Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

Thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch

 

Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng diễn biến phức tạp; chúng triệt để lợi dụng các sự kiện chính trị; tình hình biên giới, biển đảo, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… Đặc biệt, một số đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tán phát nhiều tài liệu có nội dung chống phá Quân đội.

 Đáng chú ý, một số hội, nhóm phản động và một số cá nhân cùng ký tên vào “Thư ngỏ” gửi Thủ tướng với nội dung gồm: Phản đối thái độ tham lam bất hợp tác của một số “nhóm lợi ích” và một số “thế lực” trong Quân đội... Những nội dung chống phá của chúng rất phản động, bóp méo sự thật; tung tin thất thiệt với hình ảnh phản cảm trên các trang mạng xã hội, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, làm ảnh hưởng xấu đến chính trị nội bộ, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội và hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan, đơn vị các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác bảo đảm an toàn thông tin, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ và các văn bản khác có liên quan đến công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng thời, nêu cao ý thức cảnh giác, nhận rõ và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tích cực bảo vệ mình, bảo vệ nội bộ cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng địa phương nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các phần tử xấu trên địa bàn; chủ động xây dựng kế hoạch, phương án phối hợp xử lý tốt các vụ việc, tình huống phức tạp xảy ra, giữ vững đơn vị an toàn, địa bàn an toàn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

Đấu tranh phản bác những thông tin xấu độc

 

Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mạng xã hội để phát tán những quan điểm sai trái, phản động, thông tin xấu độc về các sự kiện chính trị, kinh tế - xã hội, những vụ việc xảy ra trong đời sống xã hội nói chung, hoạt động của Quân đội nói riêng lên không gian mạng, với tần suất ngày càng tăng.

Đó là những quan điểm, thông tin phản ánh sai lệch sự thật, bóp méo vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả…Không chỉ xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hạ thấp uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội mà chúng còn cố tình gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc sự hoài nghi, làm giảm sút lòng tin ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

Việc tuyên truyền những quan điểm sai trái, phản động, thông tin xấu độc có tác hại rất lớn. Do đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa hiện nay; việc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, thiết thực, hiệu quả.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, cần đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, không ngừng nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện; thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ năng lực, kỹ năng đấu tranh cho lực lượng nòng cốt, nhất là “lực lượng 47” trong đấu tranh, phản bác, đập tan những quan điểm sai trái, phản động, những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch./.

VIỆT NAM KHÔNG NGỪNG NỐ LỰC ĐỂ NÂNG CAO NHÂN QUYỀN

 

 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC- SIẾT CHẶT KỶ CƯƠNG

  

Vấn đề kiểm soát quyền lực được Ðảng ta chú trọng gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Ðại hội XI, XII, XIII. Ðại hội XIII của Ðảng đã đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”. Ðiều này thể hiện quyết tâm chính trị của Ðảng nhằm xây dựng, phát triển một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực.

Về tha hóa quyền lực, trong tác phẩm, tác giả đã chỉ ra những biểu hiện của tha hóa quyền lực. Theo đó, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lợi ích nhóm, lãng phí, tiêu cực còn có những diễn biến phức tạp, khó lường; những khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng và nghiêm trọng hơn về mức độ, tính chất, quy mô và tinh vi trong cách vi phạm.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, ở đâu có quyền lực, ở đó có tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực là hiện tượng sử dụng quyền lực không đúng với chức năng, thẩm quyền được giao và diễn ra theo cả hai hướng:

Tình trạng “lạm quyền”, “lộng quyền”: là hành vi lợi dụng quyền lực được trao, làm và quyết định những việc vượt quá thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao. Ðó là tình trạng “vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm... lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Hay như “Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình... Ðể nội bộ mất đoàn kết... lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính”, “cua cậy càng, cá cậy vây”...

Tình trạng không làm hết, không “tròn vai” quyền lực được trao: đó là hiện tượng không làm hết chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Cụ thể là bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định vào đường lối quan điểm của Ðảng, cơ hội chính trị, xu nịnh, chạy chọt, thiếu chính kiến, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, ý thức kỷ luật kém, không chấp hành kỷ luật tổ chức, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”...

Cả “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không hết, không “tròn vai” quyền lực được trao đều có thể để lại những hậu quả là làm sai, làm trái, làm không hết chức trách nhiệm vụ, gây hậu quả với tính chất, mức độ khác nhau. Bằng những biểu hiện cụ thể, Tổng Bí thư đã chỉ rõ sự tha hóa quyền lực về “lạm quyền”, “lộng quyền”, tình trạng làm không hết quyền lực được trao một cách chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Cán bộ, đảng viên, người đọc có dễ dàng nhận diện, hệ thống, trên cơ sở đó phê bình, tự phê bình, “tự soi, tự sửa”, tự tu dưỡng, rèn luyện; đồng thời cơ quan chức năng có thể phát hiện, xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm.

    Về sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực. Xã hội muốn tồn tại, phát triển đều phải được quản lý bằng hệ thống luật pháp, chuẩn mực đạo đức xã hội, nhất là trong điều kiện nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC, ĐIỂM SÁNG NỔI BẬT

           Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong nhiều năm qua, nhất là từ nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng đến nay, công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng được coi trọng. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”, đưa công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngang tầm với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đây là sự bổ sung, phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn của Đảng ta trong công tác xây dựng Đảng toàn diện, càng cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Triển khai đồng bộ nhiệm vụ xây dựng Đảng, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đề ra nhiều chủ trương, định hướng quan trọng, gắn chặt công tác xây dựng Đảng về đạo đức với công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Đại hội XII, XIII và nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khóa XIII.  Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn có những hạn chế, chưa trở thành việc làm thường xuyên, chưa thành ý thức tự giác của không ít tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị và một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ 4, Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trung ương thống nhất phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc cụ thể, thiết thực. Chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Cần kết hợp có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) với việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW trong toàn hệ thống chính trị.

Thực tế, trong nhiệm kỳ XII của Đảng, Chính phủ, các ban, ngành, địa phương đã tổ chức nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua thiết thực. Thủ tướng Chính phủ phát động Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Quân ủy Trung ương phát động Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng các mô hình: “Tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”; “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; “Đảng viên dìu dắt quần chúng”…

        Nhiều địa phương cũng đã có những các cách làm hay, sáng tạo và hiệu quả trong việc đưa Chỉ thị 05-CT/TW vào cuộc sống. Đặc biệt, trong năm 2020, trước những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, người dân trên mọi miền Tổ quốc đã chung sức, đồng lòng với Đảng, Nhà nước chống lại đại dịch. Nhiều tổ chức, cá nhân đã tự nguyện sản xuất, cấp phát khẩu trang, nước sát khuẩn miễn phí, thiết thực giúp đỡ nhân dân. Màu áo xanh tình nguyện của thanh niên, sắc phục trang nghiêm của cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang kịp thời xuất hiện trên các địa bàn, đồng hành sát cánh cùng bà con trong cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh

Quyền con người ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

 


 Trước năm 1945, quyền con người được thể hiện là sự đấu tranh giành quyền con người. Cương lĩnh chính trị năm 1930 xác định: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo đó, nhiệm vụ của Đảng là tập hợp lực lượng toàn dân tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ngay sau khi giành chính quyền (1945). Nhà nước Việt Nam đã quan tâm sâu sắc vấn đề quyền con người và mục tiêu hướng tới là bảo vệ quyền con người, quyền làm người; Trân trọng những giá trị quý báu mà nhân loại đã đạt được trên lĩnh vực quyền và tự do, dân chủ của con người (được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946); Tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại.

Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp

 


 Tính nhân loại của quyền con người: nghĩa là quyền con người mang tính phổ biến, thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, khu vực địa lý v.v… “trên thực tế tính phổ biến là bản chất của quyền con người”.

 Tính lịch sử: Ở mỗi giai đoạn lịch sử, tính phổ biến phụ thuộc vào trình độ văn minh của từng giai đoạn.

Tính giai cấp: Quyền con người luôn phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị. Tuy nhiên với sự phản kháng của giai cấp bị trị thì quyền con người cũng luôn được giai cấp thống trị điều chỉnh để phù hơp với sự phản kháng ấy.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, một số quốc gia XHCN đã thể hiện sự ưu tiên đối với nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa hơn nhóm quyền dân sự, chính trị. Trong khi Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên đối với quyền dân sự, chính trị. Mâu thuẫn này đã được giải quyết bằng việc công nhận các quyền con người là quan trọng như nhau tại Hội nghị quốc tế về quyền con người tại Viên Áo (1993).

KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TỪ 2013 ĐẾN 2022

 


Riêng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng đã đưa vào theo dõi, chỉ đạo hơn 800 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ, trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 133 vụ án, 94 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Các cơ quan đã đưa ra xét xử sơ thẩm 86 vụ án, 814 bị cáo, trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (1 Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 7 sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...).

Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Thứ trưởng Bộ Công an khẳng định, các cơ quan đã điều tra làm rõ một số vụ đặc biệt nghiêm trọng mà trước đó cho là có “vùng cấm, nhạy cảm”. Nhiều vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, kể cả những vụ tồn đọng từ nhiều năm trước được xử lý dứt điểm, nghiêm minh, đúng pháp luật, không còn tình trạng xử lý thiếu kiên quyết, kéo dài, “chìm xuồng”.

Thứ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh, tất cả các vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, “bất kể người đó là ai”. Điều này thể hiện qua việc cơ quan điều tra đã khởi tố một bị can nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, ba bị can nguyên là Bộ trưởng, một số cán bộ tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang…

Từ kết quả điều tra, truy tố đã xét xử các bị cáo với những mức án nghiêm khắc, trong đó có cả án chung thân, tử hình. Điển hình như Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc trong vụ án xảy ra tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam; Vũ Quốc Hảo, Phạm Minh Tuấn, Đặng Văn Hai trong vụ án xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính ALC2; Châu Thị Thu Nga, nguyên đại biểu Quốc hội trong vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty Housing Group…

Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội

 


 Quyền tự nhiên: Đó là quyền con người tự có, không thể chuyển nhượng, cũng không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Theo Mác: Quyền con người không phải là sự ban phác của Thượng đế, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Theo Hồ Chí Minh: Con người khi sinh ra đều có quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Quyền xã hội: Là những quyền con người được hưởng do xã hội tạo nên (hay nói cách khác là do mối quan hệ của con người với xã hội tạo nên). Theo Mác: Mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng quyền con người không phải tự nhiên mà có. Mác đánh giá cao quan điểm của HêGhen: “ Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử”. Nhưng lịch sử theo Mác là lịch sử hiện thực của con người và xã hội loài người. Thực tế lịch sử nền văn minh nhân loại cho thấy, QCN là hành quả của sự phát triển lịch sử, của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội. Quyền xã hội của con người luôn phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, vào từng trình độ văn minh của từng nhà nước. Quyền xã hội được phân loại theo chủ thể quyền; theo lĩnh vực và theo thế hệ quyền

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

 


 Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền công nhận 26 quyền cơ bản của con người gồm 3 nhóm: Các quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân, quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa. Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng. Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: đó là các quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.

 

Nguồn gốc dân chủ

 


Mọi nền văn minh, nền dân chủ tồn tại trong các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, công xã, lãng xã…từ thời thượng cổ, ở nhiều nới tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cộng đồng sẽ do cộng đồng bầu chọn. Đó là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước xuất hiện. Nghĩa của từ “Dân chủ” đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay vì từ thế kỷ thứ XVIII đã có nhiều chính phủ tự xưng là “dân chủ”. Trong cách sử dụng ngày nay, từ “dân chủ” chỉ đến một chính phủ được dân lựa chọn, không cần biết một cách trực tiếp hay gián tiếp. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ luật, nhưng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia không công nhận các nhóm sắc tộc nào đó

Trong Chính trị học, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ, có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi. Một số người định nghĩa dân chủ là một “chế độ của đa số với một số quyền cho thiểu số”. Chủ quyền nhân dân là một triết lý phổ biến nhưng không phải lúc nào cùng là động lực để hình thành một nền dân chủ. Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc triết học về quyền bình đẳng. Nhiều người sử dụng thuật ngữ “dân chủ” như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, quyền tự do ngôn luận, thủ tục tố tụng, quyền tự do cônmg dân, quỳen con người và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với nhà nước

Đặc điểm dân tộc Việt Nam

 


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam; có rất tộc hình thành từ sớm, có dân tộc mới di cư đến khoảng mấy trăm năm, như dân tộc Mông. Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam. Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới (Trung Quốc có khu tự trị dân tộc). Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược. Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở trung du và miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước, có giá trị chiến lược trên các lĩnh vực. Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc có dưới 10 ngìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm... Có 6 dân tộc có mức sống tương đối khá,: như: Tày, Hoa, Nùng, Chăm, Khơ me, Thái (có nghề, biết kinh doanh). Các dân tộc còn lại, do nhiều nguyên nhân, mức sống thấp, có dân tộc mức sống rất thấp như: Ngái, Mảng, Chứt, Dơ măm, Ơ Đo... Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Vấn đề Kiểm soát quyền lực trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng!

             Gắn liền với quyền lực được trao, kiểm soát quyền lực là vấn đề cực kỳ quan trọng để bảo đảm quyền lực được thực hiện đầy đủ, không bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích, dẫn đến hậu quả tiêu cực, thậm chí liên quan đến lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nội dung kiểm soát quyền lực được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt chú trọng, đề cập nhiều lần.

Vấn đề kiểm soát quyền lực được Ðảng ta chú trọng gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Ðại hội XI, XII, XIII. Ðại hội XIII của Ðảng đã đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”. Ðiều này thể hiện quyết tâm chính trị của Ðảng nhằm xây dựng, phát triển một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực.

Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Ðảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đề cập, có tư tưởng, quan điểm mới về công tác kiểm soát quyền lực, có thể khái quát ở những phương diện sau đây:

Về tha hóa quyền lực, trong tác phẩm, tác giả đã chỉ ra những biểu hiện của tha hóa quyền lực. Theo đó, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lợi ích nhóm, lãng phí, tiêu cực còn có những diễn biến phức tạp, khó lường; những khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng và nghiêm trọng hơn về mức độ, tính chất, quy mô và tinh vi trong cách vi phạm.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, ở đâu có quyền lực, ở đó có tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực là hiện tượng sử dụng quyền lực không đúng với chức năng, thẩm quyền được giao và diễn ra theo cả hai hướng:

Tình trạng “lạm quyền”, “lộng quyền”: là hành vi lợi dụng quyền lực được trao, làm và quyết định những việc vượt quá thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao. Ðó là tình trạng “vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm... lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Hay như “Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình... Ðể nội bộ mất đoàn kết... lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính”, “cua cậy càng, cá cậy vây”...

Tình trạng không làm hết, không “tròn vai” quyền lực được trao: đó là hiện tượng không làm hết chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Cụ thể là bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định vào đường lối quan điểm của Ðảng, cơ hội chính trị, xu nịnh, chạy chọt, thiếu chính kiến, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, ý thức kỷ luật kém, không chấp hành kỷ luật tổ chức, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”...

Cả “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không hết, không “tròn vai” quyền lực được trao đều có thể để lại những hậu quả là làm sai, làm trái, làm không hết chức trách nhiệm vụ, gây hậu quả với tính chất, mức độ khác nhau. Bằng những biểu hiện cụ thể, Tổng Bí thư đã chỉ rõ sự tha hóa quyền lực về “lạm quyền”, “lộng quyền”, tình trạng làm không hết quyền lực được trao một cách chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Cán bộ, đảng viên, người đọc có dễ dàng nhận diện, hệ thống, trên cơ sở đó phê bình, tự phê bình, “tự soi, tự sửa”, tự tu dưỡng, rèn luyện; đồng thời cơ quan chức năng có thể phát hiện, xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm.

Về sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực. Xã hội muốn tồn tại, phát triển đều phải được quản lý bằng hệ thống luật pháp, chuẩn mực đạo đức xã hội, nhất là trong điều kiện nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tác phẩm chỉ rõ: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước.

Quyền lực không được kiểm soát, tình trạng tha hóa quyền lực rất dễ dẫn đến quyết định, việc làm không đúng nguyên tắc, quy định, để lại hậu quả tai hại. Tổ chức càng lớn, chức vụ càng cao nếu xảy ra tha hóa quyền lực thì hậu quả, tác động càng rộng, tính chất càng nghiêm trọng, thậm chí là liên quan đến lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ.

Mặt khác, tình trạng “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không đúng quy định, thực hiện không hết chức năng của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, xảy ra hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí... làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị, chế độ xã hội.

Như vậy, quyền lực là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm lợi ích chung. Quyền lực cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân, có quyền rất dễ bị cám dỗ, tha hóa, lạm quyền, lộng quyền; vì thế cần phải kiểm soát, cơ chế bảo đảm, chế tài xử lý để xã hội thực sự công bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Kiểm soát quyền lực chính trị là cần thiết, tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.

- Về cơ chế, giải pháp kiểm soát quyền lực. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới giá trị tiến bộ, nhân văn dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, hài hòa với lợi ích chính đáng của con người. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Phải chăng cơ chế kiểm soát quyền lực được vận hành theo cơ chế, mô hình chung đó. Kiểm soát quyền lực để loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm sai trái của các chủ thể, bảo đảm quyền lực được sử dụng và thực hiện đúng theo quy định, Hiến pháp và pháp luật.

Ðảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ðối với kiểm soát quyền lực, Ðảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, quy định để kiểm soát quyền lực trong Ðảng; đồng thời để trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật. Ðảng thực hiện chức năng lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước để ngăn chặn, xử lý hiện tượng tổ chức, cán bộ, đảng viên vi phạm.

Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Nhân dân thực hiện vai trò làm chủ, thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Cơ chế kiểm soát quyền lực luôn bảo đảm sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Ðảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp. Sự phối hợp đó góp phần thực hiện có hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực.

Ðể kiểm soát quyền lực, trong tác phẩm, Tổng Bí thư xác định nhiều giải pháp cụ thể để kiểm soát quyền lực. Ðáng chú ý là: (1) Xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương, “người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu”. Tăng cường xây dựng Ðảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. (2) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiệu lực, hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, khoa học; xây dựng được thể chế đầy đủ, chặt chẽ, làm căn cứ để thực hiện ngăn chặn tha hóa quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Người có chức, có quyền không thể tham nhũng được nếu có các quy định pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, công khai, minh bạch và được kiểm tra, giám sát thường xuyên; phòng, chống tham nhũng; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng”. (3) Thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát theo phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. (4) Xử lý, kỷ luật nghiêm minh những sai phạm, công tác phát hiện và xử lý phải được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

 

NẮM VỨNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ CHIẾN DỊCH- CHIẾN LƯỢC TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Dân tộc, tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Vì vậy, việc nghiên cứu, nắm vững và thực hiện tốt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một số quan điểm mới về xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân tại Đại hội XIII của Đảng

 

Một là, có sự bổ sung, phát triển về quá trình nhận thức của Đảng trong xây dựng “thế trận lòng dân”.

Trước Đại hội X của Đảng (năm 2006), trong các văn kiện chính thức, Đảng ta chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”, nhưng tư tưởng, quan điểm phát huy sức mạnh “lòng dân”, “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”, “đoàn kết toàn dân tộc” luôn nhất quán, xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” để nhấn mạnh nhiệm vụ “xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt” . Đại hội XI của Đảng (năm 2011) chỉ rõ: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ: “Xây dựng thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) xác định: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

Hai là, Đại hội XIII của Đảng khẳng định vai trò quan trọng của vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Về vị trí “thế trận lòng dân” được đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Đây không đơn thuần là sự sắp xếp cơ học mà đó là sự khẳng định, bổ sung, có sự phát triển mới về tư duy của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn: 

Thứ nhất, xuất phát từ truyền thống dân tộc, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dânTrong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải thường xuyên chống lại những kẻ thù to lớn, hung bạo. Nguyên nhân cơ bản giúp dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù mà tiềm lực quân sự lớn mạnh hơn rất nhiều lần là bởi chúng ta luôn ý thức rất rõ vai trò to lớn, yếu tố quyết định thắng lợi chính là sức mạnh của “lòng dân”. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chỉ rõ, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. V.I. Lê-nin khẳng định: “Cuộc cách mạng chỉ thực sự là một cuộc cách mạng khi nào hàng chục triệu người đồng lòng hăng hái nổi dậy”. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Người luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, trong xã hội muốn thành công phải có đủ 3 điều kiện là: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là “nhân hòa”, nghĩa là mọi người đều nhất trí, đồng lòng. Từ đó, Người khẳng định một chân lý: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”; 

Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ giữa “thế trận lòng dân” với “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định: “Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sự đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, về chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh vô địch của nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Như vậy, “thế trận lòng dân” là yếu tố nền tảng, quyết định “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm 3 yếu tố: xây dựng tiềm lực, xây dựng lực lượng và xây dựng thế quốc phòng toàn dân, trong đó “thế trận lòng dân” là yếu tố quan trọng nhất trong xây dựng thế quốc phòng toàn dân. Đó là sự kế thừa tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ba là, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vic phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” mà còn bổ sung thêm vấn đề phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Việc khẳng định phải xây dựng, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân không chỉ phù hợp với vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân” mà còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. “Thế trận lòng dân” là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay. Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân phụ thuộc rất lớn vào “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” là nguồn mạch để động viên mọi lực lượng của đất nước đấu tranh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; là chỗ dựa vững chắc, là niềm tin cho mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng xả thân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có “thế trận lòng dân” vững chắc mới quy tụ được lòng người, quy tụ được lực lượng vật chất và tinh thần, tạo nên sức mạnh to lớn bảo đảm cho thắng lợi chung của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nếu không tạo được “thế trận” và để “lòng dân” ly tán thì đó chính là nguy cơ mất nước trước sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài.

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, nhất là thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân”, nhất là hiện thực hóa các nội dung xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Đặc biệt, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước; những biểu hiện thiếu chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa, lối sống trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và giá trị con người Việt Nam… làm ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân, tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng “thế trận lòng dân”.

Thứ ba, xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước và mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học - công nghệ, bên cạnh những thuận lợi, như xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; nâng cao trình độ nguồn nhân lực,… cũng có không ít những thách thức đặt ra đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, như xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai, dịch bệnh, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch... Tình hình đó càng cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, niềm tin và khát vọng phát triển để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

HAIVAN

Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay

 


Nhân quyền là những vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển loài người nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề nhân quyền     đ­­ược giải quyết tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm thực hiện tốt việc bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua. Ở mục 4 trong phần bài học kinh nghiệm, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân” (trang 81, tập II). Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay.

 

Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất.

Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:

- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.

- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát, phản biện.

- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.

Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.

Thứ ba, tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.

Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.

Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.

Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.

Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

HAIVAN