Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất.

Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:

- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.

- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát, phản biện.

- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.

Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.

Thứ ba, tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.

Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.

Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.

Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.

Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

HAIVAN

Dân chủ ở các nước Đông Á

 


 Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo, tuy nhà Vua nắm quyền tối cao nhưng mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều phải được nhà Vua đem ra bàn luận với bá quan văn võ. Sau quá trònh thảo luận, nhà Vua sẽ là người ra quyết định dựa trên ý kiến của các quan. Đó là cơ chế làm việc tương tự như với các nghị viện trong nền dân chủ hiẹn đại chỉ khác nhau ở chỗ nhà Vua có quyền quyết định tối hậu còn nghị viện ban hành luật pháp dựa trên quan điểm số đông. Ngoài ra còn có ngự sử đài có chức năng hặc tấu tất cả mọi việc nhằm can gián những việc không đúng hoặc chưa tốt của Vua và quan lại. Đây cũng là một định chế là tăng tính dân chủ của bộ máy nhà nước quân chủ Đông Á

Giám sát, phản biện xã hội thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta.

 

Một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.

Giám sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.

Từ khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.

Đại hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân, để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ thể là:

- Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

- Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

- Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.

Trên con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Tuy nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:

- Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.

- Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.

Nhìn chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.

Nguyên nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một nền  dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan, việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.

HAIVAN

Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam

 

Trong thời gian tới, để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nhằm “không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân về vị trí, vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.

Đây là giải pháp tiền đề tạo sự thống nhất nhận thức và hành động để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần. Theo đó, cần “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”. Quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, khắc phục các biểu hiện sai lệch trong nhìn nhận vị trí, vai trò của các tiềm lực, khi tuyệt đối hóa tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự hay tiềm lực khoa học…, mà xem nhẹ tiềm lực chính trị - tinh thần. Quan tâm tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong tổng thể các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, trong kế hoạch và tổ chức thực hiện ở mọi cấp, ngành, lĩnh vực và các địa phương.

Thứ hai, tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.

Đối với hệ tư tưởng, chế độ chính trị: Tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; Chỉ thị số 124-CT/QUTW, ngày 31-3-2011, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng kết hợp với giáo dục quốc phòng - an ninh sâu rộng trong toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội; kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân đội với nhân dân của các thế lực thù địch.

Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII. Chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Đối với đường lối đối nội, đối ngoại: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Nâng cao nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm của nhân dân: Quan tâm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, trọng dụng nhân tài. Giáo dục, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới. Tăng cường đồng thuận xã hội, tạo nền tảng tinh thần vững chắc. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo lập cơ sở vật chất vững chắc của sức mạnh tinh thần Việt Nam. Kết hợp đề cao pháp luật với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đối với giá trị văn hóa tinh thần: Quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 76/KL/TW, ngày 4-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, đoàn kết cộng đồng, tinh thần nhân văn, nhân đạo, khơi dậy khát vọng vươn lên. Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức một cách toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp và lực lượng vũ trang để văn hóa thực sự là động lực, đột phá phát triển các tiềm lực khác trong sức mạnh quân sự quốc gia. 

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam về tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự.

Quân đội là lực lượng nòng cốt, là nhân tố chủ yếu trong sức mạnh quân sự Việt Nam. Để phát huy vai trò nòng cốt, quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại(6). Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Phát huy và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh công tác dân vận; tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, các phong trào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương, nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ổn định cuộc sống, góp phần tăng cường niềm tin, sự đồng thuận của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới theo Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương.

HAIVAN

Dân chủ thời sơ khai

 


Xem xét các nền dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân.

 Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ IV trước CN với cụm từ Dimokratina(trợ giúp thông tin) “quyền lực của nhân dân” được gép từ chữ (demos) “nhân dân” và (kratos) “quyền lực” vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành Bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Athen sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN

 Tương truyền, hình thức nhà nước này được quốc vương Theseus- vị Vua khai quốc của thành Bang atthen- áp dụng lần đầu tiên trng thời kỳ thượng cổ, chính phủ đó được xem như là hệ thống dân chủ đầu tiên. Tại đó, người dân bầu cho mọi việc. Nhiều người xem hệ thống tại Atthen chỉ diễn tả một phần của nền dân chủ vì chỉ có một thiểu số được bầu cử, trong khi nữ giới và dân nô lệ không được phép bầu.

Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.

 

Sức mạnh quân sự quốc gia là tổng thể các lực lượng vật chất, tinh thần của quân đội của một nhà nước và khả năng huy động những lực lượng đó để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ đất nước.

Sức mạnh quân sự quốc gia được tạo ra từ các tiềm lực kinh tế, xã hội, chính trị - tinh thần, khoa học - công nghệ và quân sự. Trong đó, tiềm lực chính trị - tinh thần có vai trò quan trọng, như V.I.Lê-nin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Tiềm lực chính trị - tinh thần được biểu hiện ở hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước; năng lực, trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý của nhân dân và lực lượng vũ trang; hệ thống giá trị văn hóa tinh thần. Tiềm lực chính trị - tinh thần là “linh hồn” và chất keo “kết dính” để huy động và nhân lên sức mạnh của các tiềm lực khác. Lịch sử đã chứng minh, nhờ có hệ tư tưởng đúng đắn, có niềm tin, ý chí quyết tâm, hệ thống giá trị văn hóa tinh thần giàu bản sắc, nhân văn…, nên dù tiềm lực kinh tế chưa mạnh, khoa học - công nghệ chưa phát triển…, Việt Nam đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn rất nhiều.

Nhận thức được vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị, “Về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự của Việt Nam ngày càng được nâng cao, củng cố vững chắc. Các lực lượng vũ trang nhân dân nhận thức đầy đủ, tin tưởng và kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là mục tiêu nhất quán của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là sự thống nhất trong nhận thức, tư tưởng và hành động, tạo nên sự đồng thuận về mặt chính trị - tinh thần trong xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Mỗi người dân tự có ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ”. Bên cạnh đó, “tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng làm giảm sút trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ với đất nước, với cộng đồng. Lợi dụng không gian mạng xã hội, một số cá nhân công khai phê phán, bác bỏ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối chính trị của Đảng, gây chia rẽ về tư tưởng chính trị trong xã hội, suy giảm sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân, lực lượng quân đội trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc nói chung, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nói riêng.

HAIVAN

Quan niệm về dân chủ

 


 

Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Dẻmos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chù trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân.

Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay.

 

Kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”

Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội.

Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội.

Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

HAIVAN

Lời Bác dạy năm xưa

 

“Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được”. 

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, ngày 10-6-1948, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa to lớn, kịp thời động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động hăng say thi đua ái quốc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo tiếp tục xây dựng và nhân rộng các phong trào thi đua ái quốc sôi nổi và mạnh mẽ đang diễn ra trên đất nước ta. Các phong trào "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba Nhất", phong trào "Ba Sẵn Sàng", "Ba Đảm Đang", "Cánh đồng Năm tấn" trên đồng ruộng; phong trào "Trống Bắc Lý", "Dạy tốt, học tốt" trong nhà trường; phong trào "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… đã nhân lên gấp bội sức mạnh của quân và dân ta, trở thành lực lượng vật chất, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, cả nước tiếp tục công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, lời kêu gọi của Bác càng có giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để quân dân cả nước tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thi đua ái quốc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cách mạng Việt Nam giành được những thành quả to lớn hơn nữa.

Trong điều kiện mới, Quân đội nhân dân Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, nhân rộng các mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; coi trọng phát triển các phong trào thi đua của các tổ chức quần chúng, các ngành, tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

HAIVAN

Đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là con đường bất định

 

Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa tư bản (CNTB) và thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, cố tình gieo rắc vào nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân lao động rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

 TCCS - Trong năm qua, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trên địa bàn tỉnh Long An được đẩy mạnh và đổi mới. Cấp ủy các cấp đã kịp thời ngăn ngừa, sửa chữa khuyết điểm, đề ra biện pháp phù hợp giữ gìn và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Xác định đúng vai trò để thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả

Năm 2011 là năm triển khai quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội IX của Đảng bộ tỉnh. Đây là thời điểm các cấp, các ngành của tỉnh Long An tiếp tục tập trung xây dựng các văn bản quan trọng, nhằm cụ thể hóa nghị quyết để xác định lộ trình và bước đi phù hợp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết đã đề ra.

 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An đã xác định đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là góp phần bảo vệ và giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực cầm quyền của Đảng, khắc phục tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,  lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cán bộ, đảng viên. Bám sát các chủ trương trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU, ngày 03-3-2011, nhằm chỉ đạo các cấp ủy xây dựng quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra (UBKT), cũng như ban hành chương trình công tác kiểm tra, giám sát năm 2011 và toàn khóa.

Theo tinh thần đó, cấp ủy các cấp nghiêm túc tổ chức thực hiện hiệu quả Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao; chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy UBKT các cấp, bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng; tạo điều kiện cơ bản về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc để đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tốt nhiệm vụ. Năm 2011, UBKT Tỉnh ủy đã 2 lần tổ chức họp giao ban chuyên đề để rút kinh nghiệm; định kỳ hằng quý, ban thường vụ, thường trực cấp ủy tổ chức nghe UBKT báo cáo kết quả thực hiện công tác để kịp thời định hướng và chấn chỉnh những thiếu sót. Do vậy, việc thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục; giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo có liên quan đến đảng viên và tổ chức đảng; làm tốt việc kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng.

Tiến hành kiểm tra 199 đảng viên và 58 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, qua đó có 173 đảng viên và 24 tổ chức đảng có khuyết điểm; cấp ủy và UBKT các cấp xem xét xử lý kỷ luật 258 đảng viên và 4 tổ chức đảng. Giải quyết 68 trường hợp đảng viên có thư tố cáo và 6 thư khiếu nại kỷ luật của đảng viên. Kiểm tra tài chính cấp ủy cấp dưới 2 tổ chức đảng và kiểm tra 304 tổ chức đảng với 7.676 đảng viên trong việc thu nộp và sử dụng đảng phí, qua đó đã kiến nghị thu hồi số tiền sai phạm hơn 162 triệu đồng. Tiến hành giám sát 924 tổ chức đảng, 851 đảng viên, qua đó kết luận 18 tổ chức đảng và 61 đảng viên có vi phạm. Một số cuộc kiểm tra, giám sát sau khi phát hiện vi phạm đã kịp thời kiểm tra chuyên sâu, xác định rõ đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm để xử lý; việc xử lý vi phạm bảo đảm đúng phương châm, nguyên tắc, thủ tục.

Công tác kiểm tra, giám sát giúp cấp ủy các cấp nhận rõ hơn tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị, kịp thời phát huy những ưu điểm, biểu dương, khen thưởng những việc làm tốt; ngăn ngừa, sửa chữa khuyết điểm, đề ra biện pháp để nâng cao tính hiệu quả trong quá trình lãnh đạo của cấp ủy các cấp; xử lý nghiêm vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; nâng cao trách nhiệm chấp hành Điều 30 của Điều lệ Đảng trong toàn Đảng bộ tỉnh. Những kết quả ấy đã góp phần giữ gìn kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, xây dựng Đảng bộ tỉnh Long An ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, công tác kiểm tra, giám sát năm qua còn không ít hạn chế, khuyết điểm: nhận thức của một số cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát chưa thật sự đầy đủ, nghiêm túc; số cuộc giám sát chuyên đề còn ít, thực hiện còn lúng túng về phương pháp; chưa mạnh dạn tiến hành giám sát đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp; kiểm tra đôi lúc thiếu trọng tâm, trọng điểm. Việc tham mưu cho cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát ở một số địa phương, đơn vị còn chậm, nội dung dàn trải, hiệu quả thấp; thực hiện kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm còn hạn chế; một số nơi chưa xử lý đồng bộ giữa kỷ luật đảng với kỷ luật chính quyền; khắc phục hậu quả sai phạm còn chậm; việc chủ động nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm của cán bộ theo dõi địa bàn còn hạn chế; chế độ thông tin báo cáo có nơi chưa kịp thời. Sự phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng, ban, ngành có liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng có lúc thiếu chặt chẽ. Một số cán bộ làm công tác kiểm tra còn thiếu kinh nghiệm, tính chiến đấu chưa cao, ngại va chạm, trong khi đó cán bộ, đảng viên có liên quan đến đối tượng kiểm tra chưa tự giác tự phê bình và phê bình, còn người thực thi nhiệm vụ lại nể nang, nên khi nêu khuyết điểm chưa tương xứng với tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân, thậm chí đảng viên không dám phê bình khi đối tượng kiểm tra là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt,… làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

1 - Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm túc việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Điều lệ Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy cấp trên, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

2 - Cấp ủy nơi nào nhận thức đầy đủ ý nghĩa tầm quan trọng, coi kiểm tra, giám sát của Đảng là nhiệm vụ, là trách nhiệm thường xuyên của cấp ủy, thì nơi đó công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường và huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Ủy ban Kiểm tra nơi nào chủ động tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy khi tiến hành nhiệm vụ, thì nơi đó công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường.

3 - Khi thực hiện nhiệm vụ, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc, thủ tục, phương châm, thì phải năng động sáng tạo, đổi mới phương pháp, nhạy bén tình hình; vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa có tính quần chúng, làm cho quần chúng tin tưởng, phát huy dân chủ nội bộ, trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân. Biểu dương, khen thưởng kịp thời tổ chức đảng, đảng viên có thành tích xuất sắc; phê bình, xử lý nghiêm minh những địa phương, đơn vị, người đứng đầu có khuyết điểm, vi phạm. Chú trọng rút kinh nghiệm qua hoạt động thực tiễn.

4 - Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tăng cường phối hợp hoạt động với các ngành có liên quan nhất là các ban của cấp ủy, các cơ quan nội chính trong việc xem xét đánh giá kết luận vụ việc; vì thế, cần có quy chế phối hợp do cấp ủy ban hành. Đồng thời, quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy UBKT các cấp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng; nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ khả năng để đảm đương nhiệm vụ.

Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Để làm tốt công tác kiểm tra, giám sát trực tiếp gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, trong thời gian tới Long An tiếp tục:

- Tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cán bộ lãnh đạo chính quyền, tổ chức các đoàn thể chính trị - xã hội.

- Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát; kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ UBKT, cơ quan UBKT các cấp, bảo đảm hoạt động có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả. 

- Các cấp ủy, tổ chức đảng nâng cao hơn nữa tính chủ động, sáng tạo trong công tác kiểm tra, giám sát, lựa chọn đúng, trúng các vấn đề trọng tâm, trọng điểm.

Để đạt được những mục tiêu trên, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, cấp ủy các cấp tiếp tục thực hiện tốt các quy định về kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, nhất là các nội dung đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Thông báo Kết luận số 226 của Ban Bí thư, Kế hoạch số 73 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chỉ thị số 35-CT/TU, ngày 10-9-2009, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.  

Hai là, các cấp ủy tiếp cận và sâu sát cơ sở, khi có đơn tố cáo phải nghiên cứu kỹ, xử lý thông tin kịp thời và khách quan từ phản ánh của nhân dân. Nâng cao trách nhiệm của chi bộ trong quản lý, giáo dục đảng viên và tinh thần tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng, nếu đảng viên vi phạm mà chi bộ không phát hiện kịp thời, hoặc không phát hiện được, thì phải xem xét xử lý trách nhiệm của chi bộ. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, tiến hành theo phương châm “trên phải mạnh để dưới mạnh, trên phải quyết tâm để dưới được tăng cường, dưới chủ động thì trên phải quan tâm giúp đỡ”. Làm tốt phúc tra giám sát việc thực hiện kết luận của cấp ủy và UBKT sau các cuộc kiểm tra, giám sát.

Ba là, các cấp ủy tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc UBKT, chi bộ thuộc phạm vi quản lý theo chương trình, kế hoạch đề ra. Rà soát, bổ sung quy chế làm việc của UBKT các cấp phù hợp với thực tiễn. Làm tốt công tác sơ, tổng kết, biểu dương, khen thưởng gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Bốn là, đẩy mạnh công tác chỉ đạo kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp dưới; kiểm tra, giám sát cấp ủy viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý, trước hết là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội. Thực hiện hiệu quả sự phối hợp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, điều tra, kiểm sát của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Năm là, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao trước yêu cầu mới./.

Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp

 TCCSĐT - Ngày 7-6-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Tạp chí Cộng sản điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn Quy định trên:

- Căn cứ Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XI;

- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Chỉ thị của Bộ Chính trị "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" (Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011),

Ban Bí thư quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như sau :

I- NỘI DUNG NÊU GƯƠNG

Mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

1- Về tư tưởng chính trị

- Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đi đầu trong đấu tranh với những biểu hiện suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

- Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

2- Về đạo đức, lối sống, tác phong

- Thực hiện nghiêm Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và Hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc thực hiện Quy định này.

- Đi đầu trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; sẵn sàng nhận và chịu trách nhiệm khi tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và quyết tâm sửa chữa, khắc phục.

- Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú.

- Kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi.

3- Về tự phê bình, phê bình

- Người đứng đầu phải là tấm gương tự phê bình và phê bình để cấp dưới làm theo.

- Trong tự phê bình và phê bình phải thực sự cầu thị, tự giác, trung thực, chân thành, công tâm, không hữu khuynh, né tránh, chạy theo chủ nghĩa thành tích; khi có khuyết điểm phải nhận khuyết điểm và phải có kế hoạch sửa chữa.

- Có tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau; thẳng thắn đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng phê bình với động cơ xấu.

4- Về quan hệ với nhân dân

- Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với nhân dân và cán bộ dưới quyền.

- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

- Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân.

5- Về trách nhiệm trong công tác

- Nêu cao ý thức trách nhiệm, tận tuỵ với công việc; lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tích cực học tập, nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng có hiệu quả các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong lao động, sản xuất, công tác.

- Chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm.

- Hiểu và thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình; không lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi giải quyết công việc; chống các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy thi đua và các biểu hiện tiêu cực khác.

- Kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, "lợi ích nhóm".

6- Về ý thức tổ chức kỷ luật

- Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

- Gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; đi đầu thực hiện nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, các nội quy, quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

7- Về đoàn kết nội bộ

- Hết lòng chăm lo xây dựng và tăng cường đoàn kết nội bộ; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng trong cơ quan, đơn vị, địa phương; công tâm với cán bộ dưới quyền; hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp để không ngừng tiến bộ.

- Chân thành giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp trong công tác và trong cuộc sống; bảo vệ uy tín, danh dự chính đáng của đồng chí, đồng nghiệp; không tranh công, đổ lỗi, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, khuyết điểm cho người khác.

- Tích cực tham gia xây dựng tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội nơi công tác; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ và trong nhân dân.

II- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm chỉ đạo cụ thể hóa nội dung Quy định này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương và tổ chức thực hiện, định kỳ hằng năm báo cáo kết quả với cấp ủy cấp trên.

2- Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện theo cương vị công tác của mình và báo cáo với chi bộ, cấp ủy nơi công tác để được góp ý, giúp đỡ, giám sát, tạo điều kiện thực hiện. Đây là một trong những căn cứ để đánh giá cán bộ, đảng viên cuối năm.

3- Hằng năm, các cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành đánh giá, sơ kết việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu vào dịp kỷ niệm ngày sinh nhật Bác; phê phán, ngăn ngừa, cảnh báo, xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân không thực hiện nghiêm túc Quy định này.

4- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và các ban đảng Trung ương theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Quy định này, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Quy định này phổ biến đến chi bộ đảng để thực hiện./

  •  
  •  
  •  
  •  

Tập đoàn Viễn thông Quân đội - nền tảng sức mạnh từ công tác đảng

 TCCS - Có thể nói, giai đoạn từ năm 2005 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel). Từ chỗ mới chập chững bước vào thị trường viễn thông, Viettel đã trở thành một tập đoàn viễn thông hàng đầu của quốc gia và đang vươn mạnh ra thị trường quốc tế.  Tổng doanh thu của Viettel năm 2010 đạt 91.561 tỉ đồng.

Nghiêm túc, kỷ luật và dân chủ

Trong giai đoạn 2005 - 2010, doanh thu của Viettel luôn là năm sau gấp đôi năm trước. Quy mô phát triển từ công ty, thành tổng công ty, rồi thành tập đoàn. Từ chỗ là doanh nghiệp "sinh sau, đẻ muộn" bị chèn ép, Viettel đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu thị trường viễn thông Việt Nam.

Bên cạnh những lợi thế nhất định, sự nhạy bén trong chiến lược kinh doanh, nắm bắt thị trường, sức vươn mạnh mẽ của Viettel còn bắt nguồn từ nền tảng vững vàng của công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng của Tập đoàn. Tập đoàn Viễn thông Quân đội vừa là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, vừa là một đơn vị quân đội với nhiệm vụ, cơ chế hoạt động đặc thù. Vì thế, hoạt động của công tác đảng, công tác chính trị của Tập đoàn có những nét riêng biệt.   

Xây dựng Đảng bộ Tập đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng luôn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Ở Viettel, có câu “Ở đâu có hoạt động sản xuất, kinh doanh, ở đó có tổ chức đảng”. Đến nay, 100% số chi nhánh Viettel tỉnh, thành phố đều có tổ chức đảng. Tất cả các hoạt động của công tác đảng, công tác chính trị, trong đó có các nội dung thi đua đều được tiến hành một cách nghiêm túc, thực chất,  phục vụ mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thiếu tướng Dương Văn Tính, Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn cho biết, các buổi quán triệt nghị quyết đều được các đơn vị thực hiện nghiêm túc, kỷ luật. Qua một loạt chuyến công tác đi quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và nghị quyết của Đảng bộ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên, đồng chí nhận thấy, tại đơn vị nào, hội trường cũng chật ních với trên dưới 200 người nghe, có những buổi đã quá giờ nghỉ, nhưng ai cũng tập trung lắng nghe, ghi chép.

Viettel có đặc điểm là hoạt động sản xuất, kinh doanh trải rộng cả trong và ngoài nước, cán bộ công nhân viên (CBCNV) thường xuyên tiếp xúc với vật tư, tài sản có giá trị lớn, bị tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, các nguồn thông tin và các quan điểm chính trị khác nhau. Vì thế, Đảng bộ Tập đoàn đã chăm lo, tổ chức quán triệt giáo dục học tập và thực hiện tốt pháp luật Việt Nam, kỷ luật quân đội, pháp luật của các nước, nơi Viettel đầu tư kinh doanh. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thực hiện đúng quy trình, quy chế, đúng pháp luật, không có vụ việc vi phạm pháp luật, chưa phát hiện dấu hiệu tham nhũng, đơn vị an toàn tuyệt đối về chính trị, tư tưởng.

Công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát của các cấp lãnh đạo và cơ quan chức năng được tăng cường để kịp thời phát hiện những vướng mắc, những lỗ hổng, bất cập trong hệ thống, trong cơ chế chính sách, kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn, chấn chỉnh để bộ máy hoạt động đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ Tập đoàn đã kiểm tra, giám sát được 141 tổ chức đảng, 956 lượt đảng viên. Các đồng chí lãnh đạo trong Đảng ủy Tập đoàn thường xuyên bám, nắm cơ sở để phát hiện các vấn đề. Thiếu tướng Dương Văn Tính, Bí thư Đảng ủy Tập đoàn đặt ra mục tiêu cho mình, trung bình mỗi năm phải thực hiện khoảng 40 chuyến công tác để thăm và kiểm tra các đơn vị cơ sở. Một sức đi thật đáng nể!

Tại Viettel, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng được tuân thủ nghiêm túc. Tất cả những vấn đề quan trọng phải được chuẩn bị kỹ, thảo luận, bàn bạc, quyết định thể hiện trí tuệ và ý chí của tập thể và được các cấp ủy thông qua. Đội ngũ các cấp ủy, nhất là cán bộ chủ chốt luôn lắng nghe, tôn trọng và tiếp thu chọn lọc các ý kiến của cơ sở, của quần chúng để bổ sung vào các chủ trương, chính sách, từng bước hoàn thiện cơ chế hoạt động.

Hằng năm, tỷ lệ tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh đạt 85%, nhiều tổ chức đảng ba năm liền đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Công tác quản lý giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng kết nạp đảng viên được thực hiện tốt. Tỷ lệ đảng viên phấn đấu tốt đạt 80%. Số lượng đảng viên được kết nạp tăng nhanh (so với nhiệm kỳ trước tăng 8,6 lần).

Các tổ chức quần chúng được củng cố, kiện toàn, phù hợp với điều kiện thực tiễn, hoạt động đúng chức năng. Đoàn Thanh niên xung kích trong phát huy sáng kiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và rèn luyện kỷ luật. Tổ chức công đoàn giáo dục công nhân viên chức hoàn thành có hiệu quả nhiệm vụ chính trị trung tâm, xây dựng đội ngũ công nhân và phong trào công nhân của Tập đoàn vững mạnh. Hội Phụ nữ hoàn thành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, của Trung ương Hội và Phụ nữ quân đội; 100% số tổ chức quần chúng đạt tiêu chuẩn vững mạnh, không có yếu kém.

Tập đoàn bảo đảm việc làm cho một đội ngũ CBCNV với 24.000 người, với mô hình tổ chức bộ máy phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển theo hướng đa ngành, đa nghề; kết hợp chặt chẽ giữa tập trung và phi tập trung hóa.

Đột phá trong công tác cán bộ

Đảng bộ Viettel luôn quán triệt quan điểm con người là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nên đã tập trung giáo dục mục tiêu lý tưởng, nhiệm vụ quân đội và của Tập đoàn; giáo dục văn hóa doanh nghiệp, giá trị cốt lõi văn hóa Viettel, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công; làm cho 100% số CBCNV có sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng và hành động. Đại đa số CBNCV của Viettel có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, yêu mến, gắn bó với đơn vị.

Để khuyến khích sử dụng người trẻ, người tài, Tập đoàn tổ chức thi tuyển các chức danh giám đốc, đề bạt những cán bộ trẻ vào các chức danh lãnh đạo. Hiện 80% số cán bộ từ cấp phòng trở lên ở Viettel có tuổi đời 30.

Viettel có những cán bộ mang quân hàm cao nhưng chỉ giữ vị trí khiêm tốn, còn cán bộ mang quân hàm thấp lại đảm nhiệm cương vị rất cao.

Ví dụ cụ thể như, năm 2007, đồng chí Trần Minh Huy được bổ nhiệm làm Giám đốc chi nhánh Viettel tỉnh Thái Bình khi đang mang quân hàm Trung úy, 30 tuổi. Hiện, đồng chí Trần Minh Huy đang làm Giám đốc chi nhánh Viettel Thành phố Hồ Chí Minh, với quân hàm là đại úy, chỉ huy gần 3.000 CBCNV dưới quyền, trong đó có 2 đồng chí đại tá là Phó Giám đốc. Trong lần trò chuyện với tôi, đồng chí Trần Minh Huy cho biết, chỉ huy những người dưới quyền quân hàm cao hơn mình, bằng tuổi cha, tuổi chú mình là việc không đơn giản. Tuy nhiên, khi đã vào công việc thì đã có quy định của đơn vị, kỷ luật của quân đội nên mọi người đều xác định được nhiệm vụ của mình.  Rõ ràng, để thực hiện được quan điểm đột phá trong sử dụng cán bộ thì tính kỷ luật công việc tại Viettel là rất nghiêm.

Thi đua trong công tác cán bộ với cơ chế “thoáng”, thường xuyên luân chuyển, bổ nhiệm, thi tuyển giám đốc đã giúp Viettel có môi trường cạnh tranh lành mạnh, đẩy lùi được những trào lưu xấu như “sống lâu lên lão làng”, cục bộ, bè cánh. Cán bộ, nhân viên nào được khen thưởng nhiều sẽ được bổ nhiệm để có thể thể hiện tài năng ở những chức vụ, vị trí cao hơn.

Nếu tinh ý có thể nhận ra, người Viettel gặp nhau thường có câu hỏi cửa miệng: “Bây giờ đang ở đơn vị nào rồi?”. Sở dĩ như vậy, bởi các cán bộ của Viettel thường xuyên được luân chuyển để “thử lửa”, rèn luyện ở nhiều vai trò, vị trí, chức vụ. Trường hợp đồng chí Trần Minh Huy nêu trên là một ví dụ tiêu biểu. Trong 5 năm (2005 - 2010), Tập đoàn luân chuyển 2.345 lượt cán bộ các cấp. Cũng bởi vậy, hầu hết cán bộ chủ chốt các cấp của Tập đoàn có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực chuyên môn tốt, nhạy bén, sắc sảo, ý thức trách nhiệm cao, là chỗ dựa tin cậy cho cấp dưới. Nhiều đồng chí công tác ở những nơi khó khăn, gian khổ đã nhanh chóng trưởng thành để gánh vác trách nhiệm cao hơn.

Bên cạnh việc trọng dụng người tài, Tập đoàn cũng có một chiến lược đào tạo dài hạn với việc cử những cán bộ có năng lực đi đào tạo dài hạn ở nước ngoài. Đây sẽ là những hạt nhân tốt, góp sức phát triển Tập đoàn trong tương lai. Từ 2005 - 2010, Tập đoàn đào tạo và gửi đi đào tạo 1.228 cán bộ từ cấp trưởng phòng trở lên.

Mới mẻ, thực chất trong thi đua

Một trong những mảng quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị là thúc đẩy phong trào thi đua. Quy chế lương, thưởng của Viettel rất đột phá, trong đó thí điểm thực hiện trả lương “không quy định hạn mức”, nghĩa là theo hiệu quả công việc của CBCNV. Ở Viettel đã có những phần thưởng đột xuất lên đến hàng tỉ đồng cho một sáng kiến kỹ thuật, vì những sáng kiến ấy làm lợi rất lớn cho Tập đoàn.

Phong trào thi đua Quyết thắng ở Viettel diễn ra sôi nổi trên khắp các mặt trận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật, quản lý và được triển khai sâu rộng tới từng cán bộ, công nhân viên ở tất cả các đơn vị. Các phong trào trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi hoạt động ở Viettel. Nổi bật như phong trào “Triển khai mạng lưới tốt nhất, sâu rộng nhất”, phong trào “6 nhất 1 mục tiêu”, phong trào “6.000 ý tưởng tiết kiệm Viettel”, phong trào “Giữ gìn, nâng cao vị thế thương hiệu Viettel”, phong trào “Sáng tạo trẻ Viettel”...

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được cụ thể hóa bằng phong trào tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí trong mua sắm đầu tư, trong khai thác sử dụng được CBCNV hưởng ứng tích cực và đạt hiệu quả thiết thực.

Điều quan trọng nhất trong tổ chức thi đua là phải tạo ra động cơ thi đua đúng đắn. Thi đua trở thành một khoa học quản lý, mà ở đó, doanh nghiệp đã tính toán tỉ mỉ để đo lường mức độ đóng góp của từng tập thể, cá nhân, cụ thể hóa thành lương, thưởng và những hình thức khen thưởng xứng đáng nhằm vinh danh người lao động, thực sự giải phóng sức lao động của đội ngũ cán bộ, nhân viên. Thiếu tướng Dương Văn Tính, Phó Tổng giám đốc, Bí thư Đảng ủy Tập đoàn khẳng định: “Quy chế thi đua minh bạch là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của Phong trào thi đua Quyết thắng. Ở Viettel, ai thi đua tốt, người đó có thu nhập cao”.

Tham gia phong trào thi đua, mỗi cán bộ, nhân viên Viettel luôn được cả “danh và lợi”. Điều này lý giải vì sao, khi Viettel cần luân chuyển một số cán bộ, nhân viên về vùng sâu, vùng xa và đi công tác nước ngoài, đã có khoảng 500 cán bộ, nhân viên tình nguyện sẵn sàng “đi bất cứ nơi đâu mà Tập đoàn cần”. Chính sách khen thưởng đúng đã thôi thúc cán bộ, nhân viên Viettel vượt qua mọi gian nan, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Viettel là một trong những doanh nghiệp kiên trì duy trì hoạt động “Ngày hội ý tưởng”. Năm năm qua, CBCNV Viettel đã có hàng nghìn sáng kiến, ý tưởng với tổng giá trị làm lợi ước tính hàng nghìn tỉ đồng. Đảng ủy Tập đoàn đã thực sự “trân trọng mọi ý tưởng, dù là nhỏ nhất”. Vì thế, thi đua sáng tạo trở thành một lĩnh vực sôi động nhất của doanh nghiệp. Vì vậy, có thể nói cả trong sản xuất, kinh doanh, cũng như trong các hoạt động xã hội, Viettel luôn tiên phong, mới mẻ, táo bạo hàng đầu.

Luôn nhìn thẳng vào sự thật

Hiếm có đơn vị nào mà khi sơ kết thi đua lại tập trung phân tích rất sâu sắc những điểm yếu của phong trào thi đua như ở Viettel. Tháng 5-2010, trong dịp phát động đợt thi đua xung kích “Lập công dâng Bác”, lãnh đạo Tập đoàn thẳng thắn chỉ ra các khiếm khuyết của phong trào thi đua tại doanh nghiệp: Bộ máy của Viettel sau nhiều năm phát triển "nóng" bắt đầu cồng kềnh, thiếu hiệu quả. Họp nhiều, báo cáo nhiều nhưng kết quả sản xuất, kinh doanh lại không đạt kế hoạch. Quý I-2010, Viettel không đạt kế hoạch đăng ký với Bộ Quốc phòng, còn so với kế hoạch mà lãnh đạo Tập đoàn tự đặt ra thì còn kém tới 30%. Thiếu tướng Hoàng Anh Xuân, Tổng Giám đốc, thẳng thắn: “Lần đầu tiên từ khi điều hành Viettel đến nay, tôi thấy như hết cách để đẩy cho bộ máy chuyển động”.

Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc đánh giá, với bộ máy hơn 20.000 người nếu không “chẩn đoán” đúng vấn đề thì sẽ rất khó vận hành. Ở Viettel đã có biểu hiện của sự trì trệ, “mất lửa”, làm việc thiếu hăng say. Có nhiều biểu hiện đối phó, làm việc không có hồn, có tâm lý muốn hưởng thụ, nhìn thấy kẽ hở của tổ chức không những không lấp lại mà còn tận dụng để vụ lợi; ngại đấu tranh, ngại nói thẳng vì thấy nó không ảnh hưởng trực tiếp đến mình, sợ nói ra thì bị trù dập, mất việc. Mỗi người đều tính toán nhiều hơn, "tròn" lại nhiều hơn. Lãnh đạo một số đơn vị chưa gương mẫu, chưa quan tâm đến vấn đề xây dựng động cơ đúng đắn trong lao động…

Nhìn thấy rõ sức ỳ trong thi đua cũng là cơ hội để cải biến, "lột xác". Thiếu tướng Dương Văn Tính, Bí thư Đảng ủy khẳng định: “Mỗi khi Viettel có vấn đề là Viettel có cơ hội để ổn định hơn, để phát triển hơn. Khi thấy Viettel không có vấn đề thì đó là lúc nguy cơ lớn nhất. Vì chúng tôi tin, nếu nhìn thấy vấn đề là chúng tôi sẽ có cách để vượt qua, để trưởng thành lên một tầm cao mới, một năng lực cạnh tranh mới”. Với một quan điểm dám nhìn thẳng vào sự thật như thế, tin chắc rằng Viettel sẽ luôn và tiếp tục là một đảng bộ, một tập đoàn mạnh, một con tàu luôn rẽ sóng hướng về phía trước./.