Gắn liền với quyền lực được trao, kiểm soát quyền lực là vấn đề
cực kỳ quan trọng để bảo đảm quyền lực được thực hiện đầy đủ, không bị lạm
dụng, sử dụng sai mục đích, dẫn đến hậu quả tiêu cực, thậm chí liên quan đến
lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ. Chính vì
vậy, trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nội dung kiểm soát quyền lực được
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt chú trọng, đề cập nhiều lần.
Vấn đề kiểm soát quyền lực được Ðảng ta chú trọng gắn liền với
công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Ðại hội XI, XII, XIII.
Ðại hội XIII của Ðảng đã đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công khai, minh bạch,
trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương
trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”. Ðiều này thể
hiện quyết tâm chính trị của Ðảng nhằm xây dựng, phát triển một cơ chế kiểm
soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích
nhóm”, tham nhũng, tiêu cực.
Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Ðảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, trong tác phẩm
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đề cập, có tư
tưởng, quan điểm mới về công tác kiểm soát quyền lực, có thể khái quát ở những phương
diện sau đây:
Về tha hóa quyền lực, trong tác phẩm, tác giả đã chỉ ra những biểu
hiện của tha hóa quyền lực. Theo đó, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lợi ích
nhóm, lãng phí, tiêu cực còn có những diễn biến phức tạp, khó lường; những
khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số
lượng và nghiêm trọng hơn về mức độ, tính chất, quy mô và tinh vi trong cách vi
phạm.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, ở đâu có quyền lực, ở đó có tha
hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực là hiện tượng sử dụng quyền lực không đúng với
chức năng, thẩm quyền được giao và diễn ra theo cả hai hướng:
Tình trạng “lạm quyền”, “lộng quyền”: là hành vi lợi dụng quyền
lực được trao, làm và quyết định những việc vượt quá thẩm quyền, chức năng,
nhiệm vụ được giao. Ðó là tình trạng “vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc,
nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ
nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm... lợi dụng sơ hở
trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát
lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Hay như “Vi phạm
nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng,
công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh,
phê bình... Ðể nội bộ mất đoàn kết... lợi dụng chức quyền để thu lợi bất
chính”, “cua cậy càng, cá cậy vây”...
Tình trạng không làm hết, không “tròn vai” quyền lực được trao: đó
là hiện tượng không làm hết chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Cụ thể
là bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định vào đường lối quan điểm
của Ðảng, cơ hội chính trị, xu nịnh, chạy chọt, thiếu chính kiến, “mũ ni che
tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói nhiều làm ít, nói
không đi đôi với làm; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; không chịu nghiên cứu học hỏi,
bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, ý thức kỷ luật kém, không chấp hành kỷ
luật tổ chức, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”...
Cả “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không hết, không “tròn vai”
quyền lực được trao đều có thể để lại những hậu quả là làm sai, làm trái, làm
không hết chức trách nhiệm vụ, gây hậu quả với tính chất, mức độ khác nhau.
Bằng những biểu hiện cụ thể, Tổng Bí thư đã chỉ rõ sự tha hóa quyền lực về “lạm
quyền”, “lộng quyền”, tình trạng làm không hết quyền lực được trao một cách chi
tiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Cán bộ, đảng viên, người đọc có dễ dàng nhận diện, hệ
thống, trên cơ sở đó phê bình, tự phê bình, “tự soi, tự sửa”, tự tu dưỡng, rèn
luyện; đồng thời cơ quan chức năng có thể phát hiện, xử lý tổ chức, cá nhân vi
phạm.
Về sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực. Xã hội muốn tồn tại,
phát triển đều phải được quản lý bằng hệ thống luật pháp, chuẩn mực đạo đức xã
hội, nhất là trong điều kiện nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
Tác phẩm chỉ rõ: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm,
hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn
phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự,
không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”... Một làng,
một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công
sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”...
Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ,
càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái
tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho
nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước.
Quyền lực không được kiểm soát, tình trạng tha hóa quyền lực rất
dễ dẫn đến quyết định, việc làm không đúng nguyên tắc, quy định, để lại hậu quả
tai hại. Tổ chức càng lớn, chức vụ càng cao nếu xảy ra tha hóa quyền lực thì
hậu quả, tác động càng rộng, tính chất càng nghiêm trọng, thậm chí là liên quan
đến lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ.
Mặt khác, tình trạng “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không đúng quy
định, thực hiện không hết chức năng của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, xảy
ra hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí... làm suy giảm vai trò lãnh đạo
của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, niềm tin của nhân dân đối
với hệ thống chính trị, chế độ xã hội.
Như vậy, quyền lực là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã
hội, bảo đảm lợi ích chung. Quyền lực cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén
lợi ích cá nhân, có quyền rất dễ bị cám dỗ, tha hóa, lạm quyền, lộng quyền; vì
thế cần phải kiểm soát, cơ chế bảo đảm, chế tài xử lý để xã hội thực sự công
bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Kiểm soát quyền lực chính trị là cần
thiết, tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.
- Về cơ chế, giải pháp kiểm soát quyền lực. Trong cuốn sách, Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội
hướng tới giá trị tiến bộ, nhân văn dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã
hội, hài hòa với lợi ích chính đáng của con người. Mô hình chính trị và cơ chế
vận hành tổng quát là “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.
Phải chăng cơ chế kiểm soát quyền lực được vận hành theo cơ chế, mô hình chung
đó. Kiểm soát quyền lực để loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm
sai trái của các chủ thể, bảo đảm quyền lực được sử dụng và thực hiện đúng theo
quy định, Hiến pháp và pháp luật.
Ðảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Ðối với kiểm soát quyền lực, Ðảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, quy định
để kiểm soát quyền lực trong Ðảng; đồng thời để trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế
hóa, cụ thể hóa thành pháp luật. Ðảng thực hiện chức năng lãnh đạo, kiểm tra,
giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức
đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước để ngăn chặn, xử lý hiện tượng tổ chức,
cán bộ, đảng viên vi phạm.
Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội thực hiện giám sát và phản biện mang
tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân. Nhân dân thực hiện vai trò làm chủ, thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ
đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải
trình; người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối
thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân.
Cơ chế kiểm soát quyền lực luôn bảo đảm sự phối hợp giữa kiểm tra,
giám sát của Ðảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét
xử chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong
lãnh đạo, quản lý, đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù
hợp. Sự phối hợp đó góp phần thực hiện có hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực.
Ðể kiểm soát quyền lực, trong tác phẩm, Tổng Bí thư xác định nhiều
giải pháp cụ thể để kiểm soát quyền lực. Ðáng chú ý là: (1) Xây dựng Ðảng trong
sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương,
“người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu”. Tăng cường
xây dựng Ðảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức để Ðảng ta thật sự
trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. (2) Xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa hiệu lực, hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng
bộ, khoa học; xây dựng được thể chế đầy đủ, chặt chẽ, làm căn cứ để thực hiện
ngăn chặn tha hóa quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Người có chức, có quyền không thể tham nhũng được nếu có các quy
định pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, công khai, minh bạch và được kiểm tra, giám sát
thường xuyên; phòng, chống tham nhũng; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt
kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng”. (3) Thường xuyên
thực hiện kiểm tra, giám sát theo phương châm “không có vùng cấm, không có
ngoại lệ”. (4) Xử lý, kỷ luật nghiêm minh những sai phạm, công tác phát hiện và
xử lý phải được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong
công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.