mặt trời soi sáng con đường cách mạng Việt Nam và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với sự nghiệp phát triển của học thuyết Mác, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. V.I.Lênin nhận định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng là cách mạng vô sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản. Theo Lênin, nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là: Lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng tổ chức của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đoàn kết thống nhất là quy luật trong xây dựng và phát triển của Đảng; tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng và phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng; chủ nghĩa Quốc tế Vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng.

Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bôsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.

Với tư cách là Lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, V.I.Lênin là người mác-xít đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết. Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã... Chính V.I.Lênin là người đã làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Ngay sau khi giành được chính quyền, trong những năm 1917 - 1921 Nước Nga thực hiện“Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến” với cơ sở nền kinh tế phi hàng hóa, phân phối sản phẩm trực tiếp, đã tiến hành quốc hữu hóa công nghiệp, thương nghiệp, trưng thu lương thực thừa của nông dân, đình chỉ tự do buôn bán và trao đổi sản phẩm ở địa phương… Chính sách sai lầm đó gây ra khủng hoảng kinh tế vô cùng trầm trọng, làm cho quần chúng lao động, nhất là công nhân và nông dân thất vọng. V.I.Lênin kịp thời phát hiện ra sai lầm đó, với tinh thần phê phán nghiêm khắc đối với bệnh giáo điều, xa rời tình hình cụ thể của nước Nga, Người đã chỉ ra chính sách kinh tế mới (NEP). Với “Chính sách kinh tế mới” V.I.Lênin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực cho người lao động, nhờ đó nhanh chóng đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, làm cho chính quyền Xô viết non trẻ đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh.

Trên con đường đi tìm độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp được Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Người đã thốt lên bằng niềm vui sướng tột cùng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lênin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “Con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”; “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã tiếp thu cái tinh thần và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Những thắng lợi vĩ đại và thành tựu có ý nghĩa to lớn, lịch sử trên con đường cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen; Đảng và nhân dân ta vẫn luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản. 

Với công tác xây dựng Đảng, vận dụng tư tưởng của Lênin, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"… để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Nhờ đó, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên, Đảng luôn vững vàng và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét.

Đồng thời với đó, “Chính sách kinh tế mới” của V.I.Lênin được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn phát triển Việt Nam. Các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời cũng khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt về nhận thức nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ là một nền kinh tế nhiều thành phần, đã được khẳng định từ Đại hội VI của Đảng và tư tưởng này được các đại hội từ Đại hội VII đến nay kế thừa và đặc biệt gần đây nhất là các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII tiếp tục khẳng định, bổ sung và hoàn thiện với nhiều nội dung, biện pháp, chính sách mới. Không những thế, tư tưởng của Chính sách kinh tế mới còn được Đảng ta phát triển, mở rộng ở tầm cao mới, đó là phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo môi trường thuận lợi để huy động phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh; nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Nhờ đó, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo ra các tiển đề quan trọng để tiếp tục phát triển đất nước./.

NHẬN THỨC TOÀN DIỆN NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Để xây dựng Đảng về đạo đức theo Tư tưởng Hồ Chí Minh cần nhận thức một cách toàn diện về nội dung xây dựng. Bên cạnh xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên còn phải chú trọng đến xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng...

Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức đã được Đảng ta quan tâm từ nhiều kỳ đại hội và chính thức được đặt ra tại Đại hội lần thứ XII của Đảng. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tích cực tổ chức thực hiện, tạo được những chuyển biến về đạo đức của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Tuy nhiên, số lượng tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đạo đức vẫn còn nhiều, hành vi suy thoái đạo đức ngày càng đa dạng, tinh vi, phức tạp; phạm vi và mức độ suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định một trong những quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh một cách toàn diện, trong đó có tăng cường và nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về đạo đức. Quan điểm đó là sự tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Tuy nhiên, khi vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay, cần nhận thức rõ xây dựng Đảng về đạo đức bao gồm những nội dung gì? Chỉ có nhận thức được đầy đủ chúng ta mới có cơ sở xác định các chủ thể và các giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức một cách hiệu quả.

Trước đây, khi nói đến đạo đức trong Đảng, chúng ta mới chỉ quan tâm đến việc xây dựng, củng cố những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên như: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; thương yêu con người, tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là một nội dung rất quan trọng nhưng chưa đầy đủ. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy, Người không chỉ đề cập đến đạo đức của cán bộ, đảng viên với tư cách là thành viên của tổ chức mà Người còn quan tâm đến đạo đức của tổ chức đảng, nơi mà mỗi cá nhân in đậm dấu ấn của mình, thể hiện tư duy, đạo đức và hành động của mình. Do đó, vận dụng tư tưởng của Người, bên cạnh việc xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên còn cần phải chú trọng đến xây dựng đạo đức của tổ chức đảng. Có thể lý giải điều này như sau:

Về quan niệm: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm hệ thống các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi và đánh giá cách ứng xử của cá nhân và của tập thể, tổ chức trong quan hệ với nhau, quan hệ với xã hội và quan hệ với giới tự nhiên để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững.

Đạo đức dưới khía cạnh là hành vi đạo đức, là hành động của cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận của cá nhân trong những hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không chỉ nói đến đạo đức cá nhân, mà Người còn nói đạo đức của cộng đồng, đạo đức của tổ chức. Người nhắc đến đạo đức của dân tộc: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái” hay “Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán” và “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Nói về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam, người nói đến “tư cách của đảng chân chính cách mạng” và chỉ ra những tiêu chỉ cụ thể để đánh giá tính chân chính của tổ chức đảng. Đây là nét sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh trong quan niệm về đạo đức.

Như vậy, về mặt nhận thức, Hồ Chí Minh không chỉ quan niệm xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Người còn quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng. Hay nói cách khác, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cộng sản và của tổ chức đảng chân chính cách mạng trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại. Đạo đức cách mạng là một nền đạo đức mang tính nhân văn và tiến bộ. Do đó, nếu xây dựng Đảng mà chỉ quan tâm đến đạo đức của cá nhân cán bộ, đảng viên, bỏ qua đạo đức của tổ chức đảng sẽ là chưa toàn diện.

Về nội dung

Một là, Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ giữa đạo đức của tổ chức đảng và đảng viên. Người nêu câu hỏi: “Đảng là ai” và Người trả lời: “Đảng là mỗi chúng ta", “Lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. Cán bộ, đảng viên cấu thành nên tổ chức đảng, mỗi đảng viên đều phải tham gia sinh hoạt chính trị trong tổ chức đảng. Do đó vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ đảng viên. Đạo đức của Đảng thể hiện trực tiếp và sinh động thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nhân dân cũng hoàn toàn có lý khi đánh giá đạo đức của Đảng thông qua đạo đức của những cá nhân đảng viên cụ thể, nhất là những đảng viên mà họ biết đến hay tiếp xúc nhiều nhất.

Tuy nhiên, Đảng là một tổ chức, một khối đoàn kết và thống nhất để lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân. Một tổ chức đảng chân chính cách mạng là môi trường thuận lợi cho những cái tốt, cái đẹp, cái đạo đức sinh sôi, nảy nở và lan tỏa trong mỗi người cũng như trong cộng đồng. Đó cũng là nơi tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng, là nơi kiểm điểm, phê bình, góp ý đảng viên, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên về đạo đức. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức vì thế có vai trò không thể thiếu của tổ chức đảng và cấp ủy các cấp. Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi chi bộ, mỗi cấp ủy đảng phải luôn tăng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng. Tổ chức đảng và cấp ủy phải chịu trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục đạo đức của cán bộ, đảng viên. Người khẳng định: “Các cấp ủy phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên. Từ nay trở đi công tác giáo dục đảng viên phải là một điều quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy”. Tổ chức đảng các cấp cũng phải chịu trách nhiệm về việc suy thoái, vi phạm đạo đức của cán bộ, đảng viên trong tổ chức của mình. Nếu trong tổ chức đảng có đảng viên vi phạm thì trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy của tổ chức. Khi nói với tội tham ô, lãng phí của cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Các cấp ủy cùng với cán bộ cần tìm cho ra gốc rễ tham ô, lãng phí và xử trí đúng mức”.

Rõ ràng, xây dựng đạo đức của tổ chức đảng và đạo đức của đảng viên có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, không thể bỏ qua mặt nào.

Hai là, Hồ Chí Minh không những đã chỉ ra những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để cán bộ, đảng viên của Đảng phải tu dưỡng, rèn luyện mà Người còn chỉ ra những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng cần phải xây dựng với cách tiếp cận về tiêu chí của “một đảng chân chính cách mạng”, gồm 12 điều trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947). 12 điều cần phải xây dựng ấy có thể tóm gọn lại thành những tiêu chí đạo đức cụ thể như sau:

- Xây dựng đạo đức trong tôn chỉ, mục đích hoạt động của Đảng: Đảng phải làm tròn sứ mệnh giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Đó là chuẩn mực đạo đức cao nhất.

- Xây dựng đạo đức trong nghiên cứu, vận dụng nền tảng lý luận của Đảng: Sự giác ngộ về cách mạng, về Chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là sự khởi đầu cho sự hình thành tư cách người cán bộ cách mạng. Lý luận đúng đắn sẽ giúp mỗi cá nhân nhận ra sai lệch trong tư tưởng, nhận thức và hành động; khắc phục những biểu hiện như: phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi nền tảng tư tưởng của Đảng...

- Xây dựng đạo đức trong đường lối của Đảng: Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đó là điểm căn cốt, là vấn đề then chốt. Nắm vấn đề then chốt, giữ vững vấn đề then chốt, dựa trên cái then chốt để giải quyết linh hoạt, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tế là yêu cầu đối với xây dựng đường lối của Đảng đó chính là đạo đức.

- Xây dựng đạo đức trong mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân: Đảng phải phát huy vai trò của Nhân dân, “phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị”. Đảng phải chăm lo lợi ích của nhân dân, “luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”.

- Xây dựng đạo đức trong tổ chức và kỷ luật của Đảng: Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo”, đồng thời phải tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài Đảng, phải giữ kỷ luật nghiêm minh từ trên xuống dưới.

- Xây dựng bản lĩnh trước những sai lầm, khuyết điểm của Đảng: Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là đảng cầm quyền là điều không thể tránh khỏi. Thái độ đúng đắn, khách quan, khoa học của Đảng trước những sai lầm, khuyết điểm đó là: công khai thừa nhận, “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình” và kiên quyết sữa chữa.

Ba là, vì quan tâm đến nội dung xây dựng đạo đức của tổ chức đảng, cho nên trong quan niệm của Hồ Chí Minh chủ thể tiến hành xây dựng Đảng về đạo đức không chỉ là cán bộ, đảng viên mà còn từ phía tổ chức đảng và các cấp ủy. Đồng thời, Người đưa ra những chỉ dẫn quan trọng để tổ chức đảng và các cấp ủy phát huy vai trò của mình trong xây dựng Đảng về đạo đức. Nhìn lại toàn bộ di sản của Người, có thể thấy vai trò của cấp ủy và tổ chức đảng trong xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, trong công tác nghiên cứu và vận dụng lý luận, trong việc thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, trong phát huy dân chủ, tự phê bình và phê bình, trong công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên… Đây đều là những giải pháp quan trọng để tổ chức đảng xây dựng những chuẩn mực đạo đức.

Thực trạng hiện nay: Những năm gần đây, bên cạnh việc suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên ngày một gia tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng, còn có không ít các tổ chức đảng vi phạm đạo đức. Những vi phạm của tổ chức đảng diễn ra khá đa dạng, phức tạp, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; dưới nhiều hình thức và được che giấu tinh vi, diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Hơn thế nữa, vi phạm đạo đức của tổ chức đảng mang tính tập thể, có sự điều hành của người đứng đầu, có tổ chức chặt chẽ, có sự thỏa hiệp, do đó sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng. Những vụ án điển hình thời gian vừa qua phản ánh phần nào thực trạng trên như: Vụ án Vinalines; do Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines thực hiện với tội danh tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước và quản lý kinh tế, gây thiệt hại tài sản nhà nước 240.000 USD; vụ án Đinh La Thăng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN giai đoạn 2009-2015, lạm dụng quyền lực, thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý tổ chức đảng và đảng viên dẫn đến nhiều khoản đầu tư bị tổn thất, khó thu hồi với tổng số tiền lớn; vụ án đánh bạc công nghệ cao liên quan đến Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa. Một số vụ án nghiêm trọng, phức tạp khác như: vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, của Dự án 15 Thi Sách, Thành phố Hồ Chí Minh; vụ án “Vi phạm quy định về quản lý đất đai; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại thành phố Đà Nẵng; vụ án “Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone, Bộ Thông tin và Truyền thông và các đơn vị có liên quan; vụ án “Giả mạo trong công tác; Sản xuất, buôn bán hàng giả” xảy ra tại Công ty Lũng Lô và một số công ty, tổ chức liên quan; vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bộ Thông tin và Truyền thông...

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây có thể thấy, để xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức một cách toàn diện về nội dung xây dựng, cụ thể là bên cạnh xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên còn phải chú trọng đến xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng./.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc./.