Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

 


 Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền công nhận 26 quyền cơ bản của con người gồm 3 nhóm: Các quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân, quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa. Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng. Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: đó là các quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.

Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay

 


Nhân quyền là những vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển loài người nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề nhân quyền     đ­­ược giải quyết tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm thực hiện tốt việc bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua. Ở mục 4 trong phần bài học kinh nghiệm, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân” (trang 81, tập II). Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay.

 

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ


V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”1. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trinh độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ.

Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử đều đã ghi dấu mốc quan trọng trên bước đường phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít...), thậm chí trong cuộc đấu tranh giành dân chủ, nhân loại đã phải trả giá đắt bằng cả máu, xương của mình.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: Dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải là bẩm sinh, càng không phải là tặng phẩm của giới siêu nhân nào đó, mà là kết quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh. Do đó, đứng trên quan điểm phát triển biện chứng xem xét thì dân chủ là một giả trị nhân văn, mang tính nhân loại. Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh bước tiến về quyền con người. Dân chủ phát triền càng cao, quyền con người càng được khẳng định; tự do, bình đẳng trong xã hội càng cao. Do vậy, với tính chất là một giá trị nhân văn (giá trị văn hóa) của nhân loại, dân chủ ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người.


CHIÊU TRÒ "TẨY TRẮNG" BẤT THÀNH.


Đầu tháng 6 vừa qua, Thủ tướng Australia Anthony Albanese đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia, chuyến thăm góp phần tạo khuôn khổ mới cho quan hệ giữa hai quốc gia trên tất cả các kênh, tiếp tục làm sâu sắc lòng tin chiến lược, hướng tới tầm nhìn chung của hai nước trong thời gian tới. Lợi dụng chuyến thăm này, giới “dân chủ” cũng ráo riết hoạt động, lợi dụng “con rối dân chủ” Châu Văn Khảm - một người có quốc tịch Australia để đưa ra những luận điệu chống phá.

Trước, trong và sau chuyến thăm của Thủ tướng Anthony Albanese đến Việt Nam, các đối tượng xấu, chống đối, cơ hội chính trị đã đưa ra nhiều thông tin xấu, độc, xuyên tạc nhằm kích động, gây chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Australia. Lợi dụng “quân cờ” Châu Văn Khảm, các “loa rè dân chủ” đã tung ra nhiều luận điệu kệch cỡm như: “Vì sao Việt Nam chưa thả công dân Úc - Châu Văn Khảm?”, “Úc có đủ mạnh để “gây sức ép” với Việt Nam?”, “Chính phủ Úc phải có trách nhiệm làm hết tất cả những gì có thể để đưa công dân của mình ra khỏi tù càng sớm càng tốt”… Đi liền với đó, những kẻ này cũng đòi chính quyền Australia phải “gây áp lực đối với Việt Nam về vấn đề nhân quyền”. Đây chỉ là những luận điệu cũ rích được giới “dân chủ” nhai đi, nhai lại trong nhiều năm qua nhằm mục đích công kích Việt Nam.

Châu Văn Khảm là cái tên không xa lại gì trong giới “dân chủ”. Ngày 11/11/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Quá trình xét xử sơ thẩm, đại diện Tổng Lãnh sự quán Australia tại Thành phố Hồ Chí Minh đã theo dõi phiên tòa và được giải thích đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Trong vụ án này, ngoài Châu Văn Khảm còn có 2 bị cáo khác bị kết án cùng tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” là Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam) và Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh). Ngoài ra, có 3 bị cáo khác bị kết tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” gồm Bùi Văn Kiên (36 tuổi, quê Hải Dương), Nguyễn Thị Ánh (27 tuổi, quê Đồng Tháp) và Trần Thị Nhài (36 tuổi, quê Nghệ An).

Tại sao giới “dân chủ” lại chỉ khóc lóc, kêu oan cho một mình Châu Văn Khảm trong khi bỏ mặc những người còn lại? Câu trả lời có lẽ là bởi Châu Văn Khảm có quốc tịch Australia và đồng thời y cũng là thành viên cộm cán của tổ chức phản động Việt Tân. Theo kết quả điều tra, Châu Văn Khảm tham gia Việt Tân từ năm 2010 và được phân công giữ chức vụ đại diện “cơ sở đảng bộ Sydney” kiêm “Bí thư Đảng bộ Úc châu” của Việt Tân. Bởi vậy, việc giới “dân chủ” đã sẵn sàng “đổi trắng thay đen” để bao biện cho Châu Văn Khảm cũng là điều dễ hiểu. Thế mới thấy, “dân chủ” cũng phải có “gốc gác”, “ô dù” và được “nâng đỡ” thì mới nhận được sự quan tâm, chú ý của các thế lực thù địch, các tổ chức “dân chủ”. Ngược lại, những người “cùng hội, cùng thuyền” nhưng “thấp cổ, bé họng”, không có tiếng tăm, mất giá trị lợi dụng thì chắc chắn sẽ bị giới “dân chủ” vứt bỏ một cách không hề thương tiếc.

Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, các đối tượng xấu đã xây dựng hình tượng Châu Văn Khảm như một “nạn nhân” của chính quyền. Vậy nhưng, rõ ràng việc kết án Châu Văn Khảm và đồng phạm là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Theo đó, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo tổ chức Việt Tân, tháng 1-2019, Châu Văn Khảm đã làm giả giấy tờ với cái tên Chung Chính Phi để xâm nhập trái phép vào Việt Nam từ Campuchia. Nhiệm vụ của Châu Văn Khảm là câu móc, kết nạp thành viên trong nước cho tổ chức phản động Việt Tân. Với những tài liệu đã thu thập được, cơ quan tố tụng hoàn toàn đủ căn cứ để kết án Châu Văn Khảm. Mặt khác, nghiên cứu về tài liệu phạm tội của Châu Văn Khảm và đồng phạm có thể thấy quá trình hoạt động, những kẻ này đã khảo sát một số tuyến đường có lắp đặt vị trí camera để cung cấp cho tổ chức Việt Tân, khảo sát các tuyến xâm nhập đường bộ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia… Như vậy, không chỉ dừng lại ở “bất bạo động”, Việt Tân đang thể hiện rõ dã tâm chống phá bạo động tại Việt Nam. Đây là điều phải ngăn chặn “từ trong trứng nước”.

Nói thẳng, quốc tịch Australia không phải là lý do để phủi sạch trách nhiệm hình sự cho Châu Văn Khảm. Khoản 1, Điều 5, Bộ luật Hình sự của Việt Nam quy định: “Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này là phù hợp với thông lệ của luật pháp quốc tế. Như vậy, quốc tịch của một người không phải là cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, bản thân Châu Văn Khảm phạm tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Đây là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, đe dọa xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam. Do đó, không một cơ quan, tổ chức nào có thể “gây sức ép” để buộc Việt Nam phải trả tự do cho Châu Văn Khảm.

Việt Nam luôn coi trọng mối quan hệ với Australia. Tính đến nay, hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao được 50 năm (1973 - 2023), trong đó có 5 năm xây dựng quan hệ Đối tác chiến lược (2018 - 2023). Australia đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 của Việt Nam với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2022 đạt gần 16 tỷ USD. Ngoài kinh tế, giữa hai nước cũng có mối hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực như: giáo dục - đào tạo, quốc phòng - an ninh, nông nghiệp, du lịch, văn hóa, lao động, khoa học - công nghệ… Đồng thời, hai nước cũng thường xuyên trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao giữa lãnh đạo. Chính những điều này đã góp phần tăng cường tin cậy chính trị, nâng cao hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau. Bởi vậy, Châu Văn Khảm sẽ không bao giờ có thể trở thành “vật cản” giữa hai quốc gia như mong muốn của các “con buôn dân chủ”. Suy cho cùng, Châu Văn Khảm cũng chỉ là thành viên của một tổ chức phản động, chẳng có đóng góp gì cho quan hệ giữa hai quốc gia và cũng không mang lại lợi ích gì cho những công dân Australia chân chính./.

(*) Ảnh: Thủ tướng Úc Anthony Albanese đặt vòng hoa trước Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. -Theo BPO-

#bytayninh #xdpttayninh

ST # Trường Tồn 

Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong bảo vệ bí mật nhà nước


Việc bảo mật dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hiện nay đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Thực tế cho thấy tình trạng để lộ bí mật nhà nước không chỉ gây ra thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Chưa kể việc lộ bí mật nhà nước qua mạng internet đang là một trong các hình thức bị các đối tượng phản động, thù địch triệt để lợi dụng nhằm chống phá đất nước, chế độ.


Dữ liệu có vai trò quan trọng đối với các quốc gia cũng như mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hệ thống cơ sở dữ liệu của mỗi quốc gia được tạo lập, lưu trữ và xử lý sẽ truyền tải nhiều thông tin đến người sử dụng, trong đó bao gồm cả những thông tin quan trọng quyết định đến sự an toàn, ổn định và phát triển vững mạnh của một quốc gia.


Khi các thông tin trong hệ thống cơ sở dữ liệu này được xây dựng và lắp đặt đồng bộ, hiện đại sẽ tạo ra kho dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, hoạch định các chủ trương, chính sách, pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Nhưng nếu không bảo mật được thông tin, hệ thống dữ liệu này sẽ trở thành mục tiêu tấn công, chiếm đoạt hay phá hoại của các thế lực thù địch và tội phạm công nghệ cao.


Theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018, bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.


Việc bảo vệ bí mật nhà nước được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, Luật quy định bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân.


Thực tiễn cho thấy hệ thống dữ liệu tại Việt Nam thời gian qua luôn đặt trong tình trạng báo động bởi nguy cơ tấn công mạng, bị lộ hay chiếm đoạt thông tin.


Tính đến tháng 1/2023, Việt Nam có 77,93 triệu người sử dụng internet (chiếm 79,1% dân số), trong đó có 70 triệu người dùng mạng xã hội, trong đó chủ yếu là F.ace.bo.ok (66,20 triệu người). Các tỉnh, thành phố đều có các cổng thông tin điện tử, dịch vụ công trực tuyến.


Tính đến tháng 1/2023, Việt Nam có 77,93 triệu người sử dụng internet (chiếm 79,1% dân số), trong đó có 70 triệu người dùng mạng xã hội, trong đó chủ yếu là F.ace.bo.ok (66,20 triệu người).


Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi từ việc ứng dụng sự phát triển và sử dụng hiệu quả internet thì những nguy cơ do việc lộ bí mật nhà nước qua mạng internet chiếm tỷ lệ cao về số vụ (chiếm 66% số vụ).


Theo thống kê của Bộ Công an trong giai đoạn từ 2015-2021 có hơn 48.500 lượt trang/cổng thông tin điện tử có tên miền “.vn” của Việt Nam bị tin tặc tấn công, trong đó có hơn 4.000 cuộc tấn công vào các trang dữ liệu thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước; phát hiện ra hơn 350 vụ làm lộ, mất bí mật nhà nước trên không gian mạng.


Thống kê cũng cho biết bí mật nhà nước bị lộ qua việc đăng tải công khai thông tin trên các website và cổng thông tin, trang điện tử của các cơ quan nhà nước, ban, ngành,… là phổ biến nhất, chiếm 57,7% trên tổng số vụ lộ bí mật nhà nước, trong đó tập trung chủ yếu là cơ quan cấp cơ sở (cấp tỉnh và cấp huyện).


Nhiều văn bản được các cơ quan này tải lên toàn văn dưới dạng file văn bản, file PDF, hoặc dạng ảnh chứa nội dung thuộc danh mục bí mật nhưng lại không đóng dấu xác định độ mật trên văn bản.


Bên cạnh đó là việc sử dụng dịch vụ thư điện tử như Gmail, Yahoo Mail để gửi, nhận tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước (chiếm 1,6% trên tổng số vụ lộ, lọt bí mật thông tin).


Cá biệt một số cá nhân, tổ chức lập ra các trang mạng (website) công khai mua, bán, trao đổi tài liệu như luận án, luận văn, đề tài khoa học có chứa thông tin thuộc bí mật nhà nước.


Mặt khác một số báo điện tử, trang thông tin điện tử khi đăng tin, bài đã cung cấp các số liệu vẫn còn trong giai đoạn dự thảo đang được bàn thảo hay đăng tải toàn văn bản đóng dấu đỏ của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến nội dung bài báo đề cập.


Bên cạnh đó, việc để lộ bí mật nhà nước qua các trang mạng xã hội chiếm tới 9,3%, tiêu biểu là F.ace.bo.ok, Zalo… cũng đang có chiều hướng gia tăng. Hiện trạng nêu trên cho thấy mức độ đáng báo động trong vấn đề bảo mật thông tin.


Nâng cao nhận thức về bảo vệ thông tin cá nhân trên không gian mạng


Lợi dụng sự phát triển của các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới các tổ chức khủng bố, tổ chức phản động cũng thường xuyên đăng tải những nội dung bịa đặt, có tính chất bôi nhọ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và rêu rao các thông tin sai sự thật kèm theo những nhận định mang tính xuyên tạc nhằm kích động quần chúng.


Đồng thời, các đối tượng chống phá dùng nhiều phương thức, thủ đoạn hòng tấn công vào hệ thống mạng máy tính, các cổng thông tin điện tử để đánh cắp tài liệu bí mật nhà nước, sau đó đăng tải trên các tài khoản mạng xã hội nhằm thu hút các lượt tương tác, qua đó móc nối, lôi kéo hình thành các hội nhóm trá hình trên không gian mạng.


Chỉ tính riêng trong năm 2021, lực lượng chức năng của Việt Nam phát hiện có hơn 875 hội, nhóm phức tạp liên quan đến an ninh quốc gia trên trang F.ace.bo.ok, trong đó hội nhóm của các đối tượng, tổ chức phản động có hoạt động chống phá Việt Nam cực đoan chiếm gần 20%. Các hội nhóm này luôn tìm cách để kích động trên không gian mạng, kêu gọi người dân gây rối, biểu tình, bất hợp tác với chính quyền.


Chỉ tính riêng trong năm 2021, lực lượng chức năng của Việt Nam phát hiện có hơn 875 hội, nhóm phức tạp liên quan đến an ninh quốc gia trên trang F.ace.bo.ok, trong đó hội nhóm của các đối tượng, tổ chức phản động có hoạt động chống phá Việt Nam cực đoan chiếm gần 20%.


Cùng với đó, từ bên ngoài, các tổ chức, đối tượng phản động, thiếu thiện chí không ngừng tích cực hỗ trợ kinh phí để tập hợp lực lượng chống phá ở trong nước.


Các đối tượng huy động mọi nguồn lực nhằm thu thập tin tức nội bộ, đặc biệt là các thông tin về chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược biển, kết quả công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng trên các địa bàn trọng điểm… để xuyên tạc, phát tán nhằm phá hoại nội bộ, gây hoài nghi và suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc lộ, lọt bí mật nhà nước. Về nguyên nhân khách quan là do hạ tầng kỹ thuật nhằm bảo vệ bí mật nhà nước được lưu trữ trong hệ thống mạng máy tính tại một số cơ quan, đơn vị còn lạc hậu, chậm cập nhật, chưa đủ mạnh để chống đỡ được các đợt tấn công mạng, gián điệp mạng của các nhóm tin tặc, phản động.


Bên cạnh đó hiện nay có nhiều phần mềm được tự động sao lưu trên các máy chủ đặt tại nước ngoài hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị do đó nếu bị tấn công truy cập trái phép cũng là nguyên nhân khiến cho thông tin bị chiếm đoạt. Qua công tác giám sát an ninh mạng của lực lượng chức năng cho thấy một số lượng lớn cổng thông tin, trang tin điện tử của các cơ quan nhà nước tồn tại lỗ hổng bảo mật.


Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan của việc để lộ bí mật nhà nước là do chưa có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị về công tác bảo mật cũng như mất cảnh giác, buông lỏng trong hoạt động lưu trữ, kiểm duyệt và sử dụng tài liệu mật. Một số cán bộ thiếu cẩn trọng, tự ý sử dụng điện thoại thông minh kết nối mạng để sao chụp và gửi thông tin thuộc dạng mật thông qua mạng di động, mạng xã hội.


Một bộ phận người nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chưa nhận thức rõ việc đưa tài liệu mật trong các công trình nghiên cứu cho phép truy cập tại các hệ thống thư viện mở hay chính các cán bộ thư viện thiếu trình độ vô tình đăng tải các công trình có chứa tài liệu mật trên các website.


Cá biệt có một số trường hợp vì bất mãn, hiềm khích, mâu thuẫn cá nhân cho nên đã cố tình để lộ bí mật nhà nước mà mình nắm giữ hoặc tình cờ có được. Thực tế cho thấy các vụ lộ bí mật nhà nước trong nhiều trường hợp đã để lại hậu quả nghiêm trọng, khiến lực lượng chức năng gặp phải nhiều khó khăn trong công tác khắc phục.


Xây dựng “lá chắn” trên không gian mạng

Từ thực trạng về tình hình lộ bí mật nhà nước, nhất là việc để lộ bí mật nhà nước trên mạng internet rất đáng báo động hiện nay đặt ra yêu cầu đối với các chủ thể trong việc nêu cao ý thức, trách nhiệm và chủ động phòng ngừa và có những biện pháp nhằm chống việc lộ bí mật nhà nước.


Mỗi cán bộ trong các cơ quan, ban, ngành cần thường xuyên nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên môi trường mạng, nhất là những thông tin thuộc hạng mục chưa được công bố; đồng thời cần gắn trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan trong công tác bảo mật, đào tạo kỹ năng cho cán bộ sử dụng công nghệ với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu; bên cạnh đó, cần tiếp tục chú trọng nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp về khoa học công nghệ để bảo vệ bí mật nhà nước nhằm chống lộ bí mật trên không gian mạng.


Công tác quản lý, sử dụng, truyền đưa tài liệu chứa nội dung bí mật nhà nước cần được quy định chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó bao gồm cả công tác xử lý hành vi vi phạm đủ sức răn đe nhằm cảnh báo và chấn chỉnh hành vi của một bộ phận cán bộ, đảng viên phải tuân thủ các quy định về bảo mật và chống lộ, lọt bí mật.


HSV. ST # TRƯỜNG TỒN

ĐẶNG ĐĂNG PHƯỚC LÀ AI? BẢN ÁN NÀO CHO KẺ ĐI NGƯỢC LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC?

      Đặng Đăng Phước được biết đến là giáo viên dạy môn âm nhạc tại Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Đắk Lắk. Từ năm 2019 đến nay, Đặng Đăng Phước đã lợi dụng mạng xã hội Facebook thường xuyên biên soạn, đăng tải nhiều bài viết, video clip có nội dung xuyên tạc, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bôi lem hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, Đặng Đăng Phước còn tham gia các hội nhóm núp bóng “dân chủ” để tuyên truyền chống phá đất nước, gây rối an ninh, trật tự.

     Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk, Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk thường xuyên tuyên truyền, làm công tác tư tưởng đối với Đặng Đăng Phước; yêu cầu giáo viên này chấn chỉnh ngay các hoạt động đăng tải, chia sẻ những thông tin, hình ảnh trái với quy định của Luật An ninh mạng, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các cơ quan chức năng cũng đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu Đặng Đăng Phước chấm dứt các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để biên soạn đăng tải nhiều bài viết, video clip có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá Nhà nước, song Phước không những không chấp hành mà còn có nhiều hành vi cực đoan hơn. 

     Sau một thời gian thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ, ngày 8/9/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Đặng Đăng Phước (59 tuổi, trú tại số nhà 19/6 đường Giải Phóng, phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột) để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Dự kiến ngày 06/6/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk sẽ đưa Đặng Đăng Phước ra xét xử. Đây là điều được dư luận xã hội Việt Nam rất quan tâm vì Phước từng đứng trong hàng ngũ của ngành giáo dục, có học thức, hiểu biết mà có hoạt động đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc, tuyên truyền chống phá đất nước. Ngoài ra, một số tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức nước ngoài cũng rất quan tâm đến vụ việc trên, vì dù sao đi chăng nữa Phước cũng là một trong những cán bộ được các tổ chức này hậu thuẫn, hướng dẫn cách thức chống đối, đối phó với cơ quan chức năng Việt Nam. Do đó, việc có một bản án thích đáng dành cho Đặng Đăng Phước là điều dư luận xã hội mong chờ ngay lúc này./.

ST# TRƯỜNG TỒN 

NHỮNG KẺ "GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI"


Bịa đặt, vu khống để hãm hại, đổ lỗi cho người khác hay còn gọi là “gắp lửa bỏ tay người” là thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch. Còn trong câu chuyện bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, ta đang nói đến luận điệu “Hoàng Sa để mất, không đòi lại được là do Cộng sản Việt Nam” của các thế lực thù địch, phản động.

Chúng lu loa rằng: “Đối với những người Việt yêu nước, những người còn chút khắc khoải về sự hưng vong quốc gia hôm nay, thì ngày 19 tháng Một hằng năm là một ngày đau buồn. 


Đã 49 năm (19-1-1974 - 19-1-2023) kể từ cuộc chiến Hoàng Sa, một phần máu thịt, một phần lãnh thổ bị cắt rời khỏi cơ thể quốc gia và dân tộc. Có mấy người thế hệ trẻ hôm nay ở Việt Nam biết về cuộc chiến bi hùng bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của tiền nhân năm xưa? Biết gì về những hòn đảo, vùng biển xa xôi thấm đẫm máu xương của ông cha? Đã bao giờ chúng ta dặn lòng mình và nhắc nhớ cháu con “Sang năm, ta sẽ trở lại Hoàng Sa?””. Thậm chí chúng còn cho rằng: “Nhà nước Việt Nam “hèn với giặc, ác với dân”, dung túng, nhu nhược để ngoại bang lấn chiếm biển, đảo”. “Mọi nỗ lực phản đối bằng miệng của Hà Nội hoàn toàn vô nghĩa.


Những cuộc xâm phạm lãnh hải Việt Nam của lực lượng kiểm ngư, dân quân biển, cảnh sát biển Trung Quốc thường xuyên hơn và chúng liên tục đâm chìm ghe thuyền ngư dân Việt Nam trước sự bất lực và ươn hèn của nhà cầm quyền lẫn “quân đội Việt Nam anh hùng”.


Trơ trẽn hơn, chúng còn yêu sách, đòi nhân dân Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta phải vinh danh, ghi ơn đối với những kẻ - vì nghe lời quan thầy của mình - đã hai tay dâng quần đảo Hoàng Sa cho ngoại bang. Chúng khóc lóc rằng: “Năm nay, không một vòng hoa được thả xuống biển tưởng nhớ 75 người lính Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống bảo vệ vùng biển, đảo thiêng liêng, không có một lãnh đạo “Đảng và Nhà nước” nào còn nhắc đến “Hải chiến Hoàng Sa” 49 năm trước” (?).


Ngược dòng lịch sử, chúng ta đều biết rõ rằng, sau cuộc thăm của Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến Trung Quốc năm 1972, Trung - Mỹ đã âm thầm bắt tay nhau để đổi chác trên xương máu của nhân dân Việt Nam. Và đỉnh điểm của cuộc mua bán lợi ích đó, ngày 19-1-1974, với sự “bật đèn xanh” của đế quốc Mỹ, chính quyền Bắc Kinh đã cho quân tấn công, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (lúc này đang dưới quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa). Trong khi lực lượng không quân và hải quân của ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa ngày đó rất mạnh, với máy bay, tàu chiến tối tân, vượt xa Trung Quốc, song lại khoanh tay ngó lơ, cam tâm dâng biển, đảo cho ngoại bang vì mệnh lệnh không được chống trả từ Nhà Trắng mãi tận bên kia bán cầu!


Đương nhiên, ngày nay, một tấc đất của tiền nhân để lại, chúng ta phải có trách nhiệm đòi bằng được, đời này đòi chưa xong thì đời sau tiếp tục đòi. Nhưng phải đòi bằng luật pháp quốc tế trên nền tảng của hòa bình, hữu nghị, chứ không thể nhắm mắt làm càn, chấp nhận nguy cơ đưa đất nước, quốc gia, dân tộc vào vòng diệt vong. Sẽ thật là ngu xuẩn nếu như bây giờ chúng ta ngang nhiên dùng vũ lực để đòi lại biển, đảo, bởi khi chúng ta chưa mạnh bằng họ thì việc dùng vũ lực là sự lựa chọn vô cùng mạo hiểm. Dẫu biết “trạng chết thì chúa cũng băng hà”, nhưng như thế có đáng hay không khi chúng ta là một dân tộc đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, đã thấu hiểu hết những mất mát đau thương bởi chiến tranh. Phải tốn biết bao công sức, mồ hôi, xương máu, chúng ta mới xây dựng được một cơ đồ như hiện nay. Vả lại, Trung Quốc là một cường quốc kinh tế, quân sự đứng thứ 2 thế giới, tiềm lực, sức mạnh quân sự của họ gấp Việt Nam chúng ta mấy chục lần, nếu phát động chiến tranh để đòi lại biển, đảo thì khác gì “lấy trứng chọi đá”, là “hành động tự sát”??


Chúng ta không nhu nhược, không tham sống sợ chết, nhưng chúng ta phải hết sức tỉnh táo; yêu nước bằng trái tim rực lửa nhưng cũng phải bằng một cái đầu lạnh, một bộ óc biết suy nghĩ, biết tính toán thiệt hơn. Đừng nghe bọn “ném đá giấu tay” xui khiến, kích động mà làm hỏng sự nghiệp ông cha ta đã gây dựng hàng ngàn năm nay.


Nhìn ra thế giới thì thấy, cũng có nhiều quốc gia rơi vào tình cảnh như chúng ta. Đó là Argentina để mất quần đảo Falkland vào tay Vương quốc Anh sau cuộc chiến tranh năm 1982; hay vùng đất Texas từng dưới quyền kiểm soát của Mexico, được sáp nhập vào Mỹ năm 1845; hoặc vùng đất Đông Jerusalem, mặc dù được Liên hợp quốc công nhận thuộc về Nhà nước Palestine nhưng trên thực tế thì vẫn dưới quyền kiểm soát của Nhà nước Israel. Họ vẫn tỉnh táo để đủ biết không và chưa nên dùng vũ lực để đòi lại lãnh thổ của mình. Cho nên chúng ta cũng không thể nôn nóng là phải đòi lại được ngay lãnh thổ đã mất, đặc biệt là triển khai sử dụng vũ lực vào thời điểm này chỉ gây nên cảnh “nồi da xáo thịt” trên biển mà thôi.


Thế kỷ XXI là thế kỷ của kinh tế biển, các quốc gia đều có chiến lược vươn ra biển, làm chủ đại dương nên chắc chắn rằng, việc chúng ta đòi lại lãnh thổ biển, đảo của mình là việc làm vô cùng gian truân, vất vả, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, khôn khéo và không nổ súng trước. Trên các diễn đàn quốc tế và hoạt động đối ngoại chính thức, Việt Nam vẫn liên tục tuyên bố và khẳng định chủ quyền dựa trên bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý không thể chối cãi đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng đòi vào thời điểm nào, bằng biện pháp gì là câu chuyện mang tầm chiến lược, không thể ngày một ngày hai mà đạt được.


Chiến tranh đã qua gần nửa thế kỷ, quan điểm rõ ràng, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng không có nghĩa là chúng ta được phép quên đi những gì mà bọn ngụy quyền, ngụy quân tay sai, bù nhìn Việt Nam Cộng hòa đã gây ra cho dân tộc ta, đồng bào ta. Chúng đang tâm hai tay dâng lãnh thổ quốc gia mình cho ngoại bang, thực dân, đế quốc để đổi lấy những đồng đôla bẩn thỉu; chúng mặc nhiên nghe lệnh quan thầy của mình để làm ngơ cho ngoại bang xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974; chúng vô tâm khoanh tay trơ mắt đứng nhìn quan thầy của mình mặc cả, mua bán, đổi chác quyền lợi trên xương máu của đồng bào mình. Những kẻ như thế có đáng để được chúng ta tôn vinh không? Những người lính Việt Nam Cộng hòa cho dù là bất cứ lý do gì đi chăng nữa, khi đã đứng trong hàng ngũ của những kẻ phản bội Tổ quốc, những kẻ bán nước hại dân thì không bao giờ nhận được ở chúng ta sự kính trọng, sự tôn vinh. Nếu tôn vinh những kẻ bán nước, những kẻ đã sát hại đồng bào mình thì chúng ta sẽ ăn nói sao với thân nhân của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân? Chúng ta không chạy theo danh hão huyền để làm việc trái lương tâm, trái phong tục truyền thống dân tộc. Vì vậy, đừng bao giờ đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam phải vinh danh những tử sĩ Việt Nam Cộng hòa đã tử vong trong trận chiến ngày 19-1-1974. Đó là một đòi hỏi vô lý, không thể chấp nhận được!


Yêu nước có nhiều cách, nếu thực sự có lòng hướng về Tổ quốc, hướng về đồng bào thì đừng bao giờ kêu gào những giọng điệu như: “Hãy cùng nhau mạnh mẽ lên án hành vi xâm lược của Trung Cộng và đòi hỏi nhà nước Cộng sản Việt Nam thực hiện trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền lợi kinh tế và cuộc sống của ngư dân trên biển Đông. Bắt đầu với việc trả tự do ngay lập tức cho những người Việt Nam yêu nước đang bị giam cầm vì chống Trung Cộng. Đồng thời không ngăn chặn các sinh hoạt quần chúng nhằm vinh danh sự hy sinh của các binh sĩ trong hai trận chiến Hoàng Sa và Trường Sa hay phản đối hành vi xâm lược của Trung Cộng” mà bọn thù địch, phản động rêu rao.


_Báo Bình Phước_ST#Trường Tồn

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Ở TÂY NGUYÊN

Địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là một trong những trọng điểm các thế lực thù địch tập trung chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, ly khai. 

Âm mưu của chúng là tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào các dân tộc đòi ly khai, tự trị, thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga” hoặc “Nhà nước Đêga Mông-ta-nha” ở Đông Dương, tách Tây Nguyên ra khỏi đại gia đình các dân tộc và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; biến địa bàn Tây Nguyên thành khu vực mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”; tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số ở những khu vực khác hình thành nhiều “điểm nóng xung đột”, tạo cớ để chúng can thiệp, hòng làm mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực hiện âm mưu trên, chúng đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn hoạt động chống phá rất thâm độc và xảo quyệt, vừa công khai, vừa bí mật, cả trực tiếp và gián tiếp, hết sức ráo riết đối với Tây Nguyên, đòi thành lập “Nhà nước Đêga” độc lập; vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở nước ta, kích động đồng bào chống đối chính quyền. Lợi dụng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta chúng tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật, nhất là đạo “Tin lành Đêga” nhằm “tôn giáo hóa” các vùng dân tộc. Chúng lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, đầu tư phát triển kinh tế xâm nhập vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng lực lượng, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá, gây mất ổn định, tạo cớ can thiệp. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc những vấn đề lịch sử để lại để chia rẽ đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh. Chúng mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín trong cộng đồng các tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số; cài cắm người vào hệ thống chính trị các cấp của ta để chống phá. Chúng sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, internet và mạng xã hội để liên lạc, chỉ đạo trực tiếp, tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Thời gian gần đây, các đối tượng FULRO lưu vong, các tổ chức phản động ở nước ngoài đã lôi kéo, tập hợp được một số đối tượng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, các tỉnh Tây Nguyên nói chung và thành lập tổ chức phản động đội lốt tôn giáo, cái được gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”. Với những chiêu bài đội lốt, lợi dụng tôn giáo, chúng lôi kéo tập trung tín đồ để gieo rắc tư tưởng hẹp hòi dân tộc, ly khai tự trị, âm mưu tập hợp lực lượng, tiến tới gây rối, biểu tình, bạo loạn, thành lập nhà nước riêng. Chúng nhắm vào đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh hoạt đạo Tin lành truyền thống, tập trung lôi kéo số đối tượng chống đối, bất mãn trong các tôn giáo trái phép chưa được công nhận... để hoạt động chống phá từ bên trong, xuyên tạc tình hình, vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền…nhằm lật đổ chế độ. 

Tôn giáo là để giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, hướng con người đến các giá trị tốt đẹp. Còn lấy vỏ bọc tôn giáo để hướng dẫn tín đồ đối phó với chính quyền, kêu gọi biểu tình, lập tôn giáo riêng, lập Nhà nước riêng, làm ảnh hưởng tới quốc gia, dân tộc, và quyền của những người khác, đó là hành vi cần phải ngăn chặn và tiêu diệt ngay từ mầm mống. Nhân dân cần đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch./.

ST

GIEO "HẠT GIỐNG ĐỎ" NƠI ĐẢO XA


Nhiều năm đã trôi qua nhưng Đại úy Lý Quý Cường, Chính trị viên cụm số 2, đảo Trường Sa vẫn nhớ như in ngày mình vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Khi đó, anh Cường đang là chiến sĩ thuộc cụm số 1, đảo Nam Yết. Giữa mênh mông sóng nước, trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự chứng kiến của chi bộ, lời tuyên thệ của đảng viên mới vang lên dõng dạc, tự hào.

Anh Cường chia sẻ: “Ngày đó, đảo chưa có điện thoại, ngay đêm hôm đó tôi đã thức viết một lá thư rất dài gửi về gia đình, vậy mà phải 6 tháng sau bố mẹ tôi ở quê nhà mới nhận được thư, biết tin vui con trai vừa được kết nạp vào Đảng”. Từ dấu mốc ấy, sau nhiều năm phấn đấu, hiện nay, trên cương vị là Chính trị viên cụm số 2, đảo Trường Sa, anh Cường là cán bộ gương mẫu, luôn nêu cao tinh thần nói đi đôi với làm, nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

 Được trở thành người lính đảo đã trân quý, lại được kết nạp Đảng trên biển, đảo, đây là niềm vinh dự đối với nhiều cán bộ, chiến sĩ công tác trên quần đảo Trường Sa. Niềm vinh dự ấy cũng là động lực tinh thần để mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn nỗ lực rèn luyện để đứng trong hàng ngũ của Đảng. Thượng tá Nguyễn Công Chính, Chính trị viên đảo Trường Sa cho biết: “Xác định công tác phát triển đảng viên là một trong những nội dung cốt lõi quan trọng để nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Ngay từ đầu năm, Đảng ủy đảo đã chỉ đạo các chi bộ tập trung phát hiện, bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp Đảng có chất lượng”.

Cấp ủy, chỉ huy các phân đội trên quần đảo chủ động lựa chọn nguồn phát triển đảng ngay sau khi tiếp nhận quân nhân đến thực hiện nhiệm vụ. Khi đã chọn được quần chúng ưu tú thì cấp ủy phân công đảng viên, các tổ chức quần chúng theo dõi, động viên, giúp đỡ, bồi dưỡng phát triển đảng viên, trong đó, chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng thái độ, động cơ, trách nhiệm đúng đắn; giao nhiệm vụ thử thách để quần chúng rèn luyện, trưởng thành... Với cách làm hiệu quả, nhiều chiến sĩ trẻ trưởng thành trong môi trường rèn luyện khó khăn, khắc nghiệt ở đảo, được kết nạp Đảng ở Trường Sa, sau khi hoàn thành nghĩa vụ luôn duy trì quyết tâm phấn đấu, rèn luyện, có nhiều đóng góp cho cơ quan, đơn vị.

Song bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng ở quần đảo Trường Sa có nhiều khó khăn hơn trên đất liền. Theo Đại úy Phan Văn Anh, Chính trị viên đảo An Bang, cán bộ, chiến sĩ công tác trên đảo xuất thân từ nhiều vùng miền, trình độ văn hóa, nhận thức có sự khác nhau. Mặt khác, do công tác trên biển, đảo xa đất liền nên việc kết nạp Đảng và công tác xác minh lý lịch khó khăn, vất vả hơn rất nhiều.

Do vậy, hằng năm, trong nghị quyết lãnh đạo, các cấp ủy đảng trên quần đảo Trường Sa luôn xác định cụ thể chỉ tiêu, giải pháp về công tác phát triển đảng viên, phù hợp với tình hình thực tế từng đảng bộ, từng đơn vị. Đây là việc làm thiết thực, ý nghĩa bởi kết nạp Đảng trên quần đảo Trường Sa không chỉ giúp cán bộ, chiến sĩ thêm tự hào, xây dựng được động cơ phấn đấu đúng đắn mà còn góp phần nâng sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng trận địa tư tưởng nơi đầu sóng ngày càng vững mạnh. 

ST

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TƯ

 Anh hùng Nguyễn Văn Tư (1935-1964), quê tại ấp Thành Hóa 1, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ông xuất thân từ gia đình nông dân cần cù, yêu nước, bám đất giữ làng trong những năm chiến tranh ác l.iệt nhất. Tất cả 11 anh chị em ruột của ông đều tham gia cách mạng, 3 người đã hy sinh anh dũng vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Là người thông minh nên ông Tư luôn sáng tạo ra cách đ.ánh địch phù hợp, bất ngờ.


Đặc biệt, với sáng kiến nuôi ong vò vẽ, ông Tư cùng đội du kích xã Tân Thành Bình đã lập nhiều chiến công, hạ gục giặc, thu gom nhiều vũ khí của địch, chi viện cho bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày. Lối đánh giặc rất hiệu quả bằng ong vò vẽ đã nhanh chóng được phổ biến nhân rộng trên khắp chiến trường miền Nam trong khoảng thời gian từ năm 1962.


Để có những tổ ong vò vẽ, ông Tư phải vào trong rừng lùng hàng tuần, chủ yếu ông bắt về những tổ ong còn nhỏ rồi tiến hành xây dựng trận địa. Hằng ngày ông cho ong ăn thịt trâu, thịt bò cho chúng mau lớn. Sau đó, ông chỉ huy binh đoàn đặc biệt này, kết hợp với trận địa chông, m.ìn đánh đ.ịch rất hiệu quả. Ông nối tổ ong với một sợi dây dài, khi địch lọt vào ổ phục kích, từ xa ông giật dây cho ong bay ra rượt bọn địch tới tấp, khiến chúng hoảng loạn đâm đầu chạy mà không biết xung quanh có trận địa đã gài sẵn. Cứ thế, ông Tư cùng với đội quân cảm tử này lập rất nhiều chiến công.


Những ngày đầu mới dùng ong vò vẽ đánh giặc, sau khi đánh xong thường bị mất luôn tổ ong, vì nếu lại thu ổ ong về sẽ bị chúng xông vào cắn. Ông Tư lại nghĩ ra một cách có thể đưa những “chú lính” đặc biệt này về để phục vụ những trận đánh khác bằng cách hàng ngày ông treo quần áo của mình gần ổ ong, ong quen mùi nên không đốt ông Tư nữa. Có những lần ông cải trang gánh ong ra chợ đánh Mỹ ngụy giữa ban ngày trong lúc đông người.


Kỳ lạ là ong không đốt dân, lý do vì sao thì lúc đó chỉ có ông Tư biết. Sau này, khi cách đánh này hiệu quả, ông Tư mới cho biết là ông thường xuyên đem quần áo đen trắng, khăn rằn, nón lá treo xung quanh các tổ ong nuôi trong vườn, ong tiếp xúc hàng ngày, quen hơi, quen màu sắc nên rất thân thiện Khi đem những quần áo, nón sắt của lính Mỹ, ngụy treo gần các tổ ong thì lập tức chúng bay đến đốt rất ác chiến vì đồ khác màu, khác mùi".


Chỉ tiếc là người "chỉ huy" đội quân đặc biệt này không thể sống cùng với đội quân của mình đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Ngày 26/10/1964, khi lực lượng địch hành quân về ấp Thành Hóa 1, nơi ông và các đồng đội đang đóng quân. Lực lượng địch đông cùng với vũ khí hiện đại nên ông Tư cho ém quân, chờ thời cơ chứ không tổ chức đánh.


Sau đó, địch rút êm và bí mật cài lại bốn tên. Không nắm được hết âm mưu của địch, ông Tư đã bị địch phục kích b.ắn ch.ết tại chỗ, sau đó chúng nắm hai chân kéo ông bê bết trên lộ đá về đến bốt cầu Chợ Xép và chôn tại đó. Khi ch.ôn x.ác ông, chúng còn cài hai quả lựu đ.ạn bên cạnh để gia đình không thể đem x.ác về an táng. Sau ngày đất nước giải phóng, hài cốt ông được cải táng đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Bến Tre.


Tên ông được ghi đầu tiên trong danh sách các anh hùng, liệt sĩ tại nhà bia liệt sĩ xã

 ST

Anh Lính

 💫Tôi tận tai nghe một nữ sinh đại học năm cuối, xinh đẹp và học lực giỏi, nói rằng: Mấy thằng bộ đội quèn thì tính tiền làm gì.

Và tôi cười, em cũng không biết tôi, đứng trước mặt em cũng là một người lính.

Đấy, một sinh viên đáng giá mà tầm nhận thức cao như thế đấy. 

Thử hỏi còn bao nhiêu cái nhận thức cao thế nữa? 

Không biết em đang sống trên sao hỏa, hay sống trong xe bọc thép nữa nhỉ?

Điều đáng nói, là liệu một suy nghĩ như thế có biết được họ đang sống trong sự hi sinh của bao nhiêu con người không? 

Tôi nghĩ là không. Tôi cá là họ nghĩ thời bình này thì cần gì bộ đội nữa.

Em nói rằng, bộ đội thì đi quanh năm suốt tháng, lương thì ba cọc ba đồng, nghèo bỏ xừ... Hờ, hay cho cái câu nghèo bỏ xừ. Xin phép chứ cho tôi cười vào cái ''giầu'' của em nhé?

Em có biết hàng năm có hàng trăm hàng nghìn thanh niên nhập ngũ không? 

Họ đi vì cái gì? 

Vì bộ đội trả lương cao ngất ngưởng ư? 

Hay vì ở bộ đội sướng như vua? 

Em nhầm, họ xa quê hương, huấn luyện vất vả, đổ mồ hôi, thậm chí là máu và tính mạng trên thao trường... Họ hiến tuổi xuân cho Tổ quốc, vì cái gì em biết không? 

Vì họ '' nghèo '' hơn em đấy 🙂  


Tôi chắc em không biết, lúc em ôm con gấu bông, đắp cái chăn ấm, đeo tai nghe và chìm vào giấc ngủ ấy, thì ngoài kia họ ôm cây súng, đứng giữa cái giá rét, mưa bão canh cho em ngủ đấy. Vì cái gì em nhỉ? 

Vì họ '' nghèo '' hơn em à? 

Em có biết để em ngày ngày đến trường, ăn, học, chơi trong cái bình yên đấy thì có biết bao nhiêu con người phải đổ mồ hôi, xương máu không? 

Em có hiểu cái lúc em ốm, có ba mẹ, anh chị em chăm nom từng li từng tý, trong khi đấy họ vẫn phải làm nhiệm vụ nơi xa dù vợ con họ cũng ốm đau giống em không?


Tôi không chấp những nhận thức như em, nhưng với nhận thức ấy xin lỗi em không có tư cách để nói về người lính. Đừng mang so sánh người lính với cuộc sống hay nghề nghiệp nào cả. Họ chưa chắc giầu như em, nhưng họ có cái mà loại người như em có giầu mấy cũng không so sánh được. Tôi chắc em cũng chẳng biết nó là cái gì đâu, nhỉ?


Có gì so sánh với người lính?

Vì nước quên thân chẳng tiếc mình!


ST

THĂNG HÀM CHO 4 CÁN BỘ CÔNG AN HY SINH TRONG VỤ VIỆC TẠI DAKLAK


Chiều nay (11/6) cho biết, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định truy thăng cấp bậc hàm cho 4 cán bộ công an hi sinh trong vụ việc xảy ra tại trụ sở Công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur: đồng chí Hoàng Trung (SN 1981, quê quán huyện Nghi Lộc, Nghệ An) cán bộ Công an xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin; đồng chí Nguyễn Đăng Nhân (SN 1994, quê quán huyện Yên Thành, Nghệ An) cán bộ Công an xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin; đồng chí Trần Quốc Thắng (SN 1989, quê quán huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh), cán bộ Công an xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin; đồng chí Hà Tuấn Anh (SN 1991, quê quán huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá), cán bộ Công an xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin.

Nhìn danh sách các đồng chí hi sinh, nhiều người không khỏi rơi nước mắt. Các anh đều quê ở các tỉnh Thanh – Nghệ - Tĩnh, tình nguyện công tác xa nhà, để rồi ngã xuống vì bình yên của Tổ quốc.

Đây là những mất mát đau thương cho ngành công an trong cuộc chiến bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Xin chia sẻ nỗi đau thương, mất mát không gì có thể bù đắp được tới các bố mẹ có con em hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở huyện Cư Kuin - Đắk Lắk.

Xin cảm ơn các anh, những người con anh hùng của đất mẹ Việt Nam. Các anh là những tấm gương sống mãi, ngời sáng về tinh thần "Vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

# . TrT

NHẬN DIỆN SỰ THẬT

Sáng sớm, đọc được cái tin: có 2 nhóm người (một nhóm 10 tên, và nhóm còn lại 30 tên) đã tấn công vào trụ sở công an và trụ sở UBND của hai xã thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đak Lak, thảm sát 4 cán bộ chiến sĩ, một chủ tịch xã, làm bị thương 2 cán bộ chiến sĩ, một bí thư xã và đặc biệt, bọn chúng đã ra quốc lộ, chặn một xe ôtô của người dân, và gây ra cái chết của hai người vô tội này. Đọc xong cái tin, mình lạnh sống lưng.

Lạnh sống lưng vì nhiều lẽ. 

Có lẽ, cái lẽ đầu tiên là đập vào mắt mình vài bài viết của vài người hình như là vỗ ngực bảo là nhà báo… Lên bài với giọng điệu “hỉ hả”… Và bên cạnh đó, cũng có vài cái tút ngăn ngắn, viết kiểu “bâng quơ” của vài tinh bông, cũng ra điều rất “hả dạ” – một sự khốn nạn của những kẻ chơi trò con chữ.

Cái lẽ thứ hai, là một nỗi buồn. Nỗi buồn trỗi dậy từ một câu hát: “đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên” – cái gian lao ấy đã lấy đi máu của hàng triệu triệu người Việt, qua hàng ngàn năm… Để đến bây giờ, dù “mang tiếng” sống trong cảnh hòa bình, nhưng vẫn còn có người đổ máu.

Cái lẽ cuối cùng, có lẽ là cái lẽ lớn nhất, khi dân trí (nói thì to tát quá) – nhỏ hơn là nhận thức của người Việt, thực sự có vấn đề.

Cư Kuin là tên gọi mới của một huyện được tách ra từ huyện Krong Ana và thành phố Buôn Ma Thuộc. Địa danh này ngày xưa có tên gọi là Kim Sơn hay Giáo xứ Trung Hòa, cách sân bay Buôn Ma Thuột khoảng 8km, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 16km. Cách đây chưa đầy hai tháng, thành phố Buôn Ma Thuột khánh thành đại lộ Đông Tây dài 5km, nối thẳng trung tâm thành phố đến sân bay Buôn Ma Thuột – đại lộ Đông Tây vắt ngang trọn qua đỉnh đồi Trần Hưng Đạo.

Ngược thời gian, vào năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, Ba mình được điều động về vùng đất Tây Nguyên để tiếp quản và xây dựng vùng đất này. Năm 1976, Ba mình đón Mẹ mình và mình vào. Ba mua một cái nhà ở ngay lòng chảo của một giáo xứ có tên gọi là “Ba Toa” – hay còn gọi là Xóm Cầu Chui. Nhà mình nhìn thẳng lên đồi Trần Hưng Đạo, là nơi đặt trận địa pháo trong cuộc tấn công ngày 10/3/1975 lịch sử. Gọi là nhìn thẳng, bởi nếu đi lòng vòng chưa tới 900 mét là đến đỉnh đồi. 

Những ngày tháng năm 1976 đó, cứ mỗi khi trời chập choạng tối là Ba mình kéo cửa sắt lại, khóa trái và gác khẩu AK47 ngay cạnh mép cửa. Bởi ngày đó, đồi Trần Hưng Đạo là địa bàn hoạt động của tổ chức phản động có tên là FULRO. Bọn chúng có thể bất thình lình tràn vào xóm xả súng, giết người và cướp của bất cứ lúc nào

FULRO là tên viết tắt của cụm chữ: Front Uni de Lutte des Races Opprimées (Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức), được thành lập năm 1964. Tiền thân của tổ chức này là phong trào BAJARAKA, xuất hiện năm 1958, mục tiêu của phong trào này là thành lập một liên minh các dân tộc Tây Nguyên, chống lại sự áp bức, phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (Jarai, M’Nông, Bana, Ê đê…). Những người đứng đầu phong trào này muốn tách khối các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ra khỏi chế độ VNCH, thành một khu vực độc lập quay trở lại trực thuộc khối Liên hiệp Pháp. Và đương nhiên, đã bị Mỹ và chế độ ngụy quyền VNCH đàn áp. Tuy nhiên, đến năm 1964, sau cuộc đảo chính 1963, Mỹ và chế độ ngụy quyền VNCH đã “trưng dụng” và sử dụng tổ chức này như là một công cụ để “ổn định” khu vực Tây Nguyên.

Dưới bàn tay của Mỹ, ngày 20 tháng 9 năm 1964, tại Campuchia với sự chủ tọa của quốc vương Sihanouk, Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức được thành lập (tiếng Pháp: Front Uni de Lutte des Races Opprimées, gọi tắt là FULRO). Và được chia thành các nhóm:

- Mặt trận Giải phóng Cao nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux, FLHP) tức FULRO Thượng - do Y Bhăm Êñuôl chỉ huy, hoạt động chủ yếu tại Mondulkiri.

- Mặt trận Giải phóng Champa (Front de Libération du Champa, FLC) tức FULRO Chăm - do Les Kosem (một tướng nhảy dù người Khmer gốc Chăm) lãnh đạo, hoạt động chủ yếu tại Ninh Thuận.

- Mặt trận Giải phóng Campuchia Krom (Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK) tức FULRO Khmer Hạ - do Chau Dera làm đại diện, hoạt động chủ yếu tại đồng bằng sông Cửu Long.

- Mặt trận Giải phóng Campuchia Bắc (Front de Libération du Kampuchea Nord, FLKN) tức FULRO Khmer Thượng, hoạt động chủ yếu tại Hạ Lào.

Nói đến đây, chúng ta có thể hình dung về lịch sử hình thành, động cơ và quy mô của tổ chức này như thế nào rồi.

Những ngày tháng sau năm 1975, được sự tài trợ và bảo trợ của chính phủ Mỹ, tổ chức FULRO có mặt rộng khắp địa bàn Tây Nguyên. Ba mình nói: chúng rình rập, bắt cóc người Kinh cướp của và c.h.ặ.t đ.ầ.u t.hủ ti.êu, chúng vô cùng liều lĩnh và man rợ. Mình nhớ năm 1982, một chuyến xe đò (xe khách) chở 28 người đi từ Buôn Ma Thuột xuống Đaknong, qua một cái dốc cao có địa danh là Cầu 320, đã bị chúng ra chặn, xả súng và toàn bộ người dân đi trên chuyến xe đó không ai sống sót. Bản thân Ba mình khi đi công tác ở các địa bàn huyện, lúc nào cũng mang theo khẩu AK47 bên mình.

Quân đội, Công an và các lực lượng vũ trang vô cùng vất vả để truy quét và tiêu diệt tổ chức này. Mãi đến tận năm 1992, sau bao nhiêu nhân mạng vô tội bị giết chết, bao nhiêu liệt sĩ hy sinh trong các đợt truy quét và tiêu diệt, tổ chức này mới chính thức bị quét sạch trên lãnh thổ Việt Nam. Tại Campuchia, có 407 tên ra đầu hàng lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, và được mang sang Mỹ tị nạn chính trị (sống tập trung tại bang Colorado – Hoa Kỳ).

Những mầm mống tội ác vẫn còn đó, chúng được nuôi dưỡng bởi ai thì có lẽ đọc đến đây, người đọc cũng đã rõ… 

Năm 2000, tại tiểu bang Colorado, một nhà nước tự xưng được dựng lên với tên gọi: Cộng hòa Đề Ga hay còn có tên gọi khác là: nhà nước Đề Ga tự trị - có tổng thống tự phong là Ksor Kơk. Với sự bảo trợ của Mỹ từ tài chính và vũ khí, tháng 4 năm 2004, bọn chúng đã quay về tạo nên cuộc “bạo loạn Tây Nguyên”, hiển nhiên cuộc bạo loạn này đã nhanh chóng bị dập tắt bằng cuộc đấu tranh chính trị khôn ngoan và diễn ra trong hòa bình của các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Tại sao chúng ta lại phải chọn đường lối đấu tranh chính trị mà không phải là một cuộc “đàn áp bằng vũ lực”? Đơn giản là, đâu đó bên ngoài kia, các thế lực bên ngoài đã chuẩn bị và chực chờ, chỉ cần một tiếng súng nổ, là họ sẽ “can thiệp hòa bình” như đã từng diễn ra tại Kosovo, Libya, Syria…

Cho nên, phàm là người nói tiếng Việt, nếu thực sự yêu sự thanh bình, hãy cố gắng mở mắt – mở não để nhận diện đúng các sự thật trước các “diễn biến hòa bình” mà ở đó, những kẻ ngoại bang không mong đợi ở xứ sở này một sự bình yên đúng nghĩa.

Dù chưa có các thông tin xác thực về vụ việc tối hôm qua, song cá nhân mình nghĩ: những mầm mống ảo tưởng về sự chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, xâm phạm hòa bình thống nhất của đất nước, dưới chiêu bài “diễn biến hòa bình” từ các thế lực ngoại bang đã đứng đằng sau vụ việc này. 

Nó không đơn giản để chúng ta xem đó chỉ là một sự “bức xúc” xã hội, bởi cách chúng hành động rất có tổ chức, có sự chuẩn bị, có mục tiêu định trước, và sự tàn ác vẫn đúng với bản chất của các tổ chức khủng bố quốc tế mà chúng ta từng chứng kiến.

Với những hiểu biết chưa hết của mình, mình tin rằng bọn chúng không có cơ hội để thực hiện các mưu đồ đó. Song, cái đáng bàn là những sự “hân hoan”, “hỉ hả” của bao kẻ đã được đề cập bên trên.

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên

Bão thổi chưa ngưng trong những vành tang trắng!!!

Xin nghiêng mình chia buồn cùng với gia đình của các nạn nhân, là các chiến sĩ công an, những người dân, đồng bào vô tội đã ngã xuống bởi bọn khủng bố tàn ác hôm qua tại quê hương mình.

P/s: ai muốn hiểu sâu hơn về FULRO thì hãy search chuỗi 5 bài viết: Hồ sơ của một tổ chức tội ác.

P/s 2: mọi thông tin lan truyền, cần phải hiểu rõ trước khi biến mình thành con vẹt, không khéo lại được mời uống nước trà thì lại khổ thân.


Bài của Tat Dat Hua. #ST. TRƯỜNG TỒN.

Phát huy sức mạnh “mềm” của văn hóa Việt Nam để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hiện nay

Quan điểm trên của Đảng cho thấy, sự nhận thức về vai trò của văn hóa trong tiến trình phát triển ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; đưa văn hóa đứng ngang hàng với kinh tế, chính trị, coi đó là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh “mềm”, sức mạnh nội sinh, động lực để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sức mạnh mềm hiểu theo nghĩa thông thường có nghĩa là sự mềm hóa của các sự vật, hiện tượng, là khả năng cuốn hút người khác, không phức tạp hóa vấn đề, mọi việc đều có thể giải quyết được trên cơ sở tin cậy, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, đem lại những điều kiện thuận lợi nhất cho con người phát triển. Khi nói đến văn hóa, người ta thường nghĩ đến sự thưởng thức, hưởng thụ nhưng điều đó chưa đủ, đó chỉ là một vế của đời sống văn hóa tinh thần, ẩn ở đằng sau tầng sâu của văn hóa là lối sống văn hóa, con người văn hóa, đạo đức văn hóa, cách đối nhân xử thể, ứng xử giữa con người với xã hội, giữa con người với thiên nhiên, nói rộng hơn là cốt cách, phong thái của một dân tộc có chiều sâu văn hóa. Theo đó, sức mạnh mềm của văn hóa là tổng hợp những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất được huy động, sử dụng vào các mục đích khác nhau, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển đi lên của đất nước một cách ổn định, bền vững. Sức mạnh mềm của văn hóa không phải là cái gì đó quá cao siêu, xa vời, khó hiểu, rất gần với đời sống sinh hoạt đời thường của mỗi con người, đó là ý thức tự tôn dân tộc, khí phách, bản lĩnh kiêu hãnh không bao giờ lùi bước, đầu hàng trước cuộc đời, số phận; đó là sự khát khao được giao hòa với thiên nhiên, tận hưởng giây phút thăng hoa của cuộc sống sau một ngày làm việc vất vả, áp lực, thưởng thức những món ăn, sản phẩm do chính mình làm ra, hay của xã hội đem lại, được du ngoại, thăm quan các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh để nâng tầm hiểu biết của bản thân Những giá trị văn hóa đó ở những khía cạnh khác nhau, bối cảnh khác nhau đã trở thành sức mạnh mềm, tạo thành nguồn lực quan trọng để chúng ta chiến thắng tất cả, viết nên bản anh hùng ca về bản lĩnh, ý chí con người Việt Nam ở mọi giai đoạn, thời kỳ lịch sử.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam được phát huy ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là ở thời điểm, giai đoạn khó khăn, thử thách, sức mạnh mềm của văn hóa được nhân lên trở thành động lực chủ yếu của công cuộc dựng nước và giữ nước. Ông, cha ta đã huy động đến mức tối đa truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam vào cuộc đấu tranh cách mạng với các thế lực ngoại bang, mặc dù, quân địch có ưu thế vượt trội về tiềm lực quân sự, khi đặt chân đến Việt Nam đều bị thất bại, bởi tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh kiên cường, cách đánh thông minh, sáng tạo con người Việt Nam. Chúng ta chiến thắng tất cả vì chúng ta có nền văn hóa lâu đời, nền văn hóa đó được đánh thức, khơi dậy, được kết hợp với các yếu tố khác, tạo thành sức mạnh mềm vô cùng đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và dựng xây đất nước hiện nay là minh chứng cho việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa vào mỗi lĩnh vực, ngành nghề hoạt động khác nhau, nhiều giá trị văn hóa, con người Việt Nam được huy động, trở thành biểu tượng sáng ngời cho hình ảnh, đất nước con người Việt Nam mến khách, yêu chuộm hóa bình, được thế giới đánh giá rất cao.

Tuy nhiên, hiện nay trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự ru nhập của văn hóa phương Tây ồ ạt, không có chọn lọc, kế thừa, nhiều giá trị văn hóa của dân tộc đứng trước nguy cơ bị mai một, lãng quên, thậm trí là sự lai căng, phản văn hóa, phi văn hóa, thương mại hóa văn hóa; sức mạnh mềm của văn hóa không được phát huy đầy đủ, đúng nghĩa, trở thành rào cản ngăn chặn không cho những giá trj văn hóa tốt đẹp của dân tộc được tỏa sáng ở những khu vực, thời điểm nhất định; sức mạnh mềm của văn hóa biến thành nơi trao đổi, mua bán, giao dịch... Vì vậy, để phát huy sức mạnh mềm của văn hóa xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh mềm văn hóa.

Nước ta với 54 dân tộc anh em, 60% dân số sống ở nông thôn, bức tranh văn hóa làng quê ở nước ta rất phong phú, đa dạng, hấp dẫn, có sức lôi cuốn rất lớn đối với du khách trong và ngoài nước đến thăm quan, du ngoại, thưởng thức văn hóa vật thể và phi vật thể. Những giá trị văn hóa của dân tộc ta rất gần gũi, giản dị với con người, được sáng tạo, đúc kết từ chính thực tiễn đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại thiên nhiên, có tác dụng rất tích cực để gắn kết con người lại với nhau, hướng đến xây dựng một cuộc sống văn minh, tốt đẹp, hạnh phúc bền vững ở tương lai. Do vậy, các tổ chức, lực lượng ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các tầng lớp nhân dân về công trình văn hóa vật thể, phi vật thể, đó chính là sức mạnh mềm của nền văn hóa dân tộc cần phải được gìn giữ, lưu truyền và phát triển ở mọi lúc, mọi nơi; đa dạng hoá các nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; tổ chức những hoạt động văn hóa thể dục thể thao, xây dựng đời sống văn hóa mới, những phong trào thi đua yêu nước ở địa phương gắn với xây dựng văn hoá gia đình, văn hóa nông thôn; khuyến khích, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt động văn hóa xã hội để cổ vũ cái hay, cái tiến bộ, đẩy lùi cái lạc hậu, phản văn hóa, đi ngược lại lợi ích của Nhân dân, ảnh hưởng đến hoạt động giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.

Hai là, đa dạng hóa các nội dung, hình thức, biện pháp phát huy sức mạnh mềm của văn hóa.

Nhân dân là chủ thể sáng tạo ra nền văn hóa vật thể và phi vật thể, đến lượt mình nền văn hóa đó lại phục vụ cho chính cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, thể hiện ở nhiều cung bậc, cảm xúc, nấc thang phát triển khác nhau. Sức mạnh mềm của văn hóa không những thể hiện ở sự thưởng thức văn hóa, hưởng thụ văn hóa mà con được biểu hiện ở tâm lý, tính cách, bản lĩnh, niềm tin và sự khát khao vươn lên của mỗi con người. Đó chính là sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội, do vậy, nội dung tuyên truyền, giáo dục sức mạnh mềm của văn hóa là sự thống nhất giữa tính dân tộc và thời đại, giữa kế thừa và phát triển, cập nhật, bổ sung nội dung mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực phản động trong và ngoài nước trên lĩnh vực văn hóa; quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; văn hóa vùng miền Về hình thức, biện pháp được thực hiện thông qua lễ hội truyền thống, sáng tác của giới văn nghệ sĩ, thông qua truyền hình Trung ương, địa phương; tổ chức hội nghị biểu dương, tôn vinh văn hóacủa dân tộc; giới thiệu danh lam, thắng cảnh, văn hóa con người Việt Nam

Ba là, có những cơ chế, chính sách phù hợp, hiệu quả để phát huy sức mạnh mềm của văn hóa.

Sức mạnh mềm của văn hóa chỉ được phát huy đầy đủ, hiệu quả khi chủ thể quản lý là Đảng, Nhà nước có những cơ chế, chính sách phù hợp, hiệu quả, kịp thời. Mặc dù nhân dân lao động là chủ nhân của nền văn hóa, sáng tạo ra văn hóa, nhưng không có những cơ chế, chính sách giữ gìn, bảo tồn thì không thể phá huy được sức mạnh mềm của văn hóa. Theo đó, Đảng, Nhà nước cần rà soát, đánh giá lại hệ thống những văn bản, chỉ thị, hướng dẫn về văn hóa, con người Việt Nam còn phù hợp, hợp lý không, nếu không phù hợp thì xóa bỏ, ban hành văn bản mới; phân cấp, phân quyền cho các cơ quan, chức năng, ban ngành quản lý các hoạt động văn hóa ở địa phương, chấn chỉnh những hoạt động văn hóa không lành mạnh, ảnh hưởng đến phong tục, truyền thống của địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hoá ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương theo những tiêu chí, quy định cụ thể cho từng đối tượng; việc tổ chức những hoạt động văn hoá ở địa phương phải bảo đảm vui tươi, an toàn, lành mạnh, tiết kiệm, cỗ vũ, động viên con người phát triển đi lên, đẩy lùi những tiêu cực, hạn chế trong xã hội.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, giản dị, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân.

Môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, giản dị có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy sức mạnh mềm của văn hoá. Theo đó, cần ngăn chặn không cho văn hóa phẩm đồi truỵ, những hành vi phi văn hóa, phản văn hóa, vô văn hóa xâm nhập vào trong đời sống của con người; kiên quyết đấu tranh loại bỏ những cái xấu xa, thấp hèn, việc làm ti tiện, đớn hèn về văn hóa; khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong các tầng lớp nhân dân; tăng cường đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, các loại hình văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa vui tươi, lành mạnh trong các tầng lớp nhân dân; quan tâm, chăm lo đến đời sống gia đình khó khăn, thiếu thốn, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, thưởng thức nhu cầu văn óacho các tầng lớp nhân dân; xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp với địa phương, yêu cầu, nhiệm vụ, bảo đảm tính linh hoạt, sáng tạo trong mỗi suy nghĩ, hành động của con người. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau một cách chân tình trong cuộc sống, cũng như trong công việc; không tạo ra những áp lực cho nhau, xô đẩy con người vào ngõ cụt, tìm mọi cách để đấu đá, hạ bệ, nói xấu nhau, không cho con người có điều kiện, cơ hội phát triển. Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng. Đảng ta cũng nhấn mạnh: Có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hoá thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Môi trường văn hóa phải thật sự thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc, tất cả vì con người, hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Có như vậy, sức mạnh mềm của văn hóa mới được khơi dậy, phát huy một cách mạnh mẽ, trở thành mục tiêu, động lực cho sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Văn hóa là tấm thẻ căn cước để phân biệt, nhận biết giữa người này với người khác, gia đình này với gia đình khác, địa phương này với địa phương khác; do đó, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa, chúng ta cần đặc biệt chú trọng đến những yếu tố bên trong thể hiện ở những suy nghĩ, hành động của con người với văn hóa đó chính là sức mạnh nội sinh, nguồn gốc quan trọng để chúng ta khơi dậy, ý chí khát vọng của cả dân tộc, thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu, nội dung của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, nhất là những tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24-11-2021, để công tác văn hoá sẽ có những chuyển biến, tiến bộ mới, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa, ghi một dấu mốc mới trên con đường chấn hưng, phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thủ đoạn của thế lực thù địch, phản động chống phá nước ta trên không gian mạng hiện nay

Trong điều kiện có sự tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ và đặc biệt là thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự phát triển của khoa học công nghệ mang lại nhiều lợi ích trong việc nâng cao chất lượng của các hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Tuy vậy, mặt trái của nó chính là việc các thế lực thù địch đang lợi dụng không gian mạng (KGM) để tiến hành các biện pháp chống phá đầy tinh vi, phức tạp. Cùng với sự phát triển của lĩnh vực kỹ thuật số, mạng Internet đã trở thành một nhân tố có tác động vô cùng mạnh mẽ đến từng người dân đến các tổ chức, chính phủ và cộng đồng trên thế giới. KGM bao gồm các mạng xã hội, các kênh thông tin, các dịch vụ truyền thông là một môi trường lý tưởng cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để chống phá chính quyền, Nhân dân.

Để thực hiện những âm mưu của mình, các thế lực thù địch sử dụng một số thủ đoạn cụ thể trên không gian mạng, đó là:

Tạo lập tài khoản giả mạo, tập trung xây dựng nhóm, tổ, cá nhân thủ lĩnh trên không gian mạng. Các thế lực phản động đánh giá tầm ảnh hưởng của các nhân vật nổi tiếng để tạo lập và giả mạo nhằm lừa gạt, lôi kéo, tuyên truyền xấu độc với những bộ phận người dân cả tin, hạn chế trong nhận diện sự thật nhằm phát huy tối đa khả năng lan tỏa thông tin, gây hoang mang dư luận trong quần chúng nhân dân; từ đó, kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân biểu tình, gây rối. Chúng sử dụng thủ đoạn khai thác tài khoản đã thiết lập từ trước làm hạt nhân thường xuyên đăng tải bài viết, thông tin xuyên tạc về một chủ đề, lĩnh vực nhất định và hàng trăm tài khoản vệ tinh thực hiện nhiệm vụ chia sẻ trên các nhóm, diễn đàn phản động hoặc các nhóm có lượng thành viên lớn. Thống kê của Bộ Tư lệnh 86 cho thấy, các tài khoản có bài viết về chủ đề Luật Đặc khu và Luật An ninh mang đều là các trang phản động có lượng người quan tâm lớn như: Trang BBC New Tiếng Việt, trang phản động Dưa Leo, Nhật ký yêu nước, VOA Tiếng Việt và Việt Tân Các trang báo, trang tuyên truyền chính thống của Việt Nam không hoặc có chỉ số xếp hạng thấp, điều đó cho thấy thế lực thù địch đã khai thác triệt để các kênh thông tin xấu độc, phản động để tập trung lớn vào việc xuyên tạc, kích động chống đối việc ban hành các dự luật này. Trong các thế lực phản động, chống phá, nổi lên có tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuẩn bị cho các cuộc biểu tình từ rất lâu, lực lượng được chia làm các đội có nhiệm vụ riêng biệt, bao gồm: lực lượng giả làm lực lượng an ninh đánh người, lực lượng khác kích động người dân rằng công an đánh dân, lưc lương lam công tac truyên thôngnhằm mục đích đẩy cuộc biểu tình thành bạo loạn loạn vũ trang tạo cớ chính trị. Các thế lực phản động triệt để tận dụng công nghệ trên không gian mạng để thực hiện các hành động ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm vượt qua các biện pháp kiểm soát, theo dõi của lực lượng an ninh; Lợi dụng chức năng quay phim và đăng tải trực tuyến (Livestream) lên trên mạng xã hội Facebook, Youtube để tương thuật trực tiếp sự việc theo kịch bản bóp méo, xuyên tạc sự thật được phối hợp với các lực lượng chỉnh sửa, biên tập, lồng ghép nội dung từ xa. Chúng lợi dụng không gian mạng, nhất là các mạng xã hội có nhiều người tham gia, lồng ghép các thông tin giả mạo gây sốc, hoang mạng của cộng đồng để kêu gọi, cổ vũ Biểu tình ảo trên KGM, chúng huy động, kêu gọi, khuyến khích, thuê các tài khoản có tầm ảnh hưởng đến cộng đồng gắn các biểu ngữ phản đối Dự thảo Luật Đặc khu, Luât an ninh mạng tạo ra hiệu ứng đám gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ giữa sự thật và thông tin xấu độc.

Lợi dụng hoạt động văn hóa, văn nghệ để tiến hành tuyên truyền, chống phá trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Thực hiện thủ đoạn này, chúng lôi kéo các người từng là nhà văn, nhà báo, ca sỹ có tư tưởng bất mãn, biến chất, sử dụng lực lượng này, có sự hậu thuẫn bằng tiền để chuyển hóa các bài viết có sẵn thành thể thơ hoặc bài hát phát trên các kênh âm nhạc trực tuyến lớn và phổ biến đặt máy chủ ở nước ngoài để vượt qua các cơ chế kiểm duyệt bài viết của Dộ Thông tin và Truyền thông. Trong một cách khác, các thế lực phản động đã kêu gọi tổ chức cuộc thi tìm kiếm giọng hát đấu tranh nhằm phát động phong trào sáng tác âm nhạc chống phá, xuyên tạc tình hình trong nước. Chúng sử dụng mạng xã hội Facebook, kênh video Youtube để tuyên truyền, phát tán và đăng tải các bài hát chống phá với giai điệu hiện đại, theo phong cách thị trường, điều này cho thấy các đối tượng phản động đang nhằm mục tiêu vào giới trẻ Việt Nam trong và ngoài nước.

Sử dụng tiền giấy, mệnh giá nhỏ để phát tán lời kêu gọi biểu tình. Đây là thủ đoạn mới, chúng tuyên truyền lôi kéo một bộ phận xã hội sử dụng đồng tiền mệnh giá thấp, ghi các thông điệp với nội dung chống phá Nhà nước trên mặt tờ tiền. Sau đó, mang đồng tiền này đi mua hàng để phát tán nội dung kêu gọi biểu tình. Chúng cổ vũ, nhiều đối tượng nhận thức còn hạn chế đã tích cực thực hiện và lan truyền trên mạng như những chiến công. Ngoài việc phát tiền giấy mệnh giá nhỏ, để tránh bị phát hiện kêu gọi biểu tình lớn trên KGM, các đối tượng phản động sử dụng thủ đoạn tham gia sâu vào các tổ chức quần chúng và nhóm người dân để tuyên truyền, kích động từ bên trong, thậm chí là đe dọa. Đối tượng chúng tập trung vào là các nhóm học sinh, sinh viên, đặc biệt là công nhân và người lao động có thu nhập thấp ở các thành phố lớn.

Lợi dụng các hoạt động công giáo tại các nhà thờ, giáo phận để tuyên truyền chống phá. Đây là thủ đoạn truyền thống của các thế lực phản động, chống pháp, chúng tập hợp các linh mục, cha xứ có tư tưởng chống đối chính quyền, hoạt động công giáo cực đoan tại các giáo xứ lớn như giáo phận Vinh, giáo phận Quy Nhơn, nhà thờ Thái Hà (Hà Nội) triệt để lợi dụng các buổi cầu nguyện để reo rắt, tuyên truyền sai lệch các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta tới các giáo dân, gây lên sự hoài nghi, xung đột giữa các tôn giáo.

Ngoài ra, chúng tận dụng những hạn chế trong việc giữ an toàn bào mật trên mạng Internet của đa số người dùng, một số nguy cơ thu thập thông tin người dùng từ các công ty như Facebook, Google, Twitter, trình duyệt Cốc Cốc,  cũng là một nguyên nhân để các thế lực phản động khai thác, lợi dụng để thực hiện các thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Mạng Internet với bản chất là chia sẻ, kết nối đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho tất cả chúng ta trong mọi hoạt động làm việc, giải trí, sinh hoạt. Tuy vậy, những thế lực phản động, chống phá đã triệt để lợi dụng không gian mạng, mạng Internet để thực hiện các thủ đoạn chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Chúng ta cần hết sức cảnh giác và nhận diện cũng như tuyên truyền để mỗi người dân thấy được âm mưu, bản chất của các thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng không gian mạng Việt nam an toàn, lành mạnh, rộng khắp như mục tiêu cơ bản trong chiến lược Bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng, chiến lược bảo vệ không gian mạng như một phần lãnh thổ không thể tách rời của Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Cải cách tư pháp trong quân đội nhân dân góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cải cách tư pháp (CCTP) luôn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, là kết quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã lãnh đạo, chỉ đạo cải cách tư pháp, đạt nhiều kết quả quan trọng, như: Toàn quân đã lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 26-CT/TƯ ngày 9-11-2008 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý vụ án, vụ việc xảy ra trong Quân đội; đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác tư pháp; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng về CCTP và các quy định của pháp luật về hoạt động tư pháp trong toàn quân; chủ động, phối hợp triển khai thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về Tiếp tục thực hiện Chiến lược CCTP đến năm 2020 trong Quân đội; hoàn chỉnh Đề án Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Quân đội; công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm tiến độ thời gian và chất lượng; tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật được triển khai và thực hiện nghiêm túc; nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về CCTP được nâng lên; công tác xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng được triển khai nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành tích cực, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân được coi trọng với các biện pháp phong phú, thiết thực và hiệu quả, tạo nhiều chuyển biến tích cực góp phần tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao kỷ luật, sức mạnh chiến đấu của Quân đội...

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, CCTP trong Quân đội những năm qua còn hạn chế là: Nhận thức của một số cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị về mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo Chiến lược CCTP chưa đầy đủ, triển khai thực hiện có mặt còn chậm, thiếu kiên quyết. Công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp cả trong tham mưu, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện, nhất là trong công tác nắm và quản lý tình hình vi phạm, tội phạm xảy ra trong Quân đội có việc chưa kịp thời; việc xử lý, giải quyết một số vụ việc nghiêm trọng, phức tạp có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, triệt để. Đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh pháp lý còn thiếu so với biên chế; trình độ, năng lực chưa đồng đều, kỹ năng tranh tụng tuy đã có tiến bộ song vẫn là khâu yếu...

Thời gian tới, để thực hiện Đề án Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 trong Quân đội góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp và các cơ quan tư pháp trong Quân đội cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện CCTP trong Quân đội

Hai là, đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Quân đội.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của tiến trình CCTP xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.