Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 Theo chương trình Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, chiều 9/6, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Tổ về dự án Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

Tăng cường quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự:
Dự án Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự gồm 6 chương, 34 điều, quy định về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; chế độ, chính sách; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân liên quan đến hoạt động quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự...
Việc xây dựng Luật nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình mới; tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; xây dựng chính sách hỗ trợ, ưu tiên các chương trình đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội đối với địa phương, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn bị ảnh hưởng lớn về phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế đầu tư nước ngoài; chính sách đối với các khu vực bị hạn chế về quyền sử dụng đất và các quyền, lợi ích hợp pháp khác do yêu cầu quản lý, bảo vệ, bảo đảm an toàn cho công trình quốc phòng và khu quân sự; thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Nội dung dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở 4 nhóm chính sách đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 50/2022/QH15 ngày 13/6/2022 và chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 28/2/2022, gồm: Chính sách về hoàn thiện quy định về xác định phạm vi bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự và nội dung quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; chế độ quản lý, bảo vệ đối với khu vực cấm, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn, vành đai an toàn kho đạn dược, hành lang an toàn kỹ thuật hệ thống anten quân sự của các công trình quốc phòng và khu quân sự; chuyển đổi mục đích sử dụng, phá dỡ, di dời công trình quốc phòng và khu quân sự; chính sách đối với địa phương, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn, khu vực bị ảnh hưởng do yêu cầu của công tác quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự...
Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật:
iết ban hành Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự như đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ. Nhiều ý kiến cũng cho rằng, sau 28 năm thực hiện, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập. Thời gian qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, trong đó, có nhiều nội dung liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự. Do đó, nhiều nội dung quy định không còn phù hợp, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.
Phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, việc nâng Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự năm 1994 lên thành luật là cần thiết. Đối với dự án Luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến, Bộ Quốc phòng cũng đã tiếp thu nhiều nội dung. Đến nay, các nội dung của dự thảo Luật đã cơ bản đảm bảo phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phù hợp với Hiến pháp và thống nhất với các Luật có liên quan như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Lưu ý đây là một dự án Luật khó, một số nội dung quy định còn chung chung, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Ban soạn thảo cần rà soát và quy định cụ thể hơn để đảm bảo tính khả thi, nhất là nội dung liên quan đến phân loại, phân nhóm công trình quốc phòng và khu quân sự.
Thảo luận tại tổ, đại biểu Nguyễn Văn Thuận (Ninh Thuận) nêu vấn đề: Hiện nay nhiều điểm đất quốc phòng chưa có quyết định vị trí, trong đó chủ yếu là các điểm đất lô cốt cũ, hầm cáp thông tin, các điểm mốc, diện tích nhỏ, nằm xen kẹp trong các khu dân cư. Như vậy, trên thực tế đang có nhiều công trình quốc phòng và khu quân sự nằm đan xen trong các khu dân cư, đô thị, khu công nghiệp..., trong đó có những công trình do lịch sử để lại hoặc trước đó hoàn toàn không vi phạm pháp luật về xây dựng, đất đai, quy hoạch... Từ thực tế trên, đại biểu Nguyễn Văn Thuận đề nghị Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ với các địa phương, rà soát, phân loại thật kỹ các công trình quốc phòng và khu quân sự xen kẽ trong khu dân cư, đô thị du lịch và khu công nghiệp để có những quy định phù hợp với thực tiễn./.
Theo TTXVN

Tìm hiểu nguyên nhân tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay

 TCCSĐT - Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém kéo dài của công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng nêu một cách chung nhất nguyên nhân của tình trạng này.

           Một làkhách quan “do việc thực hiện đổi mới kinh tế phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, chưa lường hết được những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, chưa có sự chuẩn bị thật kỹ về lập trường, tư tưởng và cả cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn ngừa những vi phạm.

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước, đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển. Trong khi đó, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Hai là, chủ quan, do “Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ. Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao”.

Bài viết này cụ thể hơn để làm rõ thực chất nguyên nhân của tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.

1. Về yếu tố khách quan, theo chúng tôi, có 4 tác động chính sau đây:

Một là, sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thế giới và quá trình toàn cầu hóa tác động một cách dữ dội đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hơn 70 năm với sự hình thành, phát triển và những thành tựu của chủ nghĩa xã hội do Liên Xô mở đường, dẫn đầu đã tạo được nhận thức trong cán bộ, đảng viên rằng: “Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gấp triệu lần dân chủ tư sản”; “Chủ nghĩa xã hội quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người”; “Chủ nghĩa xã hội là đích đến của tất cả các quốc gia, dân tộc”; “Liên Xô là thành trì của chủ nghĩa xã hội”;... Nay  chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu tan rã, hệ thống xã hội hiện thực thế giới khủng hoảng. Trong khi đó, lợi dụng thành tựu khoa học, công nghệ, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh ngay trong những thuộc tính vốn có của nó nên đã tạo được những thay đổi đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ. Sự cân bằng tương đối giữa hai hệ thống xã hội đối lập: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu, lâu nay vẫn gọi là thế giới hai cực, nay được thay thế bằng sự độc tôn lộng hành của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc mà ta gọi là thế giới một cực do Mỹ đứng đầu.

 Trong khi đó, các thế lực chính trị thù địch với chủ nghĩa xã hội coi đây là cơ hội để chúng tiếp tục tấn công mạnh mẽ hơn vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Chiến dịch “diễn biến hòa bình” của chúng được tập trung vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại với nhiều thủ đoạn quỷ quyệt. Mặt khác, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa phải đối mặt với quá nhiều vấn đề mới, khó, phức tạp cả lý luận lẫn thực tiễn cần có lời giải, trong khi những vấp váp, sai lầm vẫn diễn ra...

Giữa lúc này, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ tạo thời cơ và cả thách thức, nhất là sự cạnh tranh quyết liệt nhưng lợi thế so sánh không thuộc về chúng ta. Toàn cầu hóa cũng là cơ hội thuận lợi để các thế lực thù địch du nhập và áp đặt tất cả những gì có thể làm phân rã mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội từ sức mạnh kinh tế thông qua đầu tư, tự do chính trị, phản văn hóa thông qua công nghệ thông tin, học sinh du học, thăm quan, du lịch... Vì thế nhiều người có tâm lý sùng bái tư bản.

Thực tế này đã làm cho nhiều người hoang mang, dao động, mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin về tương lai và những giá trị của chủ nghĩa xã hội, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ” quay lại công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội... Đó là tiền đề trước hết dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.

Hai là, tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường như việc chạy theo lợi ích, lợi nhuận; sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng bất công xã hội, gian lận thương mại, chủ nghĩa cá nhân… chưa có giải pháp khắc phục tích cực, trong khi có những mặt trở nên nghiêm trọng. Tình trạng yếu kém trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, xã hội; tệ quan liêu, tham nhũng, hối lộ, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một số cán bộ có chức, có quyền… chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tất cả đã tác động tạo nên sự hoài nghi, dao động và cả tiêu cực trong tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên.

Ba là, tác động từ các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ ta trong cơ chế mới, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Đảng, tha hóa, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ… Mặt khác, chúng dùng tất cả các phương tiện truyền thông, trong đó đặc biệt là Internet xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ Đảng, các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo… Mục tiêu là chia rẽ nội bộ ta, giảm lòng tin của dân đối với Đảng, lôi kéo để chuyển hóa tư tưởng chính trị trong cán bộ, trong lớp trẻ, giữa lớp trẻ với thế hệ cha anh… hòng gây rối loạn về chính trị, hình thành những xu hướng chính trị, xã hội đối kháng, thực hiện âm mưu đa nguyên chính trị, gây hoang mang trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để thực hiện “tự diễn biến” từ bên trong.

Bốn là, tác động từ cơ sở, tâm lý của xã hội tiểu nông truyền thống đã ăn sâu hàng ngàn đời nay trong cộng đồng cư dân Việt Nam. Đội ngũ cán bộ phần đông sinh ra, lớn lên trong di sản kinh tế, tâm lý, tinh thần truyền thống đó. Do vậy, không ít người nặng tính cục bộ địa phương; tự do, tùy tiện, không theo các quy định chung; chủ nghĩa cá nhân, tư lợi; tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nặng thói gia trưởng, bảo thủ, hạn chế tính sáng tạo, thiên về cảm tính, tư duy lý luận chưa phát triển… nên dễ xem thường tri thức khoa học, lý luận… Vì vậy, khi gặp những vấn đề phức tạp dễ lúng túng, dễ hoang mang, dao động, dễ dịch chuyển từ cực nọ sang cực kia… Những người không chịu rèn luyện, tu dưỡng, không dám tự phê bình và phê bình… theo phẩm chất người đảng viên, người cán bộ của Đảng tất dễ bị ngả nghiêng, dao động, mất phương hướng, mất lòng tin, để cho chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy làm họ trượt dài trên con đường tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Đảng, phản bội dân tộc.

2. Về yếu tố chủ quan, đó là những nguyên nhân căn bản dẫn tới tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Yếu tố chủ quan ở đây bao gồm cả tổ chức đảng và bản thân cán bộ, đảng viên, với 5 nguyên nhân chính sau đây:

Thứ nhất, do công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Nhận thức chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên trước hết phải được bắt nguồn từ sự giáo dục, tuyên truyền của Đảng. 26 năm đổi mới, công tác này còn nhiều bất cập, nhất là hàng thập niên đầu Đổi mới có nhiều lúng túng, xáo trộn. Trước hết, về hệ thống nhà trường đào tạo lý luận mở rộng ngày một nhiều; chương trình cũ, nhiều nội dung trùng lặp, chồng chéo, xa thực tế; đội ngũ giáo viên chưa kịp chuyển đổi để thống nhất, nên kiến thức cũ, phương pháp lạc hậu; việc thi cử thì dễ dãi “dong công, phóng điểm”, quản lý văn bằng lỏng lẻo, cộng với  yêu cầu thái quá về bằng cấp đối với các loại cán bộ, dẫn tới tình trạng “chạy bằng”. Vì thế,  nhiều người có thái độ sai lệch trong học lý luận chính trị. Kết quả là ai cũng có “bằng” nhưng cái cần đạt được trong nhận thức lý luận chính trị để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới thì lại rất thấp.

Việc tổ chức học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng sáng tạo, tính thiết thực của nó tới cán bộ, đảng viên để tạo nên sự chuyển biến tích cực, niềm tin trong nhận thức làm cơ sở cho hành động đúng và thống nhất của họ. Trong khi những diễn biễn phức tạp của tình hình thế giới, trong nước đang tác động mạnh tới tư tưởng, tình cảm đạo đức cán bộ, đảng viên nhưng chưa được theo dõi chặt chẽ, dự báo đầy đủ và kịp thời đưa ra những giải pháp đấu tranh mạnh, xử lý đúng. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động thì độc ác, xảo quyệt, thô bạo, công khai nhưng chúng ta chưa tổ chức đấu tranh một cách mạnh mẽ, khoa học, có tổ chức để phản bác lại, giải tỏa kịp thời, đưa ngay cái đúng, khoa học, nhân văn trong chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước vào trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, tạo nên thế giới quan, nhân sinh quan đúng trong họ. Chúng ta đều nhớ, có một quy luật là chỗ nào “ánh sáng” không tới thì “bóng tối” sẽ bao trùm. Nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa dựa trên cơ sở khoa học, cách mạng thì khó có niềm tin vững chắc. Cho nên khi đứng trước sự vật, hiện tượng, vấn đề họ khó thấy được bản chất của nó để có nhận thức đúng, dễ ngộ nhận, và tất yếu hệ lụy là dao động, dễ thoái hóa, biến chất. Đó là cội rễ dẫn tới tiêu cực, sai trái trong hành vi của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

  Thứ hai, do tình trạng lạc hậu của lĩnh vực lý luận chính trị hiện nay. Sự nghiệp đổi mới của Đảng phải bắt đầu tư sự thay đổi quan điểm lý luận đến thực tiễn đời sống. Đây là quá trình vừa tìm tòi, thử nghiệm, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, chưa được nhận thức lý luận làm sáng tỏ. Trong khi thực tiễn đổi mới càng đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề phức tạp đặt ra càng đòi hỏi lý luận giải đáp, cắt nghĩa, dẫn dắt song chưa được đáp ứng. Đảng ta đã nhận thức: “Công tác nghiên cứu lý luận của Đảng chưa ngang tầm với sự phát triển của thực tiễn; chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục nhiều vấn đề quan trọng do thực tiễn đặt ra”; “Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết còn chậm, tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương vẫn là khâu yếu…”(1). Sự lạc hậu của lý luận,  một mặt tạo nên băn khoăn, thắc mắc nhiều vấn đề, sự khác biệt, thiếu thống nhất trong nhận thức, trong hành động; mặt khác lúng túng, không rõ phương cách giải quyết nhiều vấn đề mà Nghị quyết nêu, thực tiễn đặt ra của thời kỳ quá độ, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi các thế lực thù địch ra rả phủ nhận nền tảng lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những tác động ghê gớm đến tư tưởng chính trị, gây tâm trạng hoài nghi về mục tiêu chính trị của Đảng và dân tộc ta.

  Thứ ba, là do nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, quản lý đảng viên bị buông lỏng, chấp hành chưa nghiêm. Tình trạng thiếu chặt chẽ trong quản lý cán bộ, đảng viên; việc kiểm tra, giám sát hoạt động của đảng viên chưa tốt; đấu tranh chống tiêu cực và xử lý vụ việc chưa nghiêm, chưa triệt để; nắm bắt diễn biến tư tưởng cán bộ, đảng viên chậm, thiếu đầy đủ; việc bảo vệ tư tưởng và con người cụ thể trong chống tiêu cực chưa tốt… không phải là cá biệt.

Nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng nhiều nơi bị vi phạm; quy chế dân chủ còn nặng về hình thức, thiếu cơ chế thực tế để thực hiện, ở nhiều nơi, nhiều tổ chức nguyên tắc này bị một số người cơ hội lợi dụng để phục vụ mục đích cá nhân. Công tác cán bộ là “công việc gốc” của Đảng còn nhiều hạn chế, thiếu khách quan, công tâm, thậm chí có tiêu cực. Dân gian đã có vè: “đi nặng thì về nặng, đi nhẹ thì về nhẹ, đi không thì về không”; “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”(2). Tình trạng này góp phần dẫn tới tệ bè phái, cục bộ, thiếu thống nhất trong từng tổ chức đảng; không chọn được đúng người để phân công đúng việc, bỏ sót nhiều người có phẩm chất, năng lực. Vì thế nảy sinh tư tưởng ý thức chấp hành nguyên tắc sinh hoạt đảng kém, thiếu tin tưởng ở công tác cán bộ, thiếu tôn trọng, thiếu niềm tin đối với không ít cán bộ lãnh đạo, kể cả cấp cao; thiếu nhiệt tình tu dưỡng, phấn đấu… Đó cũng là nguyên nhân căn bản tạo nên sự suy thoái tư tưởng chính trị, niềm tin, đạo đức… của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thứ tư, là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối. Họ nặng tính thực dụng, thiếu tu dưỡng rèn luyện thường xuyên nên ý thức giác ngộ, lập trường giai cấp phai nhạt, tư tưởng hưởng thụ, bệnh gia trưởng, hẹp hòi ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy chi phối suy nghĩ và hành vi. Do lười học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, do những yếu kém của công tác này dẫn tới nhận thức, giác ngộ về hệ tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong không ít cán bộ, đảng viên yếu kém. Sự chênh lệch về mức sống giữa nhiều người có chức, có quyền, có tiền và gia đình họ với quảng đại quần chúng nhân dân đang dần trở thành mâu thuẫn đối kháng. Vì thế họ càng xa dân, không được nhân dân ủng hộ trong thực tế… Những biểu hiện, phẩm cách  trên của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết làm cho uy tín của họ giảm sút, nhân dân thiếu niềm tin vào họ… Và hơn hết, nếu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… trong họ (lâu nay ta vẫn nói họ là tinh hoa của cộng đồng) không được ngăn chặn, nó sẽ nhanh chóng lây lan trở thành nếp suy nghĩ, phong cách sống thường nhật của cán bộ, đảng viên và rộng hơn là toàn xã hội. Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Có thể thấy, việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng vừa là biểu hiện, vừa là nguyên nhân của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay.

 Thứ năm, là do những yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Ai cũng thấy rõ tình trạng yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay đều do năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ; do tình trạng pháp luật chưa đủ, chất lượng chưa cao, thi hành chưa nghiêm ở cả người duy trì và người chấp hành pháp luật. Sự yếu kém này làm cho phân hóa thu nhập trong xã hội ngày càng gia tăng; những tiêu cực xã hội không được kiểm soát và xử lý nghiêm minh đã tạo khoảng cách lớn giữa người làm ăn chân chính, lương thiện với những người suy thoái đạo đức làm ăn bất chính, kể cả tham nhũng quyền lực để có được của cải bất chính ngày càng gia tăng, còn là sự khuyến khích người khác không tôn trọng pháp luật, không cần chính trị cao cả, không cần đạo đức mà nghèo, đói… Tiền lương bất hợp lý, thu nhập chênh lệch quá xa giữa các thành phần trong xã hội; tình trạng bất hợp lý trong chế độ cấp đất, cấp nhà, cấp phương tiện làm việc… giữa các cấp cán bộ. Sự chênh lệch thu nhập dẫn tời tình trạng những người thu nhập cao chi phối lối sống trong xã hội làm cho người làm ăn chân chính có thu nhập thấp và những người thu nhập thấp nói chung thiệt thòi, cảm thấy tủi thân, thậm chí bức xúc. Đó cũng là yếu tố kích thích cho sự tha hóa, bất chấp pháp luât… Quản lý ngân sách, tài sản nhà nước yếu kém là môi trường thuận lợi để các tệ nạn xã hội phát triển. Rõ ràng, sự yếu kém trong quản lý nhà nước hiện nay vừa là hậu quả, vừa là nguyên nhân của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trong hai hệ thống nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay được trình bày trên đây thì hệ thống nguyên nhân chủ quan, mà trước hết là công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng hệ thống pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm và sự nỗ lực tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên là những vấn đề hàng đầu cần có giải pháp khắc phục./.

LÃNG PHÍ NIỀM TIN

 Những tồn tại, hạn chế nhiều năm không được khắc phục cùng chiều dài vô tận của "sợi dây rút kinh nghiệm" gây lãng phí niềm tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, những người chắt chiu từng đồng thuế để trả lương cho bộ máy công quyền.

Đó là trăn trở của các đại biểu tại phiên họp mới đây khi Quốc hội thảo luận về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng thực tế cho thấy lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, từ nguồn nhân lực đến ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên, khoáng sản... Đặc biệt, "căn bệnh" đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thái độ thờ ơ, vô cảm, kéo dài thực hiện các thủ tục hành chính gây lãng phí nguồn lực, thời gian, cơ hội thụ hưởng, tiếp cận chính sách của người dân và doanh nghiệp.
Năm 2022, bình quân một ngày có khoảng 400 doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Riêng quý I-2023, lần đầu tiên, số doanh nghiệp đóng cửa đã vượt số doanh nghiệp đăng ký mới. Trước thực tế này, đề cập đến tình trạng lãng phí trong cải cách hành chính tác động lớn đến môi trường đầu tư, kinh doanh, tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV, đại biểu Trần Văn Khải (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam) trăn trở: "Phải chăng, hàng nghìn thủ tục mới phát sinh đã góp phần không nhỏ đẩy hàng trăm nghìn doanh nghiệp đến cảnh khốn cùng như thế? Cử tri đặt câu hỏi, cải cách hành chính chưa hiệu quả gây lãng phí thời gian, cơ hội, nguồn lực cho người dân, doanh nghiệp và đất nước là bao nhiêu?". Chung mạch suy nghĩ ấy, một số đại biểu nêu vấn đề: Ở đây chúng ta không chỉ gây lo lắng về lãng phí mang tính vật chất và tiền bạc, mà nguy hiểm hơn là lãng phí niềm tin!
Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) được thực thi nhiều năm nhưng vẫn chưa thực sự ngăn chặn được tình trạng lãng phí trên nhiều lĩnh vực. Luật đã quy định trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng lãng phí, song thực tế việc xử lý, quy trách nhiệm người đứng đầu là vô cùng khó khăn và chưa phải vấn đề phổ biến.
Đành rằng, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không phải là việc thực hiện trong ngày một ngày hai mà cần làm thường xuyên, song hành với sự vận động của thực tiễn cuộc sống, nhưng những hạn chế trong công tác này chậm được khắc phục, thậm chí một số tồn tại có chiều hướng gia tăng, gây hoang mang, nghi ngại trong nhân dân. Tâm lý sợ sai không dám làm dẫn đến thui chột sự sáng tạo, lãng phí trách nhiệm tồn tại ở cả tập thể và cá nhân là vấn đề nhức nhối thời gian qua, gây thất thoát niềm tin ở nhân dân-những lãng phí vô hình khó định lượng nhưng lại có sức tàn phá, nguy hại khôn lường đối với sự phát triển của đất nước.
Nhân dân ta luôn đặt niềm tin và đồng hành với hệ thống chính trị trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chớ để lãng phí niềm tin của người dân khi con số thực hành tiết kiệm thua xa lãng phí, để lãng phí chồng lãng phí, lãng phí kéo dài, lãng phí chậm khắc phục./.
Báo QĐND

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC

 Ngày 11- 6- 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng mới của toàn dân.

Nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước.
Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.
Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.
Tuy thi đua có tính khách quan như vậy nhưng để có phong trào và đạt được những thành tích cao, không hình thức, lãng phí sức người sức của, không đầu voi đuôi chuột, thì “một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua”, nhưng một mặt nữa phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, “sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện”. Sự thiết thực và toàn diện của lãnh đạo là ở chỗ tính toán đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua theo yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương, đơn vị, cơ quan, được cụ thể hóa cho mọi đối tượng lao động trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, vừa quan tâm lãnh đạo chính trị tư tưởng, không để chủ nghĩa thành tích chi phối, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện kế hoạch thi đua cá nhân và tập thể.
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thuần túy nghiên cứu trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc năm 1948, cũng không chỉ nghiên cứu trong các bài nói bài viết của Người về thi đua yêu nước, mà còn cần phải nghiên cứu hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong quá trình cách mạng Việt Nam do Người và Đảng ta lãnh đạo. Có như thế mới có thể hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.
Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày.
Mục đích của thi đua yêu nước là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai; bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều phải trở nên một người chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cánh mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người chỉ rõ: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cánh mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.
Thi đua, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác, khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bởi nó vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ đi sâu vào cuộc sống, lại vừa sâu sắc, toàn diện và hệ thống. Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.
Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều là việc tốt hơn, nhiều hơn và “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng to lớn, thiết thực động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, công cuộc đổi mới của đất nước đang đứng trước cả những thuận lợi và khó khăn. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng của Người về thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần chú ý một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển điển hình tiên tiến tạo nên phong trào rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở.
Hai là, tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tự lực tự cường, gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… tạo nên sự đồng thuận trong toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phát động các phong trào thi đua.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo ra môi trường lành mạnh, trong sạch để nhân dân yên tâm phấn khởi, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, đồng thời tích cực gắn phong trào thi đua yêu nước với việc phát động toàn dân tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Bốn là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng, thường xuyên đấu tranh phê phán, lên án những hành vi không lành mạnh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
Báo QĐND

XÂY DỰNG PHONG TRÀO THI ĐUA NGÀY CÀNG THIẾT THỰC, TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

 Cách đây đúng 75 năm, vào ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua ái quốc trong cả nước.

Lời kêu gọi Thi đua ái quốc và những bài nói, bài viết của Bác Hồ đã có tác dụng hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hy sinh gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.
Đặc biệt trong những thời khắc cam go, ác liệt của dân tộc, Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Người luôn thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân, biến thành sức mạnh đưa dân tộc ta giành những thắng lợi vẻ vang.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng luôn là nền tảng cho những quan điểm, chỉ đạo, định hướng phong trào thi đua yêu nước trong những năm qua; là cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương về thi đua yêu nước, về công tác thi đua-khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
75 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quán triệt sâu rộng và liên tục vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua yêu nước của Người để triển khai hiệu quả tốt nhiều phong trào thi đua và công tác thi đua-khen thưởng, góp phần đưa đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng trong mọi hoàn cảnh.
Chú trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của các phong trào thi đua và công tác khen thưởng
Chú trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của các phong trào thi đua và công tác khen thưởng
Từ nền tảng tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xây dựng, ban hành kịp thời đường lối, chủ trương và chính sách, pháp luật về thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng. Đáng chú ý, sau 37 năm đổi mới đất nước, nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác thi đua, khen thưởng, về tổ chức các phong trào thi đua đã được ban hành và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đất nước trong tình hình mới, phù hợp nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Gần đây nhất, ngày 15/6/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), trong đó có nhiều quy định mới. Đáng chú ý là quyết tâm đưa phong trào thi đua hướng về cơ sở, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, thiết thực, gắn với lợi ích của người trực tiếp tham gia thi đua, hạn chế tính hình thức trong thi đua.
Chú trọng khen thưởng tập thể ở cơ sở, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ; quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác thi đua, khen thưởng…
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng luôn là nền tảng cho những quan điểm, chỉ đạo, định hướng phong trào thi đua yêu nước trong những năm qua; là cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương về thi đua yêu nước, về công tác thi đua-khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thi đua-khen thưởng còn bộc lộ một số hạn chế, như: nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu về vai trò, tầm quan trọng của công tác thi đua-khen thưởng chưa đầy đủ, dẫn đến hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai phong trào thi đua, công tác khen thưởng của một số địa phương, bộ, ngành chưa thực chất, chưa thật sự sâu sát.
Công tác tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến ở một số nơi không được quan tâm đúng mức; công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá, nhân rộng phong trào chưa được chú trọng; các hoạt động cụm, khối thi đua chưa đồng đều, đơn điệu, chưa được duy trì thường xuyên...
Để các phong trào thi đua, công tác thi đua-khen thưởng ngày càng thực chất, công bằng, các cấp ủy, chính quyền cần mạnh dạn đổi mới từ chủ trương đến cách làm, đưa phong trào thi đua ngày càng lan rộng, chất lượng hơn, thiết thực hơn, trở thành động lực trong đời sống xã hội. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên đẩy mạnh công tác truyền thông, tôn vinh gương người tốt, việc tốt; triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật với tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; hướng thi đua vào các trọng tâm, lấy hiệu quả của công tác thi đua là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức và cá nhân.
Chúng ta phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, đó là đưa công tác thi đua trở thành công việc hằng ngày của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị, địa bàn dân cư. Mọi người không phân biệt ngành nghề, giới tính, thành phần dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, ai cũng hăng hái thi đua, tham gia làm đúng và làm tốt nhiệm vụ của mình. Các phong trào thi đua cần có nội dung, tiêu chí cụ thể, rõ ràng, huy động được sự tham gia và hưởng ứng tích cực của người dân.
Công tác thi đua-khen thưởng phải tiếp tục bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; bám sát thực tiễn cuộc sống để tổ chức thực hiện phù hợp; nâng cao chất lượng, đổi mới hoạt động của hội đồng thi đua-khen thưởng các cấp, phát huy hơn nữa trách nhiệm, vai trò của cơ quan chuyên trách công tác thi đua-khen thưởng trong tham mưu thực hiện công tác. Các địa phương, bộ, ngành cần kịp thời phát hiện những điển hình tiên tiến để tôn vinh, nhân rộng, cũng như phát hiện những bất cập cần điều chỉnh trong công tác thi đua-khen thưởng.
Các cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục kiện toàn bộ máy thi đua, khen thưởng theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đào tạo những người làm công tác thi đua-khen thưởng đủ năng lực, phẩm chất. Một trong những trọng tâm cần thực hiện có hiệu quả tốt là tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện, nhất là những hạn chế, bất cập của các phong trào thi đua hiện nay để có thêm bài học, kinh nghiệm triển khai; qua đó thúc đẩy phong trào ngày càng thực chất, hiệu quả, tránh phô trương, hình thức…
Báo Nhân dân

Hiệu quả thiết thực từ Phong trào xây dựng "Đơn vị quân y 5 tốt" - Bài 2: Nâng tầm công tác quân y trong tình hình mới (tiếp theo và hết)

 

Từ năm 2018 đến nay, việc triển khai thực hiện Phong trào thi đua (PTTĐ) xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” gặp không ít khó khăn do phải đối mặt với những thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là đại dịch Covid-19 và những mặt trái của cơ chế thị trường.

Song, càng trong gian khó, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ ngành quân y càng nêu cao tinh thần đoàn kết, sẵn sàng xung kích nơi tuyến đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; chủ động, sáng tạo, chiếm lĩnh những đỉnh cao y học, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội và nhân dân, làm tròn nghĩa vụ với bạn bè quốc tế...

Phát triển mạnh mẽ ở các tuyến

Thiếu tướng, GS, TS Nguyễn Trường Giang, Cục trưởng Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần) đánh giá: 5 năm qua, PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực mọi mặt công tác của ngành quân y, các tuyến quân y có sự phát triển mạnh mẽ, đồng bộ. Hệ thống bệnh xá từ cấp trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn và tương đương tiếp tục được đầu tư bổ sung trang thiết bị y tế hiện đại, cần thiết, phục vụ chẩn đoán, điều trị cho bộ đội và nhân dân; chất lượng cấp cứu, điều trị tại tuyến quân y đơn vị ngày càng được nâng lên. Quân y tuyến cơ sở đã có thể làm chủ các kỹ thuật theo phân tuyến chuyên môn, trong đó có một số phẫu thuật trung phẫu; đồng thời, làm tốt công tác phát hiện, xử trí các ca cấp cứu phức tạp; các bệnh viện tuyến B đã thực hiện được một số kỹ thuật của tuyến trên.

   Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là trung tâm ghép tạng hàng đầu cả nước. Ảnh: MAI HẰNG 

   Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là trung tâm ghép tạng hàng đầu cả nước. Ảnh: MAI HẰNG 

Tìm hiểu về nội dung này, chúng tôi được Trung tá Vũ Xuân Đình, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân y 24, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) cho biết, những năm gần đây, cấp trên đã đầu tư cho đơn vị nhiều loại trang thiết bị hiện đại, như máy siêu âm màu 3D, giúp bác sĩ phát hiện sớm, điều trị kịp thời nhiều bệnh lý nguy hiểm. Còn Thượng tá Trương Quang Thắng, Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 4 (Quân khu 4) phấn khởi chia sẻ: "Hiện nay, Bệnh viện được đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ; đội ngũ cán bộ, nhân viên được bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên nên đã làm chủ được nhiều kỹ thuật mà trước đây chỉ tuyến Trung ương mới có thể thực hiện. Nhờ đó, tỷ lệ phải chuyển tuyến giảm rất nhiều".

  Bệnh viện Quân y 354 (Tổng cục Hậu cần) được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ khám, chữa bệnh. Ảnh: THẮNG GIÁP 

  Bệnh viện Quân y 354 (Tổng cục Hậu cần) được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ khám, chữa bệnh. Ảnh: THẮNG GIÁP 

Đối với các bệnh viện tuyến cuối của Quân đội, từ năm 2018 đến nay có bước phát triển mạnh mẽ, nhất là những kỹ thuật chuyên sâu như phẫu thuật tạo hình, chỉnh hình, cấy ghép chi thể; đủ khả năng triển khai các kỹ thuật điều trị bệnh lý phức tạp... Đặc biệt, một số bệnh viện đã phát triển những kỹ thuật chuyên sâu, tương đương với trình độ các nước có nền y học tiên tiến trong khu vực. Riêng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 có thể triển khai thực hiện nhiều loại ghép gan phức tạp; đã chuyển giao kỹ thuật ghép gan cho nhiều bệnh viện trong cả nước và phối hợp thực hiện thành công ca ghép gan cho trẻ bị ung thư, lần đầu tiên được tiến hành tại Việt Nam.

Hình ảnh đẹp thầy thuốc quân y

Hiện nay, ngành quân y đang vận hành hiệu quả 10 bệnh viện quân-dân y, 5 trung tâm y tế quân-dân y tại các huyện đảo, 34 bệnh xá quân-dân y và 835 trạm y tế quân-dân y, thực hiện cấp cứu, điều trị cho nhân dân trên khắp mọi miền Tổ quốc. Trên những vùng hải đảo xa xôi như quần đảo Trường Sa, các bệnh xá, trung tâm y tế quân-dân y thực sự là chỗ dựa vững chắc cho bộ đội và ngư dân. Trong 5 năm qua, lực lượng quân y trên quần đảo Trường Sa đã khám, điều trị, cấp thuốc miễn phí cho hơn 700.000 lượt người, cấp cứu cho 232 bệnh nhân nặng.

Trung tá Bùi Đình Khải, Trưởng phòng Quân y, Cục Hậu cần Bộ đội Biên phòng (BĐBP) chia sẻ, lực lượng quân y BĐBP hiện có 125 phòng khám, bệnh xá quân-dân y tại các đồn biên phòng dọc tuyến biên giới, góp phần quan trọng trong việc khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội, nhân dân ở vùng biên và cả người dân nước bạn. Từ năm 2018 đến nay, chỉ riêng trên tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia, BĐBP đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng thêm các trạm xá quân-dân y. 

Người dân cả nước đánh giá rất cao tinh thần xung kích, sẵn sàng xung phong lên tuyến đầu, vào vùng gian khó của đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y, nhất là khi đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Từ năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát trên cả nước, lực lượng quân y đã tham gia cùng toàn quân thành lập 194 cơ sở cách ly phòng dịch và các bệnh viện dã chiến, xét nghiệm, điều trị cho hàng trăm nghìn lượt người dân. Thời điểm dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, hàng nghìn cán bộ, nhân viên, học viên quân y hăng hái lên đường làm nhiệm vụ phòng, chống dịch, làm việc tại những nơi nguy hiểm nhất như bệnh viện dã chiến truyền nhiễm, các tổ quân y cơ động đến từng gia đình xét nghiệm, điều trị, tiêm vaccine ngừa Covid-19 cho nhân dân...

Tại một buổi xuất quân của đoàn cán bộ, học viên Học viện Quân y lên đường vào miền Nam chống dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xúc động phát biểu: “Chúng ta đã đi qua nhiều cuộc trường chinh để giữ gìn đất nước, non sông này. Đây lại là một cuộc trường chinh mới, một cuộc chiến mới... Tôi tự hào có các bác sĩ, các chiến sĩ quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam, các đồng chí có đủ trình độ, năng lực, đủ khả năng để chúng ta chống lại đợt dịch Covid-19 này...”. 

 Cán bộ, học viên Học viện Quân y biểu thị quyết tâm tại lễ xuất quân vào miền Nam chống dịch Covid-19, ngày 21-8-2021. Ảnh: CHIẾN VĂN
 Cán bộ, học viên Học viện Quân y biểu thị quyết tâm tại lễ xuất quân vào miền Nam chống dịch Covid-19, ngày 21-8-2021. Ảnh: CHIẾN VĂN

Có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” giai đoạn 2018-2022 là hết sức quan trọng. Theo Thiếu tướng, GS, TS Nguyễn Trường Giang, thời gian tới, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ ngành quân y tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động sáng tạo, không ngừng phấn đấu nâng cao y đức và trình độ y thuật, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nội dung PTTĐ đề ra, góp phần xây dựng ngành quân y “Mạnh về tổ chức và khả năng cơ động; giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững về chính trị tư tưởng và y đức”, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 Từ năm 2018 đến 2022, ngành quân y có rất nhiều cá nhân được tặng những danh hiệu, phần thưởng cao quý; nhiều tập thể, cá nhân được tặng Cờ thi đua của Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế... Trong “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, ngành quân y có 151 tập thể, cá nhân được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động; 229 tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; hơn 3.000 tập thể, cá nhân được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen...

Hiệu quả thiết thực từ Phong trào xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” - Bài 1: Bảo đảm tốt quân y cho các nhiệm vụ

 

Nhận thức rõ ý nghĩa thiết thực của Phong trào thi đua (PTTĐ) xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nói chung, ngành quân y nói riêng đã tích cực hưởng ứng, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt các nội dung, chỉ tiêu của PTTĐ. Từ đó, chất lượng khám, thu dung, điều trị, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội và nhân dân được nâng lên rõ rệt...

Triển khai đồng bộ, lan tỏa rộng rãi

Theo Đại tá Trần Công Trường, Phó cục trưởng Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần), 5 năm qua, PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” tiếp tục được cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Các đơn vị thường xuyên tuyên truyền, giáo dục về PTTĐ tới mọi cán bộ, chiến sĩ, tạo được sự thống nhất về nhận thức, xây dựng động cơ, ý thức trách nhiệm, quyết tâm thực hiện PTTĐ. Đặc biệt, PTTĐ nhận được sự hưởng ứng, đồng thuận rất cao của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành quân y, từ đó nêu cao trách nhiệm, triển khai thực hiện đầy đủ, sáng tạo các nội dung “5 tốt” mà ngành phát động, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân.

Cùng các đoàn công tác của Cục Quân y đi khảo sát, kiểm tra ở một số đơn vị, chúng tôi nhận thấy, PTTĐ được duy trì có nền nếp. Để nâng cao hiệu quả của phong trào, các đơn vị đều lồng ghép PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” với PTTĐ "Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy", PTTĐ Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động khác. 

Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, nhiều đơn vị đã xây dựng các mô hình, cách làm hiệu quả, nhân rộng điển hình tiên tiến, qua đó thúc đẩy PTTĐ phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, hoàn thành 5 nội dung PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt” đề ra, gồm: Thi đua trong phục vụ sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), huấn luyện, xây dựng đơn vị tốt; xây dựng nếp sống vệ sinh khoa học, bảo đảm quân số khỏe tốt; quản lý sức khỏe và cấp cứu, điều trị tốt; kết hợp giữa y dược học hiện đại với y dược học cổ truyền tốt; thi đua trong quản lý và sử dụng thuốc, trang bị y tế tốt.

 Bác sĩ quân y Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 5G hướng dẫn bệnh nhân Covid-19 bài tập hồi phục chức năng. Ảnh chụp tháng 9-2021. Ảnh: ĐĂNG DUY
 Bác sĩ quân y Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 5G hướng dẫn bệnh nhân Covid-19 bài tập hồi phục chức năng. Ảnh chụp tháng 9-2021. Ảnh: ĐĂNG DUY

 

Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm quân y

Theo Thiếu tướng, GS, TS Nguyễn Trường Giang, Cục trưởng Cục Quân y, qua thực hiện PTTĐ, quân y các đơn vị đã thường xuyên, chủ động nắm chắc tình hình, kiện toàn hệ thống văn kiện SSCĐ và phương án xử lý các tình huống đột xuất, phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị. Ngành quân y đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham gia diễn tập và bảo đảm diễn tập ở các cấp, tiêu biểu như tham gia luyện tập chỉ huy-tham mưu cơ quan chiến lược năm 2018; triển khai bệnh viện dã chiến tham gia các cuộc diễn tập chung, trong đó có diễn tập chung cứu trợ thảm họa, dịch bệnh khu vực biên giới Việt Nam-Trung Quốc; diễn tập tác chiến chiến lược trên một số hướng chiến trường miền... góp phần bồi dưỡng, rèn luyện năng lực chỉ huy, hiệp đồng, tổ chức cơ động, thực hiện nhiệm vụ dã ngoại.

5 năm qua, ngành quân y thường xuyên rà soát, dự trữ vật chất quân y SSCĐ theo Chỉ thị số 15/CT-TM của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và hướng dẫn của Cục Quân y bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn; tổ chức bảo đảm, trang bị lần đầu đầy đủ các cơ số vật tư quân y theo chỉ thị, chỉ lệnh của cấp trên. Đến nay, Cục Quân y đã nghiên cứu, phối hợp sản xuất, đóng mới hơn 20 loại cơ số, tập trung trang bị cho các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo; xây dựng danh mục và bảo đảm thuốc, trang bị cho tàu ngầm; trang bị hệ thống khám, chữa bệnh từ xa cho lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng...

Trung tá Dương Văn Hải, Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 367 (Quân chủng Phòng không-Không quân) chia sẻ: “Những năm gần đây, tình hình dịch bệnh trên địa bàn đơn vị đóng quân diễn biến phức tạp, trong khi các đơn vị của Sư đoàn đóng quân phân tán, cường độ hoạt động của bộ đội cao. Thực hiện PTTĐ xây dựng “Đơn vị quân y 5 tốt”, ngành quân y Sư đoàn luôn bám sát thực tiễn, huy động hiệu quả các nguồn lực, ưu tiên bảo đảm kịp thời quân y cho các nhiệm vụ SSCĐ, huấn luyện và các nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất của đơn vị. Đặc biệt, cơ quan quân y Sư đoàn đã tập trung điều chỉnh lượng dự trữ vật chất quân y theo đúng chỉ thị của Sư đoàn trưởng; thường xuyên kiện toàn, bổ sung các văn kiện chiến đấu trong các đợt diễn tập theo phương án bảo đảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Tìm hiểu tại Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng, chúng tôi thấy lực lượng quân y của đơn vị luôn duy trì nghiêm các chế độ, nền nếp công tác chuyên môn. Các đồn biên phòng, đơn vị huấn luyện đều tổ chức trồng và phát huy hiệu quả vườn thuốc nam; thường xuyên huấn luyện 5 kỹ thuật cấp cứu, chuyển thương hỏa tuyến, lồng ghép trong chương trình huấn luyện chiến sĩ mới; kịp thời tuyên truyền, phổ biến cho bộ đội và nhân dân trên địa bàn đóng quân các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch bệnh theo mùa, góp phần nâng cao kiến thức, chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng biên giới.

Bên cạnh những kết quả trên, trao đổi với Đại tá Bùi Đức Hải, Phó trưởng phòng Tham mưu kế hoạch (Cục Quân y), chúng tôi được biết, 5 năm qua, các học viện, nhà trường Quân đội đã đào tạo được hơn 7.800 cán bộ, nhân viên quân y về phục vụ tại các đơn vị; đào tạo cho ngành y tế hàng nghìn bác sĩ dân y, nhân viên y tế thôn, bản, các y tá, dược tá phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân trên cả nước. Từ năm 2018 đến nay, Cục Quân y và quân y các đơn vị đã tổ chức hàng trăm lớp tập huấn, đào tạo cho cán bộ, nhân viên quân y; nhiều hội nghị khoa học, hội thi toàn quân được tổ chức để phát huy khả năng nghiên cứu khoa học, sức sáng tạo của quân y các cấp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân...

Từ năm 2018 đến nay, ngành quân y đã triển khai hơn 2.800 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó 43 đề tài cấp quốc gia, 129 đề tài cấp Bộ Quốc phòng. Nhiều cá nhân của ngành quân y vinh dự được nhận giải thưởng Vifotec, hàng trăm công trình của các nhà khoa học trẻ ngành quân y được trao Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội, trong đó có 14 giải nhất. Đặc biệt, năm 2022, Học viện Quân y vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ với vai trò đồng tác giả của Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị bệnh đường hô hấp”.