Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

XÂY DỰNG PHONG TRÀO THI ĐUA NGÀY CÀNG THIẾT THỰC, TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

 

Cách đây đúng 75 năm, vào ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua ái quốc trong cả nước.


Lời kêu gọi Thi đua ái quốc và những bài nói, bài viết của Bác Hồ đã có tác dụng hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hy sinh gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.


Đặc biệt trong những thời khắc cam go, ác liệt của dân tộc, Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Người luôn thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân, biến thành sức mạnh đưa dân tộc ta giành những thắng lợi vẻ vang.


Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng luôn là nền tảng cho những quan điểm, chỉ đạo, định hướng phong trào thi đua yêu nước trong những năm qua; là cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương về thi đua yêu nước, về công tác thi đua-khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.


75 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quán triệt sâu rộng và liên tục vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua yêu nước của Người để triển khai hiệu quả tốt nhiều phong trào thi đua và công tác thi đua-khen thưởng, góp phần đưa đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng trong mọi hoàn cảnh.


Chú trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của các phong trào thi đua và công tác khen thưởng

Chú trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của các phong trào thi đua và công tác khen thưởng

Từ nền tảng tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xây dựng, ban hành kịp thời đường lối, chủ trương và chính sách, pháp luật về thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng. Đáng chú ý, sau 37 năm đổi mới đất nước, nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác thi đua, khen thưởng, về tổ chức các phong trào thi đua đã được ban hành và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đất nước trong tình hình mới, phù hợp nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.


Gần đây nhất, ngày 15/6/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), trong đó có nhiều quy định mới. Đáng chú ý là quyết tâm đưa phong trào thi đua hướng về cơ sở, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, thiết thực, gắn với lợi ích của người trực tiếp tham gia thi đua, hạn chế tính hình thức trong thi đua.


Chú trọng khen thưởng tập thể ở cơ sở, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ; quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác thi đua, khen thưởng…


Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng luôn là nền tảng cho những quan điểm, chỉ đạo, định hướng phong trào thi đua yêu nước trong những năm qua; là cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương về thi đua yêu nước, về công tác thi đua-khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.


Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thi đua-khen thưởng còn bộc lộ một số hạn chế, như: nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu về vai trò, tầm quan trọng của công tác thi đua-khen thưởng chưa đầy đủ, dẫn đến hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai phong trào thi đua, công tác khen thưởng của một số địa phương, bộ, ngành chưa thực chất, chưa thật sự sâu sát.


Công tác tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến ở một số nơi không được quan tâm đúng mức; công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá, nhân rộng phong trào chưa được chú trọng; các hoạt động cụm, khối thi đua chưa đồng đều, đơn điệu, chưa được duy trì thường xuyên...


Để các phong trào thi đua, công tác thi đua-khen thưởng ngày càng thực chất, công bằng, các cấp ủy, chính quyền cần mạnh dạn đổi mới từ chủ trương đến cách làm, đưa phong trào thi đua ngày càng lan rộng, chất lượng hơn, thiết thực hơn, trở thành động lực trong đời sống xã hội. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên đẩy mạnh công tác truyền thông, tôn vinh gương người tốt, việc tốt; triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật với tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; hướng thi đua vào các trọng tâm, lấy hiệu quả của công tác thi đua là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức và cá nhân.


Chúng ta phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, đó là đưa công tác thi đua trở thành công việc hằng ngày của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị, địa bàn dân cư. Mọi người không phân biệt ngành nghề, giới tính, thành phần dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, ai cũng hăng hái thi đua, tham gia làm đúng và làm tốt nhiệm vụ của mình. Các phong trào thi đua cần có nội dung, tiêu chí cụ thể, rõ ràng, huy động được sự tham gia và hưởng ứng tích cực của người dân.


Công tác thi đua-khen thưởng phải tiếp tục bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; bám sát thực tiễn cuộc sống để tổ chức thực hiện phù hợp; nâng cao chất lượng, đổi mới hoạt động của hội đồng thi đua-khen thưởng các cấp, phát huy hơn nữa trách nhiệm, vai trò của cơ quan chuyên trách công tác thi đua-khen thưởng trong tham mưu thực hiện công tác. Các địa phương, bộ, ngành cần kịp thời phát hiện những điển hình tiên tiến để tôn vinh, nhân rộng, cũng như phát hiện những bất cập cần điều chỉnh trong công tác thi đua-khen thưởng.


Các cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục kiện toàn bộ máy thi đua, khen thưởng theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đào tạo những người làm công tác thi đua-khen thưởng đủ năng lực, phẩm chất. Một trong những trọng tâm cần thực hiện có hiệu quả tốt là tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện, nhất là những hạn chế, bất cập của các phong trào thi đua hiện nay để có thêm bài học, kinh nghiệm triển khai; qua đó thúc đẩy phong trào ngày càng thực chất, hiệu quả, tránh phô trương, hình thức…

ST


THÀNH QUẢ NỬA NHIỆM KỲ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG - HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN - MỘT THÀNH TỰU QUAN TRỌNG

 

Xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu phấn đấu, cũng là chiến lược lâu dài của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, mục tiêu này được đặc biệt quan tâm lãnh đạo, đạt nhiều kết quả quan trọng.


Việt Nam-quốc gia hạnh phúc


Không khó để cảm nhận được hạnh phúc của con người Việt Nam hôm nay. Điều đó không chỉ hiển hiện trên gương mặt, nụ cười của mỗi người dân mà còn được lượng hóa bằng những con số thuyết phục trong đánh giá của các tổ chức quốc tế. Ví như mới đây, đúng vào Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20-3-2023), Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu lần thứ 10 về mức độ hạnh phúc của hơn 150 quốc gia, vùng lãnh thổ (dựa trên đánh giá trung bình từ năm 2020 đến năm 2022). Kết quả cho thấy, Việt Nam đứng thứ 65/150, tăng 12 bậc so với năm 2020. 


Đánh giá trên cho thấy, chỉ số hạnh phúc của người dân Việt Nam những năm gần đây được nâng lên đáng kể. Chính người Việt Nam cũng bày tỏ niềm hạnh phúc khi được là công dân Việt Nam, được sinh sống, học tập, công tác, cống hiến ở một đất nước hòa bình, tươi đẹp và phát triển bền vững. Đặc biệt, theo khảo sát Expat Insider mới nhất của InterNations, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia và vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cảm thấy hạnh phúc khi sống, làm việc. Theo InterNations: 86% người nước ngoài sống ở Việt Nam tham gia khảo sát hài lòng với công việc của họ ở Việt Nam; 78% hài lòng với sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống; 85% hài lòng với chi phí sinh hoạt; 57% hài lòng với chất lượng chăm sóc y tế; 67% nói rằng kết bạn mới dễ dàng khi sống ở Việt Nam...


Tất cả số liệu đa chiều và chân thật nêu trên cho thấy sự thật hiện hữu về niềm hạnh phúc ở mức cao của người dân Việt Nam. Theo các chuyên gia, hạnh phúc đó trước hết bắt đầu từ việc chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện và có nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Ví như năm 2022, tạp chí kinh doanh, thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ) công bố báo cáo xếp hạng chỉ số "chất lượng sống" của 165 nước trên thế giới, thì chỉ số "chất lượng sống" của Việt Nam đạt 78,49 điểm, xếp vị trí 62/165. So với năm 2021, thứ hạng “chất lượng sống” của Việt Nam tăng 39 bậc.

 

Chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam được minh chứng bởi những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế được thế giới ghi nhận, ngưỡng mộ; cũng như niềm hạnh phúc hiện có của nhân dân Việt Nam mà nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới mong muốn. Đặc biệt, nhân dân được hưởng giá trị của hạnh phúc trong độc lập-tự do, không lệ thuộc hay bị chi phối bởi các thế lực bên ngoài. Là mức độ cân đối giữa việc làm, thu nhập và tích lũy bởi mọi người dân đều có nhà ở, việc làm, được thụ hưởng thành quả lao động chính đáng. Nhân dân được bảo đảm an ninh, an toàn và các chính sách an sinh, tiến bộ, công bằng, phúc lợi xã hội được thụ hưởng ngày càng nhiều hơn. Đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp hơn, trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn của đông đảo du khách quốc tế.


Hạnh phúc là mục tiêu, chỉ số phấn đấu, thể hiện sinh động trong thực tiễn của Việt Nam những năm qua. Đặc biệt, Yên Bái còn đưa chỉ số hạnh phúc người dân vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh để triển khai, thực hiện. Theo đồng chí Đỗ Đức Duy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, việc đưa chỉ số hạnh phúc vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 xuất phát từ nhận định và triết lý riêng của Yên Bái. Chỉ số này được đánh giá dựa vào mức độ hài lòng của người dân Yên Bái trên 3 tiêu chí chính: Sự hài lòng về cuộc sống, sự hài lòng về môi trường sống, tuổi thọ trung bình và số năm sống khỏe của người dân. Qua hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện, cuộc sống của người dân Yên Bái về vật chất cũng như đời sống văn hóa, tinh thần không ngừng được nâng cao. Đây là tiền đề để tỉnh tiếp tục đề ra các giải pháp mới với mục tiêu đến cuối nhiệm kỳ, chỉ số hạnh phúc người dân tăng 15% so với đầu nhiệm kỳ.


Việt Nam còn có những “đặc sản riêng có” để tạo nên sự hạnh phúc khác biệt, vượt trội so với nhiều quốc gia trên thế giới, như: Đất nước thanh bình, an ninh, an toàn cho con người được bảo đảm, không bị đe dọa bởi nguy cơ khủng bố; mạng lưới an sinh xã hội phủ kín trên diện rộng, tỷ lệ người biết chữ cao... Bởi thế, nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới từng ung dung thưởng thức ẩm thực, dạo bộ trên phố phường Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được nhân loại ghi nhận là dân tộc yêu hòa bình, vì hòa bình; Thủ đô Hà Nội được thế giới vinh danh “Thành phố vì hòa bình”. Và còn biết bao điều hạnh phúc bình dị của nhân dân Việt Nam, đó là tâm hồn trong sáng, cao thượng; những giá trị văn hóa, tình yêu thương, quý trọng con người, sự sẻ chia “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” trong khó khăn, hoạn nạn; sự ấm áp tình người trong mỗi bữa cơm, giấc ngủ của giá trị gia đình; sự quan tâm, chăm lo trong mối quan hệ thân thuộc của họ hàng, dòng tộc, làng xóm, cộng đồng...


Quả ngọt từ sự chăm lo của Đảng


Cần khẳng định rằng: Quan điểm “dân thụ hưởng” là một trong những điểm mới, quan trọng được Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập trong tổng thể phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt và đầy đủ hơn của Đảng đến đời sống của nhân dân. Nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đồng thời, khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn các lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự hăng hái, nhiệt huyết cống hiến, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội. Đây chính là bước phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực hoàn thiện các chủ trương, đường lối và hiện thực hóa thêm một bước tư tưởng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.


Nhìn lại nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, thấy rằng, việc nhất quán mục tiêu chăm lo hạnh phúc và quyết liệt lãnh đạo nâng cao chất lượng cuộc sống người dân được thể hiện đậm nét và từng bước cụ thể hóa, hiện thực hóa thông qua các nghị quyết, kết luận của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, các chiến lược, kế hoạch, đề án, chương trình của Chính phủ và biểu hiện sinh động ở nhiều lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo hiểm, việc làm, giảm nghèo... Đây là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 đã được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”


Đất nước ta bắt tay vào thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong điều kiện gặp muôn vàn khó khăn, thách thức, việc thực hiện nhiệm vụ “kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, vừa tập trung phát triển kinh tế là một thách thức không hề đơn giản. Thế nhưng, với quyết tâm chính trị cao, kiên định phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Đảng, Nhà nước đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiều chủ trương, giải pháp sáng suốt, đúng đắn, hiệu quả.


Điển hình như để ứng phó với đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước kiên định mục tiêu bảo vệ quyền con người, bảo hộ công dân, bảo đảm sức khỏe và tính mạng của nhân dân với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, nhân văn. Chính phủ trình Quốc hội ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều giải pháp, chính sách tài khóa để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, gói 62.000 tỷ đồng hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, một quyết sách chưa có tiền lệ của Chính phủ đã kịp thời giúp đỡ và củng cố niềm tin của người dân, cùng cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ, góp phần ổn định đời sống nhân dân và người lao động, ổn định kinh tế-xã hội tại các địa phương.


Cùng với nỗ lực bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ nhân dân trước dịch bệnh và thiên tai, các chủ trương, chính sách khác về an sinh xã hội, chăm lo người dân của Đảng, Nhà nước cũng đồng thời được triển khai quyết liệt, đạt kết quả toàn diện. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 của Chính phủ cho thấy những con số thống kê phong phú về an sinh, phúc lợi, cũng như lột tả hết những tiến bộ trong đời sống xã hội. Nổi bật là diện bao phủ bảo hiểm xã hội đã được mở rộng, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,3%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 100%; tỷ lệ hộ nghèo 2,19%, giảm 0,4%; tỷ lệ hộ cận nghèo 2,9%, giảm 0,23%... Cùng với đó, cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn không ngừng được cải thiện, nâng cao; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản...


Bên cạnh những kết quả đạt được, thẳng thắn nhìn nhận thì việc bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội vẫn còn những hạn chế nhất định. Cuộc sống của một bộ phận người dân vẫn còn không ít khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ, chưa thật sự gắn chặt nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo hạnh phúc nhân dân trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, toàn Đảng và hệ thống chính trị cần tiếp tục tập trung đổi mới cơ chế, chính sách, phát huy cao độ tinh thần cống hiến vì đất nước, vì nhân dân. Tạo mọi điều kiện, cơ hội và động lực để phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu, là mục tiêu của sự phát triển. Tập trung đầu tư các nguồn lực, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại về kinh tế-xã hội, về môi trường sinh thái và quốc phòng, an ninh, khuyến khích xây dựng những thành phố, miền quê đáng sống. Ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia với mục tiêu cao nhất là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân được tiếp cận các dịch vụ giao thông, y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo nâng cao dân trí, bồi dưỡng, phát triển tri thức.


Trên nền tảng kết quả đạt được, nhất là phát huy những tiềm lực chính trị tinh thần của một quốc gia hạnh phúc, các cấp cần tiếp tục giáo dục, khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sự đồng thuận xã hội, kết hợp hài hòa ý Đảng-lòng dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tạo dựng hạnh phúc lâu dài, bền vững cho cả dân tộc. Tạo sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân trên cơ sở thực thi hiệu quả các chủ trương, quan điểm, chính sách đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân./.

ST


XÚC ĐỘNG, SÂU LẮNG CHƯƠNG TRÌNH "MỘT CHÍNH PHỦ VÌ KHÁT VỌNG HÒA BÌNH"

 

Tối 10/6, tại khu Di tích Lịch sử Quốc gia - Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tỉnh Quảng Trị phối hợp Văn phòng Chính phủ tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm ngày ra mắt Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Quảng Trị (6/6/1973 – 6/6/2023).


Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái ôn lại giai đoạn lịch sử cách đây vừa tròn 50 năm, Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Sau khi Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, để đáp ứng yêu cầu mới của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã quyết định chuyển nơi làm việc của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam từ Tây Ninh về Quảng Trị. Từ khi ra mắt trụ sở ở Quảng Trị vào ngày 6/6/1973, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thể hiện đầy đủ, toàn diện vai trò của một chính quyền dân tộc, dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Sự kiện ra mắt Trụ sở Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại vùng giải phóng Cam Lộ, Quảng Trị là một mốc son quan trọng trong công cuộc đấu tranh gian khổ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước của Đảng ta và nhân dân ta.


Mảnh đất Quảng Trị vinh dự được gánh vác trọng trách khi được chọn làm thủ phủ của chính quyền nhân dân Miền Nam. Không phụ lòng tin của Đảng, Nhà nước và đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế, trên vùng đất vừa diễn ra những trận chiến ác liệt, còn khét mùi khói súng, “lưới gai, rào kẽm tháp đồn chơ vơ”, nhân dân Quảng Trị đã thực hiện chỉ đạo của Trung ương với ý chí và quyết tâm cao nhất.


Từ năm 1973 đến năm 1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định đậm nét vai trò trên trường quốc tế; đã đón tiếp hơn 49 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc, thiết lập quan hệ ngoại giao, tiếp Đại sứ các nước đến Trình Quốc thư. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái nhấn mạnh:


“Việc chuyển Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Quảng Trị thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, nâng cao giá trị biểu tượng, ý chí khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước, đồng thời phát huy vai trò Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tăng cường vị thế chính trị trên trường quốc tế, đánh dấu sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam Việt Nam. Khẳng định đậm nét vai trò chính trị của mình trên trường quốc tế, có những đóng góp quan trọng đưa quân và dân ta đưa kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất hai miền Nam Bắc”.


Sau phần lễ kỷ niệm là Chương trình nghệ thuật thực cảnh “Một Chính phủ khát vọng hòa bình”. Sân khấu Lễ kỷ niệm được đặt tại vị trí trung tâm của Di tích Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Chương trình nghệ thuật thực cảnh tái hiện sự kiện ngày ra mắt Trụ sở Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, dấu ấn các đại sứ đến trình Quốc thư thiết lập quan hệ ngoại giao, chuyến thăm của Chủ tịch Cuba Fildel Castro đến vùng giải phóng Quảng Trị, thăm Trụ sở Chính phủ lâm thời... Tham dự chương trình, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Trương Đức Hai, ở huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xúc động nói:


“Ôn lại quá khứ của dân tộc Việt Nam nhớ lại những di tích, những chặng đường đấu tranh của nhân dân cả nước. Trụ sở Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đóng trên vùng đất đang còn chiến tranh ác liệt và đến hôm nay đất nước đã hòa bình, kinh tế phát triển, nhân dân ấm no hạnh phúc, đó chính là điều hạnh phúc”./.

ST


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC 

 

Ngày 11- 6- 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng mới của toàn dân.


Nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước. 


Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.


Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.


Tuy thi đua có tính khách quan như vậy nhưng để có phong trào và đạt được những thành tích cao, không hình thức, lãng phí sức người sức của, không đầu voi đuôi chuột, thì “một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua”, nhưng một mặt nữa phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, “sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện”. Sự thiết thực và toàn diện của lãnh đạo là ở chỗ tính toán đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua theo yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương, đơn vị, cơ quan, được cụ thể hóa cho mọi đối tượng lao động trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, vừa quan tâm lãnh đạo chính trị tư tưởng, không để chủ nghĩa thành tích chi phối, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện kế hoạch thi đua cá nhân và tập thể.


Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thuần túy nghiên cứu trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc năm 1948, cũng không chỉ nghiên cứu trong các bài nói bài viết của Người về thi đua yêu nước, mà còn cần phải nghiên cứu hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong quá trình cách mạng Việt Nam do Người và Đảng ta lãnh đạo. Có như thế mới có thể hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.


Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày. 


Mục đích của thi đua yêu nước là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai; bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều phải trở nên một người chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”.


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cánh mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người chỉ rõ: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”.


Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cánh mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.


Thi đua, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác, khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bởi nó vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ đi sâu vào cuộc sống, lại vừa sâu sắc, toàn diện và hệ thống. Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.


Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều là việc tốt hơn, nhiều hơn và “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng to lớn, thiết thực động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 


Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, công cuộc đổi mới của đất nước đang đứng trước cả những thuận lợi và khó khăn. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng của Người về thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần chú ý một số nội dung sau:


Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển điển hình tiên tiến tạo nên phong trào rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở.


Hai là, tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tự lực tự cường, gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… tạo nên sự đồng thuận trong toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phát động các phong trào thi đua.


Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo ra môi trường lành mạnh, trong sạch để nhân dân yên tâm phấn khởi, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, đồng thời tích cực gắn phong trào thi đua yêu nước với việc phát động toàn dân tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.


Bốn là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng, thường xuyên đấu tranh phê phán, lên án những hành vi không lành mạnh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

ST


LÃNG PHÍ NIỀM TIN

 

Những tồn tại, hạn chế nhiều năm không được khắc phục cùng chiều dài vô tận của "sợi dây rút kinh nghiệm" gây lãng phí niềm tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, những người chắt chiu từng đồng thuế để trả lương cho bộ máy công quyền.


Đó là trăn trở của các đại biểu tại phiên họp mới đây khi Quốc hội thảo luận về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.


Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng thực tế cho thấy lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, từ nguồn nhân lực đến ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên, khoáng sản... Đặc biệt, "căn bệnh" đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thái độ thờ ơ, vô cảm, kéo dài thực hiện các thủ tục hành chính gây lãng phí nguồn lực, thời gian, cơ hội thụ hưởng, tiếp cận chính sách của người dân và doanh nghiệp.


Năm 2022, bình quân một ngày có khoảng 400 doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Riêng quý I-2023, lần đầu tiên, số doanh nghiệp đóng cửa đã vượt số doanh nghiệp đăng ký mới. Trước thực tế này, đề cập đến tình trạng lãng phí trong cải cách hành chính tác động lớn đến môi trường đầu tư, kinh doanh, tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV, đại biểu Trần Văn Khải (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam) trăn trở: "Phải chăng, hàng nghìn thủ tục mới phát sinh đã góp phần không nhỏ đẩy hàng trăm nghìn doanh nghiệp đến cảnh khốn cùng như thế? Cử tri đặt câu hỏi, cải cách hành chính chưa hiệu quả gây lãng phí thời gian, cơ hội, nguồn lực cho người dân, doanh nghiệp và đất nước là bao nhiêu?". Chung mạch suy nghĩ ấy, một số đại biểu nêu vấn đề: Ở đây chúng ta không chỉ gây lo lắng về lãng phí mang tính vật chất và tiền bạc, mà nguy hiểm hơn là lãng phí niềm tin!


Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) được thực thi nhiều năm nhưng vẫn chưa thực sự ngăn chặn được tình trạng lãng phí trên nhiều lĩnh vực. Luật đã quy định trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng lãng phí, song thực tế việc xử lý, quy trách nhiệm người đứng đầu là vô cùng khó khăn và chưa phải vấn đề phổ biến.


Đành rằng, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không phải là việc thực hiện trong ngày một ngày hai mà cần làm thường xuyên, song hành với sự vận động của thực tiễn cuộc sống, nhưng những hạn chế trong công tác này chậm được khắc phục, thậm chí một số tồn tại có chiều hướng gia tăng, gây hoang mang, nghi ngại trong nhân dân. Tâm lý sợ sai không dám làm dẫn đến thui chột sự sáng tạo, lãng phí trách nhiệm tồn tại ở cả tập thể và cá nhân là vấn đề nhức nhối thời gian qua, gây thất thoát niềm tin ở nhân dân-những lãng phí vô hình khó định lượng nhưng lại có sức tàn phá, nguy hại khôn lường đối với sự phát triển của đất nước.


Nhân dân ta luôn đặt niềm tin và đồng hành với hệ thống chính trị trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chớ để lãng phí niềm tin của người dân khi con số thực hành tiết kiệm thua xa lãng phí, để lãng phí chồng lãng phí, lãng phí kéo dài, lãng phí chậm khắc phục./.

ST


“DÂN TA CÓ MỘT LÒNG NỒNG NÀN YÊU NƯỚC”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta”. Thi đua yêu nước, đó là nội hàm có sức thuyết phục lan tỏa thành năng lượng tinh thần, niềm tự hào, tự tôn dân tộc.


Trong thời điểm giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra gay go ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948) như một lời hiệu triệu, được sự hưởng ứng đồng lòng của toàn dân, toàn quân. Người nói rất rõ, rất cụ thể mà vẫn có sức khái quát, tạo ra sức mạnh cộng hưởng: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”.


Từ lời kêu gọi ấy, ai cũng thấy mình trong đó với sự gắn kết cộng đồng, khơi dậy sức mạnh truyền thống quý báu của dân tộc với một trữ lượng tinh thần lớn lao. Ngay với các cháu thiếu nhi, Bác cũng có cách nói riêng động viên thân tình ấm áp trong những câu thơ gửi cho các cháu dịp tết Trung thu năm 1952: “Mong các cháu cố gắng/ Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình”.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước với nhiều khẩu hiệu. Đó cũng là quyết tâm, ý chí được đúc kết thành những lời kêu gọi như một khúc ca, một tiếng lòng tha thiết, đồng vọng, dễ nhớ, dễ thuộc, cứ ngân vang như một điệp khúc giục giã lòng người: “Ruộng rẫy là chiến trường/ Cuốc cày là vũ khí/ Nhà nông là chiến sĩ/ Hậu phương thi đua với tiền phương”.


Cho đến nay, trong tôi vẫn còn âm vang nhịp điệu thiết tha như một lời reo vui, như khúc hoan ca khẳng định: “Người người thi đua/ Nhà nhà thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ta nhất định thắng/ Địch nhất định thua”. Vì thế, một sự cộng hưởng kết nối mà thi đua đã tạo ra một làn sóng tự nguyện dâng lên lòng tự hào, tôn vinh dân tộc với một trầm tích lịch sử ngàn đời, với mạch nguồn văn hóa như một cái neo định vị một thế đứng dân tộc, một cốt cách làm người.


Thi đua yêu nước, điều đó chứng tỏ đã rạng rỡ như Bác Hồ đúc kết: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”.


Trong thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam (1954-1975), các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục phát triển trên các lĩnh vực, các ngành, các giới một cách toàn diện.


Các phong trào đó được mang tên gắn với các địa phương tiên tiến thành biểu tượng có sức thuyết phục, thành một ý thức tự nguyện và nhân rộng thành những nhận thức mới, hành động mới. Đó là những điển hình có sức lan tỏa, khơi dậy sức mạnh lớn lao như: phong trào “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Trống Bắc Lý” trong giáo dục.


Đó như là những điệu kèn xung trận náo nức lòng người với những hồ hởi tươi mới, tạo đà, tạo nhịp thành một bản đại giao hưởng dưới bàn tay tài hoa bắt nhịp của nhạc trưởng là Bác Hồ kính yêu. Rồi những phong trào từ con số cụ thể rất thiết thực cũng được gắn với những quyết tâm ý chí như phong trào “Ba nhất” trong quân đội, “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ; phong trào “Dũng sĩ diệt Mỹ” ở tiền tuyến miền Nam, “Một người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” ở hậu phương miền Bắc.


Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chúng ta làm sao quên được đồng bào Khu 4 đã lan truyền câu nói: “Xe chưa qua, nhà không tiếc”. Chỉ đơn giản thế thôi mà chứa đựng trong đó cả một tấm lòng yêu nước lớn lao, những sự hy sinh lớn lao, những tự nguyện quên mình lớn lao.


Tôi còn nhớ những năm tháng đi học dưới những đường hào giao thông, đầu đội mũ rơm, lán học được đắp bằng lũy đất bao quanh vẫn luôn nghe vang vọng bản tin “Tiếng loa chống Mỹ” lan truyền bởi giọng đọc từ chiếc loa được gõ bằng tôn thô sơ với những thông tin thời sự kịp thời, những gương người tốt, việc tốt điển hình.


Và bên cạnh những cuốn sách giáo khoa, chúng tôi lại có thêm những cuốn sách khổ nhỏ trong tủ sách “Người tốt việc tốt” của nhà trường như: “Vì nước vì dân”, “Dũng cảm đảm đang”, “Việc nhỏ nghĩa lớn”… Sau này, tôi mới biết đó là sáng kiến của Bác Hồ chỉ đạo việc xuất bản sách “Người tốt việc tốt” để mọi người có thể học tập và làm theo.


Trong ngôi nhà sàn của Bác tại Phủ Chủ tịch, trên bàn làm việc, trong phòng họp và phòng ngủ của Người đều có sách “Người tốt việc tốt”. Trong nhiều năm, Bác đã theo dõi những việc làm tốt hằng ngày của những con người bình thường để gửi tặng huy hiệu. Và, với nhiều thế hệ, tấm huy hiệu mang hình Bác Hồ là một tặng thưởng vô giá được đính trên ngực áo - nơi có trái tim của mình đập rung lên với những tần số từ tình cảm lớn lao, ân tình chu đáo và thắm thiết thân tình của Bác Hồ kính yêu./.

ST


HỘI NGHỊ BIỂU DƯƠNG, TÔN VINH ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN TOÀN QUỐC

 

Sáng 11-6, tại Hà Nội, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tổ chức hội nghị biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến toàn quốc được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tham dự và phát biểu. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương.


Tham dự hội nghị có 1.175 đại biểu, gồm: 475 đại biểu khách mời, 700 đại biểu chính thức, được lập thành 66 đoàn đại biểu. Trong số 1.175 đại biểu có các tập thể, cá nhân Anh hùng Lao động, Anh hùng LLVT nhân dân các thời kỳ, chiến sĩ thi đua toàn quốc, gương điển hình tiên tiến trong Phong trào Thi đua yêu nước từ năm 2021 đến nay. Trong số 700 đại biểu chính thức có 323 đại biểu khối địa phương; 357 đại biểu khối ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và 20 đại biểu chỉ định.


Hội nghị nhằm biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân Anh hùng Lao động, Anh hùng LLVT nhân dân, chiến sĩ thi đua toàn quốc, các gương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt, nhân tố mới. Qua đó làm nổi bật những thành tựu của Phong trào Thi đua yêu nước trong 75 năm qua, góp phần giáo dục truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST


MỖI ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN LAN TỎA Ý THỨC TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ CỐNG HIẾN


Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), sáng 11/6, tại Hà Nội, Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương long trọng tổ chức Hội nghị biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến toàn quốc.


Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương chủ trì và có bài phát biểu quan trọng, thể hiện mong muốn và tin tưởng mỗi điển hình tiên tiến là một bông hoa tỏa hương sắc về tinh thần, đạo đức, ý thức trách nhiệm và sự cống hiến...


Dự hội nghị có các Ủy viên Bộ Chính trị: Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng; các Bí thư Trung ương Đảng: Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Chủ tịch thứ Nhất, Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động.


Đặc biệt hội nghị có sự tham dự của 700 đại biểu điển hình tiên tiến toàn quốc, đại diện các tập thể, cá nhân tiêu biểu, người trực tiếp lao động sản xuất, công tác trên nhiều lĩnh vực, vùng miền, đại diện nhân sĩ, trí thức, dân tộc, tôn giáo, doanh nhân tiêu biểu, tài năng trẻ...


Thi đua yêu nước trở thành phong trào rộng khắp


Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, cách đây 75 năm, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.


Người chỉ rõ: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất,” “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi...”


Lời kêu gọi của Bác như lời hiệu triệu non sông, đã cổ vũ, truyền cảm hứng, động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, có nhiều sáng kiến cải tiến trong lao động, sản xuất, chiến đấu, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Từ đó đến nay, thi đua yêu nước đã thực sự trở thành phong trào rộng khắp từ miền xuôi đến miền núi, biên giới, hải đảo; từ thành thị tới nông thôn với sự tham gia tích cực của người dân, từ các cụ già cho đến các cháu nhỏ và đạt được những kết quả to lớn. Đây là một động lực quan trọng để cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Theo Thủ tướng, trong các cuộc kháng chiến kiến quốc, các phong trào "Ba sẵn sàng," "Ba đảm đang," "Năm xung phong," “Sóng duyên hải,” “Gió đại phong,” “Trống Bắc Lý,” “Nghìn việc tốt,” "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt," "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng," “Bám đất giữ làng,” “Một tấc không đi, một ly không dời”... đã thôi thúc tình cảm, ý chí quyết tâm và hành động thiết thực của mỗi người dân.


Trên tiền tuyến, các chiến sỹ thi đua chiến đấu lập công. Ở hậu phương, nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, diệt giặc đói, giặc dốt, chi viện cho tiền tuyến, góp phần đưa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện đến thắng lợi hoàn toàn, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và mốc son lịch sử Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, non sông thu về một một dải.


Khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong gần 40 năm đổi mới, các phong trào thi đua ngày càng nở rộ, đa dạng trên tất cả các lĩnh vực, gắn với các tầng lớp nhân dân, có sức lôi cuốn, lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.


Tiêu biểu như phong trào "Lao động giỏi, lao động sáng tạo"; "Thi đua quyết thắng," "Vì an ninh Tổ quốc"; "Dạy tốt, học tốt"; "Dân vận khéo," "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới," “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông văn hóa,” "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển," "Cả nước chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau," “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19,” "Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí"…


“Những phong trào thi đua này đã tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, phát huy tiềm năng, thế mạnh của cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng. Qua đó đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, thực chất, hiệu quả, để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay,” Thủ tướng nhấn mạnh.


Cũng theo Thủ tướng, từ trong phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến, tiêu biểu trên các lĩnh vực.


Từ những tấm gương anh dũng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của nhân dân; tấm gương thầm lặng cống hiến cho khoa học, cho sự nghiệp trồng người; công nhân vệ sinh môi trường lặng lẽ làm việc ngày đêm; người cần mẫn trồng cây gây rừng… hay những tấm gương tỏa sáng thực hiện Lời kêu gọi đoàn kết để chiến thắng đại dịch COVID-19 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, như lời bài hát “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng-Gian khổ biết dành phần ai” để hành động và cống hiến vì cộng đồng, xã hội.


Thủ tướng cho rằng tại hội nghị này, có 700 đại biểu điển hình tiên tiến - những bông hoa tươi thắm trong phong trào thi đua yêu nước, là những tấm gương tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc trên mọi miền của Tổ quốc.


Những điển hình tiên tiến dù ở độ tuổi, cương vị nào, ngành nghề nào đều tỏa sáng tinh thần yêu nước, sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tiêu biểu cho ý chí, nghị lực, khát vọng vươn lên, cống hiến vì cộng đồng, xã hội.


“Tôi tin tin chắc còn có rất nhiều tấm gương thầm lặng khác đang ngày đêm đóng góp công sức, trí tuệ, nguồn lực cho đất nước ở tất cả các lĩnh vực, trong mọi tầng lớp nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài,” Thủ tướng khẳng định.


Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương các điển hình tiên tiến; đánh giá cao những kết quả mà phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng đã đạt được trong thời gian qua.


Gắn các phong trào thi đua với thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước


Cho rằng đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, để làm tốt hơn nữa lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành tiếp tục quán triệt, thấm nhuần sâu sắc tinh thần “càng khó khăn thì càng phải thi đua,” tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về thi đua, khen thưởng; gắn công tác thi đua, khen thưởng với thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược; thúc đẩy mạnh mẽ phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.


Thủ tướng yêu cầu Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương, Mặt trận Tổ quốc, các bộ, ban, ngành, địa phương và các đoàn thể cần tiếp tục phát động, tổ chức  nhiều phong trào thi đua yêu nước có trọng tâm, trọng điểm, gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị của cơ quan, địa phương, đơn vị; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức công tác thi đua, khen thưởng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với đề cao trách nhiệm người đứng đầu; nâng cao năng lực cán bộ thực thi; bảo đảm thực chất, thiết thực, hiệu quả, hướng về cơ sở; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; tránh hình thức, tránh tiêu cực, lợi dụng thi đua, khen thưởng vào mục đích cá nhân, lợi ích nhóm.


“Phải gắn việc thực hiện các phong trào thi đua với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cải cách tư pháp, cải cách hành chính; gìn giữ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế,” Thủ tướng lưu ý.


Đối với các điển hình tiên tiến, Thủ tướng đề nghị không chủ quan, thỏa mãn, luôn giữ vững tinh thần, nhiệt huyết, tiếp tục cố gắng, nỗ lực phấn đấu, không ngừng vươn lên, cống hiến nhiều hơn nữa cho cộng đồng và xã hội, cho Tổ quốc và nhân dân; thực sự là những tấm gương sáng cho mọi người học tập, như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.”


“Trọng trách này đặt lên vai các bạn và mỗi chúng ta, bởi để đạt được thành công, sự tôn vinh đã khó, nhưng giữ được danh hiệu, lòng yêu mến còn khó hơn rất nhiều. Mỗi điển hình tiên tiến là một bông hoa tỏa hương sắc về tinh thần, đạo đức, ý thức trách nhiệm và sự cống hiến. Hương sắc đó sẽ tỏa ngát trong cộng đồng, lan tỏa, truyền cảm hứng về những điều tốt đẹp,” Thủ tướng mong muốn.


Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc là dịp để chúng ta bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Lời kêu gọi Thi đua ái quốc và tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước đến nay vẫn còn nguyên giá trị; là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ lớn lao; tiếp tục tỏa sáng, dẫn đường cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc.


Bằng hình thức sân khấu hóa, cùng với đánh giá kết quả thực hiện các phong trào thi đua yêu nước và biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc qua các thời kỳ, tại Hội nghị các đại biểu được giới thiệu, giao lưu với nhiều điển hình tiên tiến tiêu biểu.


Trong đó có như Giáo sư-Tiến sỹ, Nhà giáo Nhân dân Võ Tòng Xuân, người tâm huyết và có nhiều đóng góp quan trọng cho nông nghiệp Việt Nam, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long; Già làng K’Tiếu ở xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, người đã vận động người dân hiến đất, hiến công xây dựng đường giao thông và truyền dạy cho nhiều thế hệ trẻ, giữ gìn văn hóa cồng chiêng; bà Trần Thị Kim Thia (bà Sáu Thia) ngụ xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã 20 năm cần mẫn dạy bơi miễn phí cho trẻ nhỏ ở trong và ngoài xã. Đó là Trung tá Nguyễn Chí Thành, Phó đội trưởng, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh nhiều lần không quản hiểm nguy, cứu nhiều người khỏi lưỡi hái tử thần; Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn ở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà, trong đó nổi bật là phong trào “Nghìn việc tốt”; Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Trung tá Ngô Thị Tuyển ở thành phố Thanh Hóa; Huấn luyện viên trưởng Đội tuyển bóng đá nữ Quốc gia Việt Nam Mai Đức Chung; Vận động viên điền kinh Nguyễn Thị Oanh, người vừa giành 4 huy chương Vàng tại SEA Games 32...


Các điển hình tiên tiến tiêu biểu đã chia sẻ nhiều câu chuyện về tinh thần nghị lực, đức hy sinh, tận tâm, vì nước, vì dân; đồng thời nguyện tiếp tục gương mẫu trong cuộc sống, lao động, học tập, công tác, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam tươi đẹp hùng cường, thịnh vượng; người dân ấm no, hạnh phúc.


Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tặng Bằng khen 75 gương điển hình tiên tiến tiêu biểu trên các lĩnh vực./.

ST


LAN TOẢ TÌNH YÊU VÀ QUYẾT TÂM BẢO VỆ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG


Ngày 10/6, hội thảo "Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam" được tổ chức tại thủ đô Paris của Pháp. Đây là một hoạt động của cộng đồng người Việt ở châu Âu nhằm khẳng định tình yêu và sự gắn kết với Tổ quốc và góp phần lan tỏa tình yêu biển đảo quê hương giữa các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời thu hút sự quan tâm và ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.


Hội thảo do Ban Liên lạc người Việt châu Âu “Vì biển đảo Việt Nam” phối hợp Học viện Ngoại giao, Câu lạc bộ Yêu biển đảo tại Pháp, Câu lạc bộ Hoàng Sa-Trường Sa tại Ba Lan, Câu lạc bộ Trường Sa tại Đức và Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp tổ chức.

Tham dự có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng, Đại sứ-Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, cùng nhiều diễn giả người Việt và các nhà nghiên cứu quốc tế đến từ một số nước châu Âu.


Bà Cao Hồng Vinh, Trưởng Ban Liên lạc người Việt châu Âu “Vì biển đảo Việt Nam”, Chủ tịch Câu lạc bộ Hoàng Sa-Trường Sa tại Ba Lan, cho biết cộng đồng người Việt tại các nước châu Âu đã có nhiều hoạt động thiết thực đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó có biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.


Hội thảo này đã thu hút sự quan tâm và tham dự của nhiều bạn bè quốc tế gồm các học giả, nghiên cứu từ các nước Canada, Ba Lan, Đức, Italia, Séc và Việt Nam.


Tại hội thảo, các học giả gồm giáo sư, tiến sĩ và nhà nghiên cứu về châu Á và Biển Đông cùng với các nhà giáo dục và kinh tế học người Việt và nước ngoài đã trình bày những bài tham luận có giá trị khoa học cao, đề cập nhiều góc nhìn về Biển Đông và vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam về mặt lịch sử, pháp lý, chính trị, văn hóa...


Các học giả cũng có những trao đổi về thông tin mới nhất liên quan đến tình hình Biển Đông, đồng thời gợi ý những giải pháp để xử lý tranh chấp trên cơ sở gìn giữ hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế, kể cả các phương án phát triển kinh tế biển.


Theo nhà sử học, Giáo sư Patrice Jorland, nguyên Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp-Việt, quyền của các quốc gia ven biển đối với một không gian biển ngày nay được điều chỉnh bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập ở đây từ thời các Chúa Nguyễn, được củng cố dưới các triều đại sau, rồi tới thời thực dân Pháp chiếm đóng.


Do đó, chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được công nhận và không ảnh hưởng tới các vùng biển của các quốc gia trong khu vực. Một giải pháp công bằng để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông là tôn trọng luật pháp quốc tế.


Giáo sư cho rằng, các bên liên quan cần phải tôn trọng luật quốc tế và khối ASEAN, trong đó Việt Nam là một thành viên tích cực, cần củng cố đoàn kết, tăng cường nỗ lực ngoại giao và đàm phán, tránh dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp.


Trong khi đó, bà Malgorzata Pietrasiak, Giáo sư Đại học Lodz ở Ba Lan, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, đánh giá cao cách xử lý của Việt Nam đối với các vấn đề trên biển. Bà cho rằng đó là chiến lược "Hedgingowa" (tạm dịch là "phòng ngừa rủi ro"), một chiến lược sáng suốt, mềm dẻo, hòa bình, không căng thẳng, nhưng cũng không nhượng bộ.

Bà Malgorzata Pietrasiak nhận định: "Phương pháp này rất hiệu quả và mang lại điểm tốt cho ngoại giao Việt Nam trên chính trường quốc tế".


Theo Đại sứ Đinh Toàn Thắng, hội thảo là một hoạt động của người Việt Nam tại châu Âu hướng về đất nước. Trong nhiều thập niên qua, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp và tại châu Âu đã có nhiều hoạt động gắn bó và ủng hộ quê hương, từ những hoạt động hỗ trợ ủng hộ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn trong nước, đóng góp vào nỗ lực chung của cả nước trong phòng, chống dịch Covid-19.


Cộng đồng người Việt duy trì các hoạt động hướng tới phát triển, giữ vững chủ quyền biển đảo của đất nước. Sự tham gia của nhiều diễn giả quốc tế cho thấy vấn đề Biển Đông đang thu hút sự quan tâm sâu sắc của đông đảo giới học giả quốc tế và khu vực.


Ông Mai Phan Dũng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) cho biết, kể từ năm 2012 đến nay, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao đã tổ chức các đoàn công tác đưa khoảng 530 đại biểu kiều bào từ gần 40 quốc gia thăm Trường Sa và Nhà giàn DK1.


Qua các chuyến công tác, bà con đã có những đóng góp thiết thực đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc, như ủng hộ đóng xuồng chủ quyền, xây dựng công trình tại các điểm đảo, mua quà tặng, hiện vật và nhu yếu phẩm gửi tặng các điểm đảo, Nhà giàn DK1.


Kiều bào trở về trở thành những “sứ giả Trường Sa” ở khắp nơi trên thế giới thông qua các hoạt động góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Pháp, bà Trần Thu Dung, Trưởng Ban Liên lạc người Việt châu Âu “Vì biển đảo Việt Nam” cho biết, các nhà nghiên cứu quốc tế rất tâm đắc với nguyên tắc "vừa hợp tác vừa đấu tranh" mà Việt Nam xúc tiến trong đường lối ngoại giao.


Đó là cách xúc tiến mềm mỏng trong đường lối đối ngoại, không khép lại bất kỳ con đường nào và tạo ra không gian rộng lớn cho những đối tác tiềm năng trong hợp tác hai bên.

ST

VIỆT NAM CÓ ĐẦY ĐỦ CƠ SỞ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN VỚI TRƯỜNG SA, HOÀNG SA!

     Ngày 10/6, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị bình luận về phát biểu của Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 6/6/2023 về hoạt động của nhóm tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 của Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định:

Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa.

Quy chế pháp lý của quần đảo Trường Sa cũng như các thực thể của quần đảo này đã được xác định rõ theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của một quốc gia được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các nước ven biển, trong đó có Việt Nam phải được tôn trọng.

Đây chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm, xây dựng và đóng góp thiết thực của các nước liên quan vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thượng tôn pháp luật ở khu vực, trong đó có khu vực Biển Đông./.
Yêu nước ST.

Co phai thiếu niềm tin một cách mù quáng

Câu chuyện dù đã quen thuộc trong đời sống xã hội nhưng rất ít người đề cập thẳng thắn. Ấy là việc nhiều cá nhân thiếu niềm tin một cách mù quáng vào người tốt, cái tốt đang hiện hữu trong đời sống xã hội, rồi sinh ra tâm lý tiêu cực, bất mãn, thiếu trách nhiệm với tổ chức, cộng đồng, thậm chí là với chính mình. Đây là căn bệnh khá phổ biến ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng; rất cần được cơ quan chức năng sớm nhận diện, dập tắt Một câu chuyện,khi báo chí đăng tải một bài viết về tấm gương cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở miền Trung, dù không biết cán bộ đó là ai, không rõ thực hư thành quả cá nhân đó đạt được như thế nào nhưng nhiều người đọc ở ngoài Bắc vẫn bình luận bày tỏ sự hoài nghi, thậm chí dị nghị: Lại “bôi trơn”, tung hô nhau đây. Đúng là “đài nói láo, báo nói thêm”... Rõ ràng, tâm lý xã hội đang thật sự có vấn đề. Đó không chỉ là tâm lý của những người dân bình dị mà còn là lối nghĩ của không ít trí thức, người có vị trí xã hội, kể cả những người có chức trách, nhiệm vụ đi tuyên truyền, giáo dục. Công bằng mà nói, lâu lắm rồi, báo chí và các phương tiện truyền thông chưa quan tâm thỏa đáng, đúng tầm mức việc tuyên truyền về người tốt-việc tốt, cán bộ tiêu biểu, điển hình, mô hình... Minh chứng là khi thử thao tác tra cứu Google với cụm từ “gương cán bộ cấp tỉnh, thành phố”... thì kết quả thu được thật khó tin: Gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay số cán bộ cấp tỉnh, thành phố, cán bộ công chức ở các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương được báo chí truyền thông viết thành gương điển hình. Thực tế cho thấy, không phải không có điển hình, mà chính những người trong cuộc lại ngại được tuyên truyền, vì tâm lý sợ “lợi bất cập hại”... Mặt khác, ngay cả cơ quan báo chí cũng chưa dành nhiều thời gian, đầu tư công sức để mở chuyên trang, chuyên mục ngợi ca, tôn vinh các điển hình, mô hình, cái hay, cái đẹp một cách hệ thống, thường xuyên, hiệu quả. Cũng bởi thế mà trong dòng chảy thông tin xã hội, thông tin mạng xã hội lấn át thông tin báo chí chính thống; thông tin tiêu cực bao trùm lên thông tin tích cực một cách khó kiểm soát. Kết quả khảo sát tại một số cơ quan báo chí cho thấy, những bài viết về cái hay, cái đẹp, gương người tốt-việc tốt thời gian qua nhận được rất ít sự quan tâm của bạn đọc, lượng chia sẻ, tương tác khá khiêm tốn; số lượng bình luận bày tỏ thái độ tiêu cực, thiếu niềm tin nhiều hơn sự ghi nhận, khen ngợi nhân vật điển hình. Thậm chí trong không ít năm, các giải thưởng báo chí ở nhiều cấp, ngành, địa phương thường ưu tiên giải thưởng cho các tác phẩm đề cập đến nội dung đấu tranh chống tiêu cực, dám bóc trần những hạn chế, yếu khuyết của đời sống xã hội. Hơn thế, trên báo chí, mạng xã hội hiện nay, người ta nói nhiều đến sự vô cảm và dễ dàng bắt gặp những tin tức tội phạm, câu chuyện tiêu cực, hành vi ứng xử kém văn hóa... Những thứ ấy được đào xới, lan truyền một cách bừa bãi, nhận sự ủng hộ của cộng đồng mạng theo lối a dua, ăn theo; nhưng lại có quá ít người sẻ chia, ủng hộ những tấm gương tốt, việc làm thiện, cách sống hay. 2. Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi. Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ đình trệ, nội bộ mất đoàn kết. Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti, cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ, đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”. Điều đáng nói là các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng, đòi thay đổi chế độ. Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả, tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả! 3. Thật ra, người tốt, cái tốt luôn hiện hữu quanh ta. Vấn đề là mỗi người cần tĩnh tâm nhìn nhận để phát hiện ra điều đó, bởi người tốt thì không bao giờ lộ thiên, điều tốt thì thiêng liêng, cao quý, rất khó để cảm nhận đủ đầy giá trị của nó. Những người tốt thường khiêm tốn, không thích khoe khoang thành tích cá nhân, không thích được vinh danh, xướng tên trên truyền thông, báo chí. Lòng tốt đôi khi chỉ là những cử chỉ, lời nói động viên rất nhỏ, có khi chỉ thoảng qua khiến chúng ta khó nhận ra, ví dụ như việc giúp một người già qua đường, nhường ghế cho một người yếu thế trên xe buýt... Đừng nghĩ rằng việc tốt phải là những việc to tát, lớn lao. Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó khăn gấp bội. Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn 14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học tập, làm theo. Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh, nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội./.

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2023

TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC, NHỮNG KẺ BÁN NƯỚC, PHẢN BỘI TỔ QUỐC ĐỀU LÀ GIẶC VÀ ĐÓN NHẬN CÁI KẾT NHỤC NHÃ!

     Hàng năm cứ đến tháng 4 về là y như rằng các đối tượng ở hải ngoại và những “nhân sĩ, trí thức” theo “xã hội dân sự” trong nước lại tập trung ra rả những luận điệu cũ rích, nhai đi nhai lại đến mòn cả răng những bài xưa, lối cũ, khiến cho “ngưu ma vương” cũng cúi đầu chịu bái phục. Biết thế nào trong thời gian tới những luận điệu kể trên cũng sẽ được phát, vậy nên để sẵn mấy lời trước gọi là “thần cơ diệu toán”. 

Thứ nhất, các người hãy thôi ca ngợi cái gọi là “anh hùng tử khí hùng bất tử” khi nói về những tướng lĩnh của ngụy quân Sài Gòn đã tự sát, trước trong và sau ngày 30/4/1975, đừng ca ngợi họ là “tuẫn tiết vì nước”.

Một số tướng như Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ đã tự sát, họ tự sát là vì nỗi ô nhục khi đang tâm, tình nguyện làm nô bộc cho Hoa Kỳ; chém vào tổ quốc này những vết chém ngang lưng, chia đôi sơn hà của tổ tiên để lại, giúp cho người Mỹ mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Không đau, không nhục sao được khi mà người Việt Nam lại phò trợ ngoại bang để thôn tính chính quê cha đất tổ của mình, chỉ vì hám danh hám lợi. Tuẫn tiết ư? Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu thủ thành, thành mất tướng cũng tuẫn tiết theo thành, chết là để sống mãi với non sông đất nước, thế mới gọi là tuẫn tiết vì nước. Còn những tướng ngụy kia họ đại diện cho ai, lý tưởng là gì thì đến chính họ còn không hiểu, đứng vấy bẩn lên hai từ thiêng liêng “tuẫn tiết”. Cũng có thể họ sợ đồng bào miền Nam sẽ trả thù vì những tội ác mà họ gây ra cho đồng bào hoặc đó chỉ là hậu quả của việc người Mỹ tuyên truyền về cái gọi là “cộng sản sẽ tắm máu nếu chiếm được Sài Gòn”. Chết vì nhục, vì sợ chứ tuẫn tiết nỗi gì!

Thứ Hai, các ngươi thôi ca ngợi “quân lực VNCH” với khẩu hiệu “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm”!

Tổ quốc ở đâu khi các người rước Hoa Kỳ và đồng minh vào để băm vằm, cày xới lên cơ thể của đất nước? Tổ quốc có thể hiểu là đất nước do tổ tiên từ bao đời đã lấy máu đào để bảo vệ, xây dựng và để lại cho con cháu, truyền từ đời này sang đời khác; các người hết làm ưng khuyển cho Pháp, lại làm đầy tớ của Mỹ, muốn chia đôi, xẻ thịt giang sơn mà tổ tiên để lại thì thử tổ quốc ở đâu trong trường hợp này?

Danh dự, “làm trai sống ở trong trời đất/phải có danh gì với núi sông”, danh dự cái gì khi các người nhận giặc làm cha, bán rẻ linh hồn cho ngoại bang và mặc cho chúng cấu xe non sông này, danh dự gì khi các người khấu đầu trước giặc nhưng lại đạp lên đầu nhân dân Việt Nam.

Trách nhiệm, “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, nghĩa là đất nước khi thịnh vượng cũng như lúc suy vong thì mỗi người đều có trách nhiệm để xây dựng và bảo vệ, các người bán đứng tổ quốc không chỉ một, hai mà đến ba lần (Pháp, Nhật, Mỹ), là gia nô ba họ của ngoại bang thì đào đâu ra cái gọi là trách nhiệm với đất nước. Trách nhiệm với tổ quốc là phải như những người cộng sản, họ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và bây giờ đang xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, cơm ngon, áo đẹp.

Thứ ba, các người thôi nói “Cộng sản là độc tài, bao năm giải phóng nhưng đất người vẫn đói nghèo”!

Vâng, cộng sản là “độc tài”, độc tài ở đây có nghĩa là đầy tài năng và độc đáo trong cách xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Không tài, không độc đáo mà lần lượt đánh bại Pháp, Nhật, Mỹ, Tàu, Pôn Pốt để bảo vệ tổ quốc; không tài không độc đáo mà xây dựng một Việt Nam có cơ đồ to lớn như hôm nay. Nên nhớ, sau khi mới giải phóng, quy mô nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 180/190 nước, và bây giờ Việt Nam năm trong 31 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thu nhập thuộc hàng trung bình, đến cuối năm năm GDP bình quân đầu người khoảng 4000 USD, nếu tính theo giá sức mua tương đương là khoảng 12.000 USD; quy mô nền kinh tế đến hết 2022 đứng thứ 3 Đông Nam Á (sau Indonesia và Thái Lan)…Đừng bảo Việt Nam là đói nghèo nữa, có thể so với một số quốc gia phát triển thì chúng tôi chưa bằng nhưng đem so với đám ăn bám, ký sinh trùng trên cơ thể ngoại bang, khát nước toàn tập thì chúng tôi là ánh trăng rằm còn các người chưa bằng con đom đóm, lập lòe, lúc ẩn lúc hiện. 

Thứ tư, các ngươi thôi kêu gào “lấy lại đất tổ, không làm khổ dân”!

Nước Việt hùng anh và đời đời văn hiến vẫn đang thuộc quyền làm chủ của cháu Hồng, con Lạc, có mất cho Tây, cho tàu đâu mà “phục quốc” mà kêu gào “lấy lại đất tổ”. Câu đó phải để những người cộng sản nói, không có cộng sản thì lấy ai đánh Pháp, đuổi Mỹ để lấy lại đất tổ trong tay ngoại bang, không có cộng sản Việt Nam thì lấy ai giữ vững chủ quyền khi mà các ngươi đã từng hiến miền Nam Việt Nam cho Mỹ, làm mất rất nhiều đảo vào tay Campuchia, Đài Loan, Malaysia ở Trường Sa và vùng biển phía Nam, và mất cả quần đảo Hoàng Sa 1974; những đảo đó, nếu lấy lại được thì chắc chắn cũng chỉ có những người cộng sản Việt Nam mới đủ tư cách và trí tuệ, hào khí để lấy lại trong tương lai. 

Những kẻ 48 năm quan vẫn chống phá quê hương đất nước, vẫn hận thù, hằn học với sự phát triển của đất nước mới là giống vô loài (tất nhiên chỉ là thiểu số). Dân tộc Việt Nam đoàn kết dưới ánh sáng của ngọn đuốc vĩnh cửu do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, soi đường; quốc dân đồng bào ta vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh. Chúng tôi vẫn nắm tay nhau sánh bước tiến lên, mặc cho đàn chó bên đường vẫn sủa những tiếng thất thanh./.
Yêu nước ST.

THƯỢNG TÁ NGUYỄN ĐỨC VINH - KẺ ĂN CƠM NHÀ NƯỚC NHƯNG THỜ HỒN MA NGỤY TẶC!

     Đây là những bài viết của Nhà báo Nguyễn Hồng Lam, (tên thật là Nguyễn Đức Vinh, hiện đang là Thượng tá, Phó trưởng Cơ quan đại diện Cục Truyền thông Công an nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh). Nhân dịp kỷ niệm 48 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Thượng tá Công an lên bài với nội dung
 bài viết có nhan đề "CHÍNH TRỊ". Khốn nạn ở chỗ, bài viết của Vinh bóng gió ca ngợi ngụy Sài Gòn và chê bai hiện thực chế độ hiện nay là tồi tệ! Không dừng lại ở đó, những bài Vinh viết chủ yếu có nội dung xuyên tạc lịch sử, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc như ủng hộ Nguyên Ngọc, kẻ trở cờ, phản quốc hay thường xuyên liên lạc, kết bạn với Nguyễn Xuân Diện, Trương Huy San...

Một người đã được đào tạo, ăn học bài bản há không thể hiểu được bản chất của chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn? Chế độ được người Mỹ dựng nên để phục vụ cho mục đích biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơ Ne Vơ năm 1954? Há không hiểu được những đau thương, tang tóc mà hàng triệu người Việt Nam phải gánh chịu dưới chế độ Mỹ ngụy? Ai bách hại nhân dân hay chính bản thân Nguyễn Đức Vinh, kẻ mang hàm Thượng tá Công an nhân dân nhưng lại cố súy cho giặc, những kẻ khát máu, sát hại nhân dân cùng chủng, cùng tộc trước 1975 chỉ vì lợi ích riêng? Nếu chế độ này tồi tệ đến mức như Nguyễn Đức Vinh nói thì liệu có được cơ đồ, vị thế, uy tín trên trường quốc tế như bây giờ. Cái tồi tệ nhất chính là những người đã đề bạt, bổ nhiệm Vinh leo lên đến chức Phó trưởng Cơ quan đại diện Cục Truyền thông Công an nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sâu mọt cần phải được khử bằng thuốc trừ sâu hạng nặng, gạn đục khơi trong. Nguyễn Đức Vinh cần thiết phải được xử lý theo quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật nhà nước, cụ thể:

- Điều lệ Đảng.

- Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

- Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm.

- Điều 331 Bộ luật Hình sự
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có khung hình phạt như sau:

- Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Đề nghị cơ quan chức năng xử lý kẻ ăn cơm cộng sản thờ ma 3/ này. Tổ chức các cơ quan từ Trung ương đến địa phương cũng cần nghiêm túc thực hiện các quy định của Đảng. Đừng để ngụy con chui sâu, léo cao, ảnh hưởng đến đất nước, chế độ./.





Yêu nước ST.

ĐÔI LỜI SAU Ý KIẾN CỦA ĐẠI BIỂU LÊ THANH VÂN LIÊN QUAN ĐẾN NGÀNH ĐIỆN!

     Trong cuộc phỏng vấn ngày 06/6/2023 của phóng viên VOV.VN với ĐBQH Lê Thanh Vân, Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau liên quan đến Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN, có rất nhiều nội dung trao đổi, ý kiến kiến nghị, thể hiện tâm huyết của vị Đại biểu của nhân dân liên quan đến vấn đề mà cử tri đặc biệt quan tâm, trong hoàn cảnh thiếu điện, phải cắt điện luân phiên gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Qua câu chuyện này, xin có đôi lời như sau:

Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân cho rằng: “Cần thanh tra đặc biệt, kiểm toán đặc biệt, điều tra đặc biệt đối với toàn bộ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của EVN trong giai đoạn 10 năm gần đây, đặc biệt là việc thường xuyên báo lỗ, trong khi các công ty thành viên báo lãi…”. Về ý kiến này, đại đa số nhân dân và cử tri hết sức đồng tình, ủng hộ ý kiến của Ông Vân. Cần thanh tra đặc biệt, kiểm toán đặc biệt, điều tra đặc biệt đối với toàn bộ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của EVN nhằm công khai, minh bạch cho nhân dân. Không để tình trạng đoán gì, đoán non gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước; đồng thời qua thanh tra, kiểm tra phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật, nếu có sai phạm hoặc trả lại sự thanh bạch cho EVN nếu họ làm đúng, vị quốc dân. 

Trên cơ sở đó, Đại biểu Vân kiến nghị: "Đề nghị Thủ tướng Chính phủ sớm quyết định cổ phần hóa các nhà máy điện hiện nay do EVN đang hạch toán phụ thuộc, để lấy tiền đầu tư cho hệ thống đường dây truyền tải, nhằm giảm áp lực về truyền tải. Tôi cùng đề nghị Chính phủ sớm thực hiện lộ trình xã hội hóa đối với ngành điện, để chấm dứt tình trạng độc quyền như hiện nay, bởi độc quyền sẽ dẫn đến nguy cơ lộng hành giá cả và thao túng thị trường điện". 

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là một trong những thiết chế kinh tế trụ cột, có sứ mệnh bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trong đó có cả việc bảo đảm cung cấp điện sản xuất, cho quản lý và cho sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng thiếu điện và cắt điện sinh hoạt của người dân xuất hiện nhiều nơi trong cả nước, đặc biệt là miền Bắc các nhà máy sản xuất điện phải giảm sản xuất điện, cắt điện luân phiên. Đặc biệt, việc cắt điện sinh hoạt của người dân trong những thời điểm thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng với nhiệt độ tăng cao khiến tâm lý người dân hoang mang và phản ứng có phần tiêu cực đối với EVN nói riêng và nhà nước nói chung. 

Rất hiểu và thông cảm cho người dân, doanh nghiệp khi họ phải đối mặt với khó khăn, thách thức to lớn này; trong khi đó, nguồn năng lượng tái tại, điện năng lượng mặt trời, điện gió lại chỉ được hòa lưới điện quốc gia khoảng 26% và chúng ta phải đi mua điện của Lào, Trung Quốc, trong khi nguồn cung trong nước vẫn đắp chiếu. Điều này khẳng định rằng nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân của EVN chưa đạt kỳ vọng mà nhân dân. Người dân có quyền đặt câu hỏi, đó là nguyện vọng hết sức chính đáng. 

Thế nhưng chúng ta cần hết sức bình tĩnh, cổ phần hóa ngành điện thì hậu quả sẽ không lường. Điện là một trong những trụ cột, xương sống đối với kinh tế, an ninh quốc gia...cổ phần hóa hết sẽ rất nguy hiểm. Cổ phần hết chắc chắn doanh nghiệp nước ngoài nhảy vào dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, các doanh nghiệp bắt tay thao túng thị trường, khi đó lại kêu khóc nhà nước. Đó là chưa nói đến an ninh quốc gia...Thực tế thì giá điện ở Việt Nam thấp so với bình quân thế giới, sở dĩ có điều đó là do "bàn tay hữu hình", nhà nước trợ giá. Sẽ như thế nào nếu “xã hội hóa ngành điện”, mạnh ai nấy làm? kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu (sở hữu Nhà nước) về tư liệu sản xuất, là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất. Thành phần kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn bao hàm sức mạnh kinh tế đứng đằng sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Nó bao hàm khả năng tổ chức và hoạch định chính sách đúng đắn của Nhà nước, sự gắn kết hợp lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài chính nhà nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Với sức mạnh kinh tế tổng hợp đó, thành phần kinh tế nhà nước có khả năng tạo ra các điều kiện vật chất và các tiền đề kinh tế-xã hội để phát triển tất cả các thành phần kinh tế. 

Kinh tế nhà nước, trong đó điện là xương sống, là trụ cột, là tiền đề để đưa đất nước phát triển toàn diện; đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế bằng cách giữ vị trí then chốt, yết hầu, và xương sống của nó, do đó có khả năng chi phối, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ và liên kết các thành phần kinh tế khác để bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Nó còn đảm nhận các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân. Vì thế nếu xã hội hóa ngành điện sẽ gây áp lực cực kỳ lớn, thiệt thòi cho doanh nghiệp, nhân dân, đặc biệt là người nghèo khi mà con dao được tư nhân, doanh nghiệp thao túng, cầm đằng cán. Kinh tế nhà nước, trong đó có điện đóng vai trò chủ đạo đúng đắn và cần thiết trên cả ba khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước có thể định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Chúng ta cần bình tĩnh, nghe bằng hai tai, nhìn bằng hai mắt và dùng lý trí để tư duy đa chiều và nhìn nhận vấn đề khách quan. Ngành điện cần phải được thanh tra, kiểm tra thường xuyên để chấn chỉnh, xử lý những sai phạm, khắc phục hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực quản. Đất nước càng phát triển thì nhu cầu về điện càng tăng cao, cần có giải pháp tăng nguồn cung, bảo đảm giá ổn định phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng. Tính toán đến việc sử dụng điện tái tạo, năng lượng mặt trời, điện gió và cả chuyện xây dựng nhà máy điện hạt nhân cho tương lai, không để đất nước đình trệ do thiếu điện… Tuy nhiên, xã hội hóa ngành điện là không nên./.
Yêu nước ST.

“THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA…”!

     Qua gần 40 năm đổi mới, chúng ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như ngày nay nhờ nhiều nhân tố, trong đó có Thi đua yêu nước. Thời gian lùi xa càng tỏ rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về Thi đua yêu nước vẹn nguyên một tài sản tinh thần vô giá, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Quan điểm phương pháp luận có tính nguyên tắc trong học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về Thi đua yêu nước là học tinh thần xử trí mọi việc; học lập trường, quan điểm có tính nguyên tắc; nắm vững tư duy, phương pháp biện chứng; học gắn với hành, trong học có hành, trong hành có học, vừa kiên định vừa đổi mới, sáng tạo.

Thứ nhất, những người thi đua là những người yêu nước nhất. Đại hội XIII nhấn mạnh khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc. Có nhiều cách để khơi dậy tinh thần yêu nước nhưng hàng đầu, như sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn phải bằng thi đua yêu nước. 

Thi đua yêu nước cần được hiểu thi đua về lòng yêu nước và thi đua là yêu nước. Thi đua về lòng yêu nước tức là không phải nói về lòng yêu nước mà phải hành động để tỏ rõ lòng yêu nước. Phải bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hằng ngày, suốt đời, việc lớn việc nhỏ. Mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, bộ đội, công an nhân dân, thế hệ trẻ, người cao tuổi, cựu chiến binh, phụ nữ tự khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước qua việc làm cụ thể của mình. Với tinh thần cống hiến, trách nhiệm, làm việc năng suất, chất lượng, hiệu quả để biến “mười ngón tay vót chông” thành “mười ngón tay lướt nhanh trên bàn phím” như một cách nói hình ảnh để thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là yêu nước, là thi đua. Đó là hình ảnh sống động của một đất nước thi đua trong tình hình mới.

Nói yêu nước mà “trùm chăn” không làm gì, làm hời hợt, qua loa, đại khái, làm cho có chuyện, cầm chừng, phòng thủ, che chắn, sợ trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, vô trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm…, thì dù có nói bao nhiêu, sâu sắc đến mấy cũng không thể gọi là người yêu nước. Nếu là cán bộ thì họ là những người có tội với Tổ quốc và nhân dân. Vì cán bộ là công bộc của dân, có trách nhiệm phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Không làm việc thì không xứng đáng là đày tớ trung thành của dân. Người yêu nước thì phải làm việc với tinh thần thi đua. Trong công việc và quá trình làm việc chính là vun bồi lòng yêu nước. Năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc chính là thước đo lòng yêu nước, và yêu nước chính là làm cho năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao hơn, tốt hơn, chất lượng hơn.

Thứ hai, thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ vẹn nguyên giá trị trong tình hình hiện nay. Nói đến thi đua là để có nhiều sản phẩm, càng nhiều càng tốt. Nhiều mà lâu thì không ổn, mà phải nhanh. Muốn nhanh thì phải sáng tạo, đổi mới tư duy kịp xu thế cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chống bảo thủ, trì trệ. Nhiều, nhanh mà chất lượng kém thì không có ý nghĩa gì. Chất lượng luôn là tiêu chí hàng đầu, cơ bản, lâu dài, chứa đựng giá trị đạo đức trong lao động sản xuất. Nhiều, nhanh, tốt đi liền với rẻ. Muốn vậy phải tăng năng suất, chú trọng khoa học công nghệ, tinh thần trách nhiệm, ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, chống bệnh thành tích. Với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm chủ của nhân dân, chúng ta tin tưởng phong trào thi đua nhiều, nhanh, tốt, rẻ thực hiện được và phải thực hiện được. Nếu một trong bốn điều đó chưa đạt được, đồng nghĩa với phong trào thi đua chưa thật vẻ vang, chưa mang lại ích nước, lợi dân.

Thi đua tăng cường đoàn kết, đoàn kết đẩy mạnh thi đua đang soi sáng nhiệm vụ củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Lời dạy của Bác: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” chứa đựng nội hàm về chính trị, đạo đức, văn hóa; là một động lực đẩy mạnh thi đua. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thi đua gắn với đoàn kết được hiểu thi đua tinh thần đoàn kết gắn với thi đua tăng cường đoàn kết và chính đoàn kết lại đẩy mạnh thi đua. Thi đua là hoạt động của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, công an, bộ đội, v.v.. Cả nước thi đua vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, nhân dân hạnh phúc. Mục tiêu cao cả đó chính là sợi dây bền chặt kết nối cả hệ thống chính trị. Đảng, Chính phủ, nhân dân, doanh nghiệp, các giai cấp, tầng lớp dựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, kết thành một khối mới thực hiện được khát vọng của Đảng và dân tộc. Phát huy, tăng cường đoàn kết chính là thi đua, là đẩy mạnh thi đua để thành công ngày càng lớn hơn.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua tỏ rõ khí thế cả nước làm việc, cả nước đoàn kết và thúc đẩy đoàn kết. Khơi dậy một tinh thần, khí thế thi đua làm việc mới để giành lấy danh hiệu lao động xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay là hoàn toàn có thể và rất cần thiết. Trong chống Mỹ, cứu nước, những ngọn cờ, phong trào Duyên hải, Đại phong, Ba nhất, Mỗi người làm việc bằng hai, để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt, Dạy tốt, học tốt, Ba sẵn sàng, Ba đảm đang có ý nghĩa và tác dụng to lớn, thiết thực phải được hiện hữu một cách sống động trong tình hình hiện nay với những cách làm mới, sáng tạo khi đất nước đã đi chặng đường gần 40 năm đổi mới. Đoàn kết không phải ở lời nói mà phải thể hiện trong công việc, bằng công việc và chính thi đua làm việc lại thúc đẩy và tăng cường đoàn kết.

Thứ ba, thi đua cải tạo con người, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có ý nghĩa, giá trị lớn, quyết định trong công tác xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới Đảng hiện nay, liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Thi đua rèn tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là cách thức cải tạo con người tốt nhất. Con người không bao giờ hoàn thiện, luôn có tốt, xấu trong lòng. Cái xấu rất dễ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một trong những phương cách tốt nhất để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống tha hóa quyền lực là mỗi cán bộ, đảng viên tự suy xét bản thân, tự ý thức, tự biết mình, tự soi để trở thành một con người đặc biệt nhân bản, lý tính, có óc phê phán, dấn thân một cách đạo lý. Đó chính quá trình tự mình “thi đua”, tự sửa, vun bồi cái tốt, triệt tiêu cái xấu, vượt lên chính bản thân mình, tạo thành một công trình mới sáng tạo. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, đứng đầu muốn tận tâm, tận lực phục vụ nhân, Tổ quốc thì trước hết phải biết tận tụy làm người chân chính. Phải tự “thi đua” để xây cái thiện, chống cái ác, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Ý nghĩa của thi đua cải tạo con người còn ở chỗ mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn luôn đem phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh, phong cách để cống hiến cao nhất, hiệu quả nhất cho Tổ quốc và nhân dân. Đó là quá trình cán bộ, đảng viên phải tin dân, trọng dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân, gần dân, bám sát thực tiễn, học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân mới làm được thầy học dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.6, tr432). Cán bộ, đảng viên là gốc của mọi công việc; công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cán bộ đều có nhiều hay ít, to hoặc nhỏ quyền hành. Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, của Đảng. Có quyền mà không có đạo đức, thiếu lương tâm, không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Thi đua không phải vì danh, lợi, anh hùng cá nhân, mà để tỏ rõ mình là những người tiên phong trong lao động sản xuất, lãnh đạo, quản lý. Trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua đồng nghĩa với sự gương mẫu về đạo đức cách mạng, biết đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Chiến sĩ thi đua là người tận tâm tận lực phục vụ nhân dân, chỉ biết còn Đảng là còn mình, chú trọng lương tâm, coi danh dự là điều thiêng liêng, quý giá nhất; không dính líu gì tới vòng danh lợi. Anh hùng chiến sĩ thi đua là những người tận trung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Họ là những người luôn suy nghĩ và hành động với tinh thần “Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên”. Cán bộ, đảng viên phải là những người thi đua nhất vì họ là những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội nhất. Cán bộ, đảng viên, người đứng đầu thi đua là những người phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.187).

Tình hình thế giới và trong nước ngày ngày thay đổi. Vì vậy phải tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, học và làm theo những chỉ dẫn của Người là một trong những giải pháp tốt nhất để thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên./.




Yêu nước ST.